Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG PHẨM TÔM CÀNG XANH  
TOÀN ĐỰC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ TỈNH TÂY NINH  
Nguyễn Đức Minh1*, Đỗ Thị Phượng1, Trần Ngọc Anh Tuấn1  
TÓM TẮT  
Mô hình kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM)  
và tỉnh Tây Ninh được thực hiện trong hai năm 2016-2017. Tôm được thả nuôi trong ao với mật  
độ 6-8 con/m2, sau 6-7 tháng nuôi tôm đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 12-14 con/kg. Tỉ lệ  
sống ở các ao nuôi dao động từ 33-72%. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở các ao cho ăn thức ăn  
công nghiệp là 1,4-1,7 và thức ăn chế biến là 3-3,2. Năng suất tôm dao động từ 2.200-3.200 kg/ha.  
Tỷ suất lợi nhuận 19-72%. Để trang bị kiến thức cho nông dân, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy  
sản II đã tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm càng xanh thương phẩm trong ao đất cho 60 kỹ  
thuật viên và nông dân ở hai địa phương Tp. Hồ Chí Minh và Tây Ninh, giúp nông dân biết phân  
loại hình thái, đặc tính sinh trưởng, kỹ thuật nuôi trong ao… Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình  
nuôi tôm càng xanh toàn đực rút ngắn thời gian thu hồi vốn và góp phần đa dạng loài và mô hình  
nuôi, tăng thêm nguồn thu nhập cho người nuôi thủy sản.  
Từ khóa: Tôm càng xanh toàn đực, tỷ suất lợi nhuận, tập huấn.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
chưa quản lý chặt chẽ nên chất lượng tôm giống  
không đảm bảo, kích thước tôm thương phẩm  
nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường trong  
nước cũng như xuất khẩu.  
Trong những năm gần đây tình hình nuôi  
thủy sản ở nước ta gặp rất nhiều khó khăn khác  
nhau như dịch bệnh, giá cả không ổn định, năng  
suất và hiệu quả kinh tế nuôi thương phẩm phụ  
thuộc vào thời tiết khí hậu của từng vùng và  
từng năm.  
Ngoài ra, chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu  
quả việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi tôm  
càng xanh như áp dụng con giống toàn đực và  
sử dụng nguồn lực tại chỗ đến cải thiện thu nhập  
của nông hộ, phát triển nuôi trồng thủy sản cũng  
như phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương.  
Việc ứng dụng những tiến bộ khoa học trong thực  
tiễn nhằm nâng cao năng suất và sản lượng tôm  
càng xanh toàn đực ở Tp. HCM và tỉnh Tây Ninh  
là rất cần thiết. Do đó “Công nghệ nuôi thương  
phẩm tôm càng xanh toàn đực tại Tp. Hồ Chí  
Minh và tỉnh Tây Ninh” được thực hiện với mục  
tiêu đưa tiến bộ khoa học là con giống toàn đực  
vào thực tiễn sản xuất nhằm cải thiện chất lượng  
và hiệu quả nuôi tôm càng xanh thương phẩm,  
từ đó thúc đẩy nghề nuôi tôm càng xanh phát  
triển ở Tp. Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh.  
Kỹ thuật nuôi thương phẩm những đối tượng  
thủy sản, đặc biệt những đối tượng có giá trị kinh  
tế cao như tôm càng xanh (TCX) ở nhiều nông  
hộ còn lạc hậu. Hầu hết người dân nuôi tôm càng  
xanh theo kinh nghiệm, chưa áp dụng những cải  
tiến kỹ thuật như sử dụng con giống toàn đực  
để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Một  
khó khăn khác là không chủ động được con  
giống tôm càng xanh toàn đực, số lượng giống  
không đủ cung ứng cho người nuôi nên một số  
lượng lớn con giống tôm càng xanh phải được  
nhập từ nước ngoài. Chất lượng con giống tôm  
càng xanh toàn đực trong nước và ngoại nhập  
1 Phòng Sinh học Thực nghiệm, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.  
* Email: [email protected]  
87  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Địa điểm và thời gian  
từ Cơ sở Nghiên cứu Thực nghiệm và Sản xuất  
Thủy sản Thủ Đức thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi  
trồng Thủy sản II.  
- Địa điểm: Các ao nuôi tôm càng xanh tại  
khu vực ven sông Sài Gòn (Quận 9, Tp. HCM),  
Kênh Đông (Huyện Dương Minh Châu) và  
Kênh Tây (Tỉnh Tây Ninh).  
Ao nuôi mô hình  
Các ao thực hiện mô hình nuôi TCX toàn  
đực được lựa chọn đại diện cho 2 vùng sinh thái  
tiềm năng nuôi tôm càng xanh gồm (1) sử dụng  
nước sông Sài Gòn và (2) sử dụng nước thủy lợi:  
kênh Tây và kênh Đông ở tỉnh Tây Ninh. Chi tiết  
của các mô hình được trình bày ở Bảng 1.  
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2016  
đến tháng 2/2018.  
