Thử nghiệm phục hồi san hô trên giá thể ở khu vực biển Đầm Báy, vịnh Nha Trang

Thông tin khoa học công nghệ  
THỬ NGHIỆM PHỤC HỒI SAN HÔ TRÊN GIÁ THỂ  
Ở KHU VỰC BIỂN ĐẦM BÁY, VỊNH NHA TRANG  
TRẦN VĂN BẰNG  
1. MỞ ĐẦU  
Rạn san hô, khu rừng đặc dụng ở dưới nước là một trong những hệ sinh thái  
quan trọng bậc nhất của vùng biển nhiệt đới, là tấm lá chắn cho biển và đại dương,  
là nơi cư trú của hầu hết các loài thủy sinh vật biển trong một giai đoạn hay cả vòng  
đời của chúng. Theo khảo sát đánh giá thì nghề cá biển có liên quan trực tiếp hoặc  
gián tiếp đến rạn san hô chiếm khoảng 10% sản lượng nghề cá trên thế giới. Nền đáy  
cứng của rạn san hô có tác dụng chống xói lở bờ biển, vẻ đẹp và sự đa dạng của san  
hô là nơi phục vụ cho nhu cầu du lịch giải trí. Một số chế phẩm của san hô có giá trị  
về mặt y dược như dùng làm thuốc chữa bệnh lỵ, thuốc tra mắt và thuốc đánh răng.  
Trong y học hiện đại, một số chế phẩm san hô còn được dùng để ghép xương cột  
sống, xương hàm mặt và điều trị tổn thương sàn hốc mắt. Mặc dù mang lại những lợi  
ích đó song hệ sinh thái này vẫn đang bị suy thoái nghiêm trọng. Theo thống kê đến  
nay có khoảng 20% diện tích san hô trên thế giới đã bị phá hủy, 24% đang bị đe dọa  
và 26% diện tích đang đối mặt với những mối đe dọa dài hạn. Nguyên nhân là do sự  
biến đổi khí hậu trên toàn cầu và những tác động của con người gây ra. Đứng trước  
những tình hình đó, nhiều giải pháp khác nhau đã được tiến hành để bảo vệ hệ sinh  
thái san hô nhằm duy trì tính đa dạng sinh học và lợi ích kinh tế mà nó mang lại.  
Một trong những giải pháp đó là tiến hành các hoạt động phục hồi rạn san hô [2, 3].  
Trong những năm qua, Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
đã có những nghiên cứu về hệ sinh thái rạn san hô ở vịnh Nha Trang và tiến hành  
phục hồi san hô ở một số điểm trong khu vực như ở Hòn Mun, Đầm Báy đạt được  
những kết quả nhất định, từ đó có thể đề xuất giải pháp phục hồi rạn san hô, góp  
phần giữ gìn sự đa dạng sinh học và bảo vệ, tài nguyên môi trường biển.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
06 loài san hô cứng thuộc 03 giống đó là: Acropora hyacinthus, A. fomosa, A.  
Yongei, A. florida, Pocillopora verrucosa và san hô Thủy tức Millepora tenella được  
thử nghiệm trồng trên giá thể bê tông dạng Reef Ball và giá thể khung sắt hình vuông  
và hình tam giác.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng phương pháp điều tra thực địa và phương pháp thực nghiệm để thu thập  
số liệu. Số liệu được sử lý trên phần mềm thống kê EXCEL và SPSS để đánh giá mức  
độ sai khác ý nghĩa p < 0,05.  
- Thu thập số liệu địa hình hợp phần nền đáy khu vực Đầm Báy bằng phương  
pháp lặn. Thu thập số liệu môi trường nước bằng các dụng cụ chuyên dùng: Độ trong  
đo bằng đĩa Secchi; Nhiệt độ (to), độ mặn (S‰), độ pH đo bằng các thiết bị cầm tay.  
Hàm lượng vật chất lơ lửng (TSS) phân tích bằng phương pháp trọng lượng, lọc qua  
giấy lọc sợi thủy tinh 0,45μm. Các thông số về chất dinh dưỡng NH3,4-N, NO2-N,  
NO3-N, PO4-P phân tích theo các phương pháp trong APHA, 2005 [6].  
