Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung axit amin đối với tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ giai đoạn cá giống

HOẠT ĐỘNG KH-CN  
ĐÁNH GIÁ HIệU qUẢ Sử dụNG THứC ăN CÔNG NGHIệp Có bổ SUNG AXIT AmIN  
ĐỐI vớI TăNG TrưởNG vÀ Tỷ lệ SỐNG CủA CÁ HồNG mỹ GIAI ĐOạN CÁ GIỐNG  
n
Phạm Thị Tâm, Nguyễn Ngọc Anh, Phạm Mỹ Dung  
tổng hợp vào thức ăn để tăng giá trị dinh  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
dưỡng đã được ứng dụng trên nhiều loài động  
vật thủy sản. Thực tế cho thấy, việc đảm bảo  
đủ lượng axit amin có trong thức ăn thủy sản,  
tránh dư thừa, lãng phí là rất cần thiết.  
Đó là lí do đề tài “Đánh giá hiệu quả sử  
dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung axit  
amin đối với tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá  
hồng mỹ giai đoạn cá giống tại Trung tâm  
Thực hành thủy sản nước mặn Trường Đại  
học Vinh” được triển khai thực hiện, nhằm  
xác định loại thức ăn công nghiệp thích hợp  
nhất cho loại cá này.  
Cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus Linnaeus) là đối  
tượng thuỷ sản dễ nuôi, sống được trong các môi trường  
mặn, lợ và ngọt, tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt thơm  
ngon, giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Tuy  
nhiên, khi đưa cá hồng mỹ vào nuôi thương phẩm  
thường gặp khó khăn về vấn đề con giống. Từ năm 1999,  
các Viện nghiên cứu trong nước đã đưa cá hồng mỹ vào  
nghiên cứu sinh sản. Đến năm 2003, quy trình sản xuất  
gống đã được khép kín và chuyển giao cho một số tỉnh,  
trong đó có Nghệ An, đáp ứng được phần lớn nhu cầu  
con giống phục vụ nuôi nội địa.  
Trong nuôi thủy sản, thức ăn thường chiếm 50-60%  
tổng chi phí đầu tư. Muốn có được thức ăn tốt để vật  
nuôi lớn nhanh thì việc hiểu biết về từng thành phần dinh  
dưỡng sử dụng trong phối chế thức ăn là rất quan trọng  
và cần thiết. Khi nói đến protein, người ta không chỉ  
quan tâm đến hàm lượng của nó trong thức ăn mà còn  
chú ý đến các axit amin tham gia cấu tạo nên protein (đặc  
biệt là thành phần và tỷ lệ các axit amin thiết yếu trong  
protein). Nhu cầu protein nói một cách chính xác hơn đó  
chính là nhu cầu amino axit. Ngoài nhiệm vụ chính là  
cấu tạo nên protein, chúng còn là tiền chất của một số  
sản phẩm trao đổi chất khác. Việc bổ sung acid amin  
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI  
DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: cá hồng mỹ giai  
đoạn cá hương, cỡ cá 5,012cm.  
- Axit amin chế tạo từ sản phẩm thủy phân  
da cá tra.  
2. Vật liệu nghiên cứu  
- Thức ăn công nghiệp: HI-PO 7702  
(40% Pr).  
Cá hồng mỹ  
Tạp chí  
[20]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
- Giai ương: 12 giai, diện tích 1m2, kích thước mắt  
lưới 2a=1mm.  
- Axit amin thu được từ sản phẩm thủy phân phụ  
phẩm chế biến cá tra.  
+ CT1: Thức ăn HI-PO7702 + 0% bột axit  
amin thủy phân  
+ CT2: Thức ăn HI-PO7702 + 0,4% bột axit  
amin thủy phân  
- Các dụng cụ thí nghiệm khác: cân, thước, thiết bị  
đo môi trường, kính hiển vi và các vật dụng phòng thí  
nghiệm cần thiết khác.  
+ CT3: Thức ăn HI-PO7702 + 0,8% bột axit  
amin thủy phân  
+ CT4: Thức ăn HI-PO7702 + 1,2% bột axit  
amin thủy phân  
- Cá thả ban đầu có khối lượng trung bình 2.014g,  
chiều dài trung bình 5,012cm.  