2.2. Vật liệu nghiên cứu  
- Tôm giống toàn đực PL15 có nguồn gốc  
Bảng 1. Thông tin về các mô hình nuôi tôm càng xanh toàn đực  
STT  
Ao hộ chọn nuôi  
Ký hiệu Diện tích  
(m2)  
Mật độ  
Địa điểm  
(con/m2)  
1
2
3
4
5
6
Đỗ Thành Sang  
Nguyễn Thị Loan  
Phan Công Nữ  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
2.000  
4.000  
3.000  
2.700  
2.500  
2.000  
7
6
6
6
8
6
Phú Hữu, Tp. HCM  
Phước Long, Tp. HCM  
Long Trường, Tp. HCM  
Kênh Tây, Tây Ninh  
Kênh Tây, Tây Ninh  
Kênh Đông, Tây Ninh  
Nguyễn Văn Chiến  
Phạm Thị Bích Hà  
Lê Thanh Tiến  
TN2  
TN3  
Dụng cụ đo tại thực địa  
Cải tạo ao được tiến hành theo các bước sau:  
Các dụng cụ dùng đo các yếu tố môi trường  
tại thực địa bao gồm máy đo đa chỉ tiêu (pH,  
DO và nhiệt độ) cầm tay, các bộ test kit đo các  
chỉ tiêu thủy lý hoá (độ kiềm, ammonia N-NH3,  
nitrite N-NO2), 1 cân tiểu ly điện tử (1 số lẻ sau  
g), 1 cân đồng hồ cân thức ăn và các thiết bị  
khác phục vụ cho nghiên cứu.  
- Ao ương cần được cải tạo trước khi thả  
giống 7 ngày. Tát cạn ao, bắt hết cá dữ, cá tạp  
và các địch hại khác, diệt địch hại còn lại bằng  
saponine với liều lượng 4 kg/1.000 m3. Vét bớt  
bùn đáy ao, đảm bảo bề dày lớp bùn < 15 cm.  
Riêng các ao ở vùng Tp. HCM, do cao trình thấp  
nên đáy ao luôn có nước; vì vậy ao được bơm  
cạn liên tục trong 1 ngày và được bón vôi ngay.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
2.3.1. Xây dựng mô hình nuôi  
2.3.1.1. Công trình ao nuôi  
- Tiến hành phơi đáy ao 2-3 ngày.  
- Bón vôi CaO để diệt khuẩn và ổn định pH  
với liều lượng 100 kg/1.000 m2.  
Yêu cầu kỹ thuật ao nuôi: Ao nuôi phải  
được cung cấp nguồn nước ngọt quanh năm. Về  
chất lượng, nguồn nước không bị ô nhiễm. Nền  
đáy và bờ ao không bị rò rỉ, lún sụt hay sạt lở.  
Độ sâu mực nước từ 1-1,2 m. Ao có hệ thống  
cấp thoát nước và chủ động cấp tiêu nước khi  
cần thiết. Đáy ao bằng phẳng thuận lợi cho thu  
hoạch tôm.  
- Cấp nước vào ao thông qua lưới lọc có  
mắt lưới nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 mm để loại bỏ  
địch hại, nhiễm tạp đạt mức nước trong ao 0,4-  
0,5 m. Gây màu nước bằng phân vô cơ NPK với  
liều lượng 0,5-1 kg/1.000 m2. Sau 3-5 ngày khi  
tảo đã phát triển tạo thức ăn tự nhiên thì tiếp tục  
cấp nước vào ao qua lưới lọc cho đạt mức nước  
trong ao 0,8-1,0 m rồi tiến hành thả giống.  
Chuẩn bị ao nuôi  
88  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
2.3.1.2. Mật độ thả giống và quản lý thức ăn  
Hình 1. Tôm giống (trái) và chuẩn bị thả giống ở ao mô hình Tây Ninh (phải)  
+ Chọn và thả giống: TCX toàn đực giống  
đạt giai đoạn PL15 có nguồn gốc từ Cơ sở thực  
nghiệm thủy sản Thủ Đức - Viện Nghiên cứu  
Nuôi trồng Thủy sản II, đảm bảo chất lượng với  
các đặc điểm sau: khỏe mạnh, không dị hình,  
kích cỡ đồng đều, đạt khoảng 80.000-90.000  
con/kg. Tôm đã được nuôi trong môi trường  
nước ngọt tương đồng với môi trường nước  
trong ao nuôi. Tỷ lệ tôm lớn hơn hoặc nhỏ hơn  
kích thước chuẩn ít hơn 10%.  
sau: đạm = 55%, lipid = 8%, chất xơ = 1,9%,  
độ ẩm = 8%. Thức ăn có kích cỡ 500-800 µm  
nên phù hợp cho tôm ở giai đoạn nuôi này.  
Tôm đươc cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng sớm,  
chiều và tối. Ngày đầu tiên cho ăn với lượng  
150g/100.000 PL. Sau đó, cứ 1 ngày tăng thêm  
20 g thức ăn cho 100.000 PL. Thức ăn NRD  
được hòa vào nước rồi tạt đều trong giai.  
Sau thời gian ương 20 ngày, tôm đạt kích cỡ  
≤ 20.000 con/kg thì được thả ra ao, bắt đầu nuôi  
tôm giai đoạn II.  
Cách thả giống: Tôm giống được vận  
chuyển kín (vận chuyển trong bao nylon có bơm  
ôxy) đến ao nuôi. Thời gian thả giống khoảng  
5-8 giờ sáng. Tiến hành cân bằng nhiệt độ nước  
trong bao chứa tôm và nước ao nuôi khoảng 20-  
30 phút rồi mới thả giống ra ao. Vị trí thả giống  
cách bờ khoảng 2-3 m.  
- Giai đoạn II: Nuôi tôm giống (kích cỡ ≤  
20.000 con/kg) lên thương phẩm (kích cỡ ≤ 20  
con/kg). Mật độ thả nuôi 6-8 con/m2.  
Trong giai đoạn này, sử dụng thức ăn công  
nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm 25-30% và  
cho ăn theo định mức dựa trên khối lượng cơ thể  
tôm từ 2-10%.  