168  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
Thông tin khoa học công nghệ  
- Đánh giá chất lượng nước theo QCVN 10:2008/BTNMT [4].  
- Kỹ thuật phục hồi san hô: Sử dụng kỹ thuật phục hồi và di dời san hô [9].  
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng của san hô: Sử dụng phương pháp buộc thẻ đánh  
dấu [7].  
Tỉ lệ sống (TLS) được theo dõi bằng phương pháp đếm trực tiếp số lượng tập  
đoàn san hô sống hay chết trên các giá thể sau đó tính % tỉ lệ sống theo công thức:  
TLS = (N1/N0) x 100.  
Tốc độ tăng trưởng xác định hàng tháng theo công thức:  
L = (L2 - L1)/(t2 - t1)  
Trong đó:  
N1: Số tập đoàn san hô còn sống khi kiểm tra  
N0: Số tập đoàn san hô ban đầu,  
L1: Đường kính tập đoàn hoặc chiều dài nhánh san hô lần kiểm tra trước,  
L2: Đường kính tập đoàn hoặc chiều dài nhánh san hô khi kiểm tra.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Chất lượng nước ở khu vực biển Đầm Báy  
Một số yếu tố môi trường nước ở khu vực biển Đầm Báy trong cả 2 mùa (mùa  
khô và mùa mưa) đều nằm trong ngưỡng cho phép cho vùng biển bảo tồn thủy sinh  
vật, đặc biệt không phát hiện thấy sự có mặt của NO2-N (bảng 1).  
Bảng 1. Một số yếu tố môi trường nước ở khu vực biển Đầm Báy  
Độ Nhiệt  
Độ  
DO  
TSS PO4-P NH3,4-N NO2-N NO3-N  
(μg/l) (μg/l) (μg/l)  
Mùa trong  
độ Độ pH muối  
(mg/l) (mg/l) (μg/l  
(m) (oC)  
(‰)  
Mùa  
8,0  
28,7  
27,1  
8,10 34,2  
5,5  
6,5  
8,1  
5,6  
0
32,1  
khô  
Mùa  
5,0  
7,8  
32,5  
-
6,0  
10,5  
50  
13,4  
15  
14,5  
100  
0
32,8  
60  
mưa  
GTGH  
-
30 6,5-8,5  
≥5  
55  
Ghi chú: GTGH là giá trị giới hạn; Dấu (-) là không qui định  
3.2. Kết quả trồng san hô trên giá thể  
3.2.1. Tỉ lệ sống của san hô trồng thử nghiệm  
* Tỉ lệ sống của san hô trồng trên khung sắt trong mùa khô (3/2016÷8/2016)  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
169  
Thông tin khoa học công nghệ  
Tỉ lệ sống của san hô trong mùa khô trên 2 loại hình giá thể khung trung bình  
là 92,26%. Trong đó, loài Acropora florida có tỉ lệ sống thấp nhất (75÷78,57%), hai  
loài Millepora tenella và Pocillopora verrucosa có tỉ lệ sống 100%, các loài còn lại  
có tỉ lệ sống đạt từ 81,25÷96,43%. Xét trên từng loại hình giá thể thì tỉ lệ sống trung  
bình của san hô trên khung hình vuông là 93,75% có xu hướng cao hơn tỉ lệ sống  
của san hô trên khung hình tam giác 90,3% (bảng 2).  
