Tóm tắt Luận án Chất lượng dịch vụ của các siêu thị chuyên doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o  
Tr-êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
--------------------------  
®µo xu©n kh-¬ng  
ChÊt l-îng dÞch vô  
cña c¸c siªu thÞ chuyªn doanh  
trªn ®Þa bµn thµnh phè hµ néi  
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh  
Mã số: 62 34 01 02  
Hµ néi, 2014  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Hồ Sỹ Hùng  
2. PGS. TS. Trần Thị Vân Hoa  
Phản biện:  
1: PGS.TS. Nguyễn Hoàng Long  
2: TS. Phạm Thị Huyền  
3: PGS.TS. NGuyễn Văn Áng  
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án  
cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
Vào hồi 9h ngày 15 tháng 11 năm 2014  
Có thể tìm hiểu luận án tại:  
- Thư viện Quốc gia  
- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Sự cần thiết của nghiên cứu  
Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị và là một trong những trung tâm  
kinh tế, văn hóa và khoa học của cả nước. Trong những năm qua, sự phát triển  
mạnh mẽ nhiều loại hình siêu thị đã góp phần thay đổi bộ mặt của thành phố  
theo hướng văn minh, hiện đại. Bên cạnh những siêu thị kinh doanh tổng hợp  
phục vụ nhiều loại nhu cầu của nhiều loại khách hàng khác nhau, đã xuất hiện  
ngày càng nhiều siêu thị chuyên doanh (STCD) các mặt hàng hoặc nhóm mặt  
hàng nhất định.  
Siêu thị chuyên doanh là một ngành kinh doanh rất đặc thù vì nó là hỗn  
hợp của sản phẩm và dịch vụ. Hàng hóa tại các siêu thị chuyên doanh đều nhập  
từ cùng các nhà cung cấp. Các STCD hiện nay hầu hết sản phẩm đều giống  
nhau. Chính vì vậy, sự khác nhau giữa các STCD không phải ở hàng hóa mà ở  
dịch vụ. Dịch vụ của STCD không chỉ là dịch vụ bán hàng thông thường như  
các loại hình bán lẻ khác mà còn là dịch vụ phát sinh từ đặc thù hàng hóa của  
STCD. Bên cạnh đó còn là các dịch vụ của các STCD cung cấp và thu tiền để  
thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.  
Để nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng, trên cơ sở đó tăng  
doanh số, mở rộng thị phần và tạo lập thế đứng vững chắc trên thị trường, mỗi  
STCD không chỉ quan tâm đến thương hiệu, xuất xứ, chất lượng và giá cả của  
hàng hóa mà còn đặc biệt chú ý đến mở rộng các loại hình dịch vụ và nâng cao  
chất lượng các dịch vụ. Sự cạnh tranh giữa các STCD không chỉ là chất lượng  
hàng hóa mà là chất lượng dịch vụ (CLDV) mà STCD cung cấp. Đáng tiếc là  
trong thực tế không phải STCD nào cũng chú ý thỏa đáng đến điều này. Các  
báo cáo về sự hài lòng của người tiêu dùng cũng cho thấy, mặc dù người tiêu  
dùng sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để có chất lượng dịch vụ cao tương ứng với  
2
chất lượng hàng hóa mà họ mua sắm. Tuy nhiên, CLDV của các STCD không  
đạt được kỳ vọng của người tiêu dùng (Thanh Niên, 2000; Thương Mại, 2005,  
2006, 2007, 2009, 2010, 2012).  
Tại Việt Nam, theo hiểu biết của tác giả cho đến nay có hai nghiên cứu  
về CLDV và yếu tố cấu thành CLDV trong siêu thị: Nghiên cứu thứ nhất:  
“Chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của các siêu thị tại thành  
phố Hồ Chí Minh” (Trang Nguyễn, 2006). Nghiên cứu thứ hai: “Các yếu tố  
ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bán lẻ tại các siêu thị ở thành phố Hồ Chí  
Minh” (Nhất Nguyễn, 2007). Hai nghiên cứu này có các kết luận khác nhau về  
các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ trong siêu thị và được thực hiện tại  
thành phố Hồ Chí Minh.  
Vì vậy, nghiên cứu về chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh sẽ  
có đóng góp lớn về lý thuyết: (1) Làm rõ các vấn đề lý luận về STCD và  
CLDV của STCD, (2) Xác định các yếu tố cấu thành, phương pháp đánh giá và  
đo lường CLDV của STCD. (3) Xây dựng mô hình nghiên cứu về CLDV của  
STCD để tiếp tục các nghiên cứu ở các thành phố khác tại Việt Nam.  
