Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
Nghiên cứu
Open Access Full Text Article
Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi
trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng
Nguyễn Hồng Anh Thư1,*, Nguyễn Khôn Huyền1, Lê Quốc Vĩ1, Trần Thị Hiệu1, Trần Trung Kiên1,
Lê Trọng Nhân2, Lê Thanh Hải1
TÓM TẮT
Nuôi trồng thuỷ sản – thuộc nhóm Ngư Nghiệp - là một trong những ngành kinh tế có giá trị cao,
chiếm một phần không nhỏ trong cơ cấu kinh tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp tại Việt Nam và An
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
Giang là một tỉnh từ lâu đã có thế mạnh trong ngành nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam. Tuy nhiên,
tính bền vững của ngành này đang gặp nhiều thách thức bởi quá trình biến đổi khí hậu; Vì vậy,
nhu cầu cấp thiết là đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu của nuôi trồng thủy
sản An Giang dựa trên những thay đổi được dự đoán về nhiệt độ và lượng mưa của vùng theo các
kịch bản biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn thương của chúng cho từng khu vực, sử dụng
phương pháp dựa trên chỉ số của Hội đồng liên chính phủ về định nghĩa biến đổi khí hậu về tính
dễ bị tổn thương để khắc phục những hạn chế trong việc phát triển các chiến lược thích ứng cụ
thể ở quy mô khu vực. Tổng cộng có 27 chỉ số khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội đã được chọn
cho ba thành phần dễ bị tổn thương: phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng. Kết quả cho
thấy mức độ tổn thương do BĐKH đối với ngành nuôi cá tra tại tỉnh An Giang ở mức độ trung bình,
trong đó huyện Châu Phú chịu tổn thương cao do huyện chủ yếu có sinh kế chính là nuôi cá tra.
Dựa vào hiện trạng và mức độ tổn thương do BĐKH đề xuất các giải pháp thích hợp cho người
nuôi cá tra với mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế chủ lực này đồng thời tạo ra sinh kế
mới cho người dân và giảm tác động đến môi trường do hoạt động nuôi trồng gây ra.
Từ khoá: chỉ số tổn thương, tính dễ tổn thương, biến đổi khí hậu, nuôi cá tra
Các nghiên cứu hiện tại về tính dễ bị tổn thương của
GIỚI THIỆU
1Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại
học Quốc gia TP.HCM, Việt Nam
việc đánh bắt thủy sản và nuôi trồng thủy sản đối với
biến đổi khí hậu đã được tiến hành chủ yếu ở quy mô
vấn đề dễ bị tổn thương dựa trên các chỉ số về sự nóng
lên toàn cầu, tầm quan trọng tương đối của nghề cá
trong bối cảnh kinh tế quốc gia và đời sống chế độ ăn
uống, và khả năng thích ứng vớibiến đổi khí hậutrong
132 quốc gia. Kết quả của họ chỉ ra rằng các quốc gia ở
Tây Phi, tây bắc Nam Mỹ và Nam Á là những quốc gia
hành một nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản trong đó
thay đổi nhiệt độ nước, mật độ dân số, thay đổi lượng
mưa, rủi ro thiên tai và sản xuất nuôi trồng thủy sản
được chọn làm chỉ số cho đánh giá ở quy mô quốc
gia. Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu có thể
khác nhau giữa các vùng tùy theo vùng khí hậu, khu
vực địa lý (nội địa hoặc ven biển), loại hệ thống nuôi
trồng thủy sản và loài nào được nuôi. Các khu vực
nội địa bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của lũ lụt, nhiệt
độ và lượng mưa, trong khi các khu vực ven biển bị
ảnh hưởng bởi mực nước biển tăng, độ cao sóng và
có thể không giống nhau đối với từng mối nguy hiểm
Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất thực phẩm tăng
trưởng nhanh nhất toàn cầu, với sản lượng tăng từ
khoảng 4 triệu tấn năm 1970 lên 73,8 triệu tấn trong
người trên thế giới đến từ nuôi trồng thủy sản và
khoảng 18 triệu người đang tham gia nuôi cá, trong
trồng thủy sản lớn thứ 15 trên thế giới, trong đó tỉnh
An Giang cung cấp gần 25% tổng sản lượng thủy sản
quốc gia, được chọn làm khu vực nghiên cứu giữa các
nước đang phát triển vì nuôi trồng thủy sản đóng góp
đáng kể của nền kinh tế nông thôn của đất nước thông
qua thu nhập từ nông nghiệp và trên - và việc làm phi
nông nghiệp. An Giang là một trong bốn tỉnh nằm
trong vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu
Long – nơi đang chịu nhiều ảnh hưởng do biến đổi
khí hậu toàn cầu. Đất đai bị bạc màu; đa dạng sinh
học giảm mạnh; diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị
khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng; nhiệt độ không
khí tăng cao và hạn hán bất thường, lũ lụt không theo
quy luật; nhiều dịch bệnh mới hình thành… đã đe dọa
đến đời sống và hoạt động của người dân trong tỉnh.
2Đại học Tôn Đức ắng TP.HCM, Việt
Nam
Liên hệ
Nguyễn Hồng Anh Thư, Viện Môi trường và
Tài nguyên - Đại học Quốc gia TP.HCM, Việt
Nam
Email: anhthu0710.95@gmail.com
Lịch sử
• Ngày nhận: 01-06-2020
• Ngày chấp nhận: 18-01-2021
• Ngày đăng: 05-03-2021
DOI : 10.32508/stdjsee.v5i1.530
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Trích dẫn bài báo này: Thư N H A, Huyền N K, Vĩ L Q, Hiệu T T, Kiên T T, Nhân L T, Hải L T. Đánh giá tính
dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp
thích ứng. Sci. Tech. Dev. J. - Sci. Earth Environ.; 5(1):254-263.