Bảng 2. Tỉ lệ sống của san hô trên khung sắt trong mùa khô (3/2016÷8/2016)  
Khung sắt hình tam giác  
Khung sắt hình vuông  
Tỉ lệ  
sống  
trung  
bình  
Số tập  
Số tập  
Số tập Số tập  
Tỉ lệ  
sống  
(%)  
Tỉ lệ  
Loài san hô  
đoàn san đoàn san  
đoàn san đoàn san  
sống  
hô khi  
trồng  
hô còn  
sống  
hô khi hô còn  
(%)  
(%)  
trồng  
16  
sống  
16  
Acropora hyacinthus  
Acropora formosa  
Acropora florida  
Acropora yongei  
Pocillopora verrucosa  
Millepora tenella  
Tổng  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
72  
11  
11  
9
91,7  
91,7  
75,0  
83,33  
100  
100  
96,43  
16  
15  
93,75 92,86  
81,25 78,57  
16  
13  
10  
12  
12  
65  
16  
14  
87,5  
100  
100  
85,71  
100  
16  
16  
100  
16  
16  
100  
90,3  
96  
90  
93,75 92,26  
* Tỉ lệ sống của san hô trồng trên khung sắt trong mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Tỉ lệ sống trung bình của các loài san hô trong mùa mưa đạt cao (94,64%).  
Trong đó, loài A. florida có tỉ lệ sống thấp nhất (85,71%); loài P. verrucosa, M.  
tenella và A. hyacinthus hầu như đạt tỉ lệ sống 100%. So sánh tỉ lệ sống của san hô  
trên 2 loại hình giá thể cho thấy; giá thể khung sắt dạng hình vuông có tỉ lệ sống  
95,83% có xu hướng cao hơn khung sắt dạng hình tam giác (93%) (bảng 3).  
Bảng 3. Tỉ lệ sống của san hô trên khung sắt trong mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Khung sắt hình tam giác  
Khung sắt hình vuông  
Tỉ lệ  
sống  
trung  
bình  
Số tập  
Số tập  
Số tập Số tập  
Tỉ lệ  
sống  
(%)  
Tỉ lệ  
Loài san hô  
đoàn san đoàn san  
đoàn san đoàn san  
sống  
hô khi  
trồng  
hô còn  
sống  
hô khi hô còn  
(%)  
trồng  
16  
sống  
16  
A. hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
A. yongei  
P. verrucosa  
M. tenella  
Tổng  
12  
12  
12  
12  
12  
12  
72  
12  
11  
10  
10  
12  
12  
67  
100  
91,7  
83,33  
83,33  
100  
100  
100  
16  
15  
93,75 92,86  
87,5 85,71  
93,75 89,29  
16  
14  
16  
15  
16  
16  
100  
100  
100  
100  
100  
16  
16  
93,0  
96  
92  
95,83 94,64  
170  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
Thông tin khoa học công nghệ  
Như vậy tỉ lệ sống của san hô trên khung sắt vào mùa mưa là 94,64% cao hơn  
mùa khô là 92,26%. Kết quả này cũng phù hợp với những nghiên cứu trước đây [3].  
Đối với 2 loại hình giá thể thì tỉ lệ sống của san hô trên giá thể dạng hình vuông có  
xu hướng cao hơn trên dạng hình tam giác.  
3.2.2 Tỉ lệ sống của san hô trồng trên giá thể bê tông  
* Tỉ lệ sống của san hô trồng trên giá thể bê tông vào mùa khô (6/2016÷8/2016)  
Tỉ lệ sống của san hô trên giá thể bê tông trong mùa khô đạt trung bình  
70,83%, loài A. florida có tỷ lệ sống thấp nhất (53,33%), các loài còn lại đạt trên  
65%, cao nhất là loài A. hyacinthus (77,78%).  
