Nghiên cứu đặc điểm sinh học buồng trứng cá bè đưng (Gnathanodon speciosus)

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC BUỒNG TRỨNG CÁ BÈ ĐƯNG  
(Gnathanodon speciosus)  
STUDY ON OVARIAN BIOLOGY OF THE GOLDEN TREVALLY (Gnathanodon speciosus)  
Phạm Quốc Hùng1, Hứa Thị Ngọc Dung1  
Nguyễn Thị Toàn Thư2,  
1Trường Đại học Nha Trang,  
2Chi cục Thủy sản Khánh Hòa  
Tác giả liên hệ: Phạm Quốc Hùng (Email: [email protected])  
Ngày nhận bài: 19/10/2020; Ngày phản biện thông qua: 09/11/2020; Ngày duyệt đăng: 24/12/2020  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu đặc điểm buồng trứng cá bè đưng bao gồm các giai đoạn phát triển, hệ số thành thục, sức  
sinh sản, đặc điểm tổ chức buồng trứng và thành phần sinh hóa của buồng trứng. Đàn cá thí nghiệm có khối  
lượng và chiều dài lần lượt là 800±200 g và 40±5 cm, được nuôi trong lồng trên biển và cho ăn hàng ngày  
bằng cá tươi với khẩu phần 3-5% khối lượng thân. Cá cái được bắt ngẫu nhiên hàng tháng để thu buồng trứng.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số thành thục trung bình của cá cái tăng từ tháng 6 và đạt giá trị cao nhất vào  
tháng 9 (3,05% ± 0,6%). Đây là loài cá đẻ nhiều lần trong năm. Cá cái thành thục quanh năm nhưng đạt tỷ lệ  
cao từ tháng 3 đến tháng 9. Trong buồng trứng thành thục có nhiều noãn bào ở các giai đoạn phát triển khác  
nhau. Thành phần sinh hóa của buồng trứng thay đổi theo giai đoạn phát triển. Hàm lượng protein và lipid ở  
giai đoạn thành thục cao hơn so với giai đoạn chưa thành thục. Sức sinh sản tuyệt đối trung bình đạt 121.174  
± 66.842 trứng/cá cái. Sức sinh sản tương đối trung bình đạt 107.607 ± 49.916 trứng/kg cá cái.  
Từ khóa: buồng trứng, cá bè đưng, Gnathanodon speciosus, thành phần sinh hóa, hệ số thành thục  
ABSTRACT  
The present study was focused on ovarian biology of the golden trevally. The female broodstock with  
body weigth and total length were 800±200 g and 40±5 cm, respectively. Fish were kept in seacage and daily  
fed with trashfish at 3-5% body weight. Ovaries were monthly collected for biological parameters. The results  
indicated that the GSI increased from June to September. Maturation of female fish increased from May to  
September. Female golden trevally are multiple spawners. There were different stages of germcell development  
in the ovary at the same time. The biochemical composition changed based on the stages of ovarian maturation.  
Protein and lipid contents in mature ovary were found higher than that in immature ovary. Absolute fecundity  
was 121,174 ± 66.842 eggs/female, while relative fecundity was 107,607 ± 49.916 eggs/kg female.  