254
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
này. Tính dễ bị tổn thương của một hệ thống không nhận thức của người nuôi về một số yếu tố thời tiết có
chỉ phụ thuộc vào tác động của các mối nguy hiểm mà liên quan đến xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu, tác
còn phụ thuộc vào độ nhạy và khả năng thích ứng của động và giải pháp ứng phó của người dân; khả năng
nuôi một số loài thủy sản kinh tế quan trọng trong
Nghiên cứu “Đánh giá về tính dễ bị tổn thương của điều kiện xâm nhập mặn; qua đó đề xuất giải pháp
nuôi trồng thủy sản Hàn Quốc với biến đổi khí hậu” góp phần giảm thiểu rủi ro và thích ứng với xâm nhập
của nhóm tác giả Bong – Tae Kim, Christopher L. mặn và biến đổi khí hậu, thời tiết cho nuôi trồng thủy
.
dự đoán về nhiệt độ và độ mặn của nước biển ở các Trong bối cảnh BĐKH đang là vấn đề quan tâm của
vùng biển liền kề của Bán đảo Triều Tiên theo các kịch toàn xã hội, GS. Mai Trọng Nhuận đã cùng các cộng sự
bản tập trung đại diện (RCP). Các yếu tố của biến đổi có những nghiên cứu tổn thương do BĐKH (áp dụng
khí hậu ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, trực tiếp cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây -
hoặc gián tiếp, bao gồm tăng nhiệt độ nước, tăng mực Lăng Cô,…). Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề
nước biển, thay đổi pH do axit hóa đại dương, thay đổi xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên,
mô hình thời tiết, thời tiết bất thường, v.v..7. Nhiệt độ bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và
nước tăng có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng
của các loài được nuôi, tính nhạy cảm với bệnh và thời bền vững tài nguyên môi trường (với các mô hình
gian đẻ trứng và tử vong trong vòng đời. Mực nước phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp, nuôi
biển dâng có thể gây ngập lụt, xói mòn và xâm nhập trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng
nước biển ở vùng ven biển và vùng trũng. Hầu như sản sạch,…), giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên
việc đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương chỉ được đưa môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do
ra trong phạm vi toàncầu và khôngtập trung vào nghề BĐKH và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng
.
liệu dự đoán về các thay đổi vật lý phát sinh từ biến Nghiên cứu của Kam et al (2010)15 ở đồng bằng sông
đổi khí hậu. Phương pháp dựa trên chỉ số định nghĩa Cửu Long cho thấy nếu không có giải pháp thích
về tính dễ bị tổn thương của IPCC và định nghĩa về ứng, thu nhập của các hộ nuôi cá tra có thể giảm 3
tính dễ bị tổn thương của IPCC được áp dụng trong tỉ đồng/ha vào năm 2020 và các hộ nuôi tôm có thể
nghiên cứu này với việc lựa chọn và xác định các chỉ số giảm 130 triệu đồng/ha vào năm 2020 và lên đến 950
proxy về độ phơi sáng, độ nhạy và khả năng thích ứng triệu đồng/ha năm 2050.
tùy thuộc vào định nghĩa về tính dễ bị tổn thương của Trong số những nghiên cứu trước đó đã không làm
Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). rõ tầm quan trọng của nghề nuôi trồng thủy sản nước
Nghiên cứu của Shaw (2006)8 về thích ứng với BĐKH ngọt cho ngành thủy sản và an ninh lương thực ở mỗi
dựa vào cộng đồng ở miền Trung đã chỉ ra rằng, thay quốc gia, và những nghiên cứu này cũng không thể
đổi khí hậu, thời tiết như sự sự biến đổi 11 lượng mưa, giải quyết các nhu cầu chính sách cụ thể theo ngành
hay sự thay đổi đường đi của lốc xoáy đã ảnh hưởng cũng là một thiếu hụt thường xuyên trong các tài liệu
đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, những kiểu dễ bị tổn thương. Nhưng qua những nghiên cứu đó,
sinh kế chính của cộng đồng dân cư ở đây. Shaw nhận có thể thấy rằng dung phương pháp chỉ số để đánh
xét rằng, sự liên kết giữa người dân và chính quyền là giá tính dễ tổn thương sẽ gặp khó khăn trong việc thu
yếu tố quan trọng của việc thích ứng đối với BĐKH thập số liệu nhưng lại đánh giá toàn diện tính dễ tổn
dựa vào cộng đồng9. Một nhóm các tác giả khác qua thương do BĐKH và nhận đỉnh rằng 2 yếu tố tác động
nghiên cứu “Living with Environmental change: so- lớn nhất đến ngành thủy sản do BĐKH gây ra là nhiệt
cial vulnerability, Adaptation and Resilience in Viet- độ và lượng mưa.
nam”10 đã phân tích tương đối toàn diện các nhân tố hiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý và tăng
liên quan đến những tổn thương về mặt xã hội cũng trưởng cá tra giống. Nhiệt độ thấp (240C), cá tăng
như khả năng phục hồi sau các thay đổi môi trường. trưởng kém còn nhiệt độ cao kích thích cá tăng trưởng
êm nữa, ở Việt nam, trong quá trình ứng phó với cao (32 – 340C). Tuy nhiên, khi nhiệt độ quá cao cũng
BĐKH, cư dân thường vận dụng những loại vốn mà gây stress cho cá vì làm ức chế quá trình sinh trưởng
.
Nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn và khả năng độ 24 - 26◦C tỷ lệ sống không cao do cá trong bể bị
thích ứng trong nuôi trồng thủy sản tại đồng bằng nhiễm vi nấm ký sinh bên ngoài và chết. Ngược lại
sông Cửu Long được thực hiện tại Khoa ủy sản với nấm, vi khuẩn trên cá tra thường phát triển tốt ở
Liêu, Cà Mau và Hậu Giang. Nghiên cứu đánh giá 32◦C trong thời gian đầu có thể xuất hiện những biểu
255
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
hiện xuất huyết, phù đầu, một số cá thể trong nội quan phụ thuộc nuôi trồng thủy sản cao hơn có độ nhạy cao
nhất, trong khi các huyện có sự phụ thuộc nuôi trồng
thủy sản thấp hơn có độ nhạy thấp nhất.
xuất hiện các đốm trắng trên gan, thận và tỳ tạng. Vì
vậy, khi nuôi cá ở các mức nhiệt độ cao không tránh
khỏi tình trạng một số ít cá chết do sốc với điều kiện
sống thay đổi và làm tỷ lệ sống của cá ở các nhiệt độ
cao không đạt 100%.