Xuất phát từ sự cần thiết từ thực tiễn tại hoạt động STCD trên địa bàn  
thành phố Hà Nội, sự cần thiết từ lý luận về CLDV của STCD, tác giả quyết  
định lựa chọn đề tài “Chất lượng dịch vụ của các siêu thị chuyên doanh trên  
địa bàn thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu tiến sỹ của mình.  
2. Mục đích nghiên cứu của luận án  
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm ra giải đáp cho năm câu hỏi  
nghiên cứu sau:  
(1) Mô hình đánh giá CLDV và khung lý thuyết về siêu thị chuyên doanh  
trên thế giới và Việt Nam là gì ?  
(2) Các yếu tố cấu thành CLDV của siêu thị chuyên doanh là gì ?  
3
(3) Kỳ vọng, cảm nhận của người tiêu dùng về CLDV của STCD trên địa  
bàn thành phố Hà Nội là gì?  
(4) Điểm mạnh, điểm yếu CLDV của STCD trên địa bàn thành phố Hà  
Nội hiện nay như thế nào? Nguyên nhân dẫn tới điểm yếu về CLDV của  
STCD trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay ?  
(5) Giải pháp nào để nâng cao chất lượng dịch vụ của các siêu thị chuyên  
doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội ?  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng dịch vụ, siêu thị chuyên  
doanh và chất lượng dịch vụ của các siêu thị chuyên doanh. Siêu thị chuyên  
doanh theo Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại (9/2004).  
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, nghiên cứu được triển khai trên  
địa bàn nội thành Hà Nội. Về thời gian, các số liệu thứ cấp: tập trung trong  
giai đoạn từ 2000 đến nay, các số liệu sơ cấp: tập trung trong 3 năm 2011 –  
2012 – 2013.  
4. Kết quả nghiên cứu của luận án  
Thông qua nghiên cứu của mình, tác giả đã có một số đóng góp tri thức  
mới về mặt lý luận và thực tiễn trong quản trị kinh doanh STCD và quản lý  
nhà nước về STCD.  
Đóng góp mới của luận án về mặt lý luận: Luận án có những đóng góp  
mới về mặt lý luận về CLDV: (1) Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu  
CLDV của STCD. (2) Xác định yếu tố cấu thành, biến quan sát và thang đo  
CLDV của STCD. (3) Tìm ra yếu tố mới cấu thành CLDV của STCD trên địa  
bàn thành phố Hà Nội.  
Về mặt thực tiễn: Luận án có một số đóng góp: (1) Tìm ra được kỳ vọng,  
cảm nhận và khoảng cách CLDV của STCD trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
4
(2) Xác định nguyên nhân dẫn tới điểm yếu trong CLDV. (3) Đưa ra được giải  
pháp cho các STCD để nâng cao CLDV của STCD nhằm nâng cao khả năng  
cạnh tranh, thỏa mãn hơn nhu cầu của người tiêu dùng. (4) Kiến nghị với các  
cơ quan quản lý nhà nước về STCD cần làm gì để nâng cao CLDV nhằm góm  
phần nâng cao khả năng cạnh tranh và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.  
5. Bố cục của luận án  
Để trình bày toàn bộ nội dung nghiên cứu của mình, bố cục luận án được  
chia thành bảy phần chính sau: (1) Phần mở đầu. (2) Chương 1: Tổng quan  
nghiên cứu. (3) Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. (4) Chương  
3: Phương pháp nghiên cứu chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh. (5)  
Chương 4: Kết quả đánh giá mô hình chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên  
doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. (6) Chương 5: Giải pháp và kiến nghị  
nâng cao chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh trên địa bàn thành phố  
Hà Nội. (7) Phần kết luận.  
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
1.1 Chất lượng dịch vụ  
1.1.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ  
Khi nói đến CLDV, chúng ta không thể nào không đề cập đến đóng góp  
rất lớn của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1991). Parasuraman và  
cộng sự (1988, tr17) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác  
nhau giữa sự kỳ vọng của người tiêu dùng về dịch vụ và cảm nhận của họ  
về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên  
cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành  
phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL) [15, tr. 58].  
5
1.1.2 Yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ  
SERVQUAL là mô hình đo lường mức độ đánh giá của khách hàng dựa  
trên các yếu tố quan trọng nhất. Sự đánh giá đó được khái quát hóa dựa trên  
khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng vào dịch vụ và thực tế sử dụng  
dịch vụ của khách hàng. Trong nghiên cứu đầu tiên của Parasuraman và cộng  
sự (1985), CLDV gồm mười yếu tố cấu thành. SERVQUAL tiếp tục được  
điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Đến năm 1988,  
nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự thu gọn các yếu tố cấu thành. Cuối  
cùng SERVQUAL bao gồm 22 biến quan sát để đo lường năm thành phần  
của chất lượng dịch vụ, đó là: (1) Sự tin cậy (reliability), (2)Tính hữu hình  
(tangibles) (3) Tính đáp ứng (responsiveness), (4) Sự đảm bảo (assurance), và  
(5) Sự đồng cảm (empathy).  