+ Chăm sóc, quản lý:  
Tôm giống được ương nuôi với 2 giai đoạn:  
Tần suất cho ăn 3 lần/ngày vào lúc sáng  
sớm, chiều mát và tối. Do tập tính ăn mạnh về  
đêm, lượng thức ăn buổi chiều-tối chiếm 2/3  
tổng lượng cho ăn trong ngày.  
- Giai đoạn I: TCX giống PL15, có kích cỡ  
80.000-90.000 con/kg, được thả nuôi trong giai  
có dạng hình chữ nhật với kích thước 2x10x1,5  
m, kích cỡ mắt lưới 0,5 mm. Mật độ thả ương  
100 con/m2. Tổng số là 10 giai/ao.  
Khi cho tôm ăn cần dựa vào các yếu tố sau  
để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp:  
Thức ăn cho TCX giống trong giai đoạn  
này thức ăn chế biến có mã số NRD G8 (Hình  
5). Đây là loại thức ăn rất tốt cho TCX giai đoạn  
PL. Thức ăn NRD được tổ hợp từ các nguyên  
liệu như bột ngũ cốc, dầu cá, tảo, men, chất  
chống ôxy hóa… có thành phần sinh hóa như  
- Rải đều thức ăn trong ao kết hợp sàng ăn  
để kiểm tra sức khỏe tôm nuôi và kiểm tra lượng  
thức ăn được tôm sử dụng.  
- Khi chất lượng nước ao kém hay những  
ngày mưa gió lớn thì giảm lượng thức ăn.  
89  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
- Cho tôm ăn hơi thiếu vẫn tốt hơn thừa  
(dùng sàng ăn để kiểm tra thức ăn hằng ngày).  
2.3.4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế  
Sau khi kết thúc vụ nuôi tôm các thông số  
+ Thường xuyên kiểm tra bờ, lưới, cống để về tăng trưởng tôm nuôi và môi trường được  
tránh thất thoát tôm. Định kỳ xử lý môi trường phân tích. Các chỉ tiêu năng suất, tỷ lệ sống, hệ  
nước ao nuôi bằng chế phẩm sinh học với tần số chuyển đổi thức ăn được đánh giá. Bên cạnh  
suất 2 tuần/lần.  
đó đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình. Hiệu  
quả kinh tế được tính toán dựa trên các chi phí  
và doanh thu.  
+ Giá thể: Dùng lưới, chà và dây nilon thả  
đều khắp ao theo dòng nước cấp để tạo nơi trú  
ẩn cho tôm.  
a. Tổng chi phí: Bao gồm chi phí biến đổi (thức  
ăn, thuốc hóa chất, công lao động, thuế đất,  
nhiên liệu năng lượng, sửa chữa bảo trì), lãi suất  
và khấu hao tài sản cố định.  
+ Các thông tin cần theo dõi và lưu trữ:  
- Lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn  
thừa sau các lần cho tôm ăn bằng cách định  
lượng và sử dụng sàng ăn hàng ngày.  
b. Tổng doanh thu: Tiền bán tôm sau khi thu  
hoạch thực tế = sản lượng tôm x giá bán.  
- Số lượng tôm nuôi trong ao bằng việc  
định lượng tổng số tôm qua các chài kiểm tra tại  
5 điểm cố định theo định kỳ 15 ngày/lần.  
c. Lợi nhuận:  
- Trọng lượng và chiều dài bình quân của  
tôm nuôi bằng việc cân, đo tổng số tôm có được  
trong các chài kiểm tra.  
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí  
Tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận/Tổng chi phí.  
2.3.4.2. Tập huấn và hội thảo  
- Dấu hiệu bất thường, tình trạng sức khỏe  
và tập tính sống trong suốt thời gian nuôi bằng  
cách kiểm tra tôm trong sàng ăn hàng ngày.  
Kết quả thực nghiệm của mô hình nuôi  
được sử dụng để tập huấn cho những hộ nuôi  
thủy sản ở Tp. HCM và tỉnh Tây Ninh cũng như  
phổ biến cho các cán bộ khuyến nông tại các địa  
phương này.  
Sau thời gian nuôi 5 tháng, tôm đạt kích cỡ  
≤ 20 con/kg thì có thể thu hoạch.  
2.3.2. Quản lý các yếu tố môi trường ao nuôi  
- Quản lý chất lượng nước: Cho nước chảy  
tràn hoặc thay nước (30-70% lượng nước trong  
ao nuôi) theo định kỳ 3-5 ngày/lần, tùy thuộc  
vào sự biến động của các yếu tố môi trường.  
2.3.5. Thu thập và xử lý số liệu  
Các số liệu, thông tin thu thập được tổng  
hợp, phân tích và xử lý bằng phần mềm Excel.  
- Các chỉ tiêu pH, DO và nhiệt độ đo hàng  
ngày.  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Xây dựng các mô hình nuôi tôm càng  
xanh toàn đực  
- Các chỉ tiêu kiềm, N-NH3, N-NO2 đo 1  
tuần/lần.  
Công trình ao nuôi  
2.3.3. Thu hoạch tôm  
Các ao được chọn làm mô hình nuôi TCX  
toàn đực có diện tích từ 2.000 đến 4.000 m2 với  
độ sâu 1-1,5 m. Hầu hết các hộ không có ao lắng  
hay ao xử lý để phục vụ cho quá trình nuôi. Do  
đó, chất lượng nước cấp vào ao nuôi phụ thuộc  
hoàn toàn vào chất lượng nước của hệ thống  
kênh và sông.  
- Thu tỉa sau 5 tháng nuôi, khi tôm có kích  
cỡ 10-14 con/kg.  
- Định lượng tôm khi thu hoạch.  