Trong mùa mưa bão, nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn,
pH biến đổi thất thường… gây các hiện tượng sốc môi
trường đối với động vật thủy sản, mầm bệnh có nhiều
cơ hội xâm nhập vào cơ thể động vật thủy sản để gây
bệnh.
Khả năng thích ứng (AC)
Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là sự điều
chỉnh trong hệ thống tự nhiên và con người để ứng
phó với các tác nhân khí hậu hiện tại và tương lại, như
làm giảm những thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có
lợi.
Phương pháp tính
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các bước cụ thể tính toán các chỉ số E, S, AC, VI và
áp dụng phương pháp trọng số không cân bằng của
như sau:
Bước 1: Xác định các chỉ thị thành phần con cần tính
cho các chỉ số E, S và AC.
Bước 2: u thập, tính toán và phân tích dữ liệu. Các
dữ liệu này được khai thác từ niên giám thống kê của
các huyện, của Tỉnh; báo cáo tổng kết của các ngành
nông nghiệp, du lịch, công nghiệp, xây dựng, giao
thông,…; bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch của
các ngành; báo cáo quy hoạch phát triển KT-XH của
Tỉnh.
Bước 3: Cân nhắc lọc bỏ các chỉ thị thành phần
con không đủ chuỗi số liệu (nếu xét theo địa
phương/quận, huyện).
Nghiên cứu được thực hiện tại An Giang. Tổng cộng
có 27 chỉ số khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội đã
được chọn cho ba thành phần dễ bị tổn thương: phơi
nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng. Dữ liệu được
phân tích bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận chỉ
số dễ bị tổn thương tổng hợp và tính dễ bị tổn thương
trong nuôi trồng thủy sản.
Lựa chọn các chỉ số
Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) nuôi trồng thủy sản
có thể được định nghĩa là mức độ mà hệ thống nuôi
trồng thủy sản hoặc hoạt động nuôi trồng dễ bị ảnh
hưởng hoặc không thể đối phó với các tác động bất
lợi của biến đổi khí hậu, bao gồm cả biến đổi khí hậu
thành phần chính của TDBTT (VI) theo định nghĩa
của IPCC: phơi nhiễm (E), độ nhạy (S) và khả năng
thích ứng (AC). Tính dễ bị tổn thương là ảnh hưởng
Bước 4: Áp dụng công thức (2.1) để chuẩn hóa. Các
chỉ số chính E, S, AC được tính bằng công thức (2.2)
và chỉ số dễ bị tổn thương được áp dụng công thức
(2.3).
• Chuẩn hóa:
Phơi nhiễm (E)
Phơi nhiễm có thể được định nghĩa là sự hiện diện
của sinh kế, các loài thủy sinh hoặc hệ sinh thái, chức
năng môi trường, dịch vụ và cơ sở hạ tầng có thể bị
ảnh hưởng xấu bởi biến đổi khí hậu và thay đổi (thích
lựa chọn cho nuôi trồng thủy sản bao gồm các biến đổi
về nhiệt độ và lượng mưa trong quá khứ, mực nước
biển tăng, dự báo nhiệt độ và lượng mưa trong tương
lai và nước dâng do bão.
xi
xmax
x =
(2.1)
Trong đó: - xi là giá trị đã được mã hoá của yếu tố i (0
< xi <1)
- xmax là giá trị lớn nhất của yếu tố i trong các mức độ
khác nhau
Sau khi xác định được các chỉ thị, các chỉ số (E, S, AC)
được xác định bằng công thức:
n
i=0 wijMij
∑
CF =
(2.2)
Nhạy cảm (S)
n
wM
∑
i
i=0
Các chỉ số độ nhạy được lựa chọn cho nghiên cứu này
là (i) tổng diện tích nước được sử dụng cho nuôi và
một khu vực phụ thuộc nhiều vào cá để kiếm việc làm,
thu nhập và protein trong chế độ ăn uống, nó sẽ có
nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi liên quan
Trong đó: CF: Chỉ số chính;
Mij: Chỉ thị thứ i được xác định tại công thức (2.1);
wM : Số lượng chỉ thị thành phần con cấu tạo nên chỉ
i
thị thứ i;
• Chỉ số dễ bị tổn thương được xác định theo công
:
256
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
Trong đó: N: tổng số hộ nuôi cá tra của tỉnh;
n: số hộ đại diện
E +S+(1−AC)
(2.3)
VI =
e: sai số cho phép (thường lấy bằng 0.05) ở đây chọn
e = 0,1 tức mức độ chính xác là 90%
3
Trong đó: VI: Chỉ số dễ bị tổn thương;
N
2.394
n =
=
= 96 (hộ)
(1+Ne2)
1+2.394×0,12
Bước 5. Phân loại mức độ tổn thương:Chỉ số tổn
.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân loại tổn thương
Lựa chọn các chỉ số
STT
Chỉ số tổn thương (VI)
≤ 0,2
Mức độ
Rất thấp
ấp
Các yếu tố tác động tới độ phơi nhiễm của cá tra thông
qua tác động của BĐKH tại tỉnh An Giang bao gồm
các yếu tố, diện tích đất bị ngập do nước biển dâng, các
biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa. Các số liệu được thu
thập từ dữ liệu của Đài KTTV (Khí tượng thuỷ văn)
tỉnh An Giang, chi cục ống kê tỉnh An Giang. Đây
là các số liệu hiện trạng về các hiện tượng cực đoan
như hạn hán, lũ lụt. Các số liệu tương lai về nước
biển dâng, nhiệt độ, lượng mưa được lấy từ kịch bản
BĐKH và NBD (nước biển dân) cho Việt Nam năm
2016. Các chỉ số này thể hiện mức độ biến đổi của
khí hậu, đây là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sản
1
2
3
4
5
0,2 < VI ≤ 0,4
0,4 < VI ≤ 0,6
0,6 < VI ≤ 0,8
0,8 < VI ≤ 1,0
Trung bình
Cao
Rất cao
Phương pháp điều tra thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp sử dụng
phiếu điều tra, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn tại
hiện trường của các đối tượng nghiên cứu chính (các
doanh nghiệp, hộ dân, chính quyền các địa phương
có liên quan, các chuyên gia và các cán bộ quản lý,…)
nhằm thu thập và xử lý các số liệu về hoạt động sinh kế
cộng đồng, sản xuất, canh tác, nuôi trồng tại các đối
tượng nghiên cứu, hiện trạng ý kiến của cộng đồng
dân cư, cán bộ, công nhân... trên địa bàn thuộc các
đối tượng nghiên cứu và những người liên quan khác
trong các ban ngành của các địa phương.