Bảng 4. Tỉ lệ sống của san hô trên giá thể bê tông vào mùa khô (6/2016÷8/2016)  
Tỷ lệ sống san hô trên giá thể bê tông vào mùa khô  
Giá thể bê tông  
hình lăng trụ  
Giá thể bê tông  
hình chóp cụt  
Giá thể bê tông  
hình nón cụt  
Tỉ lệ  
sống  
trung  
bình  
(%)  
Loài san  
hô  
Số tập Số tập  
Số tập Số tập  
Số tập Số tập  
Tỉ lệ  
sống  
(%)  
đoàn đoàn Tỉ lệ đoàn đoàn  
san hô san hô sống san hô san hô  
đoàn đoàn Tỉ lệ  
san hô san hô sống  
khi  
còn (%)  
khi  
còn  
khi  
còn (%)  
trồng sống  
trồng sống  
trồng sống  
A.hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
A. yongei  
P. verrucosa  
M. tenella  
Tổng  
6
5
4
3
2
4
4
3
66,67  
60,0  
6
5
5
3
3
3
4
4
83,33  
60,0  
60,0  
60,0  
66,67  
80,0  
6
5
5
5
6
5
5
4
3
3
5
4
83,33 77,78  
80,0 66,67  
60,0 53,33  
60,0 66,67  
83,33 72,22  
80,0 73,33  
5
40,0  
5
5
80,0  
5
6
66,67  
60,0  
6
5
5
32  
20 62,5  
32  
22 68,75 32  
24 75,0 70,83  
So sánh tỉ lệ sống của san hô trên 03 loại hình giá thể bê tông cho thấy; Tỉ lệ  
sống của san hô trên giá thể hình lăng trụ (62,5%) thấp hơn trên giá thể bê tông hình  
chóp cụt (68,75%) và hình nón cụt (75%). Nguyên nhân có thể do phần bề mặt đứng  
của giá thể hình lăng trụ không có độ nghiêng nên các nhánh san hô trồng ở đây ít  
ánh sáng.  
* Mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Tỉ lệ sống của san hô trên giá thể bê tông trong mùa mưa đạt trung bình  
75,0%, loài A. florida có tỉ lệ sống thấp nhất (60,0%), các loài còn lại đạt trên 70%,  
cao nhất là loài M. tenella (86,67%) (bảng 5).  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
171  
Thông tin khoa học công nghệ  
Bảng 5. Tỉ lệ sống của san hô trên giá thể bê tông trong mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Giá thể bê tông  
hình lăng trụ  
Giá thể bê tông hình  
chóp cụt  
Giá thể bê tông  
hình nón cụt  
Tỉ lệ  
sống  
trung  
bình  
(%)  
Số tập Số tập  
Số tập Số tập  
Số tập Số tập  
Loài san  
hô  
Tỉ lệ  
đoàn đoàn Tỉ lệ đoàn đoàn  
san hô san hô sống san hô san hô  
đoàn đoàn Tỉ lệ  
san hô san hô sống  
sống  
(%)  
khi  
còn (%)  
khi  
còn  
khi  
còn (%)  
trồng sống  
trồng sống  
trồng sống  
A.hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
A. yongei  
P.verrucosa  
M. tenella  
Tổng  
6
5
5
4
3
3
4
4
4
66,67  
60,0  
60,0  
80,0  
66,67  
80,0  
6
5
5
5
6
5
5
4
3
83,33  
80,0  
60,0  
80,0  
66,67  
80,0  
75,0  
6
5
4
3
4
5
5
83,33 77,78  
80,0 73,33  
60,0 60,0  
80,0 80,00  
83,33 72,22  
100 86,67  
5
5
5
4
5
6
4
6
5
4
5
32  
22 68,75 32  
24  
32  
26 81,25 75,0  
So sánh trên 03 loại hình giá thể thì san hô trên giá thể hình lăng trụ có tỷ lệ sống  
(68,75%) thấp hơn trên giá thể hình chóp cụt (75,0%) và hình nón cụt (81,25%).  
Tỉ lệ sống của san hô trồng trên giá thể bê tông trong mùa mưa đạt 75,0 cao  
hơn trong mùa khô 70,83%.  
3.2.3. Tốc độ tăng trưởng  
* Tốc độ tăng trưởng của san hô trên giá thể sắt trong mùa khô  
(3/2016÷8/2016)  
Trong nhóm san hô dạng cành, loài san hô Thủy tức M. tenella có tốc độ tăng  
trưởng chậm (0,58 mm/tháng), loài A. formosa tăng trưởng 5,31 mm/tháng. Nhóm  
san hô dạng bản có loài A. hyacinthus tăng trưởng nhanh (5,42 mm/tháng). Loài P.  
verrucosa dạng khối tăng trưởng 1,32 mm/tháng. Không có sự chênh lệch khác biệt  
về tốc độ tăng trưởng của các loài san hô giữa hai dạng giá thể khung sắt hình tam  
giác và khung sắt hình vuông.  
