Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến cây rau xà lách tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708
Tập 130, Số 3A, 2021, Tr. 113–127; DOI: 10.26459/hueunijard.v130i3A.5943
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ PHUN PHÂN BÓN
LÁ SINH HỌC TỪ RONG BIỂN VÀ BÈO TÂY ĐẾN CÂY RAU
XÀ LÁCH TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1,
1
1
1, 2
Hoàng Thị Thái Hòa *, Đỗ Đình Thục , Trần Thị Thu Giang , Huỳnh Yến Nhi
1 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, 102 Phùng Hưng, Huế, Việt Nam
2 Trung tâm Khuyến Nông Phú Yên, Trần Hào, Tuy Hòa, Phú Yên, Việt Nam
Tóm tắt: Thí nghiệm 2 nhân tố gồm có 8 công thức vꢀi 2 dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và
bèo tây và 4 tỷ lệ phun, bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, được tiến hành
trong năm 2020 tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhằm mục đích xác định được dạng và tỷ lệ phân
bón lá phù hợp cho cây rau xà lách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng suất và chất lượng rau xà lách phụ
thuộc vào dạng phânbón lá sinh học và tỷ lệ phun từ dịch chiết của rong biển, bèo tây vꢀi nưꢀc lã. Năng
suất, chất lượng rau và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất tại tỷ lệ phun 1:10 ở cả hai dạng phân bón lá sinh học
chiết rút từ rong biển và bèo tây, đặc biệt tại dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển (năng suất
kinh tế của xà lách đạt 40,23 g/chậu, lãi 600 đ/chậu, hàm lượng nitratee trong phạm vi tiêu chuẩn cho phép
<1000 mg/kg, độ giòn đạt điểm 4–5, độ Brix từ 2–2,5%). Do đó, đꢁ xuất dạng phân bón lá sinh học chiết rút
từ rong biển tại lượng phun 1:10 trên nꢁn bón 500 kg vôi +15 tấn phân chuồngtrên 1 ha để đạt được năng
suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Từ khóa: Bèo tây, dạng và tỷ lệ phun, phân bón lá, rau xà lách, rong biển
Effects of biofoliar fertilizer ratio extracted from seaweed and
water hyacinth on lettuce in Hue city, Thua Thien Hue province
1
1
1
1,2
Hoang Thi Thai Hoa *, Đo Đinh Thuc , Tran Thi Thu Giang , Huynh Yen Nhi
1 University of Agriculture and Forestry, Hue University, 102 Phung Hung St., Hue, Vietnam
2 Phu Yen Centre for Agricultural Extension, Tran Hao St., Tuy Hoa, Phu Yen, Vietnam
Abstract: The experiment consisted of 2 factors with 8 fertilizer applications including 2 types of biofoliar
fertilizer extracted from seaweed and hyacinth and 4 spraying ratio whichwere arranged in a randomized
completed block design (RCBD) with 3 replicates and conducted in 2020 in Hue City, Thua Thien Hue prov-
ince. Aim of the study was determined the best type and ratio of biofoliar fertilizer for lettuce. The research
results show that the yield and quality of lettuce depended on the types of biofoliar fertilizer and the ratio
of spraying. Yield, quality and economic efficiency are the highest at 1:10 spraying ratio in both biofoliar
* Liên hệ: hoangthithaihoa@huaf.edu.vn
Nhận bài: 17–7–2020; Hoàn thành phản biện: 10–9–2020; Ngày nhận đăng: 11–9–2020
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
fertilizers extracted from seaweed and hyacinth, especially in the type of biofoliar fertilizer extracted from
seaweed (yield of 40.23 g/pot and profit of 600 VND/pot, nitrate content in lettuce leaf within the permissible
standard < 1000 mg/kg, brittleness of 4–5 points, Brix degree from 2–2.5%). Therefore, it is proposed to use
biofoliar fertilizer extracted from seaweed at the spraying ratio of 1:10 and 500 kg of lime +15 tons of manure
per hectare to achieve high yield, quality and economic efficiency.