Giai được đặt trong ao có diện tích 4500m2,  
độ sâu 1,3-1,5m. Cho cá ăn đến no với tần suất  
4 lần/ngày (7giờ, 11giờ, 14 giờ và 17giờ).  
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ sách báo,  
tài liệu tham khảo, các sách báo khoa học... Số  
liệu sơ cấp được thu thập từ việc đo trực tiếp  
môi trường hàng ngày, định kỳ theo dõi đo  
khối lượng, chiều dài, tỷ lệ sống của cá. Các  
số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê  
sinh học trên phần mềm SPSS 16.0, sử dụng  
phép so sánh LSD0,05 và Tukey, Duncan ở  
mức ý nghĩa (p<0,05).  
3. Nội dung nghiên cứu  
- Theo dõi biến động của các yếu tố môi trường  
trong quá trình ương nuôi.  
- Ảnh hưởng của các công thức thức ăn bổ sung axit  
amin đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng  
mỹ.  
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong quá trình ương  
nuôi cá giống.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
- Nghiên cứu được tiến hành từ từ 25/01-  
04/05/2015, tại Trung tâm Thực hành thủy sản nước  
mặn, Trường Đại Học Vinh.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Kết quả phân tích thành phần axit  
amin trong thức ăn và da cá  
-Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn  
với 12 giai nuôi, mỗi giai 80 con, gồm 4 công thức (CT):  
Bảng 1. Thành phần axit amin trong thức ăn và da cá (µg/ml)  
TT  
1
Axit amin  
Threonine  
HI-PO 7702  
100,450  
Da cá  
KPH  
2
3
4
5
6
7
8
Valine  
Methionine  
Isoleucine  
Leucine  
Phenylalanine  
Lysine  
129,050  
146,700  
271,351  
513,321  
514,365  
348,995  
1,699,751  
3,723,983  
356,265  
KPH  
60,205  
90,600  
165,710  
449,400  
330,309  
274,401  
1,085,915  
2456,54  
54,450  
KPH  
KPH  
KPH  
889,812  
KPH  
KPH  
Histidine  
Tổng axit amin thiết yếu  
Aspartate  
9
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
Glutamin  
Serin  
Glycine  
Cysteine - SelenocySteine  
Alanin  
KPH  
KPH  
1,435,650  
26,825  
Arginin  
Tyrosin  
Prolin  
KPH  
243,711  
4,625,831  
6,688,282  
10,412,265  
35,77 %  
155,725  
3,650,410  
4,750,397  
7,206,937  
34,09 %  
Tổng axit amin không thiết yếu  
Tổng  
EAA/TAA  
Tạp chí  
[21]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
2. Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của cá hồng mỹ  
Số liệu bảng 1 cho thấy, tỷ lệ  
thành phần của các loại axit amin  
có trong thức ăn HI-PO 7702 bao  
gồm axit amin thiết yếu, axit amin  
không thiết yếu và có sự bổ sung  
từ thành phần axit amin có trong  
da cá tra. Một số loại axit amin như  
Threonine trong thức ăn là 100,450  
µg/ml, còn trong da cá thì tỷ lệ  
Threonine là 0. Còn như Threo-  
nine, Arginin , Serin, Glycine thì tỷ  
lệ ở trong thức ăn lẫn da cá đều  
bằng 0. Tổng khối lượng axit amin  
thiết yếu trong thức ăn là 3723,983  
µg/ml và trong da cá là 2456,54  
µg/ml. Tổng khối lượng axit amin  
không thiết yếu trong thức ăn là  
6688,282 µg/ml và trong da cá là  
4750,397 µg/ml. Một số axit amin  
thiết yếu cũng như không thiết yếu  
thì tỷ lệ chênh lệch nhau không  
nhiều. Lượng axit amin thiết yếu  
trong thức ăn HI-PO7702 chiếm  
35,77% còn trong da cá chiếm  
34,09%. Đảm bảo trong quá trình  
bổ sung axit amin vào trong thức  
ăn với lượng vừa đủ nhằm tránh  
hiện tượng lãng phí và gây ảnh  
hưởng đến sức khỏe của động vật  
thủy sản.  