Bảng 6. Tăng trưởng của san hô trên giá thể sắt trong mùa khô (3/2016÷8/2016)  
Tăng trưởng trung bình (mm/tháng)  
Loài san hô  
Khung sắt hình tam giác  
5,38 ± 3,72  
Khung sắt hình vuông  
5,42 ± 2,38  
Acropora hyacinthus  
Acropora formosa  
Acropora florida  
5,31 ± 3,13  
5,27 ± 4,13  
3,12 ± 2,17  
3,05 ± 2,07  
Acropora yongei  
4,47 ± 2,85  
4,53 ± 2,55  
Pocillopora verrucosa  
Millepora tenella  
1,32 ± 1,14  
1,31 ± 2,13  
0,58 ± 0,67  
0,58 ± 1,01  
172  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
Thông tin khoa học công nghệ  
* Tăng trưởng của san hô trên giá thể sắt trong mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Trong mùa mưa, nhóm san hô dạng cành trồng trên khung sắt có tốc độ tăng  
trưởng trung bình từ (3,17÷5,33 mm/tháng), loài san hô Thủy tức M. tenella tăng  
trưởng trung bình từ (0,75÷0,78 mm/tháng), Loài A. hyacinthus dạng bản tăng  
trưởng về đường kính đạt 5,47 mm/tháng. Loài san hô dạng khối P. verrucosa có tốc  
độ tăng trưởng từ (1,35÷1,37 mm/tháng).  
Bảng 7. Tăng trưởng TB của san hô trên giá thể sắt trong mùa mưa  
Tăng trưởng trung bình (mm/tháng)  
Loài san hô  
Khung sắt hình tam giác  
5,43 ± 2,71  
Khung sắt hình vuông  
5,47 ± 2,15  
A. hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
5,33 ± 3,14  
5,33 ± 3,27  
3,20 ± 1,35  
3,17 ± 2,43  
A. yongei  
4,52 ± 2,91  
4,55 ± 2,15  
P. verrucosa  
M. tenella  
1,35 ± 1,17  
1,37 ± 2,13  
0,75 ± 0,35  
0,78 ± 0,91  
* Tăng trưởng của san hô trên giá thể bê tông trong mùa khô (3/2016÷8/2016)  
Tốc độ tăng trưởng của san hô Thủy tức M. tenella trên giá thể bê tông trong  
mùa khô từ (0,48÷0,53 mm/tháng) và có xu hướng tăng trưởng chậm hơn ở giá thể  
bê tông hình lăng trụ (0,48 mm/tháng), cao hơn ở giá thể bê tông hình chóp cụt (0,51  
mm/tháng) và hình nón cụt (0,53 mm/tháng). Nhóm san hô dạng cành thuộc giống  
Acropora có tốc độ tăng trưởng trung bình từ (2,67÷4,43 mm/tháng) và cũng có xu  
hướng tăng trưởng thấp trên giá thể hình lăng trụ, cao hơn ở giá thể hình chóp cụt và  
hình nón cụt. Loài san hô dạng bản A. hyacinthus có tốc độ tăng trưởng trung bình  
trên giá thể lăng trụ là 4,33 mm/tháng, trên giá thể hình chóp cụt là 4,25 mm/tháng  
và trên giá thể hình nón cụt là 4,53 mm/tháng. Loài P. verrucosa dạng khối tăng  
trưởng trung bình từ (1,15÷1,25 mm/tháng) và có xu hướng cao hơn trên giá thể  
hình nón cụt.  