Keywords: Biofertilizer, hyacinth, lettuce, ratio and type of biofoliar, seaweed
1
Đặt vấn đề
Tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai vꢀi diện tích trên 22.000 ha và
nhiꢁu diện tích sông ngòi, ao hồ vꢀi nhiꢁu loại hình thủy vực. Theo nghiên cứu của một số tác
giả cho thấy có nhiꢁu loài thực vật thủy sinh phổ biến được tìm thấy ở khu vực đầm phá Tam
Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế [1, 2]. Thực vật thủy sinh, trong đó có rong biển và bèo
tây được nghiên cứu sử dụng khá rộng rãi trên thế giꢀi để sản xuất thực phẩm dinh dưỡng cho
con người, sản xuất nguyên liệu cho thực phẩm và mꢀi đây được sử dụng để sản xuất phân bón
lá và phân bón rễ. Trong thực vật thủy sinh và dung dịch thủy phân thực vật thủy sinh chứa rất
nhiꢁu đạm, axít amin và các chất kích thích sinh trưởng quan trong cho sự phát triển của cây
trồng. Thực vật thủy sinh cũng đã được nghiên cứu ở Việt nam, nhưng mục tiêu chủ yếu của các
nghiên cứu này là đánh giá sự đa dạng, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, che phủ đất. Tuy nhiên,
các nghiên cứu vꢁ thực vật thủy sinh làm phân bón lá sinh học để cung cấp chất dinh dưỡng cho
cây trồng hầu như còn chưa nhiꢁu, chủ yếu mꢀi sản xuất ở dạng phân bón qua rễ [7, 9]. Nꢁn sản
xuất nông nghiệp hiện đại, sử dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật đóng một vai trò
quan trọng trong sản xuất, chúng có khả năng ngăn chặn dịch bệnh, làm tăng năng suất cây trồng,
đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực
vật trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã đưa tꢀi những hậu quả không mong muốn. Hàng
năm, lượng phân hóa học được sử dụng ngày càng tăng cao. Trong vòng 10 năm qua, lượng phân
urê tăng 58,6%, DAP tăng 354,6%, NPK tăng 6 lần. Mặc dù việc sử dụng phân bón NPK và các
loại phân bón gốc là rất cần thiết để nâng cao năng suất cây trồng, nhưng việc sử dụng quá nhiꢁu
và không cân đối sẽ gây tác hại không nhỏ đến môi trường đất, nưꢀc ngầm, nưꢀc tưꢀi cũng như
chất lượng nông sản [3, 6]. Theo số liệu điꢁu tra, hệ số sử dụng phân bón hóa học còn thấp, hàng
năm có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và xấp xỉ 80% lượng lân đã trực tiếp hay gián tiếp
gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng [4]. Ngoài việc sử
dụng phân khoáng không hợp lý, hiệu lực phân bón thấp, gây lãng phí và ô nhiễm đến môi
trường thì vấn đꢁ sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp cũng là vấn đꢁ bức xúc. Ở
nhiꢁu vùng nông thôn, việc sử dụng phân chuồng không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng. Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu được
114
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
tiến hành vꢀi mục đích xác định được tỷ lệ phun và dạng phân bón lá sinh học phù hợp vꢀi cây
rau xà lách, làm có sở cho các nghiên cứu tiếp theo vꢁ hiệu quả của các loại phân bón lá sinh học
này trên đồng ruộng và ở các địa điểm khác nhau.
2
Vꢀt liꢁu vꢂ phương phꢃp nghiên cꢄu
2.1
Đối tượng nghiên cꢄu
– Giống: Rau xà lách mỡ đang được trồng phổ biến ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
– Phân bón: phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển (rong mái chèo, rong đuôi chó) và bèo tây
thu thập tại xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điꢁn, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Một số tính chất của phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo tây ở bảng 2.
Bảng 1. Các loại rong biển và bèo tây được sử dụng làm phân bón lá sinh học
STT
Tên gọi địa phương
Rong mái chèo
Tên khoa học
Vallisneria spiralis
1
2
3
Rong đuôi chó
Ceratophyllum demersum
Eichhornia crassipes
Bèo tây
Rong mái chèo
(Vallisneria spiralis)
Rong đuôi chó
(Ceratophyllum demersum)
Bèo tây
(Eichhornia crassipes)
Bảng 2. Tính chất hóa học của phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo tây sau 60 ngày ủ
Loại phân
pH
7,41
6,87
EC (dS/m)
1,52
OM%
30,21
33,34
N%
0,41
0,45
P2O5%
0,36
0,39
K2O%
1,43
1,60
Bèo tây
Rong biển
1,78
Ghi chú: EC là độ dẫn điện, OM là hợp chất hữu cơ
Nguồn: Phân tích tại Bộ môn Khoa học Cây trồng, Khoa Nông học, năm 2020
– Đất: Đất phù sa.
115
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
2.2
Phạm vi nghiên cꢄu
– Thí nghiệm thực hiện trong chậu tại nhà lưꢀi Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm, thành
phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
– Thời gian nghiên cứu: Tháng 2– tháng 04/2020 (2 vụ).
2.3
Phương pháp nghiên cꢄu
Công thꢄc vꢂ bố trí thí nghiꢁm
Thí nghiệm trong chậu gồm 8 công thức (2 nhân tố vꢀi 2 dạng phân bón lá và 4 tỷ lệ phun
phân bón lá) trên rau xà lách (bảng 3).
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu RCBD (2 nhân tố), vꢀi 3 lần nhắc lại, 1 công thức gồm có
3 chậu. Tổng số chậu thí nghiệm là 72 chậu/thí nghiệm. Tổng số thí nghiệm là 2.
Cꢃc chỉ tiêu theo dõi
Về sinh trưởng của cây
Theo dõi số lá (lá): Số lá xác định từ lúc cây bén rễ hồi xanh, tiến hành 5 ngày đo một lần.
Các chỉ tiêu về năng suất
– Năng suất sinh vật học
NSSV (g/chậu) = Số cây/chậu × Khối lượng trung bình 1 cây bao gồm thân, lá, rễ (g)
Bảng 3. Các công thức thí nghiệm
Tỷ lꢁ phân bꢅn lꢃ
(phân:nưꢆc) (v:v)
Công thꢄc
Dạng phân bꢅn lꢃ
I
II
(Phun nưꢀc lã- Đối chứng) (0:1)
1:10
Phân bón lá sinh học từ bèo tây
III
IV
V
1:20
1:30
(Phun nưꢀc lã- Đối chứng) (0:1)
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
Phân bón lá sinh học từ rong biển
Nꢀn: 15 tấn phân chuꢁng + 500 kg vôi/ha
116
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
– Năng suất kinh tế
NSKT (g/chậu) = Số cây/chậu × Khối lượng trung bình 1 cây phần ăn được (g)
– Hệ số kinh tế = NSKT/NSSV
Hợp chất khô khi thu hoạch
0
Đem các mẫu đã xác định khối lượng tươi ở trên sấy riêng lá, thân, rễ ở 105 C đến khối
lượng không đổi, cân và tính khối lượng bình quân.