1.2 Siêu thị chuyên doanh  
1.2.1 Khái niệm siêu thị chuyên doanh  
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt  
Nam (nay là Bộ Công Thương) năm 2004: Siêu thị chuyên doanh là loại hình  
cửa hàng hiện đại; kinh doanh chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá  
phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích  
kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các  
phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm  
hàng hóa của khách hàng. [3, tr.3].  
1.2.2 Phân loại siêu thị chuyên doanh  
Trong Quy chế, STCD được đánh giá dựa trên 5 tiêu chí là: (1) Diện tích  
kinh doanh, (2) Danh mục hàng hóa kinh doanh, (3) Công trình kiến trúc và cơ sở  
vật chất, (4) Hệ thống kho và các thiết bị kỹ thuật, (5) Tổ chức bố trí hàng hóa.  
6
Bảng 1.5: Phân hạng siêu thị chuyên doanh  
Tiêu chuẩn tối thiểu về  
Phân hạng  
Diện tích kinh  
doanh(m2)  
1.000  
Số lượng  
hàng  
tên  
siêu thị chuyên doanh  
Hạng I  
2.000  
1.000  
500  
Hạng II  
500  
Hạng III  
500  
Nguồn: Quy chế quản lý siêu thị và trung tâm thương mại, Bộ Thương mại, 2004  
1.2.3 Các loại hình dịch vụ của siêu thị chuyên doanh  
Dịch vụ của STCD bao gồm ba loại hình dịch vụ chính đó là: (1) Dịch  
vụ liên quan đến bán hàng; (2) Dịch vụ liên quan đến hàng hóa mà siêu thị  
chuyên doanh kinh doanh; (3) Dịch vụ gia tăng mà siêu thị chuyên doanh kinh  
doanh như một ngành hàng bổ sung.  
Thứ nhất: Dịch vụ liên quan đến bán hàng: Đây là dịch vụ thông thường  
cũng giống như các loại hình bán lẻ khác cung cấp. Có thể kể đến các dịch vụ  
như: dịch vụ trông xe miễn phí, dịch vụ phát hành thẻ hội viên và có ưu đãi với  
những khách hàng có thẻ hội viện, dịch vụ cung cấp các chương trình khuyến  
mại vào các dịp lễ, tết, sinh nhật, các chương trình tri ân khách hàng, các dịch  
vụ giao hàng miễn phí, đổi trả hàng trong thời gian quy định.  
Thứ hai: Dịch vụ liên quan đến hàng hóa mà STCD cung cấp: Đây là các  
dịch vụ gắn liền với bản chất hàng hóa. Lý do chính của các loại dịch vụ này là  
vì các STCD cung cấp dải sản phẩm hẹp và sâu nên phần lớn người tiêu dùng  
không thể hiểu hết được bản thân các sản phẩm đó. Đồng thời, với sự tiến bộ  
của công nghệ, các sản phẩm này liên tục được cập nhật nên bản thân người  
tiêu dùng dù hiểu về sản phẩm cũng không thể cập nhật bằng các siêu thị chuyên  
doanh. Một siêu thị chuyên doanh nội thất phòng khách sẽ là chuyên gia về các  
7
loại ghế sofa, chuyên gia về các loại thảm như: thảm trang trí, thảm để sàn, thảm  
lau chân. Chính vì thế STCD phải cung cấp rất nhiều dịch vụ liên quan đến bản  
thân sản phẩm này. Đây chính là loại hình dịch vụ đặc trưng của STCD.  
Thứ ba: Dịch vụ gia tăng của STCD kinh doanh: Có thể kể đến những dịch  
vụ gia hạn thời gian bảo hành sau khi sản phẩm hết thời gian bảo hành của nhà  
sản xuất. Dựa trên việc tiếp nhận kỹ thuật từ nhà sản xuất và thấu hiểu nhu cầu  
của người tiêu dùng. Các siêu thị chuyên doanh có bán thêm các dịch vụ bảo  
hành, bảo dưỡng sản phẩm tận nhà. Dịch vụ cung cấp các sản phẩm bổ sung từ  
các nhà cung cấp khác nhau. Dịch vụ mua hàng cũ, đổi hàng mới với những  
người tiêu dùng muốn liên tục nâng cấp sản phẩm của mình.  