Tính toán giá trị chỉ số của các biến thành
phần và chỉ số tổn thương tổng hợp
Giá trị của chỉ số của các biến thành phần và chỉ
số tổn thương tổng hợp theo các đơn vị hành chính
cấp huyện được tính toán theo các công thức từ công
thức (2.1) đến công thức (2.3) và được trình bày trong
Xây dựng các mẫu phiếu phục vụ điều tra khảo sát:
Để thực hiện nội dung này đề tài sẽ xây dựng các mẫu
phiếu phục vụ công tác điều tra tại hiện trường (tổ
chức điều tra nhằm lấy ý kiến các cán bộ, các hộ dân
hoặc doanh nghiệp tại các đối tượngnghiên cứu chính
trên địa bàn):
Đánhgiámứcđộ tổnthươngdo biếnđổikhí
hậu đối với ngành nuôi cá tra tỉnh An Giang
Mức độ phơi nhiễm
Giá trị chỉ số phơi nhiễm của các huyện của tỉnh An
Giang dao động trong khoảng từ 0.243 – 0.845, tương
đương với mức độ phơi nhiễm từ thấp đến rất cao.
Giá trị E cao nhất tại huyện Tân Châu, thấp nhất tại
huyện Tịnh Biên.
• 01 mẫu phiếu cho cán bộ có liên quan đến công
tác quản lý, nghiên cứu về các đối tượng và địa
bàn ở địa phương.
• 01 mẫu phiếu cho các doanh nghiệp.
• Mức độ phơi nhiễm rất cao (0.8 – 1.0):
Trong phạm vi toàn tỉnh An Giang có 1/11
huyện/thành phố có mức độ phơi nhiễm rất cao
(chiếm 9.1%), đó là huyện Tân Châu: 0.845
• Mức độ phơi nhiễm cao (0.6 – 0.8): Trong phạm
vi toàn tỉnh An Giang có 2/11 huyện (chiếm
18.2%), đó là huyện Châu Phú: 0.743 và huyện
Châu ành: 0.666.
Tiến hành khảo sát, chụp ảnh tại các huyện nuôi cá
tra điển hình của tỉnh như Châu Phú, Chợ Mới…..
• 01 mẫu phiếu cho các hộ gia đình.
Tiến hành khảo sát, chụp ảnh tại các hộ nuôi cá tra
điển hình của huyện với các quy mô và hình thức canh
tác khác nhau.
• Mức độ phơi nhiễm thấp (0.2 – 0.4): tại huyện
Tịnh Biên: 0.243 (chiếm 9.1%)
Xác định số đơn vị cần khảo sát: eo Slovin (1984),
cỡ mẫu được xác định theo công thức sau:
• Mức độ phơi nhiễm trung bình (0.4 – 0.6): tại 7
huyện còn lại, chiếm 63,6% tổng số huyện.
N
n =
(1+Ne2)
257
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
Bảng 2: Các chỉ số được sử dụng để tính toán mức độ phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng.
Yếu tố quyết định
khả năng dễ bị tổn
thương (Chỉ số cấp
I)
Chỉ số cấp II
Chỉ số cấp III
Đơn vị
Nguồn
số liệu
Mức độ phơi nhiễm Dao động khí hậu (E1)
(E)
Nhiệt độ trung bình cao nhất (E2-1)
oC
SLQT
Nhiệt độ trung bình thấp nhất (E2-2)
Mực nước trung bình lớn nhất (E3-1)
Mực nước trung bình thấp nhất (E3-2)
Đỉnh lũ trung bình năm (E3-5)
Dân số (S1-1)
oC
SLQT
SLTK
SLTK
SLTK
SLTK
ủy văn (E2)
cm
cm
Trận
Người
Mức độ nhạy cảm
(S)
Xã hội (S1)
Mật độ dân số (S1-2)
Người/km2
%
SLTK
PĐT
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ
sinh/phiếu điều tra (S1-3)
Tỷ lệ phụ nữ (S1-4)
%
SLTK
SLTK
SLTK/PĐT
SLTK
SLTK
SLTK
SLTK
SLTK
PĐT
Tỷ lệ hộ nghèo(S1-5)
%
ủy sản (S2)
Diện tích mặt nước nuôi trồng cá (S2-1)
Sản lượng cá (S2-2)
ha
Tấn
Sản lượng cá tra giống (S2-3)
Số cơ sở sản xuất giống (S2-4)
Số bè nuôi trồng cá tra (S2-5)
Giá trị thu từ cá tra (S2-6)
Tỷ lệ hộ thủy sản/phiếu điều tra (S2-7)
Triệu con
Số cơ sở
Số cơ sở
Triệu đồng
%
Mức độ thích ứng Chính quyền - Cộng Tỷ lệ số dân được tập huấn về phòng
%
PĐT
(AC)
đồng (AC1)
chống thiên tai và ứng phó với BĐKH
(AC1-1)
Ngân sách chi ứng phó BĐKH (AC1-2)
Triệu VNĐ
%
SLTK
PĐT
Nhận thức của người dân về BĐKH
(AC1-3)
Khả năng tiếp cận thông tin liên quan
đến BĐKH và kỹ thuật canh tác (inter-
net,TV..) (AC1-4)
%
PĐT
Cơ sở hạ tầng (AC2)
Số lượng cơ sở y tế (AC2-1)
Số vị trí quan trắc (AC2-2)
Số cơ sở
điểm
SLTK
Báo cáo
quan
trắc
Số cơ sở nhân giống cá tra công nghệ
cao thích ứng BĐKH (AC2-3)
Số cơ sở
Người
SLTK
Kinh tế - xã hội(AC3)
Dân số trong độ tuổi lao động (AC3-1)
SLTK
SLTK
u nhập bình quân đầu người/tháng Triệu
(AC3-2)
VND/người
Tỷ lệ hộ có thu nhập nông nghiệp (AC3-
3)
%
SLTK
258
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