Khối lượng sau sấy × 100
Tỉ lệ vật chất khô (%) =
Khối lượng tươi
Chất lượng rau xà lách
– Độ Brix thịt lá (%) đo trên máy đo độ Brix.
– Hàm lượng đạm nitrate (mg/kg): xác định bằng phương pháp so màu. Nitrate trong dịch
chiết của mẫu phân tích được chuyển thành nitrite bằng enzyme nitrate reductase. Nitrite được
chuyển cùng vꢀi nitrite có sẵn trong mẫu phân tích sẽ phản ứng vꢀi sulfanilamide và N-1-
naphtyl- etylendiamine dihydrochloride. Cường độ màu của hợp chất màu đỏ tạo thành này
được đo bằng máy đo phổ ở bưꢀc sóng 540 nm. Hàm lượng nitrate được tính từ chênh lệch kết
quả giữa các phép đo phổ (TCVN 8160-7-2010) [12].
– Độ giòn: theo phương pháp cho điểm.
Sau khi thu hoạch, tiến hành thu mẫu đánh giá độ giòn đối vꢀi cây xà lách bằng cách ăn thử từ 5
người. Thang điểm đánh giá bao gồm từ 1 (không giòn); 2 (ít giòn); 3 (giòn); 4 (giòn vừa); 5 (rất
giòn), tính điểm trung bình trên 5 người.
Hiꢁu quả kinh tế
– Tổng thu: giá bán/chậu
– Tổng chi: chi phí phân bón, giống và chậu/chậu
– Lợi nhuận: tổng thu/chậu – tổng chi/chậu
– VCR: tổng thu tăng do bón phân/tổng chi tăng do bón phân
Quy trình kỹ thuꢀt ủ phân, trồng vꢂ chăm sꢅc cây xꢂ lꢃch
Quy trình ủ phân
Phương phꢃp ủ phân bꢅn lꢃ sinh học từ rong biển và bèo tây: Rong biển và bèo tây thu
thập vꢁ rửa sạch để loại bỏ bùn và các chất bẩn khác, bỏ rễ và để ráo nưꢀc. Sau đó tiến hành cho
117
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
50 kg mỗi loại vào thùng nhựa (thể tích 100 lít) để ủ cùng vꢀi 0,5 kg chế phẩm Trichoderma (Viện
Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên-Viện Ea Kmat) + 2 l rỉ mật. Xếp thành từng lꢀp
dày 10 - 20 cm, mỗi lꢀp rải một ít rỉ mật và Trichoderma, đảo đꢁu, đậy nắp kín và bảo quản đến
khi lấy mẫu. Tiến hành chiết rꢂt phân bón lá sau khi ủ 2 tháng bằng phương phép ép lấy nưꢀc,
sau đó lọc qua rây kích thưꢀc lỗ nhỏ để loại bỏ phần cặn và chỉ lấy phần dung dịch, cho vào can,
đậy nắp chặt để bảo quản. Phân tích chất lượng sau 60 ngày ủ.
Chuẩn bị chꢀu vꢂ đất
– Chuẩn bị chậu: Chậu có kích thưꢀc 15 × 15 cm.
– Chuẩn bị đất: Thu thập đất phù sa vꢁ tiến hành phơi khô trong không khí và qua rây 5
mm, mỗi chậu thí nghiệm chứa 2 kg đất. Đất được xử lꢃ vôi (0,3 g vôi/chậu) và trộn lẫn vꢀi phân
chuồng (10 g/chậu) trưꢀc thí nghiệm.
Thời vụ
– Thí nghiệm được tiến hành ở vụ Xuân Hè 2020.
– Ngày trồng và thu hoạch:
Vụ 1: trồng vào ngày 03/02/2020, thu hoạch ngày 28/02/2020.
Vụ 2: trồng vào ngày 05/03/2020, thu hoạch ngày 30/03/2020.
–Trồng cây: Mỗi chậu trồng 1 cây con (2–3 lá).
Bón phân
– Thời gian phun 5–6 giờ chiꢁu.
– Phân được pha vꢀi nưꢀc theo các công thức ở trên và bơm trực tiếp vào cây vꢀi lượng 5
ml (cây trồng từ 3 đến 10 ngày); 10 ml (cây trồng được 11–15 ngày); 15 ml (cây trồng được 16–20
ngày).
– Số lần phun: 3 ngày tiến hành phun 1 lần.
Phương phꢃp xử lý số liꢁu
Số liệu thu hoạch sẽ được xử lý thống kê trên các phần mꢁm chuyên dụng như Statistix
10.0, Microsoft Excel vꢀi các chỉ tiêu trung bình, phân tích ANOVA 2 nhân tố, LSD0,05.
118
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
3
Kết quả nghiên cꢄu và thảo luꢀn
3.1
Ảnh hưởng của tỷ lꢁ phun phân bón lá sinh học từ rong biển vꢂ bèo tây đến số lá cây
rau xà lách
Theo kết quả bảng 4 cho thấy
Sau 5 ngày trồng: Ở cả hai vụ trồng đꢁu có số lá dao động từ 3–4 lá và các công thức không
có sự sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ mặt thống kê. Do ở giai đoạn này cây mꢀi trải qua giai đoạn bén rễ
hồi xanh, nên chưa có sự sinh trưởng mạnh.