2.3 Các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ bán lẻ trên thế giới và Việt Nam  
Dabholka, Thorpe và Rentz (1996) dựa vào nghiên cứu định tính, lý  
thuyết dịch vụ trước đó và thang đo SERVQUAL, đã đưa ra năm thành  
phần cơ bản của chất lượng dịch vụ bán lẻ: 1/Phương tiện hữu hình (physical  
aspects), 2/Độ tin cậy (reliability), 3/Tương tác của nhân viên(personal  
interaction), 4/ Giải quyết khiếu nại (problem solving), và 5/ Chính sách  
của cửa hàng (Policy). Mehta và các cộng sự (2000) đã nhận ra rằng các yếu  
tố cấu thành và thang đo chất lượng dịch vụ bán lẻ (RSQS) phù hợp hơn với  
các môi trường bán lẻ mà “ nhiều hàng hóa hơn dịch vụ” như siêu thị.  
Nghiên cứu của (Trang Nguyễn, 2006) sử dụng thang đo chất lượng dịch  
vụ bán lẻ (Dabholka & ctg, 1996) và có điều chỉnh, và bổ sung các thành phần  
của chất lượng dịch vụ siêu thị tại Việt Nam. Nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh  
hưởng đến chất lượng dịch vụ bán lẻ tại các siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh”  
(Nhất Nguyễn, 2007. Các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu với một  
hay một số loại hình bán lẻ và mới chỉ dừng lại là các bài báo khoa học. Đây là  
gợi mở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo.  
8
CHƯƠNG 2  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng dịch vụ và siêu thị chuyên  
doanh  
2.1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng dịch vụ  
Dựa trên việc tổng quan nghiên cứu về CLDV và CLDV trong ngành  
bán lẻ, siêu thị trên thế giới và Việt Nam. Tác giả căn cứ chính vào hai mô  
hình nghiên cứu.  
Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ của Parasuraman: Mô hình  
SERVQUAL bao gồm năm yếu tố cấu thành và 22 biến quan sát. Mô hình  
đánh giá chất lượng dịch vụ bán lẻ ( RSQS) gồm năm yếu tố cấu thành: (1)  
Yếu tố hữu hình; (2) Sự tin cậy; (3) Tương tác của nhân viên; (4) Giải quyết  
khiếu nại và (5) Chính sách.  
2.1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về siêu thị chuyên doanh  
Học thuyết “Bánh xe bán lẻ” của giáo sư Macolm P.McNair. Nội dung  
của lý thuyết chỉ ra rằng: trước tiên các cửa hàng bán lẻ mới khởi đầu với mức  
giá thấp, quy chế hoạt động đơn giản, lợi nhuận thấp. Dần dần sự cạnh tranh  
ngày càng tăng, các cửa hàng bán lẻ bắt buộc phải nâng cấp và cải thiện dịch  
vụ, tập hợp hàng hóa và trang thiết bị cửa hàng. Kết quả là chi phí kinh doanh  
tăng lên và giá cả cũng tăng lên. Lý thuyết này được chứng minh bằng sự suy  
thoái của các cửa hàng bách hóa lớn và sự nổi lên của các siêu thị tập trung  
vào một số tập hàng hóa chuyên sâu [16, tr.9].  
Học thuyết “Vòng đời cửa hàng” cũng chỉ ra rằng: Các cửa hàng bán lẻ  
truyền thống và các siêu thị thuộc thế hệ đầu tiên đang mất dần vị thế trên thị  
trường và phải tìm cách đổi mới để thích ứng với điều kiện cạnh tranh. Các  
cửa hàng chuyên doanh và siêu thị chuyên doanh đang ở giai đoạn tăng trưởng.  
9
Đa số các loại cửa hàng, siêu thị chuyên doanh đều hoạt động trên phạm vi  
quốc tế.  
Nghiên cứu của Levy và Weitz (2009) chỉ ra có 6 yếu tố quyết định sự  
thành công của một loại hình bán lẻ nói chung và siêu thị chuyên doanh nói  
riêng. Đó là: (1) Vị trí siêu thị chuyên doanh; (2) Hàng hóa của siêu thị chuyên  
doanh; (3) Giá bán lẻ của siêu thị chuyên doanh; (4) Thông tin về và tới người  
tiêu dùng; (5) Thiết kế và trưng bày và (6) Dịch vụ khách hàng..  
2.2 Các mô hình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ  
2.3 Phát triển mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên  
doanh  
Xu hướng nghiên cứu thứ nhất dựa theo các nghiên cứu của Gronroos  
tập trung vào việc nghiên cứu chất lượng dịch vụ được cấu thành từ hai yếu tố  
chính là: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.  
Xu hướng nghiên cứu thứ hai là dựa trên nghiên cứu của Parasuraman.  
Các nghiên cứu này đi theo xu hướng dựa trên năm yếu tố cấu thành chất  
lượng dịch vụ của Parasuraman chỉ ra vào năm 1988.  