Keywords: Ovary, golden trevally, Gnathanodon speciosus, GSI, biochemical composition  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
thái thành thục của cá cái, cũng như phục vụ  
cho công tác quản lý đàn cá bố mẹ [3; 5]. Cá bè  
đưng, Gnathanodon speciosus, (tên địa phương  
còn gọi là cá khế vằn, bè vàng, bè nghệ) là loài  
cá biển có giá trị kinh tế, sinh trưởng nhanh, dễ  
nuôi vì có tính ăn tạp [8; 12; 13]. Cá bè đưng  
có thể nuôi được ở các thủy vực nước mặn, lợ  
[12; 13]. Hiện nay loài cá này đã được nhân  
giống thành công và được nuôi thương phẩm ở  
Nghiên cứu sự phát triển của buồng trứng ở  
cá, đặc biệt là đặc điểm các giai đoạn phát triển  
noãn bào, hệ số thành thục giúp xây dựng chế  
độ dinh dưỡng thích hợp trong quá trình nuôi  
vỗ. Nắm được quy luật phát triển của buồng  
trứng và những thay đổi về tổ chức học trong  
chu kỳ sinh sản là một trong những thông tin  
rất cần thiết cho biết hoặc có thể dự báo trạng  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 67  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
một số địa phương ven biển [8; 12]. Điều này  
đã tạo tiền đề cho việc mở rộng quy mô và đa  
dạng hóa đối tượng nuôi biển, thúc đẩy phát  
triển kinh tế biển.  
năng và cơ hội phát triển nghề nuôi cá biển,  
góp phần phát triển ngành nuôi trồng thủy sản.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Trên thế giới cá bè đưng đã được nghiên  
cứu, nhưng chưa nhiều, chủ yếu tập trung vào  
sản xuất giống và ương ấu trùng, đặc điểm dinh  
dưỡng, đặc điểm sinh thái [12; 13]. Tuy nhiên  
các nghiên cứu về đặc điểm sinh học buồng  
trứng chưa được thực hiện đầy đủ. Trong  
nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào việc  
xác định đặc điểm phát triển buồng trứng trong  
chu kỳ sinh sản, đặc điểm hình thái, tiêu bản tổ  
chức học các giai đoạn phát triển noãn bào, hệ  
số thành thục và thành phần sinh hóa của buồng  
trứng. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin  
hữu ích về đặc điểm sinh học sinh sản, đóng  
góp cho việc nghiên cứu hoàn thiện quy trình  
sản xuất giống cá bè đưng, mở ra nhiều tiềm  
1. Đàn cá thí nghiệm  
Đàn cá bố mẹ được nuôi trong lồng trên  
biển tại Đảo Trí Nguyên, Phường Vĩnh  
Nguyên, Nha Trang, Khánh Hòa (12º4′23.01″N,  
109º2′51.97″E). Mật độ nuôi bình quân 3 kg/m3  
với tỷ lệ đực cái 1:1; Nhiệt độ nước: 28-32ºC; độ  
mặn: 29-34 ‰; pH: 7,8 - 8,6 và oxy hòa tan: 4,5-  
6,5 mg/l. Cá bố mẹ được cho ăn cá tươi hàng  
ngày với khẩu phần bằng 3 - 5% khối lượng  
thân. Cá cái có khối lượng trung bình 800±200  
g, chiều dài trung bình từ 40±5 cm được bắt  
ngẫu nhiên để thu mẫu buồng trứng và đo kích  
thước. Thời gian thu mẫu từ tháng 3/2018 đến  
tháng 4/2019.  
Hình 1. Đàn cá bè đưng được nuôi trong lồng lưới trên đảo Trí Nguyên,  
TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (12°4′23.01″N, 109°2′51.97″E)  
68 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
2. Phương pháp làm tiêu bản tổ chức  
buồng trứng  
xilen và làm trương nước bằng cách nhúng  
trong dung dịch ethanol ở các nồng độ khác  
nhau khoảng 2-3 phút. Cuối cùng mẫu được  
nhuộm trong dung dịch Hematoxylin-Mayer  
(4-6 phút) và Eosin (2 phút) để khô và đậy  
lamen bằng keo dán. Ghi nhãn lên lamen là  
khâu cuối cùng của quy trình.  