Sau 10 ngày trồng: Ở vụ 1, số lá ở các công thức tăng từ 1–3 lá. Đặc biệt là dạng phân bón
lá sinh học chiết rút từ bèo tây ở tỷ lệ phun 1:20 và dạng phân chiết rút từ rong biển ở tỷ lệ phun
1:10 có số lá cao hơn so vꢀi các tỷ lệ còn lại. Tuy nhiên các công thức không có sự sai khác có ý
nghĩa vꢁ mặt thống kê. Ở vụ 2, số lá ở các công thức cũng tăng từ 1–3 lá và các công thức không có
sự sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ mặt thống kê.
Sau 15 ngày trồng: Ở vụ 1, số lá ở các công thức dao động từ 5–8 lá. Vꢀi mức tăng dao động
từ 2–4 lá. Đối vꢀi dạng phân bón lá được chiết rút từ bèo tây thì ở tỷ lệ phun 1:10 có số lá trung
bình cao nhất (6,55 lá), đồng thời có mức tăng số lá cao nhất. Tương tự đối vꢀi dạng phân bón lá
sinh học được chiết rút từ rong biển thì tỷ lệ phun 1:10 cũng có số lá trung bình cao nhất (6,44 lá).
Các công thức không có sự sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ mặt thống kê.
Tại các giai đoạn theo dõi, công thức I và V đꢁu phun nưꢀc lã, nhưng số lá trên cây rau xà
lách có sự khác nhau, điꢁu này có thể do tác động của một số yếu tố đến sinh trưởng và phát triển
của cây rau xà lách như cây giống, khả năng sinh trưởng của cây. Tuy nhiên sự sai khác giữa 2
công thức này là không có ꢃ nghĩa thống kê.
Ở vụ 2, số lá ở các công thức từ 5–7 lá. Vꢀi mức tăng dao động từ 1–3 lá. Đối vꢀi dạng phân
bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây thì tỷ lệ phun 1:30 có số lá trung bình cao nhất (6,78 lá). Đối
vꢀi dạng phân bón lá sinh học được chiết rút từ rong biển thì tỷ lệ phun 1:20 và 1:30 có số lá trung
bình cao nhất. Tuy nhiên, các công thức không có sự sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ mặt thống kê.
Sau 20 ngày trồng: Ở cả 2 vụ đꢁu có số lá ở các công thức dao động từ 7–8 lá. Vꢀi mức tăng
dao động từ 4–7 lá. Ở cả hai dạng phân vꢀi tỷ lệ phun 1:10 có số lá cao nhất so vꢀi tất cả các công
thức còn lại, đồng thời là hai công thức có mức tăng cao nhất. Đây là giai đoạn cây rau có số lá
lꢀn nhất để chuẩn bị bưꢀc vào giai đoạn thu hoạch. Giai đoạn này cây cũng cần nhiꢁu dinh dưỡng
cho quá trình sinh trưởng, do đó tỷ lệ phân bón lá có ánh hưởng lꢀn đến số lá, kết quả này cũng
tương đồng vꢀi nghiên cứu của Nguyễn Đình Thi và cs. [11].
119
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
Bảng 4. Ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến số lá trên cây rau xà lách
Đơn vị tính: lá
Ngày sau trồng …
Công
Dạng phân
Tỷ lꢁ (v/v)
thꢄc
bón lá
(phân: nưꢆc)
5
10
15
20
1
I
Vụ 1
0:1
3,11a
3,11 a
3,11 a
3,22 a
2,89 a
3,22 a
2,89 a
3,22 a
0,70
4,11a
4,11 a
4,33 a
4,33 a
3,89 a
4,44 a
4,00 a
4,22 a
0,70
6,00 a
6,55 a
6,55 a
6,22 a
5,55 a
6,44 a
6,00 a
5,89 a
1,01
7,89 ab
9,33 a
8,77 ab
8,66 ab
7,77 b
9,33 ab
8,55 ab
9,00 ab
1,52
II
1:10
1:20
1:30
0:1
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
Rong biển
LSD0,05
2
I
Vụ 2
0:1
3,78 ab
3,44 abc
3,44 abc
3,44 abc
3,22 c
5,22 a
5,00 a
4,78 a
5,22 a
4,66 a
4,88 a
4,77 a
5,22 a
0,77
6,66 a
6,66 a
6,44 a
6,78 a
5,88 a
6,22 a
6,55 a
6,55 a
1,18
8,55 abc
9,00 a
II
1:10
1:20
1:30
0:1
Bèo tây
III
IV
V
8,44 abc
8,77 abc
8,11 c
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
3,33 bc
3,22 c
8,89 ab
8,22 bc
8,44 abc
0,73
Rong biển
3,89 a
LSD0,05
0,45
* Ghi chú: a, b, c chỉ ra các ký tự giống nhau trong cùng một cột không sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ thống kê tại
mức có ꢃ nghĩa 0,05
3.2
Ảnh hưởng của tỷ lꢁ phun phân bꢅn lꢃ sinh học từ rong biển vꢂ bèo tây đến năng suất
của cây rau xꢂ lꢃch
Trong trồng trọt, mọi biện pháp kĩ thuật như thời vụ, mật độ, bón phân … đảm bảo cho cây
sinh trưởng, phát triển tốt đꢁu hưꢀng đến mục đích sản xuất đạt năng suất cao. Năng suất là kết