Bảng 2.1: Tổng hợp các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ theo xu  
hướng nghiên cứu của Parasuraman  
Mô hình của  
Mô hình  
Mô hình của  
Các yếu tố cấu thành  
Parasuraman,  
của Cronin Dabholkar, Thorpe  
Zeithaml và Berry  
và Taylor  
và Reztz  
Sự tin cậy  
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Tính hữu hình  
Sự sẵn sàng đáp ứng  
Sự đảm bảo  
Sự đồng cảm  
Tương tác nhân viên  
Giải quyết khiếu nại  
Chính sách  
X
X
X
10  
Mô hình nghiên cứu của tác giả dựa trên sự kế thừa ba mô hình nghiên  
cứu là: (1) Mô hình nghiên cứu của Gronroos về chất lượng chức năng, (2) Mô  
hình nghiên cứu của Parasuraman về năm yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ,  
(3) Mô hình nghiên cứu của Dabholkar về năm yếu tố cấu thành chất lượng  
dịch vụ trong bán lẻ.  
Tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu về chất lượng dịch vụ  
của siêu thị chuyên doanh, các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ của siêu thị  
chuyên doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đề xuất mô hình nghiên  
cứu như hình 2.1. Trong mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ của siêu thị  
chuyên doanh, tác giả đề xuất có năm yếu tố cấu thành: (1) Sự tin cậy, (2) Tính  
hữu hình, (3) Tương tác nhân viên, (4) Giải quyết khiếu nại và (5) Tư vấn  
chuyên môn.  
Để đo lường yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ cả Parasuraman và  
Dadhokar đều sử dụng thang đo Renis Lidert (1932). Các nghiên cứu về chất  
lượng dịch vụ trong bán lẻ, các nhà nghiên cứu đều sử dụng thang đo này. Vì  
vậy, nghiên cứu chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh, tác giả sử dụng  
thang đo Likert để đo lường.  
11  
Sự tin cậy  
Parasuraman(1988), Dadhoka (1996)  
Kaul(2007), Torlak(2010)  
Tính hữu hình  
Khách  
hàng  
Parasuraman(1988), Dadhoka (1996)  
Rodolfo (2000), Sum(2010)  
Chất lượng  
dịch vụ của  
trung  
thành  
siêu thị  
chuyên  
doanh  
Tương tác nhân viên  
Dadhoka (1996), Mehta(2000)  
Siu (2001), Jin(2002)  
Khách  
hàng mới  
Giải quyết khiếu nại  
Dadhoka (1996), Mehta(2005)  
Siu(2001), Kaul(2005)  
Tư vấn chuyên môn  
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh  
CHƯƠNG 3  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ  
CỦA SIÊU THỊ CHUYÊN DOANH  
3.1 Quy trình nghiên cứu  
Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu  
định lượng.  
Bảng 3.1: Phương pháp nghiên cứu  
Bước  
Phương pháp  
Kỹ thuật  
Thời gian  
1
2
Định tính  
Phỏng vấn sâu  
Khảo sát qua bảng  
hỏi  
03 tháng (từ 05 đến 07/2012)  
06 tháng ( từ 10/2012 đến  
03/2013)  
Định lượng  
12  
Quá trình nghiên cứu được thực hiện qua các bước: xây dựng mô hình,  
kiểm tra mô hình và thang đo, thu thập dữ liệu chính thức, phân tích nhân tố,  
kiểm định độ tin cậy, kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu.  
3.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu  
Theo tổng hợp của tác giả đến tháng 5/2013, trên địa bàn thành phố Hà  
Nội có 75 siêu thị chuyên doanh được phân bổ trên 10 quận.  
Ngoài cung cấp về hàng hóa, các STCD cung cấp các dịch vụ tới khách  
hàng. Đối với các STCD, hầu hết các siêu thị đều cung cấp 10 loại dịch vụ.  
Các dịch vụ này hỗ trợ khách hàng mua hàng nhanh chóng hơn khi ở tại siêu  
thị chuyên doanh và nâng cao tính tiện lợi khi khách hàng sử dụng sản phẩm  
tại gia đình.  
3.3 Nghiên cứu định tính  
Để thu thập dữ liệu định tính, tác giả sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu.  
Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu với 5 giám đốc siêu thị chuyên doanh, 26  
quản lý ngành hàng và 66 khách hàng.  
Kết quả phỏng vấn sâu với 5 giám đốc STCD chỉ ra rằng: dịch vụ trong  
STCD không chỉ đơn thuần là dịch vụ bán hàng mà là các dịch vụ phát sinh từ  
chính hàng hóa đó. Đây chính là cơ sở quan trọng để xây dựng yếu tố cấu  
thành mới trong mô hình nghiên cứu của tác giả.  