Bảng 3: Bảng giá trị chỉ số dễ bị tổn thương do BĐKH đối với ngành nuôi cá tra
Huyện/ ành phố
Long Xuyên
Châu Đốc
An Phú
E
S
AC
VI
Mức độ tổn thương
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Cao
0.477
0.495
0.560
0.845
0.428
0.743
0.243
0.422
0.666
0.492
0.474
0.584
0.253
0.261
0.341
0.407
0.484
0.207
0.104
0.341
0.417
0.329
0.706
0.388
0.241
0.527
0.593
0.387
0.344
0.297
0.541
0.601
0.550
0.45
0.45
0.53
0.55
0.41
0.62
0.37
0.41
0.49
0.44
0.42
Tân Châu
Phú Tân
Châu Phú
Tịnh Biên
Tri Tôn
ấp
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Châu ành
Chợ Mới
oại Sơn
Đánh giá chung, các yếu tố phơi nhiễm đã tác động tượng này. Tương tự, các đối tượng làm nông nghiệp
đến sự phát triển của ngành nuôi cá tra tỉnh An Giang. và đặc biệt là nuôi cá tra sẽ là những đối tượng bị ảnh
Trong đó, các huyện Tân Châu,Châu Phú và Châu hưởng chính của những tác động của BĐKH đến cá
ành là 3 huyện có hộ nuôi cá tra lớn của tỉnh An Gi- tra. Do cá tra là loại thủy sản nuôi trồng chính, chiếm
ang nhưng theo kết quả trên có thể thấy mức độ phơi vai trò quan trọng đối với kinh tế của tỉnh An Giang
nhiễm của 3 huyện này nằm ở mức cao. Trong khi chính vì vậy BĐKH sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh kế của
huyện Tân Châu chịu nhiều tác động của hiện tượng người dân. Các chỉ số về sinh kế bao gồm diện tích
cực đoan như lũ ảnh hưởng đến diện tích và không nuôi trồng tại địa phương, sản lượng và giá trị sản xuất
độ trung bình thấp nhất gây ảnh hưởng đến sức sống Giá trị chỉ số nhạy cảm của các huyện của tỉnh An
của đàn cá. Châu Phú và Châu ành đối mặt với Giang dao động trong khoảng từ 0.104- 0.584, tương
nguồn nước không đảm bảo cho ao cá vì thiếu nguồn đương với mức độ nhạy cảm từ rất thấp đến trung
nước đảm bảo chất lượng để thay nước định kỳ cho bình. Giá trị S cao nhất tại thành phố Long Xuyên,
ao vào mùa khô và khó kiểm soát chất lượng nguồn thấp nhất tại huyện Tri Tôn.
nước vào mùa lũ.
Đánh giá chung, mức độ nhạy cảm của ngành du lịch
tỉnh An Giangtrước các tác động của BĐKH ở mức
trung bình. Có thể nhận thấy rằng: những huyện có
diện tích nuôi cá tra nhiều thì có mức độ nhạy cảm
ngành nuôi trồng cao hơn so với cá huyện khác.
Mức độ nhạy cảm
Độ nhạy cảm (S) là các nhân tố thể hiện mức độ nhạy
cảm, dễ thay đổi do các tác động của biến đổi khí hậu
như nhiệt độ, lượng mưa. Đối với cá tra có rất nhiều
chỉ số thể hiện mức độ nhạy cảm do BĐKH, tuy nhiên
Mức độ thích ứng
nghiên cứu chỉ sử dụng một số chỉ số được xem là có Khả năng thích ứng (AC) được đề cập đến dựa trên
ảnh hưởng chính tại tỉnh An Giang bao gồm các yếu các yếu tố về điều kiện phát triển cơ sở vật chất, xã hội,
tố về dân số, sinh kế, điều kiện tự nhiên và ảnh hưởng các chính sách hỗ trợ của địa phương, mức độ quan
của BĐKH. Các chỉ số về dân số thể hiện tổng dân tâm và chú trọng của chính quyền cũng như người
số tại mỗi địa phương, ngoài ra một số các yếu tố về dân địa phương. Các dữ liệu được thu thập từ Niên
dân số nữ, tỉ lệ hộ nghèo cũng được đề cập đến. Phụ giám thống kê và thông tin từ phiếu điều tra khảo
nữ là những đối tượng có thể trạng yếu, khả năng lao sát. Các chỉ số về nhận thức của của chính quyền địa
động nặng kém hơn so với nam giới do đó khi có thiên phương cũng như người dân thể hiện mức độ quan
tai xảy ra, khả năng chống chịu và thích ứng rất hạn tâm và chú trọng từ đó sẽ có những nỗ lực cải thiện
chế. Người nghèo là những đối tượng không có hoặc cũng như biện pháp thích ứng đối với BĐKH. Bên
thiếu các dữ liệu sản xuất, thường phụ thuộc chính cạnh đó, điều kiện sinh hoạt sử dụng nguồn nước của
vào nghề nông do đó những yếu tố ảnh hưởng trực người dân và các điều kiện y tế giáo dục cũng đóng
tiếp đến nông nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến nhóm đối vai trò quan trọng đối với khả năng thích ứng.
