Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
Nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi  
trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng  
Nguyễn Hồng Anh Thư1,*, Nguyễn Khôn Huyền1, Lê Quốc Vĩ1, Trần Thị Hiệu1, Trần Trung Kiên1,  
Lê Trọng Nhân2, Lê Thanh Hải1  
TÓM TẮT  
Nuôi trồng thuỷ sản – thuộc nhóm Ngư Nghiệp - là một trong những ngành kinh tế có giá trị cao,  
chiếm một phần không nhỏ trong cơ cấu kinh tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp tại Việt Nam và An  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
Giang là một tỉnh từ lâu đã có thế mạnh trong ngành nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam. Tuy nhiên,  
tính bền vững của ngành này đang gặp nhiều thách thức bởi quá trình biến đổi khí hậu; Vì vậy,  
nhu cầu cấp thiết là đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu của nuôi trồng thủy  
sản An Giang dựa trên những thay đổi được dự đoán về nhiệt độ và lượng mưa của vùng theo các  
kịch bản biến đổi khí hậu và đánh giá tính dễ bị tổn thương của chúng cho từng khu vực, sử dụng  
phương pháp dựa trên chỉ số của Hội đồng liên chính phủ về định nghĩa biến đổi khí hậu về tính  
dễ bị tổn thương để khắc phục những hạn chế trong việc phát triển các chiến lược thích ứng cụ  
thể ở quy mô khu vực. Tổng cộng có 27 chỉ số khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội đã được chọn  
cho ba thành phần dễ bị tổn thương: phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng. Kết quả cho  
thấy mức độ tổn thương do BĐKH đối với ngành nuôi cá tra tại tỉnh An Giang ở mức độ trung bình,  
trong đó huyện Châu Phú chịu tổn thương cao do huyện chủ yếu có sinh kế chính là nuôi cá tra.  
Dựa vào hiện trạng và mức độ tổn thương do BĐKH đề xuất các giải pháp thích hợp cho người  
nuôi cá tra với mục tiêu phát triển bền vững ngành kinh tế chủ lực này đồng thời tạo ra sinh kế  
mới cho người dân và giảm tác động đến môi trường do hoạt động nuôi trồng gây ra.  
Từ khoá: chỉ số tổn thương, tính dễ tổn thương, biến đổi khí hậu, nuôi cá tra  
Các nghiên cứu hiện tại về tính dễ bị tổn thương của  
GIỚI THIỆU  
1Viện Môi trường và Tài nguyên - Đại  
học Quốc gia TP.HCM, Việt Nam  
việc đánh bắt thủy sản và nuôi trồng thủy sản đối với  
biến đổi khí hậu đã được tiến hành chủ yếu ở quy mô  
quốc gia kể từ khi Allison et al.2,3. Allison et al.2 các  
vấn đề dễ bị tổn thương dựa trên các chỉ số về sự nóng  
lên toàn cầu, tầm quan trọng tương đối của nghề cá  
trong bối cảnh kinh tế quốc gia và đời sống chế độ ăn  
uống, và khả năng thích ứng vớibiến đổi khí hậutrong  
132 quốc gia. Kết quả của họ chỉ ra rằng các quốc gia ở  
Tây Phi, tây bắc Nam Mỹ và Nam Á là những quốc gia  
dễ bị tổn thương nhất. Handisyde và cộng sự4 đã tiến  
hành một nghiên cứu về nuôi trồng thủy sản trong đó  
thay đổi nhiệt độ nước, mật độ dân số, thay đổi lượng  
mưa, rủi ro thiên tai và sản xuất nuôi trồng thủy sản  
được chọn làm chỉ số cho đánh giá ở quy mô quốc  
gia. Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu có thể  
khác nhau giữa các vùng tùy theo vùng khí hậu, khu  
vực địa lý (nội địa hoặc ven biển), loại hệ thống nuôi  
trồng thủy sản và loài nào được nuôi. Các khu vực  
nội địa bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của lũ lụt, nhiệt  
độ và lượng mưa, trong khi các khu vực ven biển bị  
ảnh hưởng bởi mực nước biển tăng, độ cao sóng và  
xói mòn đất nhanh5. Tuy nhiên, mức độ tác động  
có thể không giống nhau đối với từng mối nguy hiểm  
Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất thực phẩm tăng  
trưởng nhanh nhất toàn cầu, với sản lượng tăng từ  
khoảng 4 triệu tấn năm 1970 lên 73,8 triệu tấn trong  
năm 20141. Đến nay, 50% lượng cá tiêu thụ của con  
người trên thế giới đến từ nuôi trồng thủy sản và  
khoảng 18 triệu người đang tham gia nuôi cá, trong  
đó 94% là từ châu Á1. Việt Nam, nhà sản xuất nuôi  
trồng thủy sản lớn thứ 15 trên thế giới, trong đó tỉnh  
An Giang cung cấp gần 25% tổng sản lượng thủy sản  
quốc gia, được chọn làm khu vực nghiên cứu giữa các  
nước đang phát triển vì nuôi trồng thủy sản đóng góp  
đáng kể của nền kinh tế nông thôn của đất nước thông  
qua thu nhập từ nông nghiệp và trên - và việc làm phi  
nông nghiệp. An Giang là một trong bốn tỉnh nằm  
trong vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu  
Long – nơi đang chịu nhiều ảnh hưởng do biến đổi  
khí hậu toàn cầu. Đất đai bị bạc màu; đa dạng sinh  
học giảm mạnh; diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị  
khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng; nhiệt độ không  
khí tăng cao và hạn hán bất thường, lũ lụt không theo  
quy luật; nhiều dịch bệnh mới hình thành… đã đe dọa  
đến đời sống và hoạt động của người dân trong tỉnh.  