Kết quả phỏng vấn sâu với 26 quản lý ngành hàng, 66 khách hàng STCD  
cho thấy: yếu tố cấu thành CLDV của STCD trên địa bàn thành phố Hà Nội có  
sự tham gia rất nhiều của đội ngũ nhân viên và hàng hóa. Vai trò của nhân viên  
không chỉ là nhân viên bán hàng ngay tại siêu thị lúc bán hàng – vai trò tương  
tác nhân viên như trong mô hình RSQS mà vai trò của nhân viên còn là tư vấn  
chuyên môn thông tin hàng hóa để khách hàng lựa chọn mua, tư vấn chuyên  
môn khách hàng sử dụng và tư vấn cho khách hàng khi bị hỏng hóc. Đồng thời  
yếu tố nhân viên cũng được thể hiện rõ trong việc hỗ trợ khách hàng sử dụng  
hàng hóa, bảo hành, sửa chữa hàng hóa mua tại siêu thị chuyên doanh. Đây là  
13  
cơ sở để hình thành nên yếu tố cấu thành mới và các biến quan sát mới của  
chất lượng dịch vụ trong siêu thị chuyên doanh.  
3.4 Điều chỉnh yếu tố cấu thành trong mô hình nghiên cứu  
Siêu thị chuyên doanh vừa kinh doanh hàng hóa như siêu thị và trung  
tâm thương mại – Mô hình RSQS. Nhưng các STCD cũng cung cấp rất nhiều  
dịch vụ liên quan đến sản phẩm chuyên doanh – Mô hình SERQUAL. Vì vậy,  
kết hợp tổng quan các nghiên cứu trước đây và nghiên cứu định tính. Tác giả  
điều chỉnh yếu tố thứ năm cấu thành chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên  
doanh là TÍNH CHUYÊN NGHIỆP.  
Mô hình nghiên cứu CLDV của STCD điều chỉnh sau nghiên cứu định  
tính gồm năm yếu tố cấu thành: (1) Sự tin cậy; (2) Tính hữu hình; (3) Tương  
tác nhân viên; (4) Khả năng giải quyết khiếu nại khách hàng; (5) Tính chuyên  
nghiệp.  
3.5 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm  
Nghiên cứu thử nghiệm trên 20 khách hàng chỉ ra: khách hàng không  
phải lúc nào cũng kỳ vọng tối đa như nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị  
bán lẻ Việt Nam ( Nguyễn & Phạm 2007). Vì vậy, bảng hỏi trong nghiên cứu  
chính thức của tác giả cần phải đo lường cả kỳ vọng và cảm nhận.  
3.6 Điều chỉnh biến quan sát của yếu tố cấu thành trong mô hình nghiên cứu  
Biến quan sát điều chỉnh và xây dựng lần một của tác giả dựa trên kế thừa  
hai bảng hỏi của hai mô hình SERVQUAL và RSQS. Đồng thời điều chỉnh cho  
phù hợp với những kết quả nghiên cứu định tính về siêu thị chuyên doanh.  
Tuy nhiên, khi triển khai thử nghiệm với 20 khách hàng thì các biến  
quan sát chưa phản ánh hết được đặc điểm cụ thể STCD. Đồng thời, STCD  
cũng có ba đặc điểm khác với các trung tâm thương mại và siêu thị trong  
nghiên cứu của mô hình RSQS là: (1) Số lượng tên hàng ít hơn nhưng mức độ  
chi tiết cao hơn; (2) Nhiều nhân viên bán hàng hơn để tư vấn sản phẩm; (3) Tư  
14  
vấn sản phẩm không chỉ ở STCD mà cả khi khách hàng sử dụng. Chính vì vậy,  
biến quan sát được điều chỉnh lần hai gồm 37 biến quan sát.  
Bảng 3.2: Biến quan sát của SERVQUAL, RSQS và tác giả hiệu chỉnh  
lần 2  
Mô hình nghiên cứu của tác  
giả - Yếu tố cấu thành (5)  
Biến  
Biến  
Biến  
Biến quan  
sát lần 2  
quan sát  
SERQUAL  
RSQS  
lần 1  
1/ Sự tin cậy  
4
5
4
6
4
3
5
6
4
3
6
8
7
7
2/ Tính hữu hình  
3/Sự tương tác nhân viên  
4/Khả năng giải quyết khiếu  
nại  
5/ Tính chuyên nghiệp  
Tổng biến quan sát  
5
9
22  
21  
23  
37  
3.7 Nghiên cứu định lượng chính thức  
3.7.1 Thiết kế bảng hỏi  
Bảng câu hỏi trong nghiên cứu này được thiết kế lần đầu dựa trên kết  
quả nghiên cứu thứ cấp, mà cơ bản là 3 mô hình chính: (1) Mô hình Gronross,  
(3) Mô hình SERQUAL và (3) Mô hình RSQS. Bảng hỏi lần đầu gồm 23 câu  
hỏi. Dựa vào nghiên cứu định tính tiến hành chỉnh sửa lần một cho phù hợp  
với thuật ngữ của STCD. Tác giả tiến hành nghiên cứu thử nghiệm trên mẫu  
nhỏ (20 mẫu) để kiểm tra lại lần cuối và chỉnh sửa lần hai vào tháng 10/2012.  