259
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
Giá trị chỉ số năng lực thích ứng của các huyện của - Đối với khi nhiệt độ tăng lên cao khiến cho hàm
tỉnh An Giang dao động trong khoảng từ 0.241 – lượng ôxy trong nước giảm mạnh vào ban đêm, môi
0.706, tương đương với năng lực thích ứng từ thấp đến trường nước xấu đi, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
cao. Giá trị AC cao nhất tại thành phố Long Xuyên, và phát triển của cá tra. Các hiện tượng này xảy ra
thấp nhất tại huyện An Phú.
cường độ ngày càng cao, diễn biến phức tạp hơn và
Qua kết qủa tính toán khả năng thích ứng, các huyện khó đoán, làm thay đổi mùa vụ canh tác, suy giảm tốc
thị của tỉnh An Giang, hầu như đều có mức thích ứng độ tăng trưởng, nhiều bệnh tật thường xuyên xảy ra
khả ổn định và đồng đều, nhưng giá trị thấp dần ở khiến người nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn. Các giải
những nơi xa thành phố, hoặc các huyện có mức phát pháp:
triển cao hơn, còn nhưng huyện gần vùng núi thì lại + Để phòng bệnh cho cá và khử trùng nước ao, định
thấp hơn.
kỳ dùng vôi bột hòa nước và tạt đều khắp ao, có thể
sử dụng thêm chế phẩm sinh học EM gốc để để xử lý
và khử trùng nước ao nuôi, Đặc biệt, những chỗ cho
cá ăn thường chứa thức ăn thừa, thối rữa gây nhiễm
bẩn tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển, chế
phẩm có thể giúp phân hủy.
+ Quản lý môi trường: Cá tra chịu rất tốt trong điều
kiện khắc nghiệt môi trường nuôi, nhưng do hiện nay
thường nuôi thâm canh mật độ cao, thức ăn cho cá
nhiều, chất thải ra cũng lớn nên môi trường ao nuôi
bị nhiễm bẩn nhanh. Quản lý chất lượng nước trong
ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng
các yếu tố thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn
trong quá trình sản xuất. ường xuyên thay nước,
mỗi lần 20 - 30% lượng nước trong ao để cá tra có
điều kiện sống sạch và khỏe mạnh.
Đánh giá mức độ tổn thương
Giá trị chỉ số tổn thương V của các huyện của tỉnh An
Giang dao động trong khoảng từ 0.37 – 0.62, tương
đương với mức độ tổn thương từ thấp đến cao. Giá
trị V cao nhất quan sát thấy ở huyện Châu Phú, thấp
nhất ở huyện Tịnh Biên.
Huyện có chỉ ố tổn thương do BĐKH đối với cá tra ở
mức cao tại tỉnh An Giang là huyện Châu Phú, đây
là huyện có cơ cấu ngành kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp. Trong đó nuôi cá tra là ngành sản xuất chính
của huyện. Những năm gần đây huyện chịu nhiều
ảnh hưởng do BĐKH gây ra như mưa lớn kéo dài,
thiếu nước mùa khô, nhiệt độ tăng cao (cao nhất 34 –
350C) dẫn đến cá chết hàng loạt và chất lượng cá giống
cũng như cá thịt bị sụt giảm đáng kể. Tuy nhiên theo
nghiên cứu thống kê đối với khả năng thích ứng với
biến đổi khí hậu tại địa phương cho thấy, các chỉ số về
nhận thức của chính quyền cũng như người dân đối
với biến đổi khí hậu khá cao trên 80%.
Các huyện có chỉ ố dễ bị tổn thương ở mức trung bình
mặc dù vẫn chịu nhiều các tác động từ BĐKH tuy
nhiên các ảnh hưởng là không lớn. Bên cạnh đó, khả
năng thích ứng thống kê được là khá tích cực. Trong
đó nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân từ 80
– 95%, và số lượng người dân được tham gia các buổi
tập huấn, hội thảo về BĐKH đạt tỷ lệ cao 70 – 85%
Các chỉ số về xã hội như cơ sở y tế, trường học, tỷ lệ
giáo viên cũng khá cao.
+ Giảm lượng thức ăn trong ngày từ 30 – 40 %, hoặc
bỏ cử ăn vào buổi trưa.
+ Để tăng sức đề kháng cho cá tra tăng cường sử dụng
chế phẩm sinh học có nguồn gốc thảo dược để cải
thiện chất lượng nước, nâng cao sức đề kháng vật
nuôi, gia tăng sự chuyển hóa hấp thu thức ăn của vật
nuôi sẽ góp phần giảm thiểu dịch bệnh, chất lượng sản
phẩm đảm bảo an toàn và giảm thiểu tác động xấu đến
môi trường trong đó có chế phẩm EM gốc hiệu quả.
+ Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung Vitamin C, Vitamin
tổng hợp, khoáng chất, các loại sản phẩm có tác động
đến sự phục hồi hoạt động của thận, tỳ tạng, gan, gia
tăng mật độ huyết sắc tố trong máu để tăng sức đề
kháng cho cá tra bằng cách trộn vitamin C vào thức
ăn. Sử dụng hóa chất và kháng sinh phải tuân theo
quy định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm
THẢO LUẬN
Dựa trên các kết quả phân tích bộ chỉ số tính dễ bị tổn khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn
thương nhằm đưa ra thứ tự ưu tiên giữa các huyện để kỹ thuật. Tuyệt đối không dùng thuốc kháng sinh để
thực hiện thí điểm các giải pháp thích ứng với BĐKH phòng bệnh cho cá.