- Xác định hệ số chuyển đổi thức ăn của  
tôm nuôi, năng suất nuôi  
2.3.4. Hiệu quả kinh tế và tập huấn mô hình  
90  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Hình 2. Ao thực nghiệm nuôi TCX toàn đực tại Tây Ninh  
Hình 3: Mô hình ao nuôi tại Phú Hữu và Long Trường, Quận 9, TPHCM  
độ 6-8 con/m2 tùy theo tỷ lệ sống của PL ở các  
mô hình.  
3.2. Tôm giống và mật độ thả giống  
Tôm giống được thả nuôi là TCX toàn  
đực ở giai đoạn PL15 (chiều dài 1,5-2,0 cm).  
Sau 20 ngày ương, tôm có kích cỡ trung bình  
< 20.000 con/kg được thả ra ao nuôi với mật  
Nhìn chung tỉ lệ sống của tôm giống là rất  
cao do chất lượng nước ao tốt và thức ăn sử  
dụng trong giai đoạn ương là phù hợp.  
Bảng 2. Tỷ lệ sống (%) của tôm càng xanh giống sau 20 ngày ương  
Số lượng PL thả ương Số lượng tôm giống thu  
Ao mô hình  
Tỷ lệ sống %  
(con)  
hoạch (con)  
16.000  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
25.000  
40.000  
30.000  
20.000  
25.000  
25.000  
64  
70  
63  
28.000  
19.000  
14.500  
72,5  
80  
TN2  
20.000  
TN3  
16.000  
64  
91  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Hình 4. Tôm giống sau khi ương 20 ngày ở một mô hình vùng kênh Tây  
3.3. Thức ăn và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)  
Hình 5. Thức ăn viên cho các giai đoạn phát triển của tôm: (a) tôm giống và (b) tôm thịt  
Hình 6. Thức ăn ốc bươu vàng tại địa phương  
Bảng 3. Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)  
Ao mô hình  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
Thức ăn công nghiệp  
Thức ăn chế biến  
1,6  
1,4  
1,7  
1,6  
1,4  
1,7  
3,1  
3
3,2  
3
TN2  
3,2  
2,9  
TN3  
92  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.4. Chất lượng nước trong mô hình nuôi  
pH, DO và nhiệt độ được đo hàng ngày và các  
chỉ tiêu kiềm, N-NH3, N-NO2 được đo hàng  
tuần. Biện pháp xử lý hiệu quả khi các yếu tố  
môi trường có sự biến động lớn là thay nước.  
Các yếu tố môi trường của các ao nuôi thực  
nghiệm được kiểm tra định kỳ và thường xuyên  
để có những điều chỉnh kịp thời. Các chỉ tiêu  
Hình 7. Biến động nhiệt độ ở các mô hình nuôi TCX toàn đực  
Hình 8. Biến động pH ở các mô hình nuôi TCX toàn đực  
Tương tự, pH ở tất cả các ao mô hình có  
sốc và nếu tình trạng thiếu ôxy kéo dài thì tôm  
sẽ chết (Boyd và Zimmermann, 2000).  
sự biến động và có sự khác biệt giữa các vùng  
nuôi. Nhìn chung yếu tố pH rất ổn định và dao  
động ngày đêm thấp (không quá 1) trong suốt  
quá trình nuôi.  
Ðộ kiềm ở các ao mô hình có sự biến động  
theo thời gian, dao động từ 30 đến 50 mg/L.  
Ðộ kiềm có xu hướng giảm vào tuần nuôi thứ  
4 và sau đó tăng dần lên đến cuối giai đoạn thu  
hoạch. Trong quá trình nuôi, việc sử dụng vôi  
dolomite và NaHCO3 kết hợp với các khoáng  
chất bổ sung làm tăng dần độ kiềm lên mức cần  
thiết cho tôm.  
Kết quả khảo sát cho thấy hàm lượng ôxy  
hòa tan (DO) buổi sáng giữa các ao nuôi mô  
hình dao động từ 4-5 mg/L. Theo New (1982),  
hoạt động trao đổi chất của các thủy sinh vật đạt  
cao nhất khi DO trong môi trường dao động từ  
3-7 mg/L và khi DO < 2 mg/L, tôm nuôi sẽ bị  
93  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 4. Các chỉ tiêu thủy hoá trong thời gian thực hiện mô hình  
Ao mô hình  
DO buổi sáng  
(mg/L)  
Kiềm  
NO2-N (mg/L) NH3-N (mg/L)  
(mg/L)  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
5±0,3  
5±0,6  
30±10  
50±9  
0,2±0,09  
0,3±0,01  
0,7±0,5  
0,4±0,1  
0,2±0,06  
0,6±0,13  
0,2 ± 0,16  
0,3 ± 0,14  
0,6 ± 0,2  
4±0,5  
24±4  
5 ± 0,4  
5 ± 0,5  
4 ± 0,3  
50 ± 7  
30 ± 12  
24 ± 3  
0,3 ± 0,01  
0,2 ± 0,31  
0,7 ± 0,4  
TN2  
TN3  
của các ao mô hình biến động không lớn (luôn  
nhỏ hơn 0,5 mg/L) và tương đối ổn định. Sang  
tháng thứ 5 hàm lượng NH3-N của các ao nuôi ở  
sông và kênh tăng lên lớn hơn 0,8 mg/L nhưng  
sau đó giảm xuống < 0,2 mg/L vào các tháng  
nuôi tiếp theo cho đến hết vụ nuôi. Do hầu hết  
các hộ nuôi ở vùng sông và kênh chủ động thay  
nước liên tục nên môi trường không có nhiều  
biến động, hàm lượng NH3-N thấp hơn 1,0  
mg/L vào cuối vụ nuôi.  