Nội dung bảng hỏi bao gồm 3 phần chính (tham khảo tại phụ lục 6).  
3.7.2 Thiết kế mẫu  
Mẫu trong nghiên cứu được chọn theo phương pháp xác suất mà cụ thể  
là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản[12]. Theo phương pháp này,  
15  
tác giả đã dùng bảng ngẫu nhiên có danh sách 75 STCD trong phụ lục 7. Tác  
giả lựa chọn ngẫu nhiên 19 trong 75 STCD để làm mẫu nghiên cứu.  
3.7.3 Thu thập dữ liệu  
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng phiếu điều tra thông qua  
phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng tại các siêu thị chuyên doanh.  
Bảng hỏi được thiết kế để khách hàng trả lời gồm 37 biến quan sát. Chi tiết tại  
Phụ luc 6 – Phiếu câu hỏi chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh trên  
địa bàn thành phố Hà Nội.  
3.7.4 Phân tích dữ liệu  
Sau khi nhận được các bảng câu hỏi trả lời, tác giả tiến hành làm sạch  
thông tin, lọc bảng câu hỏi và mã hóa các thông tin cần thiết trong bảng câu  
hỏi, nhập liệu và phân tích dữ liệu bằng phân mềm SPSS phiên bản 16. Tiến  
hành thống kê mô tả dữ liệu thu thập. Sau đó, tiến hành các bước (1) Kiểm  
định giá trị của biến bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA, bước (2) đánh  
giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, và (3) phân  
tích hồi quy đa biến.  
CHƯƠNG 4  
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CỦA SIÊU THỊ CHUYÊN  
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
4.1 Thống kê mẫu mô tả  
Sau khi trực tiếp gửi 410 phiếu điều tra tới khách hàng tại 19 siêu thị  
chuyên doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả tiến hành tổng hợp phiếu  
điều tra thu thập được. Sau khi kiểm tra và phân loại, thu được 401 phiếu hợp  
lệ. Từ thống kê mẫu mô tả cho thấy: nữ chiếm 66,3%, số người độc thân chiếm  
76%. Như vậy, khách hàng trẻ chiếm phần lớn trong mẫu nghiên cứu. Khách  
16  
hàng trong độ tuổi 21-40 chiếm 80%, đây là khách hàng đã đi làm và có thu nhập  
cao, chi tiêu cao. Có tới 47,6% khách hàng làm việc ở doanh nghiệp tư nhân.  
Khách hàng tốt nghiệp đại học và cao đẳng chiếm tới 66,7%. Thu nhập trung  
bình 1 tháng trên 9,5 triệu chiếm gần 52%.  
4.2 Phân tích nhân tố khám phá  
Kiểm định KMO và Barlett’s cho 37 biến quan sát thể hiện sự kỳ vọng về  
chất lượng dịch vụ tại siêu thị cho thấy chỉ số KMO cao (0,961) với mức ý nghĩa  
bằng 0 (sig = 0.000). Như vậy, chỉ số KMO lớn hơn 0,5 cho thấy việc áp dụng  
phân tích nhân tố khám phá trong bộ thang đo này là phù hợp.  
Bảng 4.1: Phân tích trị số đặc trưng (eigenvalue) của 37 biến quan sát kỳ  
vọng về chất lượng dịch vụ của các siêu thị  
Giá trị eigenvalue  
Tổng bình phương tải nhân tố xoay  
Yếu  
tố  
% của biến  
thiên  
% cộng  
% của biến  
thiên  
% cộng  
dồn  
Tổng  
Tổng  
6,381  
dồn  
1
2
3
4
5
6
7
49,007  
6,837  
4,380  
3,742  
2,956  
2,790  
2,313  
49,007  
55,844  
60,225  
63,966  
66,922  
69,712  
72,025  
17,245  
14,459  
12,482  
11,309  
10,916  
3,300  
17,245  
18,133  
2,530  
1,621  
1,384  
1,094  
1,032  
,856  
5,350  
4,618  
4,184  
4,039  
1,221  
31,704  
44,187  
55,496  
66,412  
69,712  
Tổng chỉ số tổng bình phương tải nhân tố xoay “Rotation Sums of  
Squared Loadings” đạt mức cao, khoảng 69,712%. Điều này nói lên việc sử  
dụng 6 nhân tố đại diện cho 37 thang đo đã có thể giải thích được 66,922% khả  
năng giải thích của tất cả các thang đo. Trong nghiên cứu thuộc khoa học xã  
hội, tổng chỉ số tổng bình phương tải nhân tố xoay đạt 50% là được chấp nhận.  
Như vậy, có thể kết luận có thể sử dụng 6 nhân tố để phản ánh những thông tin  
cung cấp từ 37 biến quan sát.  