2Đại học Tôn Đức ắng TP.HCM, Việt  
Nam  
Liên hệ  
Nguyễn Hồng Anh Thư, Viện Môi trường và  
Tài nguyên - Đại học Quốc gia TP.HCM, Việt  
Nam  
Email: anhthu0710.95@gmail.com  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 01-06-2020  
• Ngày chấp nhận: 18-01-2021  
• Ngày đăng: 05-03-2021  
DOI : 10.32508/stdjsee.v5i1.530  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
Trích dẫn bài báo này: Thư N H A, Huyền N K, Vĩ L Q, Hiệu T T, Kiên T T, Nhân L T, Hải L T. Đánh giá tính  
dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp  
thích ứng. Sci. Tech. Dev. J. - Sci. Earth Environ.; 5(1):254-263.  
254  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
này. Tính dễ bị tổn thương của một hệ thống không nhận thức của người nuôi về một số yếu tố thời tiết có  
chỉ phụ thuộc vào tác động của các mối nguy hiểm mà liên quan đến xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu, tác  
còn phụ thuộc vào độ nhạy và khả năng thích ứng của động và giải pháp ứng phó của người dân; khả năng  
hệ thống.6  
nuôi một số loài thủy sản kinh tế quan trọng trong  
Nghiên cứu “Đánh giá về tính dễ bị tổn thương của điều kiện xâm nhập mặn; qua đó đề xuất giải pháp  
nuôi trồng thủy sản Hàn Quốc với biến đổi khí hậu” góp phần giảm thiểu rủi ro và thích ứng với xâm nhập  
của nhóm tác giả Bong – Tae Kim, Christopher L. mặn và biến đổi khí hậu, thời tiết cho nuôi trồng thủy  
Brown, Do – Hoon Kim dựa trên những thay đổi được sản trong thời gian tới12,13  
.
dự đoán về nhiệt độ và độ mặn của nước biển ở các Trong bối cảnh BĐKH đang là vấn đề quan tâm của  
vùng biển liền kề của Bán đảo Triều Tiên theo các kịch toàn xã hội, GS. Mai Trọng Nhuận đã cùng các cộng sự  
bản tập trung đại diện (RCP). Các yếu tố của biến đổi có những nghiên cứu tổn thương do BĐKH (áp dụng  
khí hậu ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, trực tiếp cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây -  
hoặc gián tiếp, bao gồm tăng nhiệt độ nước, tăng mực Lăng Cô,…). Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề  
nước biển, thay đổi pH do axit hóa đại dương, thay đổi xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên,  
mô hình thời tiết, thời tiết bất thường, v.v..7. Nhiệt độ bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và  
nước tăng có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng  
của các loài được nuôi, tính nhạy cảm với bệnh và thời bền vững tài nguyên môi trường (với các mô hình  
gian đẻ trứng và tử vong trong vòng đời. Mực nước phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp, nuôi  
biển dâng có thể gây ngập lụt, xói mòn và xâm nhập trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng  
nước biển ở vùng ven biển và vùng trũng. Hầu như sản sạch,…), giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên  
việc đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương chỉ được đưa môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do  
ra trong phạm vi toàncầu và khôngtập trung vào nghề BĐKH và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng  
cá và nuôi trồng thủy sản trong khu vực là sự thiếu dữ đồng14  
.
liệu dự đoán về các thay đổi vật lý phát sinh từ biến Nghiên cứu của Kam et al (2010)15 ở đồng bằng sông  
đổi khí hậu. Phương pháp dựa trên chỉ số định nghĩa Cửu Long cho thấy nếu không có giải pháp thích  
về tính dễ bị tổn thương của IPCC và định nghĩa về ứng, thu nhập của các hộ nuôi cá tra có thể giảm 3  
tính dễ bị tổn thương của IPCC được áp dụng trong tỉ đồng/ha vào năm 2020 và các hộ nuôi tôm có thể  
nghiên cứu này với việc lựa chọn và xác định các chỉ số giảm 130 triệu đồng/ha vào năm 2020 và lên đến 950  
proxy về độ phơi sáng, độ nhạy và khả năng thích ứng triệu đồng/ha năm 2050.  