Mẫu buồng trứng được đưa ra khỏi dung  
dịch cố định, rửa và rút nước bằng cách ngâm  
trong cồn tuyệt đối khoảng 4-8 giờ, tiếp theo,  
ngâm trong methyl salicylate 12-24 giờ. Sau  
cùng, mẫu được thấm trong parafin nóng chảy  
ở 65ºC trong thời gian ít nhất 6 giờ. Sử dụng  
máy đổ parafin đã nóng chảy vào khuôn đã  
chứa mẫu, để trên dàn lạnh khoảng 30 phút cho  
mẫu parafin đông cứng lại. Dùng dao gọt khối  
parafin chứa mẫu thành hình thang hoặc hình  
chữ nhật để dễ cắt lớp. Gắn khối parafin lên  
đế gỗ và dán nhãn. Gắn đế gỗ có mẫu vào máy  
microtom, cắt lát có độ dày 5-7 micron. Đưa lát  
cắt vào nước ấm (40-45ºC) khoảng 1-2 phút để  
lát cắt giãn ra. Dùng lam sạch lấy lát cắt ra khỏi  
nước và sấy trên máy sấy ở nhiệt độ 45-60ºC  
trong 1-4 giờ.  
3. Xác định GSI và các giai đoạn phát triển  
buồng trứng  
Tiêu bản tổ chức học buồng trứng được  
đọc trên kính hiển vi Zeiss Axioskop 2-Plus  
light (Zeiss Inc., Vienna, Austria) và chụp ảnh  
bằng máy Nikon Camera Head DS-5M và  
Nikon Camera Control Unit DS-L1. Bậc thang  
phân biệt các giai đoạn phát triển buồng trứng  
trong nghiên cứu này dựa theo tiêu chuẩn của  
Nikolski (1963); Sakun (1954) và Sakun &  
Butskaya (1968) [7; 9; 10]. Hệ số thành thục  
(Gonado Somatic Index - GSI) là tỷ lệ phần  
trăm giữa khối lượng tuyến sinh dục và khối  
lượng toàn bộ cơ thể.  
Sau khi được sấy khô, tiếp theo, mẫu được  
khử parafin bằng cách ngâm trong dung dịch  
Hình 2. Đo chiều dài cá bè đưng bố mẹ  
4. Thành phần sinh hóa buồng trứng  
Thành phần sinh hóa buồng trứng (các chỉ  
tiêu ẩm, tro, protein và lipid) ở các giai đoạn  
phát triển khác nhau được phân tích tại phòng  
thí nghiệm Trường Đại học Nha Trang.  
- Xác định hàm lượng ẩm và tro: Theo  
phương pháp sấy khô ở 105ºC (độ ẩm) và nung  
ở 550ºC (tro) đến khối lượng không đổi.  
- Xác định hàm lượng protein bằng phương  
pháp Dumas (TCVN 11604: 2016). Phương  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 69  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
pháp đốt cháy Dumas để xác định protein thô.  
Quy trình dùng một thiết bị lò điện đun nóng  
mẫu phân tích lên đến 600ºC trong một lò phản  
ứng được bịt kín với sự hiện diện của oxy. Hàm  
lượng nitơ của khí đốt sau đó được đo bằng  
cách dùng máy dò dẫn nhiệt.  
- Xác định lipid bằng thiết bị chiết Soxhlet:  
Dựa vào tính tan hoàn toàn của chất béo vào  
dung môi hữu cơ. Dùng dung môi hữu cơ trích  
ly chất béo có trong buồng trứng cá, sau đó làm  
bay hơi hết dung môi, cân chất béo còn lại, tính  
hàm lượng chất béo có trong buồng trứng cá.  
phương sai một nhân tố (One-way ANOVA)  
với kiểm định Duncan’s multiple range test  
trên phần mềm SPSS có ý nghĩa ở mức P <0,05.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
1. Hệ số thành thục  
Hệ số thành thục là một chỉ số quan trọng,  
đánh giá mức độ chín muồi của tuyến sinh dục.  