17  
Kiểm định KMO và Barlett’s cho 37 biến quan sát thể hiện sự cảm  
nhận về chất lượng dịch vụ tại siêu thị cho thấy chỉ số KMO cao (0.941) với  
mức ý nghĩa bằng 0 (sig = 0.000). Như vậy chỉ số KMO lớn hơn 0,5 cho thấy  
việc áp dụng phân tích nhân tố khám phá trong bộ thang đo này là phù hợp.  
Tổng chỉ số tổng bình phương tải nhân tố xoay “Rotation Sums of  
Squared Loadings” đạt mức cao, khoảng 62,355%. Điều này nói lên việc sử  
dụng 7 nhân tố đại diện cho 37 biến quan sát đã có thể giải thích được  
62,355% khả năng giải thích của tất cả các biến quan sát. Trong nghiên cứu  
thuộc khoa học xã hội, tổng chỉ số tổng bình phương tải nhân tố xoay đạt 50%  
là được chấp nhận. Như vậy, có thể kết luận có thể sử dụng 7 nhân tố để phản  
ánh những thông tin cung cấp từ 37 biến quan sát.  
4.3 Đánh giá độ tin cậy của yếu tố cấu thành và biến quan sát  
Bảng 4.2: Kết quả về độ tin cậy với hệ số Cronbach Alpha  
Độ tin cậy  
Cronbach  
Alpha với kỳ  
vọng  
Độ tin cậy  
Cronbach  
Alpha với  
cảm nhận  
0,82  
Mô hình nghiên cứu của tác giả Số lượng  
- Yếu tố cấu thành (5)  
biến  
1/ Sự tin cậy  
6
8
7
7
9
0,87  
2/ Tính hữu hình  
0,92  
0,85  
3/Sự tương tác nhân viên  
4/Khả năng giải quyết khiếu nại  
5/ Tính chuyên nghiệp  
0,84  
0,89  
0,93  
0,89  
0,94  
0,89  
Trong bảng 4.2, Cronbach alpha tính được đều lớn hơn 0,8. Nhiều nhà  
nghiên cứu đồng ý rằng: khi Cronbach alpha từ 0,8 đến gần 1 thì yếu tố được  
đo lường là tốt, từ 0,7 đến gần 0,8 thì sử dụng được ( Nunnally, 1978;  
Peterson, 1994; Slater, 1995). Như vậy, yếu tố tính chuyên nghiệp trong chất  
lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh được đánh giá là tốt.  
18  
Qua kiểm định độ tin cậy thì cả 5 yếu tố cấu thành và 37 biến quan sát  
đều đạt độ tin cậy cho phép. Không có yếu tố và biến quan sát nào bị loại. Đặc  
biệt, đánh giá độ tin cậy của yếu tố tính chuyên nghiệp – yếu tố mới trong  
CLDV của STCD trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thấy: Độ tin cậy với sự  
kỳ vọng đạt 0,944, độ tin cậy với cảm nhận là 0,889. Cả hai sự tin cậy đều lớn  
hơn 0,8 nên yếu tố tính chuyên nghiệp của siêu thị chuyên doanh được đánh  
giá là đáng tin cậy. Tương quan biến tổng (corrected item – total correlation)  
của cả kỳ vọng và thực tế cảm nhận của yếu tố cấu thành đều lớn hơn 0,3 nên  
không có biến quan sát nào bị loại.  
4.4 Phân tích mô hình hồi quy  
Sử dụng SPSS tiến hành hồi quy mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành (Sự  
tin cậy, Tính hữu hình, Sự tương tác của nhân viên, Khả năng giải quyết khiếu  
nại, Tính chuyên nghiệp) với chất lượng dịch vụ của siêu thị chuyên doanh.  
Bảng 4.3: Bảng các hệ số hồi quy yếu tố cấu thành CLDV của STCD  
Hệ số hồi quy  
Hệ số hồi  
Ý
Hệ số hồi quy  
quy chuẩn  
hoá  
Thống  
kê  
nghĩa  
thống  
kê  
Mô hình  
Độ lệch  
B
Beta  
chuẩn  
1
Hằng số  
3,339  
,157  
,097  
,123  
,095  
,044  
,044  
,044  
,044  
,044  
75,923  
3,561  
2,210  
2,787  
2,151  
,000  
,000  
,028  
,006  
,032  
Su tin cay  
,173  
,107  
,135  
,104  
Tinh huu hinh  
Tuong tac nhan vien  
Kha nang giai quyet  
khieu nai  
Tinh chuyen nghiep  
,025  
,044  
,572  
,568  
,028  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 12080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Chất lượng dịch vụ của các siêu thị chuyên doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_chat_luong_dich_vu_cua_cac_sieu_thi_chuyen_d.pdf