giúp cho ngành thủy sản cá tra tại An Giang. Đồng - Vào những ngày trời mưa kéo dài, nhiệt độ giảm thì
thời đưa ra các giải pháp phù hợp ứng với thực trạng cần thiết giảm lượng cho ăn và cho cá ăn vào thời điểm
của ngành nuôi trồng cá tra tại địa phương và tạo nhiệt độ nước ao có sự cân bằng giữa tầng mặt và tầng
thêm nguồn sinh kế mới cho người dân. eo kết quả đáy (lúc trời đứng bóng về chiều). Khi hút bùn đáy ao
tính toán 2 yếu tố tác động lớn nhất đến ngành thủy xong, cần xử lý nền đáy và xử lý cho nước ao trong trở
sản do BĐKH gây ra là nhiệt độ và lượng mưa.Giải lại mới cho ăn, bởi vì nếu cá phải sống và bắt mồi ở
pháp ứng phó cho các huyện khi nhiệt độ cao và mưa vùng có tích tụ nhiều chất thải và khí độc thì dễ xảy
kéo dài.
ra hiện tượng cá mất đi hứng thú bắt mồi. Bên cạnh
260
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
đó, nếu cá bắt mồi trong vùng nước nhiễm bẩn, cũng
sẽ tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh xâm nhập vào
nội tạng.
LỜI CẢM ƠN
Tập thể tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến
Chương trình Khoa học và Công nghệ Trọng điểm
cấp nhà nước giai đoạn 2014 – 2019 “Khoa học và
Công nghệ Phục vụ Phát triển bền vững Vùng Tây
Nam Bộ” đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu
này thông qua hợp đồng số 13/2018/HĐ-KHCN-
TNB.ĐT/14-19/C25.
Xin cảm ơn đến Đại học Quốc gia TP HCM, văn
phòng chương trình Tây Nam Bộ, Viện Môi trường
và Tài nguyên đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi
để chúng tôi có thể hoàn thành nghiên cứu, xin cảm
ơn các Sở Ban Ngành đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi
trường các tỉnh ĐBSCL đã hỗ trợ và cung cấp số liệu,
tạo điều kiện khảo sát thực tế địa phương.
- Cải tiến kỹ thuật ương nuôi:
+ Không nên ương, nuôi mật độ quá dày: mật độ ương
từ cá bột lên cá hương từ 300 - 400 con/m2; cá hương
lên cá giống từ 100 – 150 con/m2, mật độ nuôi thương
phẩm từ 25 - 30 con/m2.
+ Cho cá ăn đảm bảo chất và số lượng theo giai đoạn
phát triển, lúc cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng
thức ăn;
+ Quản lý chất lượng nước trong ao ương và nuôi thật
tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố thủy lý hóa
biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản
xuất;
+ Sử dụng hóa chất và kháng sinh phải tuân thủ theo
qui định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm
khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn kỹ
thuật, tuyệt đối không sử dụng các sản phẩm có chứa
hoạt chất Trifluralin trong quá trình nuôi với bất kỳ
mục đích sử dụng nào; Định kỳ 10 -15 ngày sử dụng
muối và vôi để sát khuẩn cho cá.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AC: Khả năng thích ứng
BĐKH: Biến đổi khí hậu
ĐBSCL: Đồng bằng song Cửu Long
E: Độ phơi nhiễm
KTTV: Khí tượng thủy văn
IPCC: Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu
PĐT: Phiếu điều tra
NBD: Nước biển dâng
S: Độ nhạy cảm
SLQT: Số liệu quan trắc
TDTT: Tính dễ tổn thương
VI: Chỉ số dễ bị tổn thương
KẾT LUẬN
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về kịch
bản, tác động của BĐKH lên các nguồn tài nguyên,
sinh kế của người dân đã và đang được thực hiện để
phục vụ cho công tác đề ra chiến lược thích ứng với
BĐKH. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu về những
ảnh hưởng cũng như nhận thức, ứng phó của người
nuôi thủy sản nói riêng và các lĩnh vực cụ thể nói
chung đối với hiện tượng BĐKH. Nghiên cứu này tiến
hành xây dựng được bộ chỉ thị đánh giá tính dễ bị tổn
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả cam đoan rằng không có xung đột
thương do BĐKH cho cá tra tỉnh An Giang trong bối lợi ích trong công bố bài báo “Đánh giá tính dễ tổn
cảnh BĐKH. Khi tiến hành xây dựng bộ chỉ số và tính thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá
DBTT tuy gặp khó khăn trong việc thu thập số liệu
nhưng lại đánh giá toàn diện tính dễ tổn thương do
BĐKH và nhận đỉnh rằng 2 yếu tố tác động lớn nhất
đến ngành thủy sản do BĐKH gây ra là nhiệt độ và
lượng mưa.
tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng”.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả Nguyễn Hồng Anh ư, Nguyễn Khôn Huyền,
Lê Quốc Vĩ, Trần ị Hiệu, Trần Trung Kiên, Lê
Trọng Nhân, Lê anh Hải cùng thực hiện tất cả các
bước và quy trình xây dựng kết quả của nghiên cứu
này.
Trong nghiên cứu này, mới định lượng giá kinh tế do
BĐKH ở quy mô cấp cấp tỉnh, khu vực, nó chỉ đánh
giá một cách định tính tác động của BĐKH thông
qua chỉ số tổn thương. Kết quả tính toán cho thấy tại
An Giang chỉ số dễ bị tổn thương hầu hết ở các mức
trung bình, cao. Trong đó, huyện có mức độ dễ bị tổn
thương cao huyện Châu Phú; huyện có mức độ dễ bị
tổn thương trung bình bao gồm 9 huyện và 1 huyện có
mức độ dễ bị tổn thương thấp – Tịnh Biên. Dựa vào
kết quả tỷ lệ dễ bị tổn thương do BĐKH, các giải pháp
thích ứng nên được tiến hành ưu tiên cho huyện Châu
Phú vì huyện Châu Phú chịu mức độ tổn thương cao
đồng thời người dân trong huyện đa số sống dựa vào
nghề nuôi cá tra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. FAO F. Minimum dietary diversity for women: a guide for mea-
surement. Rome: FAO. 2016;82.