Thông qua GSI, chúng ta có thể dự báo, theo  
dõi quá trình phát triển của các tế bào sinh dục  
[5; 14]. Tuy nhiên GSI đôi khi không phản ánh  
đầy đủ trạng thái thực của các sản phẩm sinh  
dục, đặc biệt đối với các loài cá đẻ nhiều lần  
trong năm [3; 5; 14]. Tuy vậy GSI là một phần  
bổ sung quan trọng cho sơ đồ chín muồi sinh  
dục ở cá và gợi ý cho công việc xây dựng chế  
độ nuôi vỗ hợp lý hơn, đặc biệt là chế độ dinh  
dưỡng cho đàn cá bố mẹ.  
5. Phân tích thống kê  
Số liệu được trình bày dưới dạng TB ±  
SD. Sự khác nhau về các đặc điểm sinh sản  
giữa các tháng hay các giai đoạn phát triển của  
buồng trứng được phân tích bằng phương pháp  
Hình 3. Biến động GSI (%) qua các tháng thu mẫu  
Kết quả nghiên cứu GSI được thể hiện qua  
Hình 3. Chỉ số GSI đạt cực đại vào tháng 6  
(3,05 ± 0,64 %), sau đó giảm dần ở các tháng  
tiếp theo và thấp nhất vào tháng 12 (0,85 ±  
0,59 %). Sau đó, GSI bắt đầu tăng trở lại theo  
chu kỳ. Nhìn chung GSI thay đổi theo mùa và  
dao động trong phạm vi từ 0,85 đến 3,05%.  
Độ lệch chuẩn của GSI ở các tháng thu mẫu  
khá lớn, cho thấy ở mỗi cá thể khác nhau, cùng  
một giai đoạn phát triển noãn bào, nhưng GSI  
có thể không bằng nhau. Trong quá trình thu  
mẫu ở các tháng đều bắt gặp các cá thể cái đã  
thành thục (buồng trứng ở giai đoạn IV). Từ số  
liệu về GSI và quan sát thực địa, chúng ta có  
thể nhận định rằng cá bè đưng là loài sinh sản  
quanh năm, nhưng mùa vụ sinh sản chính là từ  
tháng 3 đến tháng 9.  
2. Đặc điểm sinh học buồng trứng  
Các giai đoạn phát triển  
Buồng trứng cá bè đưng có hình khối (Hình  
4). Trong buồng trứng hiện diện các noãn bào  
ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Điều này  
chứng tỏ đây là loài cá đẻ nhiều lần trong năm.  
70 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
A
B
Hình 4: Buồng trứng cá bè đưng ở các giai đoạn phát triển khác nhau  
A: Giai đoạn II- III (chưa thành thục); B: Giai đoạn IV-V (thành thục)  
Trong nghiên cứu này, đàn cá cái thu được  
có buồng trứng ở giai đoạn II, III, IV và V.  
Buồng trứng ở giai đoạn I và VI không bắt gặp  
trong quá trình thu mẫu. Trên thực tế, ở giai  
đoạn I, nhìn bên ngoài, buồng trứng là những  
dải mỏng, chính vì thế rất khó phân biệt đực  
cái. Giai đoạn VI là giai đoạn sau khi cá đẻ,  
ngay sau đó buồng trứng trở về giai đoạn II,  
III hoặc IV tùy theo loài hoặc tùy vào mùa vụ  
sinh sản.  
máu chạy dọc và có những tia nhỏ chạy về các  
lườn bên. Trong buồng trứng hiện diện đa số  
các noãn bào đang ở thời kỳ sinh trưởng chất  
và biến đổi nhân (Hình 5A).  
Giai đoạn III: Buồng trứng tăng lên về mặt  
thể tích, hai phần buồng trứng đã tách ra. Buồng  
trứng có màu vàng nhạt, săn chắc và đàn hồi.  
Trong buồng trứng tồn tại các noãn bào đang  
thời kỳ tích lũy noãn hoàng và các noãn bào  
đang ở giai đoạn sinh trưởng chất (Hình 5B).  
Đây là giai đoạn kéo dài nhất trong chu kỳ phát  
triển của buồng trứng.  