quả của quá trình sản xuất, là chỉ tiêu quan trọng đánh giá một cách toàn diện, chính xác nhất cho
quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng trong một chu kỳ sống của chꢂng. Năng suất được
120
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
được quyết định bởi yếu tố di truyꢁn của giống, ngoài ra nó còn chi phối mạnh mẽ của điꢁu kiện
ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu, đất đai,…
Bảng 5. Ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến năng suất cây rau xà lách
Dạng phân
bón lá
Tỷ lꢁ (v/v)
(phân: nưꢆc)
NSKT
(g/chꢀu)
NSSV
(g/chꢀu)
Hꢁ số kinh tế
Công thꢄc
1
I
Vụ 1
0:1
30,83 abc
38,67 abc
37,03 ab
35,78 bc
24,47 c
40,23 a
30,25 abc
29,40 bc
10,57
33,72 ab
42,11 a
40,22 a
38,54 a
26,03 b
42,48 a
32,27 ab
31,36 ab
11,28
0,91
0,92
0,92
0,92
0,94
0,95
0,94
0,94
-
II
1:10
1:20
1:30
0:1
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
Rong biển
LSD0,05
2
I
Vụ 2
0:1
27,96 cd
36,84 ab
33,45 abc
30,18 bc
20,53 d
40,12 a
34,38 abc
32,08 bc
7,83
29,59 cd
37,97 ab
34,35 abc
31,46 bc
21,54 d
41,19 a
35,41 abc
33,48 abc
8,09
0,94
0,97
0,97
0,96
0,95
0,97
0,97
0,96
-
II
1:10
1:20
1:30
0:1
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
Rong biển
LSD0,05
* Ghi chú: a, b, c chỉ ra các ký tự giống nhau trong cùng một cột không sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ thống kê tại mức có
ꢃ nghĩa 0,05
Kết quả bảng 5 cho thấy:
Vꢁ năng suất kinh tế: Ở vụ 1, dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây và rong biển
ở tỷ lệ phun 1:10 có năng suất cao nhất (38,67 g/chậu và 40,23 g/chậu), tiếp theo là tỷ lệ phun 1:20
(37,03 g/chậu và 30,25 g/chậu), theo thứ tự. Tương tự ở vụ 2, dạng phân bón lá sinh học chiết rút
từ bèo tây và rong biển cũngở tỷ lệ phun 1:10 cho giá trị cao nhất (36,84 g/chậu và 40,12 g/chậu),
tiếp theo là tỷ lệ phun 1:20 (33,45 g/chậu và 34,38 g/chậu). Như vậy ở cả hai dạng phân bón lá
121
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
sinh học đꢁu có tỷ lệ phun 1:10 cho năng suất kinh tế cao nhất, trong đó dạng phân chiết rút từ
rong biển cho kết quả tốt hơn và có mức chênh lệch so vꢀi dạng phân bón lá chiết rút từ bèo tây
(3,28 g/chậu). Điꢁu này có thể do tính chất hóa học của phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển
tốt hơn so vꢀi bèo tây, nên làm tăng chiꢁu cao cây và số lá rau xà lách [9].
Vꢁ năng suất sinh vật: Ở cả hai vụ, dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây và rong
biển ở tỷ lệ phun 1:10 đꢁu cho năng suất sinh vật cao nhất, dao động từ 37,97 – 42,11 g/chậu (bèo
tây) và 41,19 – 42,48 g/chậu (rong biển), tiếp theo ở tỷ lệ phun vꢀi tỷ lệ 1:20 dao động từ 34,35 –
40,22 g/chậu (bèo tây) và 32,27 - 35,41 g/chậu (rong biển). Như vậy ở cả hai dạng phân bón lá sinh
học khác nhau vꢀi tỷ lệphun1:10 đꢁu cho giá trị năng suất sinh vật cao nhất, trong đó dạng phân
bón lá sinh học chiết rút từ rong biển cho kết quả tốt hơn dạng phân chiết rút từ bèo tây và mức
chênh lệch (1,79 g/chậu).
Vꢁ hệ số kinh tế: Ở vụ 1, đối vꢀi dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây thì tất cả tỷ
lệ phun đꢁu có giá trị là 0,92. Đối vꢀi dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển thì tỷ lệ
phun 1:10 có giá trị cao nhất (0,95), tiếp theo là tỷ lệ phun 1:20 và 1:30 (0,94). Ở vụ 2, đối vꢀi dạng
phân bón lá sinh học được chiết rút từ bèo tây ở tỷ lệ phun 1:10 và 1:20 đꢁu cho giá trị (0,97). Đối
vꢀi dạng phân bón lá sinh học được chiết rút từ rong biển thì tỷ lệ phun 1:10 và 1:20 đꢁu có giá
trị cao nhất (0,97). Như vậy ở cả hai vụ tại dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển cho
hiệu quả kinh tế tốt hơn dạng phân chiết rút từ bèo tây ở các tỷ lệ khác nhau.