Hình 1. Tỷ lệ sống của cá hồng mỹ  
ở các công thức thí nghiệm  
Tỷ lệ sống của các công thức là rất cao, theo kết quả phân tích  
ANOVA và kiểm định Duncan cho thấy ở CT3 có tỷ lệ sống cao  
nhất (92,5%), tiếp theo là CT2 (87,5%), CT4 (82,5%) và cuối  
cùng là CT1 (81,25%). Như vậy, có thể thấy các công thức thức  
ăn khác nhau có ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cá hồng mỹ giai  
đoạn giống.  
Theo Nguyễn Đình Vinh (2014), khi ương nuôi cá hồng mỹ  
giai đoạn cá giống sau 35 ngày, sử dụng thức ăn công nghiệp với  
hàm lượng Protein 40% thì tỷ lệ sống của cá đạt 90,5%. Như vậy,  
trong ương nuôi cá hồng mỹ giai đoạn giống nên sử dụng thức ăn  
công nghiệp có bổ sung axit amin để nâng cao tỷ lệ sống.  
3. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của cá hồng mỹ  
Bảng 2. Sự tăng trưởng của cá hồng mỹ ở các công thức thức ăn  
Chỉ tiêu  
W (g)  
CT1  
2.124 0.092a  
CT2  
2.124 0.083a  
CT3  
2.124 0.090a  
CT4  
2.124 0.075a  
Thả  
Thu  
L (cm)  
W (g)  
5.012 0.185a  
11.153 0.336a  
12.459 0.300a  
0.161 0.005a  
0.130 0.005a  
2.692 0.082a  
1.606 0.068a  
5.012 0.186a  
11.287 0.259b  
12.878 0.222b  
0.163 0.004b  
0.140 0.004b  
2.983 0.079a  
1.685 0.067b  
5.012 0.356a  
13.812 0.361d  
14.679 0.297d  
0.208 0.006d  
0.173 0.010d  
3.344 0.076c  
1.931 0.152d  
5.012 0.186a  
12.564 0.324c  
19.951 0.263c  
0.186 0.005c  
0.158 0.006c  
3.175 0.071c  
1.817 0.074c  
L (cm)  
W (g/ngày)  
L (cm/ngày)  
W (%/ngày)  
L (%/ngày)  
ADG  
SGR  
Ghi chú: Các chữ cái trong cùng hàng có chữ cái mũ khác nhau thì khác nhau với p<0,05; sau là độ  
lệch chuẩn.  
Tạp chí  
[22]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Hình 2. Tốc độ tăn  
g trưởng trung bìn  
h
Hình 3. Tốc độ tăng trưởng trung bình  
về khối lượng cá hồng mỹ  
về chiều dài cá hồn  
g mỹ  
Qua hình 2 có thể thấy, chiều dài trung bình của cá  
hồng mỹ ở CT3 đạt cao nhất ở các lần kiểm tra, tiếp  
theo là CT4, CT2 và thấp nhất là CT1. Khi phân tích  
SPSS và kiểm định Duncan thì ở lần kiểm tra thứ 2  
(ngày thứ 30) đã có sự sai khác rõ rệt giữa các công  
thức thí nghiệm có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức  
p<0,05. Kết thúc thí nghiệm, vào ngày 56, ở CT3 cho  
chiểu dài cao nhất 14,754cm, tiếp theo là CT4  
13,864cm, CT2 12,878cm và thấp nhất CT1 12,322cm.  
So sánh với kết quả nghiên cứu của Mai Công Khuê  
(2006) khi ương nuôi cá hồng mỹ giai đoạn giống, ở  
ngày nuôi thứ 45 cho tốc độ tăng trưởng đạt  
10,03 0,3cm. Trong khi đó ở ngày nuôi thứ 49, ở CT3  
cho tăng trưởng 13,448 0,31cm, cao hơn so với kết quả  
của Mai Công Khuê.  
thứ 21 thì tốc độ tăng trưởng trung bình vẫn  
chưa có sự khác biệt rõ ràng. Bắt đầu từ ngày  
nuôi thứ 35 thì sự tăng trưởng ở CT3 là vượt  
trội so với các nghiệm thức còn lại. Kết thúc  
thí nghiệm, vào ngày 56, ở CT3 cho khối  
lượng cao nhất 13,813g, tiếp theo là CT4  
12,564g, CT2 11,287g và thấp nhất CT1  
11,154g.  