Giai đoạn II: Buồng trứng có kích thước  
nhỏ, có màu hồng nhạt, là màu của các mạch  
A
B
C
D
Hình 5: Tổ chức buồng trứng cá bè đưng ở các giai đoạn phát triển khác nhau trong chu kỳ sinh sản.  
A-giai đoạn II; B-giai đoạn III; C-giai đoạn IV; D-giai đoạn V  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 71  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
Giai đoạn IV: Kích thước buồng trứng đạt  
tối đa, màu vàng tươi. Đặc trưng ở giai đoạn  
này là sự thành thục hoàn toàn của trứng được  
xác định bởi sự lệch tâm của nhân. Trong  
buồng trứng tổn tại nhiều noãn bào ở các thời  
kỳ phát triển khác nhau (Hình 5C).  
Giai đoạn V: Buồng trứng đang ở thời kì  
sinh sản. Các noãn bào đã rụng và rơi vào  
xoang buồng trứng. Dùng tay vuốt nhẹ trứng  
có thể chảy ra ngoài với các tế bào trứng rời  
rạc. Màng nhân đã tan biến (Hình 5D).  
Kết quả trên cho thấy quá trình phát triển,  
thành thục, chín muồi và phóng thích tế bào  
sinh dục trong chu kỳ sinh sản của cá bè đưng  
khá tương đồng với các loài cá biển nhiệt đới  
nói chung như cá chẽm mõm nhọn, cá dìa, cá  
bống [3; 6; 14]. Đặc điểm hình thái của các  
giai đoạn phát triển noãn sào kết hợp với đặc  
điểm tổ chức học ở từng giai đoạn phát triển  
của noãn bào là căn cứ đánh giá mức độ thành  
thục ở cá cái.  
Sức sinh sản và kích thước noãn bào  
Kết quả nghiên cứu cho thấy sức sinh sản  
tuyệt đối của cá bè đưng dao động từ 49.189  
đến 181.280 trứng, trung bình đạt 121.174 ±  
66.842 trứng/cá cái tùy vào kích thước cá cái.  
Sức sinh sản tương đối trung bình đạt 107.607  
± 49.916 trứng/kg cá cái. Kích thước noãn bào  
ở giai đoạn sinh trưởng chất và biến đổi nhân  
dao động từ 51,6 đến 70,5 μm. Sang giai đoạn  
tích lũy noãn hoàng, noãn bào có kích thước  
tăng lên đáng kể và dao động từ 157,5 đến 320  
μm. Ở giai đoạn chín và rụng trứng, noãn bào  
có kích thức trung bình 328,5 ± 25,6 μm.  
Bảng 1: Kích thước noãn bào ở các pha phát triển khác nhau  
Các phase phát triển noãn bào  
Đường kính (μm)  
Pha 1, 2 (Pha nhân, tiền ngoại vi nhân)  
Pha 3 (Pha ngoại vi nhân)  
51,6 ± 7,1  
70,5 ± 6,6  
Pha 4 (Pha không bào hóa)  
157,5 ± 12,1  
320,0 ± 17,2  
328,5 ± 25,6  
Pha 5 (Pha thể noãn hoàng)  
Pha 6 (Pha cực hóa, chín, rụng)  
3. Thành phần sinh hóa của buồng trứng  
Thành phần sinh hóa của buồng trứng như  
protiein, lipid, tro và độ ẩm được xem là các  
chỉ tiêu quan trọng, phản ánh mức độ tích  
lũy dinh dưỡng trong buồng trứng, từ đó có  
thể dự báo được độ thành thục của cá [11].  
Thành phần sinh hóa còn là nguồn năng lượng  
và dinh dưỡng cho quá trình phát triển noãn  
bào ở cá. Kết quả nghiên cứu được thể hiện  
ở Bảng 2.  