NO2-N giữa các ao nuôi trong mô hình  
dao động từ 0,2 đến 0,8 mg/L. Ao muôi VC1  
có biên độ dao động lớn về hàm lượng NO2-N  
trong suốt thời gian nuôi, hàm lượng này tăng  
cao nhất vào tháng thứ 4 là 0,8 mg/L. Hầu hết  
các ao ở kênh Đông và kênh Tây có hàm lượng  
NO2-N thấp trong 3 tháng đầu nuôi tôm, nhưng  
vào tháng nuôi thứ 4 bắt đầu tăng dần đến kết  
thúc vụ nuôi.  
Đến tháng nuôi thứ 4, hàm lượng NH3-N  
3.5. Tăng trưởng của tôm ở các mô hình nuôi  
bình quân của tôm đạt 45-98 g/con. Ở tháng thứ  
5, một số ao đã có thể thu tỉa khi tôm đã đạt kích  
cỡ thương phẩm 10-14 con/kg.  
3.6. Thu hoạch tôm thương phẩm  
Hình 9. Trọng lượng và kích cỡ TCX sau 3 và  
6 tháng nuôi  
Kết quả theo dõi tăng trọng của tôm cho  
thấy không có sự chênh lệch lớn giữa các ao  
trong 3 tháng nuôi đầu tiên (Hình 9); trọng  
lượng bình quân của tôm đạt 32-37 g/con. Tôm  
tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao hơn ở các  
tháng nuôi tiếp theo (từ tháng 4-6). Trọng lượng  
Hình 10. Thu hoạch tôm tại Tây Ninh  
Tôm càng xanh được thu hoạch hoàn toàn  
sau 7-8 tháng nuôi với kích cỡ thu hoạch trung  
94  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
bình 10-14 con/kg. Tôm thu hoạch được bán  
Năng suất tôm nuôi thay đổi theo các hộ,  
cho các thương lái thu mua tôm tại địa phương. dao động từ 2-3,2 tấn/ha. Tổng diện tích nuôi  
Trước khi thu hoạch, tiến hành thay nước 50% thực nghiệm TCX toàn đực của là 16.200 m2,  
trong 3 ngày liên tục để kích thích TCX lột xác tổng sản lượng tôm thu hoạch là 3.995 kg và  
đồng loạt nhằm giảm tỷ lệ tôm mềm vỏ.  
năng suất trung bình cho các mô hình là 2,46  
tấn/ha.  
Bảng 5. Kết quả nuôi thương phẩm TCX toàn đực của các mô hình ở Tây Ninh  
Ao  
Mô hình  
Diện tích  
(m2)  
Số lượng  
giống (con)  
Số tôm thu  
hoạch (kg)  
Năng suất  
(tấn/ha)  
Tỷ lệ sống  
(%)  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
2.000  
4.000  
3.000  
2.700  
2.500  
2.000  
16.200  
16.000  
28.000  
19.000  
14.500  
20.000  
16.000  
113.500  
465  
880  
37,7  
40,8  
41,7  
72  
2,32  
2,2  
610  
2,03  
3,2  
870  
TN2  
730  
54,8  
33  
2,92  
2,2  
TN3  
440  
Tổng cộng  
3.995  
2,46  
46,66  
Hình 11: Thu hoạch tôm tại ao nuôi Tp. HCM  
3.7. Hiệu quả kinh tế của mô hình  
quả về tỷ lệ sống và năng suất ở các mô hình  
khác nhau. Các mô hình nuôi TCX toàn đực ở  
Tây Ninh đạt năng suất cao nhất (2,9-3,2 tấn/  
ha), kế đến là ở sông Sài Gòn (2-2,4 tấn/ha).  
So sánh giữa các mô hình nuôi TCX toàn  
đực cho thấy điều kiện môi trường ao nuôi,  
trang thiết bị, chăm sóc quản lý,… sẽ cho kết  
Hình 12. Thu hoạch TCX của hộ Nguyễn Văn Chiến ở kênh Tây  
95  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của mô triển nghề nuôi TCX toàn đực. Chi phí nhân  
hình được trình bày ở Bảng 6 và 7. Trong cấu công và năng lượng sử dụng cho các mô hình  
thành tổng chi phí, chi phí con giống của các mô này không đáng kể. Từ số liệu ở Bảng 6 cho  
hình 15-20%. Điều này cũng tương tự với báo thấy để nâng cao hiệu quả kinh tế cho mô hình  
cáo về chi phí con giống TCX của Trần Ngọc nuôi TCX toàn đực thì cần giảm chi phí con  
Hải (2014). Đây cũng là một trở ngại cho phát giống, thức ăn và trang thiết bị.  