3.3
Ảnh hưởng của tỷ lꢁ phun phân bón lá sinh học từ rong biển vꢂ bèo tây đến hợp chất
khô của cây rau xà lách
Tích lũy vật chất khô là biểu hiện cuối cùng của mọi hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây
trồng. Hàm lượng chất khô trong cây phụ thuộc rất lꢀn vào giống, điꢁu kiện môi trường và biện
pháp canh tác. Cây sinh trưởng mạnh sẽ tăng hiệu suất quang hợp, tăng quá trình vận chuyển sản
phẩm đồng hóa vꢁ bộ phận kinh tế. Diện tích lá tối ưu của một quần thể sẽ cho khả năng tích lũy cao
nhất hay nói cách khác là hiệu suất quang hợp lꢀn nhất.
Kết quả bảng 6 cho thấy:
Vꢁ khối lượng tươi: Dạng phân bón lá và tỷ lệ phun có ảnh hưởng đến khối lượng tươi của
cây rau xà lách. Ở cả hai dạng phân bón lá sinh học, tỷ lệ phun tỷ lệ 1:10 có khối lượng tươi cao
nhất, dao động từ 37,97–42,11 g/cây (bèo tây) và 41,19–42,48 g/cây (rong biển). Khối lượng tươi
của cây rau xà lách tại vụ 1 cao hơn so vꢀi vụ 2, do điꢁu kiện thời tiết vụ 1 thuận lợi hơn, nhiệt
độ thấp hơn so vꢀi vụ 2.
122
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
Vꢁ khối lượng khô: Tương tự như khối lượng tươi, ở cả hai dạng phân bón lá sinh học khác
nhau vꢀi tỷ lệ phun 1:10 đꢁu cho giá trị cao nhất (2,19–2,20 g/cây, bèo tây và 2,11–2,18 g/cây, rong
biển) và mức chênh lệch (0,09 g/cây). Các công thức có sự sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ mặt thống kê.
Vꢁ tỷ lệ vật chất khô: Ở vụ 1, ở cả hai dạng phân bón lá sinh học vꢀi tỷ lệ phun 1:10 đꢁu
cho tỷ lệ vật chất khô cao nhất so vꢀi các tỷ lệ phun phân còn lại, trong đó dạng phân bón lá được
chiết rút từ bèo tây (5,28%) cho kết quả cao hơn dạng phân bón chiết rút từ rong biển (4,94%). Ở
vụ 2, vꢀi tỷ lệ phun 1:10 thì ở dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây cho kết quả cao
(5,82%). Tuy nhiên không có sự sai khác có ꢃ nghĩa giữa các công thức. Tóm lại, tỷ lệ vật khô của
dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây vꢀi tỷ lệ 1:10 dao động 5,28–5,82% và đối vꢀi dạng
phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển là 4,94–5,43%. Hầu hết tỷ lệ vật chất khô đꢁu giảm dần
theo tỷ lệ phân bón pha loãng, do hàm lượng dinh dưỡng cung cấp giảm [8].
Bảng 6. Ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến hợp chất khô
của cây rau xà lách
Dạng
phân bón
lá
Tỷ lꢁ (v/v)
(phân: nưꢆc)
Khối lượng cây
tươi (g/cây)
Khối lượng cây
sau sấy (g/cây)
Tỷ lꢁ vꢀt chất
Công thꢄc
khô (%)
1
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
Vụ 1
0:1
33,72 ab
42,11 a
40,22 a
38,54 a
26,03 b
42,48 a
32,27 ab
31,36 ab
11,28
1,71 abcd
2,20 a
5,10 a
5,28 a
5,14 a
4,68 a
4,75 a
4,94 a
4,78 a
4,58 a
1,21
1:10
1:20
1:30
0:1
1:10
1:20
1:30
Bèo tây
1,94 abc
1,75 abcd
1,25 d
2,11 ab
1,51 bcd
1,38 cd
0,66
Rong biển
LSD0,05
2
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
Vụ 2
0:1
29,59cd
37,97 ab
34,35 abc
31,46 bc
21,54 d
41,19 a
35,41 abc
33,48 abc
8,09
1,32 cd
2,19 a
4,59 a
5,82 a
4,84 a
4,75 a
5,09 a
5,43 a
6,50 a
5,95 a
1,95
1:10
1:20
1:30
0:1
1:10
1:20
1:30
Bèo tây
1,66 abcd
1,50 bcd
1,10 d
2,18 a
Rong biển
2,14 ab
1,90 abc
0,67
LSD0,05
* Ghi chú: a, b, c, d chỉ ra các ký tự giống nhau trong cùng một cột không sai khác có ꢃ nghĩa vꢁ thống kê tại mức
có ꢃ nghĩa 0,05
123
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
3.4
Ảnh hưởng của tỷ lꢁ phun phân bón lá sinh học từ rong biển vꢂ bèo tây đến chất lượng
của rau xà lách
Chất lượng là một trong những chỉ tiêu quan trọng luôn được chú ý trong việc tiêu thụ rau
trên thị trường, nên nó cũng là một trong những nhân tố hàng đầu thꢂc đẩy sản xuất rau phát
triển. Xà lách là loại rau ăn lá nên chất lượng rau đòi hỏi phải được đảm bảo.
Kết quả bảng 7 cho thấy:
Độ Brix thịt lá: Qua hai vụ, độ Brix thịt lá của các công thức dao động từ 1,5–2,5%. Ở cả hai
dạng phân bón lá sinh học vꢀi tỷ lệ phun 1:10 cho kết quả dao động từ 2–2,5%. Khi sử dụng hai
loại phân bón lá này vꢀi tỷ lệ khác nhau cho hiệu quả tốt và đặc biệt là dạng phân chiết rút từ
rong biển.