Bảng 2: Thành phần sinh hóa trong buồng trứng cá bè đưng  
Giai đoạn buồng trứng  
Các chỉ tiêu  
sinh hóa  
Giai đoạn II-III  
Giai đoạn IV, V  
Protein (%)  
Lipid (%)  
Tro (%)  
17,9  
9,1  
27  
2,1  
2,4  
1,2  
Độ ẩm (%)  
79,5  
63,4  
Kết quả phân tích cho thấy hàm protein đạt  
giá trị cao nhất khi buồng trứng cá ở giai đoạn  
IV, V (27%). Hàm lượng tro và lipid thì ngược  
lại, giảm dần khi buồng trứng chuyển từ giai  
đoạn chưa thành thục sang giai đoạn thành  
thục. Điều này được cho là hợp lý vì khi cá bắt  
đầu tham gia sinh sản, những chất dự trữ tích  
lũy ở các cơ quan được huy động để tổng hợp  
thành protein nuôi dưỡng các tế bào sinh dục  
phát triển. Những chất dự trữ này chuyển vào  
72 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
tuyến sinh dục, làm cho protein trong buồng  
trứng tăng lên (từ 17,9 % đến 27%). Bên cạnh  
đó, chất dinh dưỡng đưa vào tuyến sinh dục có  
nguồn gốc từ mô sinh dưỡng ở cá bố mẹ, ước  
tính có khoảng 7-8,7% lipid bị mất đi từ các  
tế bào sinh dưỡng và được chuyển vào buồng  
trứng [11].  
Protein được xem là thành phần quan trọng  
trong buồng trứng cá. Đối với cá cái, thành  
phần này là nguồn năng lượng và vật chất  
phát triển tế bào, chuyển hóa thành các chất  
noãn hoàng [2; 4]. So với các loài động vật  
có xương sống khác, hàm lượng protein trong  
buồng trứng cá là khá thấp. Trong nghiên cứu  
này, hàm lượng protein ở buồng trứng cá bè  
đưng giai đoạn thành thục là cao hơn nhiều so  
với hàm lượng protein của buồng trứng cá dìa  
(Siganus guttatus) cùng giai đoạn đạt 14,8%  
[1]. Điều này có thể cho thấy ở mỗi loài cá  
khác nhau, hàm lượng protein trong buồng  
trứng khác nhau.  
thể hiện tính không đồng bộ với sự hiện diện  
các noãn bào ở các giai đoạn phát triển khác  
nhau. Quá trình phát triển buồng trứng trải qua  
6 giai đoạn giống như các loài cá biển nhiệt  
đới khác. Hệ số thành thục ở cá bè đưng khá  
thấp, cao nhất đạt 3,05%. Thành phần sinh hóa  
của buồng trứng thay đổi theo giai đoạn phát  
triển. Hàm lương protein cao hơn ở giai đoạn  
thành thục, trong khi lipid, tro và ẩm lại cao  
hơn ở giai đoạn chưa thành thục. Kích thước  
noãn bào ở giai đoạn thành thục đạt 328,5 ±  
25,60 µm. Sức sinh sản tuyệt đối trung bình  
đạt 121.174 ± 66.842 trứng/cá cái. Sức sinh  
sản tương đối trung bình đạt 107.607 ± 49.916  
trứng/kg cá cái. Nhằm hoàn thiện quy trình sản  
xuất giống, các nghiên cứu tiếp theo về nội tiết  
sinh sản trên cá cái cần được thực hiện.  
LỜI CẢM ƠN  
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn công  
ty TNHH Phượng Hải Nha Trang, Giám đốc  
Lê Thị Như Phương đã tài trợ đàn cá bố mẹ cho  
nghiên cứu; cảm ơn học viên cao học Đào Thị  
Đoan Trang và các em sinh viên đại học Lò Thị  
Dương, Nguyễn Lập Đức đã hỗ trợ cho nghiên  
cứu này.  