Bảng 8. Tốc độ tăng trưởng TB của san hô trên giá thể bê tông trong mùa khô  
Tăng trưởng trung bình (mm/tháng)  
Loài san hô  
Giá thể hình lăng trụ Giá thể hình chóp cụt Giá thể hình nón cụt  
A. hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
4,33 ± 3,52  
4,21 ± 3,15  
2,68 ± 2,11  
4,07 ± 2,83  
1,23 ± 1,17  
0,48 ± 0,32  
4,25 ± 3,14  
4,25 ± 3,17  
2,94 ± 2,01  
4,12 ± 2,13  
1,15 ± 1,23  
0,51 ± 0,42  
4,53 ± 3,42  
4,27 ± 3,35  
2,67 ± 1,94  
4,43 ± 2,87  
1,25 ± 1,08  
0,53 ± 0,35  
A. yongei  
P. verrucosa  
M. tenella  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
173  
Thông tin khoa học công nghệ  
* Tăng trưởng của san hô trên giá thể bê tông trong mùa mưa (9/2016÷12/2016)  
Kết quả về sự tăng trưởng của san hô trên giá thể bê tông vào mùa mưa vẫn  
cho thấy; San hô Thủy tức M. tenella có tốc độ phát triển chậm, trung bình từ  
0,59÷0,75 mm/tháng và xu hướng chậm nhất ở giá thể bê tông dạng hình lăng trụ  
(0,59 mm/tháng), cao hơn ở giá thể bê tông dạng hình chóp cụt và hình nón cụt (0,73  
và 0,79 mm/tháng). Các loài san hô dạng cành thuộc giống Acropora tăng trưởng  
trung bình từ 2,71÷4,48 mm/tháng, có xu hướng cao hơn ở giá thể hình chóp cụt và  
hình nón cụt, thấp hơn ở dạng giá thể hình lăng trụ. Loài san hô dạng bản A.  
hyacinthus tăng trưởng trung bình từ 4,38÷4,59 mm/tháng. Loài P. verrucosa dạng  
khối tăng trưởng trung bình từ 1,25÷1,33 mm/tháng.  
Bảng 9. Tăng trưởng TB của san hô trên giá thể bê tông trong mùa mưa  
Tăng trưởng trung bình (mm/tháng)  
Loài san hô  
Giá thể hình lăng trụ Giá thể hình chóp cụt Giá thể hình nón cụt  
A. hyacinthus  
A. formosa  
A. florida  
4,45 ± 2,75  
4,33 ± 2,27  
2,71 ± 1,93  
4,28 ± 2,90  
1,25 ± 1,15  
0,59 ± 0,21  
4,38 ± 2,84  
4,29 ± 2,85  
2,94 ± 2,15  
4,31 ± 2,25  
1,28 ± 1,21  
0,73 ± 0,27  
4,59 ± 3,12  
4,32 ± 2,89  
3,17 ± 2,28  
4,48 ± 2,95  
1,33 ± 1,12  
0,75 ± 0,25  
A. yongei  
P. verrucosa  
M. tenella  
4. KẾT LUẬN  
1. Chất lượng nước ở khu vực biển Đầm Báy nằm trong giới hạn cho phép cho  
vùng biển bảo tồn thủy sinh theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10.2008 [4].  
2. Tỉ lệ sống của các loài san hô khi trồng trong mùa khô và mùa mưa trên giá  
thể sắt trung bình đạt 92,26÷94,64%, cao hơn trên giá thể bê tông (70,83÷75,0%). Tỉ  
lệ sống của san hô trồng trên khung sắt dạng hình vuông cao hơn dạng hình tam giác,  
trên giá thể bê tông hình nón cụt cao hơn dạng hình chóp cụt và dạng hình lăng trụ.  
3. Tốc độ tăng trưởng của san hô trên giá thể sắt cao hơn tốc độ tăng trưởng  
của san hô trên giá thể bê tông trong cả hai mùa. Trên khung sắt san hô Thủy Tức M.  
tenella tăng trưởng 0,58÷0,78 mm/tháng, san hô dạng khối P. verrucosa tăng trưởng  
1,31÷1,37 mm/tháng, san hô dạng bản A. Hyacinthus tăng trưởng 5,38÷5,47  
mm/tháng và san hô dạng cành giống Acropora tăng trưởng 3,05÷5,33 mm/tháng.  
Tăng trưởng trên giá thể bê tông của 4 loài san hô trên theo thứ tự lần lượt là;  
0,48÷0,75mm/tháng; 1,15÷1,33mm/tháng; 4,25÷4,59mm/tháng và 2,67÷4,48mm/tháng.  