Độ giòn: Độ giòn ở các công thức đạt điểm dao động từ 4–5điểm ở cả hai vụ. Như vậy khi
sử dụng hai loại phân bón lá sinh học này vꢀi tỷ lệ khác nhau đꢁu cho độ giòn cao.
Hàm lượng nitrate: hàm lượng nitrate trong các công thức dao động 0–250 mg/kg. Đối vꢀi
dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ bèo tây có hàm lượng nitrate trong lá rau cao hơn so vꢀi
dạng phân chiết rút từ rong biển, đặc biệt là ở tỷ lệ phun 1:10 đꢁu có hàm lượng nitrate trong lá
rau rất thấp (200 mg/kg). Tất cả các kết quả trên đꢁu rất thấp so vꢀi ngưỡng tiêu chuẩn đưa ra vꢁ
hàm lượng nitrate quy định vꢀi rau xà lách [5].
Bảng 7. Ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến chất lượng của rau xà lách
Dạng
phân bón
lá
Tỷ lꢁ (v/v)
(phân: nưꢆc)
Độ dòn
(điểm)
Hꢂm lượng ni-
trate (mg/kg)
Công thꢄc
Độ Brix thịt lá (%)
1
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
2
Vụ 1
0:1
1,7
2,2
1,8
1,8
1,8
2,3
2,0
2,2
4
5
5
5
4
5
5
4
0
1:10
1:20
1:30
0:1
1:10
1:20
1:30
200
100
50
Bèo tây
0
200
200
0
Rong biển
Vụ 2
I
II
0:1
1,5
2,0
2,0
2,0
1,7
2,5
2,0
2,0
4
5
5
5
4
5
5
5
0
1:10
1:20
1:30
0:1
1:10
1:20
1:30
250
200
150
0
200
200
200
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
Rong biển
124
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
3.5
Hiꢁu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế luôn là điꢁu kiện hàng đầu để người nông dân xem xét có nên ứng dụng
các sản phẩm phân bón lá chiết rút từ rong biển và bèo tây vào sản xuất. Đánh giá hiệu quả kinh
tế của bón phân cho rau xà lách chꢂng tôi thu được kết quả ở bảng 8.
Kết quả ở bảng 8 cho thấy vꢀi các tỷ lệ và dạng phân bón lá sinh học khác nhau thì cho
năng suất khác nhau nên tổng chi, tổng thu và lãi ròng cũng khác nhau.
Qua nghiên cứu trên cả hai vụ, dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển vꢀi tỷ lệ
phun 1:10 cho năng suất cao nhất (40,12–40,23 g/chậu), cho mức lợi nhuân là 597,72–204,55
đ/chậu, hệ số VCR dao động 9,24–11,49. Khi quy vꢁ diện tích 1 ha vꢀi tỷ lệ phun 1:10 cho kết
Bảng 8. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến cây xà lách
Chỉ tiêu
Dạng phân
bón lá
Tỷ lꢁ (v/v)
(phân: nưꢆc)
CT
NSKT
(g/chꢀu)
Tổng thu
(đ/chꢀu)
Tổng chi
(đ/chꢀu)
Lợi nhuꢀn
(đ/chꢀu)
VCR
1
I
Vụ 1
0:1
30,83
38,67
37,03
35,78
24,47
40,23
30,25
29,40
616,82
773,18
740,45
715,45
489,55
804,55
605,00
588,18
170,45
193,18
190,91
190,91
170,45
204,55
202,27
197,73
446,37
580,00
549,54
525,54
319,10
600,00
402,73
390,45
-
II
1:10
1:20
1:30
0:1
6,88
6,04
4,82
-
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
2
1:10
1:20
1:30
9,24
3,63
3,62
Rong biển
Vụ 2
I
0:1
27,96
36,84
33,45
30,18
20,53
40,12
32,08
34,38
559,09
736,82
669,09
603,64
410,45
802,27
687,73
641,82
170,45
193,18
190,91
190,91
170,45
204,55
202,27
197,73
388,64
543,64
478,18
412,73
240,00
597,72
485,46
444,09
-
II
1:10
1:20
1:30
0:1
7,82
5,38
2,18
-
Bèo tây
III
IV
V
VI
VII
VIII
1:10
1:20
1:30
11,49
8,71
8,48
Rong biển
* Ghi chú: Giá bán là 20.000 đ/kg, tổng chi gồm có chi phí mua chậu, đất, phân chuồng, vôi, cây giống và
công lao động
125
Hoàng Thị Thái Hòa và CS.
Tập 130, Số 3A, 2021
quả cao nhất (năng suất tương ứng 17,65–17,70 tấn/ha), vꢀi giá bán trên thị trường ở thời điểm
hiện tại là 20.000 đ/kg thì cho lợi nhuận trong sản xuất rau xà lách dao động 353.000.000–
354.000.000đ/ha. Mức chênh lệch hiệu quả kinh tế ở cùng tỷ lệ phun 1:10 giữa hai dạng phân bón
lá rong biển và bèo tây từ 13–28 triệu đồng/ha. Đa các công thức đꢁu cho hệ số VCR > 3 điꢁu này
chứng tỏ rằng việc đầu tư bổ sung phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo tây sẽ làm
cho cây xà lách sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế.