Bảng 6. Tổng chi phí của các mô hình nuôi TCX toàn đực  
Đơn vị (1.000đ)  
Ao  
Con giống Thức ăn CN Thức ăn CB  
(500đ/con) (32.000đ/kg) (5.000đ/kg)  
Nhân Hóa chất và  
Tổng chi  
phí  
Chi khác  
công  
năng lượng  
mô hình  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
12.500  
20.000  
15.000  
12.500  
15.000  
12.500  
23.808  
39.424  
33.184  
44.544  
32.704  
23.936  
7.208  
13.200  
9.760  
12.000  
24.000  
13.000  
14.000  
14.000  
13.000  
12.000  
28.000  
16.000  
12.000  
14.000  
16.000  
30.000 97.516  
30.000 154.624  
30.000 116.944  
30.000 126.094  
30.000 117.384  
10.000 81.816  
13.050  
11.680  
6.380  
TN2  
TN3  
Bảng 7. Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi TCX toàn đực  
Đơn vị (1.000đ)  
Ao  
mô hình  
Năng suất  
(kg/ao)  
Chi phí  
Doanh thu  
Lãi ròng  
Tỷ suất lợi nhuận  
(%)  
HCM1  
HCM2  
HCM3  
TN1  
465  
880  
610  
870  
730  
440  
19,21  
42,28  
30,4  
116.250  
220.000  
152.500  
217.500  
182.500  
110.000  
18.735  
65.376  
35.556  
91.406  
65.116  
28.184  
97.516  
154.624  
116.944  
126.094  
72,49  
55,47  
34,45  
TN2  
117.384  
81.816  
TN3  
3.8. Tập huấn và hội thảo  
Hình 13. Tập huấn kỹ thuật nuôi TCX toàn đực tại Trung tâm Khuyến nông Tỉnh Tây Ninh  
96  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Kết quả thực nghiệm của các mô hình nuôi Theo New (2002) giới hạn nhiệt độ thích hợp  
TCX toàn đực được tổng kết, đánh giá và xây cho sự sinh trưởng của TCX là từ 20-340C. Sự  
dựng nội dung cho tập huấn lý thuyết và hội dao động về nhiệt độ trong suốt thời gian nuôi  
thảo đầu bờ tại địa điểm ở Tp HCM và tỉnh vẫn nằm trong giới hạn thích hợp cho sự tăng  
Tây Ninh.  
trưởng và phát triển của tôm. Theo Boyd (2002),  
chênh lệch nhiệt độ ngày đêm không vượt quá  
5ºC được xem là tối ưu cho nuôi tôm. Thời gian  
triển khai các mô hình nuôi TCX toàn đực là  
từ tháng 6 đến tháng 12 (dương lịch), đã bước  
vào thời điểm mùa mưa; càng về cuối vụ nuôi  
tần suất mưa cao và lượng mưa thường lớn. Tuy  
nhiên, biến động nhiệt độ ngày đêm vẫn nằm  
trong giới hạn thích hợp cho tôm sinh trưởng.  
Kết thúc thời gian tập huấn các học viên đã  
hiểu và nắm bắt được những kiến thức cơ bản  
về nguồn gốc, hiện trạng và quy trình kỹ thuật  
nuôi TCX toàn đực phù hợp với các điều kiện tự  
nhiên và kinh tế - xã hội của Tp. HCM và tỉnh  
Tây Ninh.  
IV. THẢO LUẬN  
Các ao nuôi TCX toàn đực được chọn có vị  
trí gần kênh và sông. Ở khu vực kênh Đông và  
kênh Tây, nước cấp cho ao trực tiếp từ kênh theo  
hình thức chảy tràn; ở khu vực sông Sài Gòn, ao  
được cấp nước bằng máy bơm và thủy triều.  
Giá trị pH trung bình của các ao ở khu vực  
kênh Đông là 8, kênh Tây là 8,8 và sông Sài Gòn  
là 6. Nguồn nước cấp từ các kênh bắt nguồn từ  
hồ Dầu Tiếng có chất lượng tốt và yếu tố pH  
là tương đối ổn định. Trong khi đó, chất lượng  
nước sông Sài Gòn có sự biến động lớn theo  
thời gian và theo vị trí. Hơn nữa, nhiều vùng đất  
ven sông Sài Gòn có khả năng sinh phèn nên  
các ao ở vùng sông Sài Gòn có pH thấp hơn.  
Tuy nhiên, do có sự chăm sóc và quản lý tốt của  
các nông hộ tham gia thực hiện mô hình nên đã  
góp phần làm giảm sự biến động pH trong điều  
kiện bất lợi của thời tiết ở cuối vụ.  
Một trong những tính chất quan trọng của  
ao được quan tâm nhất là khả năng giữ nước  
và sinh phèn. Các ao nuôi TCX toàn đực được  
chọn có nền đất sét hay thịt pha sét nên đều đảm  
bảo được chức năng giữ nước.  
Đa số ao có hình chữ nhật, bờ ao được gia  
cố chắc chắn, không rò rỉ, không hang hốc làm  
nơi trú ẩn cho các sinh vật địch hại của tôm. Mặt  
bờ ao rộng từ 1-2 m nên thuận tiện cho việc đi  
lại chăm sóc tôm.  
Như vậy, hàm lượng DO trong các ao thuộc  
mô hình hầu như nằm trong khoảng thích hợp  
cho TCX; chỉ có thời điểm cuối vụ nuôi khi hàm  
lượng DO thấp hơn 3 mg/L có thể ảnh hưởng  
không tốt cho sự sinh trưởng của tôm. Do hầu  
hết các ao mô hình không có hệ thống sục khí  
hay đảo nước tạo ôxy, nên tôm nuôi ở tháng  
nuôi thứ 4 có triệu chứng thiếu ôxy.  
Hệ thống cấp tiêu nước cho ao được thiết  
kế đơn giản với các ống PVC có Ø = 220-300  
cm. Hầu hết các ao có 1 đường ống lấy nước và  
1 đường ống thoát nước. Miệng ống có lưới bao  
ngăn không cho địch hại xâm nhập vào trong ao  
hoặc tôm nuôi thoát ra ngoài.  
Sự biến động hàm lượng NO2-N trong các  
ao nuôi có liên quan rất lớn đến mức độ tích lũy  
vật chất dinh dưỡng và sự phát triển của tảo.  