174  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
Thông tin khoa học công nghệ  
4. Tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng của các loài san hô trên giá thể khung sắt cao  
hơn trên giá thể khung bê tông. Giá thể bằng bê tông chịu được sóng gió tốt hơn và  
là nơi cư trú hấp dẫn hơn cho các loài cá san hô và sinh vật rạn. Đối với giá thể bê  
tông, tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của san hô có xu hướng cao hơn ở giá thể hình  
nón cụt và hình chóp cụt, thấp hơn ở giá thể dạng hình lăng trụ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bùi Hồng Long, Trần Văn Chung, Tính toán dòng chảy triều tại khu Đầm Báy  
(vịnh Nha Trang) bằng phương pháp phần tử, Tạp chí khoa học và công nghệ  
biển, Viện Hải Dương Học Nha Trang, 2014.  
2. Lê Minh Tùng, Nghiên cứu điều trị gãy sàn hốc mắt kết hợp lót chỗ gãy bằng  
chế phẩm san hô lấy từ vùng biển Việt Nam, Báo cáo tổng kết, Đại học Y Dược  
Tp.HCM, 2007.  
3. Nguyễn Tác An, Áp dụng bước 3, 4, 5 mô hình quản lý tổng hợp đới bờ biển  
tỉnh Bình Định, Viện Hải Dương Học, 2007.  
4. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10.2008/BTNMT “Chất lượng nước biển  
ven bờ”, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2008.  
5. Võ Sỹ Tuấn, Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phục hồi san hô cứng ở một số  
khu bảo tồn biển trọng điểm, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Hải Dương Học,  
2013.  
6. APHA, Standard Methods for The Analysis of Water and Waste Water; 21st  
Edition, 2005.  
7. English et al., Methods for Ecological monitoring of coral reef. Australian  
Inrtitute Of Marine Science. 1997.  
8. Hodgson. G., Waddell S., 1997. International Reef Check Core Method. Hong  
9. Cмypoв  
A.B.,  
Биоразнообразие  
и
структурно-функциональная  
организация морских прибрежных экосистем, ОТЧЕТ, Thư viện Chi  
Nhánh Ven Biển, 2007.  
SUMMARY  
EXPERIMENT CULTIVATION AND REGENERATION OF CORAL  
ON THE FRAME IN DAM BAY MARINE AREA OF NHA TRANG BAY  
In this research, results showed that at following environmental conditions:  
temperature 27.1÷ 28.7oC; S‰ = 32.5÷ 34.1‰; pH = 7.8÷8.1; TTS = 6.5÷10.5 mg/l,  
NH3,4-N = 5.6÷14.5 μg/l, PO4-P  
= 8.1÷13.4 μg/l /l, coral specimens regenerated  
TB  
and grew well.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
175  
Thông tin khoa học công nghệ  
Average growth rate of Millepora terella, Acropora hyacinthus, Pocillopora  
verrucosa on iron frames was 0.58÷0.78 mm, 5.38÷5.47 mm, 1.31÷1.37 mm per  
month, respectively and on concrete frames was 0.48÷0.75 mm, 4.25÷4.59 mm,  
1.15÷1.33 mm per month, respectively. In branch size of Arcropora, the average  
growth rate on iron frames and concrete frames was 3.05÷5.33 mm and 2.67÷4.48  
mm, respectively. Survival rate of coral was 92.26÷94.64% on iron frames and  
70.83÷75.0% on concrete frames.  
In conclusion, marine environmental conditions of Dam Bay area are suitable  
for the growth and development of coral, especially the sclera species.  
Keywords: Coral, regenerate, iron frame, concrete frame, growth, survival.  
Nhận bài ngày 20 tháng 8 năm 2017  
Hoàn thiện ngày 15 tháng 10 năm 2017  
Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
176  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 14, 11 - 2017  
pdf 9 trang yennguyen 15260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thử nghiệm phục hồi san hô trên giá thể ở khu vực biển Đầm Báy, vịnh Nha Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_nghiem_phuc_hoi_san_ho_tren_gia_the_o_khu_vuc_bien_dam_b.pdf