2. Allison EH, et al. Vulnerability of national economies to the
impacts of climate change on fisheries’, Fish and fisheries.
3. Watts MJ, Bohle HG. The space of vulnerability: the causal
structure of hunger and famine. Progress in human geog-
261
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263
4. Handisyde N, Telfer TC, Ross LG. Vulnerability of aquaculture-
related livelihoods to changing climate at the global scale.
5. Zsamboky M, Fernández-Bilbao A, et al. Impacts of climate
change on disadvantaged UK coastal communities. York, UK:
Joseph Rowntree Foundation. 2011;.
6. Parry M, Hanson C. Climate change 2007-impacts, adaptation
and vulnerability: Working group II contribution to the fourth
assessment report of the IPCC. Cambridge University Press.
2007;4.
7. Kim BT, Brown CL. Assessment on the vulnerability of Korean
aquaculture to climate change. Marine Policy. 2019;99:111–
009.
12. Bé NV, Đăng Văn Trí P, Hằng TTL, Triển TV. Ảnh hưởng của
xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản huyện
Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Can Tho University Journal of Science.
13. Mackay P, Russell M, Merz SK. Socialist Republic of Viet Nam:
Climate change impact and adaptation study in the Mekong
Delta. Technical Assistance Consultant’s Report (Kien Giang
Atlas). 2011;60.
14. Nhuận MT. Đánh giá tổn thương phục vụ cho quy hoạch và
quản lý môi trường (lấy thí dụ ở thành phố Hải Phòng và phụ
cận). VIETNAM JOURNAL OF EARTH SCIENCES. 2006;28(1):1–
10.
15. Kam SP, Badjeck MC. Autonomous adaptation to climate
change by shrimp and catfish farmers in Vietnam’s Mekong
River delta. 2012;.
8. ShawR. Community-basedclimatechangeadaptationinViet-
nam: inter-linkages of environment, disaster, and human se-
curity’, Multiple dimensions of global environmental change.
TERI Press, New Delhi(India). 2006;p. 521–547.
16. IPCC CC. Mitigation of climate change. Contribution of work-
ing group III to the fifth assessment report of the intergovern-
mental panel on climate change. 2014;.
9. Dolan AH, Walker IJ. Understanding vulnerability of coastal
communities to climate change related risks. Journal of
Coastal Research. 2006;p. 1316–1323.
17. Iyengar NS, Sudarshan P. A method of classifying regions
from multivariate data. Economic and political weekly. , pp
-, . 1982;p. 2047–2052.
10. Adger WN, Kelly PM, Ninh NH. Living with environmental
change: social vulnerability, adaptation and resilience in Viet-
nam. Routledge. 2012;Available from: https://doi.org/10.4324/
11. Ngữ ND. Biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kỹ thuật’, Hà Nội.
2008;412.
18. Pillai P, Philips BR, Shyamsundar P, Ahmed K, Wang L. Climate
risks and adaptation in Asian coastal megacities. Washington,
DC: World Bank. 2010;.
19. Hiền TD. Nghiên Cứu Xây Dựng Mô Hình Đánh Giá Tác Động
Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Một Số Lĩnh Vực Kinh Tế - Xã Hội
Cho Thành Phố Đà Nẵng;.
262
Science & Technology Development Journal – Science of The Earth & Environment, 5(1):254-263
Research Article
Open Access Full Text Article
Evaluation for the vulnerability of climate change affecting to
shark catfish farming in An Giang and suggesting some solutions
for this case.
Nguyen Hong Anh Thu1,*, Nguyen Khon Huyen1, Le Quoc Vi1, Tran Thi Hieu1, Tran Trung Kien1,
Le Trong Nhan2, Le Thanh Hai1
ABSTRACT
Aquaculture that belongs to Fishery is one of the high-value economies accounting for a signifi-
cant portion in the economic structure of Agriculture- Forestry- Fishery in Viet Nam and An Giang-
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
a province that has prevailed in Aquaculture in Viet Nam. However, its sustainability has been fac-
ing many obstacles derived from climate change; Hence, it is essential to evaluate the vulnerability
of climate change affecting shark catfish farming in An Giang based on the prediction of temper-
ature and rainfall obtained from sets of conditions of climate change and then evaluate their vul-
nerability for each area by using a numerical method and based on Intergovernmental Panel on
Climate Change in vulnerability to overcome the difficulties in development strategies adapt for
a certain area. There are 27 indicators of climate, environment, and social economics selected for
three vulnerable components: exposure, sensitivity, and adaptability. As a result, it is shown that
the vulnerability of catfish farming in An Giang due to climate change is at a moderate level, and
Chau Phu district is suffering from high vulnerability because catfish farming is known as residents'
livelihood there. Followed by practical issues and the levels of vulnerability due to climate change,
some solutions are suggested for the purpose of sustainability in this prevailed economy as well as
the creation of new means of living and reduce effects affecting the environment.
Key words: vulnerability index, vulnerability, climate change, pangasius farming
1Institute For Environment And
Resources – VNU-HCM, Vietnam
2Ton Duc ang University, Việt Nam
Correspondence
Nguyen Hong Anh Thu, Institute For
Environment And Resources –
VNU-HCM, Vietnam
Email: anhthu0710.95@gmail.com
History
• Received: 01-06-2020
• Accepted: 18-01-2021
• Published: 05-3-2021
DOI : 10.32508/stdjsee.v5i1.530
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Thu N H A, Huyen N K, Vi L Q, Hieu T T, Kien T T, Nhan L T, Hai L T. Evaluation for the
vulnerability of climate change affecting to shark catfish farming in An Giang and suggesting some
solutions for this case.. Sci. Tech. Dev. J. - Sci. Earth Environ.; 5(1):254-263.
263
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tinh_de_ton_thuong_do_bien_doi_khi_hau_den_nganh_nu.pdf