Trong ao nuôi, thức ăn công nghiệp và thức ăn  
tươi giàu đạm được cung cấp vào ao nuôi với  
một lượng lớn, quá trình khoáng hóa các chất  
hữu cơ tạo ra nhiều loại muối dinh dưỡng trong  
đó có dạng NO2-N; lượng thức ăn cung cấp tăng  
dần theo khối lượng tôm nuôi nên hàm lượng  
NO2-N tăng dần về cuối vụ nuôi. Hàm lượng  
NO2-N cho phép trong ao nuôi thủy sản là < 2  
Thức ăn tự chế biến ở các hộ nuôi vùng  
sông Sài Gòn và kênh Tây là cá tạp và ốc bươu  
vàng mua tại địa phương; còn ở các hộ nuôi  
kênh Đông là bắp xay và ốc bươu vàng (Hình  
10). Kích cỡ thức ăn tùy thuộc vào từng giai  
đoạn phát triển của tôm. Kiểm tra sự ăn mồi của  
tôm thông qua sàng ăn. Thức ăn được kiểm tra  
sau 4 giờ cho ăn, nếu thức ăn còn hoặc hết thì sẽ  
giảm hoặc tăng lượng thức ăn cho lần sau.  
Nhìn chung nhiệt độ không có sự biến động  
lớn giữa các ao, dao động từ 27,50C đến 28,50C.  
97  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
mg/L, tốt nhất là nhỏ hơn 1 mg/L (Boyd, 1990). nhuận đạt 55-72%. Các mô hình còn lại có năng  
Kết quả theo dõi cho thấy chỉ tiêu này vẫn nằm suất đạt mục tiêu đề ra (2-2,4 tấn/ha) và tỷ suất  
trong giới hạn thích hợp, không có ảnh hưởng lợi nhuận trung bình đạt 19-72%.  
đáng kể đến sự tăng trưởng và phát triển của tôm.  
Cũng cần nhấn mạnh là vào thời điểm thu  
Trong quá trình nuôi, hàm lượng ammonia hoạch, tôm được thương lái mua với giá cao  
tổng số (TAN) của các ao trong mô hình dao từ 250.000-300.000 đồng/kg. Từ đó cho thấy,  
động từ 2-3 mg/L và có xu hướng tăng dần theo ngoài cơ sở hạ tầng cũng như kỹ thuật chăm sóc  
thời gian. Sự biến động này gắn liền với sự biến và quản lý góp phần ổn định năng suất, bố trí  
động của mật độ tảo trong ao. Các ao nuôi mô lịch thời vụ để có giá bán cao và hiệu quả kinh  
hình đã thu tỉa sớm ở tháng thứ 5 trở đi khi tôm tế lớn cũng là vấn đề rất cần được quan tâm  
đạt kích cỡ thương phẩm, 10-14 con/kg.  
trong tương lai.  
Việc thu tỉa là cần thiết vì ở kích cỡ này,  
tốc độ sinh trưởng của tôm đã bị chậm lại; thu  
tỉa cũng làm giảm sinh khối tôm trong ao, giúp  
quản lý môi trường thuận lợi hơn. Một điểm cần  
lưu ý là các ao nuôi thường bị nhiễm cá tạp, ở  
vùng sông Sài Gòn là cá trê, lóc và rô đồng…  
và ở kênh là cá lóc, mè vinh…. Cá tạp đã cạnh  
tranh thức ăn và không gian sống của tôm nuôi;  
hơn nữa một số loài cá còn là địch hại của tôm.  
Do đó, để nuôi tôm đạt hiệu quả cao cần phải  
tập trung vào các biện pháp quản lý các yếu tố  
môi trường tốt, tăng cường biện pháp ngăn chặn  
nhiễm cá tạp từ tự nhiên.  
V. KẾT LUẬN  
- Các ao nuôi TCX toàn đực ở vùng sinh  
thái thủy lợi có chất lượng nước tốt và ổn định  
hơn, thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển  
của tôm so với vùng sinh thái nước sông.  
- Các mô hình nuôi TCX toàn đực không xảy  
ra dịch bệnh và đều thu tỉa sau 5-6 tháng nuôi và  
thu hoạch toàn bộ sau 7-8 tháng nuôi với kích  
thước thu hoạch dao động từ 10-14 con/kg.  
- Năng suất nuôi tôm trung bình là 2,46 tấn/  
ha, dao động từ 2,2-3,2 tấn/ha. Tỉ lệ sống trung  
bình ở các ao nuôi là 46,66%. Hệ số chuyển đổi  
thức ăn (FCR) ở các ao mô hình với thức ăn công  
nghiệp là 1,4-1,7 và thức ăn chế biến là 3-3,2.  
Kết quả nuôi của các mô hình nhìn chung  
đạt cao hơn so với các kết quả nghiên cứu trước  
đây như kết quả thực nghiệm nuôi TCX thâm  
canh trong ao đất tại Long An đạt 1.200-3.000  
kg/ha (Dương Nhựt Long, 2003), ở Malaysia  
đạt 2.287 kg/ha và ở Đài Loan đạt 1.500-3.000  
kg/ha (Ang và ctv., 1990).  
- Các ao nuôi TCX toàn đực đều đạt được  
lợi nhuận với tỷ suất lợi nhuận là 19-72%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
Sự chênh lệch về năng suất tôm nuôi cho  
thấy bên cạnh sự khác biệt về vùng địa lý:  
Điều kiện tự nhiên, chất lượng nước cấp cho ao  
nuôi,… còn có vai trò quan trọng của quản lý và  
chăm sóc. Hệ thống nuôi được quản lý tốt giữ  
vai trò thật sự quyết định đến năng suất, chất  
lượng sản phẩm tôm nuôi và lợi nhuận của mô  
hình nuôi.  