4
Kết luꢀn vꢂ đề nghị
Phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo tây có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh
trưởng, phát triển và năng suất của cây rau xà lách. Số lá trên cây rau xà lách đạt cao nhất tại tỷ
lệ phun 1:10 ở cả hai dạng phân bón lá sinh học. Dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển
vꢀi tỷ lệ phun 1:10 cho kết quả cao nhất ở cả hai vụ lần lượt là 42,48 g/chậu và 41,19 g/chậu đối
vꢀi năng suất sinh vật; 40,23 g/chậu và 40,12 g/chậu đối vꢀi năng suất kinh tế. Cả hai dạng phân
bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo tây vꢀi tỷ lệ phun 1:10 đꢁu cho lợi nhuận và hiệu
quả kinh tế cao, trong đó dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển cho hiệu quả tốt hơn.
Sử dụng dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển cho độ Brix trong lá cao hơn (2,5%). Độ
giòn của lá khi sử dụng cả hai dạng phân bón lá sinh học được đánh giá điểm từ 4–5, đạt yêu cầu
vꢁ khẩu vị. Hàm lượng đạm nitrate tồn dư ở rau khi sử dụng dạng phân bón lá sinh học từ bèo
tây là 200–250 mg/kg, từ dạng phân bón lá sinh học từ rong biển là 200 mg/kg tại các tỷ lệ phun
khác nhau. Bưꢀc đầu đã xác định được dạng phân bón lá sinh học chiết rút từ rong biển và bèo
tây vꢀi tỷ lệ phun 1:10 cho cây xà lách mang lại năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao trên
nꢁn 15 tấn phân chuồng và 500 kg vôi.
Lời cꢃm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Huế trong đꢁ tài mã số DHH2020-02-135.
Tài liꢁu tham khảo
1. Ancion PV., Hoang Thi Thai Hoa, Ton That Phap, Pham Quang Tu, Chiang C, Dufey JE,
(2009), Utilisation agricole de plantes aquatiques, notamment en tant qu’amendement des
sols, dans la province de Thua Thien Hue, Centre Vietnam. I. Inventaire, abondance et carac-
térisation chimique des plantes aquatiques disponibles localement, Tropicultura, 27(3), 144–
151.
2. Trần Nguyễn Quỳnh Anh, Lương Quang Đốc, (2012), Hiện trạng cỏ thủy sinh ở khu bảo vệ
thủy sản CồnChìm, phá Tam Giang – Cầu Hai, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 73(4), 9–17.
126
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3A, 2021
3. Nguyễn Văn Bộ, (2000), Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam - thách thức và cơ hội, Báo cáo hội thảo
“Hưꢀng tꢀi các cơ hội mở rộng xuất khẩu sản phẩm Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam”, Hà
Nội, 6–8/9/2000.
4. Nguyễn Văn Bộ, (2014), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón ở Việt Nam, Hội
thảo Quốc gia vꢁ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón tại Việt Nam, Nxb. Nông
nghiệp.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (2007), Qui định vꢀ quản lý sản xuất và chứng nhận
rau an toàn, Quyết định số 04/2007/QĐ-BNN ngày 19/01/2007.
6. Phạm Anh Cường, (2004), Điꢀu tra tình hình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của nông
dân ấp Đình, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi - thành phố Hꢁ Chí Minh, Báo cáo tổng kết, Sở NN
và PTNT Tp. Hồ Chí Minh.
7. Hoàng Thị Thái Hòa, Nguyễn Văn Long, Đỗ Đình Thục, N. Cl. Chiang và J. E. Dufey, (2007),
Ảnh hưởng của các dạng phân hữu cơ đến năng suất lạc và khả năng khoáng hóa đạm trên
đất cát biển Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 4, 87–90.
8. Hoàng Thị Thái Hòa, Đỗ Đình Thục, (2010), Đặc tính hóa học của một số loại phân hữu cơ và
phụ phẩm cây trồng sử dụng trong nông nghiệp trên vùng đất cát biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 57, 59–68.
9. Lê Quốc Phong, Phạm Anh Cường, Mai Văn Quyꢁn, (2011), ꢂng dụng công nghệ sinh học để
sản xuất phân hữu cơ. http://iasvn.org/upload/files/75644PMTQDung%20dung%20cnsh.PDF
10. Trần Nguyễn An Sa, Trương Bách Chiến, Đỗ Bích Thủy, Phùng Thị Huyꢁn Trân, Lê Thị
Thanh Thương, Nguyễn Thị Thủy Tiên, (2018), Nghiên cứu chiết xuất các duỡng chất từ rong
mơ (Sargassum sp.) định hưꢀng sử dụng làm phân bón lá hữu cơ, Tạp chí Khoa học Công nghệ
và Thực phẩm, Số 17(1), 76–89.
11. Nguyễn Đình Thi, Lê Kim Nam, Trần Thị Nhi, (2013), Nghiên cứu sử dụng phân bón lá hữu
cơ Maya-T1 cho các loại rau ăn lá phổ biến trong vụ hè thu tại thành phố Huế, Tạp chí Khoa
học Đại học Huế, Số 79(1).
12. TCVN 8160-7-2010, Thực phẩm - Xác định hàm lượng nitrate và/hoặc nitrite - Phần 7: Xác định hàm
lượng nitrate trong rau và sản phẩm rau bằng phương pháp phân tích dòng liên tục sau khi khử bằng
cadimi, Bộ Khoa học Công nghệ.
127
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phun phân bón lá sinh học từ rong biển và bèo tây đến cây rau xà lách tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_anh_huong_cua_ty_le_phun_phan_bon_la_sinh_hoc_tu.pdf