So sánh với kết quả nghiên cứu của Trần  
Thanh Huy (2014) khi ương nuôi cá hồng mỹ  
giai đoạn giống, ở ngày nuôi thứ 35 cho tốc độ  
tăng trưởng đạt 2,82g. Trong khi đó ở ngày đầu  
thả cá có khối lượng trung bình là 1,62g, tốc  
độ tăng trưởng trung bình là 0,03g/con/ngày,  
thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của  
chúng tôi.  
Qua hình 3 có thể thấy, khối lượng trung bình của  
cá hồng mỹ ở CT3 cho tăng trưởng cao nhất ở các lần  
kiểm tra. Giai đoạn từ ngày nuôi thứ nhất đến ngày nuôi  
4. Ảnh hưởng của công thức thức ăn đến  
hệ số chuyển đổi thức ăn FCR  
Bảng 3. Hệ số chuyển đổi thức ăn ở các công thức thí nghiệm  
Chỉ tiêu  
Khối lượng cá thả (g)  
Khối lượng cá thu (g)  
Khối lượng cá tăng (g)  
Khối lượng thức ăn đã dùng (g)  
Hệ số FCR  
CT1  
509,872  
CT2  
509,896  
CT3  
509,597  
CT4  
509,672  
2,175,013  
1,665,141  
2,495,801  
1,499 0,029a  
2,234,822  
1,724,926  
2,675,307  
1,551 0,031b  
3,066,387  
2,556,790  
3,269,692  
1,272 0,011d  
2,638,463  
2,128,791  
2,923,278  
1,356 0,014c  
Ghi chú: các chữ cái khác nhau viết kèm bên các giá trị trong cùng hàng biểu thị cho sự khác nhau có  
ý nghĩa thống kê (p<0,05).  
Tạp chí  
[23]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Hệ số chuyển đổi thức ăn giữa các nghiệm thức có  
sự chênh lệch giữa các công thức thức ăn phối trộn các  
tỷ lệ axit amin khác nhau, thấp nhất là CT3 (1,272) và  
lớn nhất là CT2 (1,551). Hệ số chuyển đổi thức ăn của  
các nghiêṃ thức thí nghiệm là sai khác nhau có ý nghĩa  
về mặt thống kê p<0,05. Điều này chứng tỏ các loại  
thức ăn khác nhau đã ảnh hưởng đến hệ số chuyển đổi  
thức ăn của cá.  
Theo Nguyễn Văn Minh (2009) khi sử dụng thức ăn  
tự chế và cá tạp cho ương nuôi cá hồng mỹ thì hệ số  
chuyển đổi thức ăn cá tạp là 6,56 và thức ăn tự chế là  
3,21. Còn theo Nguyễn Đình Vinh và Nguyễn Thị  
Thanh (2014) thì khi sử dụng thức ăn công  
nghiệp với mức protein là 42% cho hệ số  
chuyển đổi thức ăn là 1,9. Như vậy, kết quả của  
chúng tôi khi sử dụng thức ăn công nghiệp HI-  
PO 7702 với 40% protein cho hệ số chuyển đổi  
là 1,5, thấp hơn so với 2 thí nghiệm trên. Đối  
với CT3 khi sử dụng thức ăn công nghiệp HI-  
PO 7702 bổ sung 0,8% axit amin cho hệ số  
chuyển đổi thức ăn là 1,27, thấp hơn nhiều và  
cho ý nghĩa thực tiễn nhất.  
5. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn axit amin  
vào thức ăn đến độ đồng đều của cá hồng mỹ  
Bảng 4. Độ đồng đều của cá theo các công thức phối trộn axit amin  
Ngày nuôi CT1 CT2 CT3 CT4  
2,42 0,29a 2,49 0,43a 2,37 0,75a 1,72 0,15a  
2,12 0,21ab 2,26 0,05ab  
7
14  
21  
28  
35  
42  
49  
56  
3,02 0,89b  
1,90 0,72a  
2,17 0,37a  
3,49 0,66ab 3,50 0,05ab  
3,61 0,67a 3,32 0,58a  
2,96 0,53ab 2,98 0,51ab  
2,53 0,28a 1,67 0,35a  
1,97 0,16a  
2,77 0,55a  
3,86 0,29b  
5,09 0,99b  
4,40 0,72a  
3,37 0,22b  
2,33 0,36a  
2,98 0,22a  
2,93 0,89ab  
2,53 0,80a  
3,80 0,50b  
2,75 0,9a  
5,16 0,84a  
2,31 0,44a  
1,84 0,92a  
Ghi chú: các chữ cái khác nhau viết kèm bên các giá trị trong cùng hàng biểu thị cho sự khác nhau có  
ý nghĩa thống kê (p<0,05).  
Ban đầu độ đồng đều giữa các công thức thí nghiệm  
là gần như nhau. Tuy nhiên, sang ngày nuôi thứ 14 thì  
sự khác biệt bắt đầu rõ ràng, mức độ biến động được  
thể hiện rõ ràng ở các công thức thí nghiệm. Trong đó,  
ở ngày nuôi thứ 35, CT4 (5,09%) có hệ số biến động  
lớn nhất, tiếp đến là CT2 (3,50%), CT1 (3,49%) và cuối  
cùng là CT3 (2,75%). Sang ngày nuôi thứ 42, hệ số  
biến động có sự thay đổi, lớn nhất là CT3 (5,16%), tiếp  
đến là CT4 (4,40%), CT1 (3,61%) và thấp nhất là CT2  
(3,32%). Cá ở ngày nuôi thứ 56 có hệ số biến động cao  
nhất ở CT1 (2,53%), tiếp theo là CT4 (2,33%), CT3  
(1,84%) và thấp nhất là CT2 (1,67%) có hệ số  
biến động gần như nhau. Qua phân tích ANOVA  
và kiểm định Duncan về hệ số biến động của cá  
qua 56 ngày nuôi không cho thấy sự sai khác về  
mặt thống kê giữa các công thức thí nghiệm  
(p>0,05). CT4 có hệ số biến động cao nhất  
(3,18%), xếp sau là CT3 (2,87%), cuối cùng là  
CT1 (2,76%) và CT2 (2,74%). Như vậy, các  
công thức thức ăn không ảnh hưởng tới mức độ  
đồng đều giữa các nghiệm thức thí nghiệm.  
6. Hiệu quả kinh tế  
Bảng 5. Đánh giá hiệu quả kinh tế khi ương nuôi cá hồng mỹ (VNĐ)  
Thức ăn  
Chỉ tiêu đánh giá  
CT1  
CT2  
641.7  
300  
CT3  
641.7  
260  
CT4  
641.7  
285  
Giống  
Thức ăn  
641.7  
350  
0
Axit amin  
70  
100  
130  
Nguyên vật liệu, nhân công  
và chi phí khác  
Tổng chi  
300  
300  
300  
300  
1.291.700  
1.681.927  
390.227  
30,21  
1.311.700  
1.784.891  
473.19  
1.301.700  
2.292.735  
991.035  
76,13  
1.356.700  
2.038.050  
681.35  
Tổng thu  
Lợi nhuận  
Tỷ suất lợi nhuận (%)  
36,07  
50,21  
Tạp chí  
[24]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Kết quả từ bảng 5 cho thấy, CT3 cho tỷ suất lợi  
nhuận đạt 76,13% (tổng lãi/tổng chi phí/m2/vụ) cao hơn  
so với sử dụng CT4, CT2 và CT1 với tỷ suất lợi nhuận  
lần lượt tương ứng là 50,21%, 36,07% và 30,21%. Sử  
dụng thức ăn ở CT2 và CT4 có giá thành xấp xỉ nhau  
nhưng lại cho tăng trưởng và tỷ lệ sống thấp hơn so với  
ở CT3 làm cho hiệu quả kinh tế giảm đi. Từ các kết quả  
trên có thể nói rằng, trong ương nuôi cá hồng mỹ, sử  
dụng thức ăn HI-PO 7702 (40% Protein) + 0,8% axit  
amin cho cá tăng trưởng cao, tỷ lệ sống lớn  
và đạt tỷ suất lợi nhuận cao.  