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Cá bè đưng là loài cá đẻ nhiều lần trong  
năm. Mùa sinh sản kéo dài, nhưng tập trung từ  
tháng 3 đến tháng 9. Tổ chức học buồng trứng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
1. Nguyễn Văn An, Nguyễn Văn Minh, Phạm Quốc Hùng, 2019. Ảnh hưởng của hCG và LHRH-A lên thành  
phần sinh hóa của buồng trứng cá dìa (Siganus guttatus). Tạp chí khoa học - công nghệ thủy sản; Số 3/2019,  
trang 3-8.  
2. Hứa Thị Ngọc Dung, Đào Thị Đoan Trang, Phạm Quốc Hùng, 2020. Nghiên cứu đặc điểm sinh học tinh sào  
cá khế vằn (Gnathanodon speciosus). Tạp chí khoa học-công nghệ thủy sản; Số 2/2020, trang 19-25.  
3. Lê Hoàng Thị Mỹ Dung, Phạm Quốc Hùng, 2015. Sự phát triển noãn sào trong mùa sinh sản của cá chẽm  
mõm nhọn – Psammoperca waigiensis (Cuvier, 1828). Tạp chí khoa học - công nghệ thủy sản, Số 4/2015,  
trang 27-33.  
4. Phạm Quốc Hùng, Phạm Huy Trường, Nguyễn Văn An, 2018. Ảnh hưởng của hCG, LHRH-A lên đặc điểm  
sinh lý sinh sản cá dìa (Siganus guttatus). Tạp chí khoa học-công nghệ thủy sản; Số 3/2018, trang 38-43.  
Tiếng Anh  
5. Hung Quoc Pham, Anh Tuong Nguyen, Elin Kjørsvik, Mao Dinh Nguyen and Augustine Arukwe, 2012.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 73  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
Seasonal reproductive cycle in waigieu seaperch (Psammoperca waigiensis). Aquaculture Research 43 (6):  
815-830.  
6. Hung Q. Pham, Hoang M. Le, 2020. Seasonal changes in three indices of gonadal maturation in male golden  
rabbitfish (Siganus guttatus): implications for artificial propagation. Fish Physiology and Biochemistry, 46 (3),  
1111-1120.  
7. Nikolsky, G. V. 1963. The Ecology of Fishes. Academy press, London and New York, 352 pp.  
8. Pham Quoc Hung, Le Thi Nhu Phuong, 2019. Seed production technology of golden trevally (Gnathanodon  
speciosus). The International Fisheries Symposium 2019. November 18-21, 2019, Kuala Lumpur, Malaysia.  
9. Sakun O F, 1954. Analysis of gonadal function in male and female Vimba vimba with special reference to the  
nature of spawning. Dokl Akad Nauk SSSR 98:505-507.  
10. Sakun, O F. & Butsakaia, 1968. Analysis of gonadal function in male and female Vimba vimba L. with  
special reference to the nature of spawning". Dokl Akad Nauk SSSR 98: 505-700.  
11. Simpson, A., 1992. Differences in body size and lipid reserves between maturing and non-maturingAtlantic  
salmon parr, Salmo salar. Canadian Journal of Zoology 70: 1737-1742.  
12. Tony S Dharma, 2014. The mass seed production of golden trevally fish (Gnathanodon speciosus forsskal)  
with different feed. Journal of Tropical Marine Science and Technology, 6, 383-390.  
13. Tony S Dharma, Gigih S Wibawa dan AA. Ketut A, 2017. The hatchery technology of golden trevally  
fish (Gnathanodon speciosus) for the sustainable development of the aquaculture in Indonesian. Asian Pacific  
Aquaculture 2017. The World Aquaculture Society.  
14. Zeyl J N, Love P O, Higgs M D, 2014. Evaluating gonadosomatic index as an estimator of reproductive  
condition in the invasive round goby Neogobius melanostomus. Journal of Great Lakes Research, 40:164-171.  
74 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
pdf 8 trang yennguyen 23740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm sinh học buồng trứng cá bè đưng (Gnathanodon speciosus)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_sinh_hoc_buong_trung_ca_be_dung_gnathano.pdf