Trần Ngọc Hải, 2010. Hiện trạng sản xuất giống  
và nuôi tôm càng xanh ở Đồng bằng Sông Cửu  
Long. Hội thảo về tôm càng xanh năm 2010-Viện  
Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II.  
Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Tuần, Hoàng Thị Thủy  
Tiên, Lâm Quyền, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn  
Nhứt và Huỳnh Thị Hồng Châu, 2004. Kết quả  
bước đầu sản xuất giống tôm càng xanh toàn đực,  
Tuyển tập nghề cá Đồng bằng Sông Cửu Long, Nhà  
xuất bản nông nghiệp Tp.HCM, trang 159-177.  
Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế cho thấy  
các mô hình đều đạt lợi nhuận khi kết thúc vụ  
nuôi. Trong các mô hình, có 2 ao ở Tây Ninh  
(TN1 và TN2) đạt năng suất tôm nuôi ngoài  
mong đợi (2,92-3,2 tấn/ha) và có tỷ suất lợi  
Lê Tiêu La, 2009. Quy hoạch phát triển nuôi trồng  
thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến  
98  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
năm 2015, định hướng đến năm 2020. Viện kinh  
Tài liệu tiếng Anh  
tế và quy hoạch thủy sản, 237 trang.  
Aquacop, 1983. Intensive rearing in clear water of  
Macrobrachium rosenbergii (De Man, 1879) at  
the Centre Oceanologique du Pacifique,Tahiti. In:  
McVey, J.P., Moore, J.R. (Eds.), CRC Handbook  
of Mariculture, Crustacean Aquaculture, Vol. 1.  
CRC, Florida, pp. 179-187.  
Dương Nhựt Long, 2003. Thực nghiệm xây dựng  
mô hình nuôi tôm càng xanh thâm canh trong ao  
đất tại huyện Mộc Hóa tỉnh Long An. Báo cáo  
tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Long  
An, 34 trang.  
Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2011. Báo cáo sơ kết tình  
hình nuôi trồng thủy sản nước ngọt năm 2011  
và giải pháp triển khai năm 2012 khu vực miền  
Nam.  
FAO, 2007. Macrobrachium rosenbergii (De Man,  
1879). Pp 88.  
FAO, 2008. Fisheries Statistical Database, Global  
Aquaculture Production, the State of World  
Fisheries and Aquaculture 2008. Rome, Italy.  
Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần  
Thị Thanh Hiền và Marcy N. Wilder, 2003.  
Nguyên lý và kỹ thuật sản xuất giống TCX  
(Macrobrachium rosenbergii), Nhà xuất bản  
Nông nghiệp Tp.HCM, 127 trang.  
New, M.B., 2002. Farming freshwater prawns: A  
manual for the culture of the giant river prawn  
(M. rosenbergii). FAO Fisheries Technical Paper,  
Vol. 428. A Network of Aquaculture Centers in  
Asia Pacific, Rome, Italy. pp.1-10.  
Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2000. Kỹ thuật sản xuất  
giống tôm càng xanh, NXB Nông nghiệp, Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Nair, C.M. and K.R. Salin, 2012. Current status  
and prospects of farming the giant river  
prawn Macrobrachium rosenbergii (De  
Man, 1879) and the monsoon river prawn  
Macrobrachium malcolmsonii (HM Edwards) in  
India. Aquaculture Research, 43 (7), 999-1014.  
Nguyễn Như Tiệp, 2004. Chất lượng và giải phát  
phát triển bền vững nuôi cá da trơn. Hội thảo  
quốc gia và chất lượng và thương hiệu cho cá da  
trơn Việt Nam. An Giang ngày 14-15/12/2004.  
99  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ESTABLISHMENT OF CULTURE MODEL FOR ALL-MALE GIANT  
FRESHWATER PRAWN (Macrobrachium rosenbergii) IN HO CHI  
MINH CITY AND TAY NINH PROVINCE  
Nguyen Duc Minh1*, Do Thi Phuong1, Tran Ngoc Anh Tuan1  
ABSTRACT  
The study on all-male giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii) farming was carried  
out at Ho Chi Minh City and Tay Ninh province from 2016 to 2017. The stocking density was 6-8  
prawn/m2, farming duration was 6-7 months. Average size of prawn at harvest ranged from 12-14  
individual/kg. Survival rate in ponds ranged from 33-72%. Feed conversion ratio (FCR) in the  
model ponds was 1.4-1.7 and 3-3.2 for commercial feed and home-made feed, respectively. Prawn  
yield ranged from 2,200-3,200 kg/ha. Profit rate fluctuated in the range of 19-84%. In order to  
transfer knowledge to the prawn farmers, the project team has given technical training courses for  
intensive farming of giant freshwater prawns in earthen ponds for 60 technicians and farmers in two  
localities in Ho Chi Minh City and Tay Ninh province. The results of this study also showed that the  
all-male giant freshwater prawn farming model could shorten the duration of capital turnover and  
contributed to the diversity of culture species, increasing income for farmers.  
Keywords: All-male prawn, profit, technical training.  
Người phản biện: ThS. Nguyễn Thanh Vũ  
Ngày nhận bài: 11/6/2018  
Ngày thông qua phản biện: 30/6/2018  
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018  
1 Department of Experimental Biology, Research Institute for Aquaculture No.2  
* Email: [email protected]  
100  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
pdf 14 trang yennguyen 87740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm tôm càng xanh toàn đực tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxay_dung_mo_hinh_nuoi_thuong_pham_tom_cang_xanh_toan_duc_tai.pdf