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
1. Kết luận  
Thức ăn bổ sung axit amin có ảnh  
hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ  
sống của cá hồng mỹ giai đoạn giống. So  
với các công thức còn lại, ở CT3, cá đạt tỷ  
lệ sống cao nhất (92,5%); tăng trưởng cao  
(0,174 cm/ngày); tỷ lệ sống 92,5%. Tỷ lệ  
phối trộn có ảnh hưởng đến FCR rõ rệt ở  
các công thức thí nghiệm. CT3 cho hệ số  
FCR thấp nhất; hệ số chuyển đổi thức ăn  
có ý nghĩa thực tiễn nhất (1,27) sự sai khác  
giữa các công thức thức ăn có ý nghĩa  
thống kê với p<0,05; hiệu quả kinh tế cao  
nhất (2.292.735 VNĐ) và tỷ suất lợi nhuận  
là 76,13%.  
2. Kiến nghị  
Nên nuôi cá hồng mỹ với tỷ lệ phối trộn  
axit amin vào thức ăn cho cá với tỷ lệ là  
0,8%. Cần nghiên cứu lặp lại, cùng với  
nghiên cứu thử nghiệm một số loại công  
thức thức ăn khác với các hàm lượng đạm  
khác nhau và tỷ lệ axit amin khác lên sự  
tăng trưởng của cá hồng mỹ để tạo ra đàn  
giống tốt nhất phục vụ nuôi thương phẩm./.  
Nuôi thương phẩm cá hồng mỹ ở Diễn Châu  
Tài liệu tham khảo  
1. Lục Minh Diệp (2010), Nghiên cứu bổ sung axit béo và các chế phẩm làm giàu thức ăn sống trong ương ấu  
trùng cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus Linaeus 1766).  
2. Vũ Văn Dũng, 2005, Nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi cá hồng mỹ trong ao, đầm nước lợ tại Hải Phòng,  
Báo cáo tổng kết đề tài của Trung tâm Dạy nghề và CGCN thủy sản phía Bắc.  
3. FAO, 1991, Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam.  
4. Mai Công Khuê, 2002, Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi cá đù đỏ (Sciaenops  
ocellatus) di nhập từ Trung Quốc tại khu vực Hải Phòng. Tuyển tập công trình nghiên cứu cá biển, Viện nghiên cứu  
hải sản. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.  
5. Trần Thanh Huy (2014), “Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá hồng  
mỹ (Sciaenops ocellatu. Linnaeus,1766) giai đoạn cá giống”, Khoá luận tốt nghiệp tại Trung tâm thực hành hải sản  
- Trường Đại học Vinh.  
6. Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Thị Thanh (2014), Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá  
hồng mỹ, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An, tr7-10.  
7. Barlow C.G, Pearce M.G., Rodgers L.J., Clayton P., 1995, Effects of photoperiod on growth, survival and  
feeding periodicity of larval and juvenile barramundi Lates calcarifer (Bloch).  
8. Colara et al, 1991, Effects of dietary lipid and carbohydrate levels on growth and body composition of juvenile  
red drum, Sciaenops occelatus, Aquculture, 97, 383-394.  
9. Foscarini, (1988), Intensive farming procedure for red sea bream (Pagrus major) in Japan, Aquaculture 72:191-246.  
10. ZHU Xian (朱宪)**, ZHU Chao (朱超), ZHAO Liang (赵亮)and CHENG Hongbin (程洪斌), 2008, Amino  
Acids Production from Fish Proteins Hydrolysis in Subcritical Water, Chinese Journal of Chemical Engineering,  
16(3) 456 - 460.  
Tạp chí  
[25]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
pdf 6 trang yennguyen 16860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn công nghiệp có bổ sung axit amin đối với tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hồng mỹ giai đoạn cá giống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_su_dung_thuc_an_cong_nghiep_co_bo_sung_axi.pdf