tùy thuộc vào định nghĩa về tính dễ bị tổn thương của Trong số những nghiên cứu trước đó đã không làm  
Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC). rõ tầm quan trọng của nghề nuôi trồng thủy sản nước  
Nghiên cứu của Shaw (2006)8 về thích ứng với BĐKH ngọt cho ngành thủy sản và an ninh lương thực ở mỗi  
dựa vào cộng đồng ở miền Trung đã chỉ ra rằng, thay quốc gia, và những nghiên cứu này cũng không thể  
đổi khí hậu, thời tiết như sự sự biến đổi 11 lượng mưa, giải quyết các nhu cầu chính sách cụ thể theo ngành  
hay sự thay đổi đường đi của lốc xoáy đã ảnh hưởng cũng là một thiếu hụt thường xuyên trong các tài liệu  
đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, những kiểu dễ bị tổn thương. Nhưng qua những nghiên cứu đó,  
sinh kế chính của cộng đồng dân cư ở đây. Shaw nhận có thể thấy rằng dung phương pháp chỉ số để đánh  
xét rằng, sự liên kết giữa người dân và chính quyền là giá tính dễ tổn thương sẽ gặp khó khăn trong việc thu  
yếu tố quan trọng của việc thích ứng đối với BĐKH thập số liệu nhưng lại đánh giá toàn diện tính dễ tổn  
dựa vào cộng đồng9. Một nhóm các tác giả khác qua thương do BĐKH và nhận đỉnh rằng 2 yếu tố tác động  
nghiên cứu “Living with Environmental change: so- lớn nhất đến ngành thủy sản do BĐKH gây ra là nhiệt  
cial vulnerability, Adaptation and Resilience in Viet- độ và lượng mưa.  
nam”10 đã phân tích tương đối toàn diện các nhân tố hiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý và tăng  
liên quan đến những tổn thương về mặt xã hội cũng trưởng cá tra giống. Nhiệt độ thấp (240C), cá tăng  
như khả năng phục hồi sau các thay đổi môi trường. trưởng kém còn nhiệt độ cao kích thích cá tăng trưởng  
êm nữa, ở Việt nam, trong quá trình ứng phó với cao (32 – 340C). Tuy nhiên, khi nhiệt độ quá cao cũng  
BĐKH, cư dân thường vận dụng những loại vốn mà gây stress cho cá vì làm ức chế quá trình sinh trưởng  
họ có từ trước11  
.
và phát triển bình thường của cá13. Cá nuôi ở nhiệt  
Nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn và khả năng độ 24 - 26◦C tỷ lệ sống không cao do cá trong bể bị  
thích ứng trong nuôi trồng thủy sản tại đồng bằng nhiễm vi nấm ký sinh bên ngoài và chết. Ngược lại  
sông Cửu Long được thực hiện tại Khoa ủy sản với nấm, vi khuẩn trên cá tra thường phát triển tốt ở  
Trường Đại học Cần ơ, các tỉnh Sóc Trăng, Bạc khoảng nhiệt độ 30-32◦C15 nên cá nuôi ở nhiệt độ  
Liêu, Cà Mau và Hậu Giang. Nghiên cứu đánh giá 32◦C trong thời gian đầu có thể xuất hiện những biểu  
255  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
hiện xuất huyết, phù đầu, một số cá thể trong nội quan phụ thuộc nuôi trồng thủy sản cao hơn có độ nhạy cao  
nhất, trong khi các huyện có sự phụ thuộc nuôi trồng  
thủy sản thấp hơn có độ nhạy thấp nhất.  
xuất hiện các đốm trắng trên gan, thận và tỳ tạng. Vì  
vậy, khi nuôi cá ở các mức nhiệt độ cao không tránh  
khỏi tình trạng một số ít cá chết do sốc với điều kiện  
sống thay đổi và làm tỷ lệ sống của cá ở các nhiệt độ  
cao không đạt 100%.  
Trong mùa mưa bão, nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn,  
pH biến đổi thất thường… gây các hiện tượng sốc môi  
trường đối với động vật thủy sản, mầm bệnh có nhiều  
cơ hội xâm nhập vào cơ thể động vật thủy sản để gây  
bệnh.  
Khả năng thích ứng (AC)  
Khả năng thích ứng (Adaptive Capacity) là sự điều  
chỉnh trong hệ thống tự nhiên và con người để ứng  
phó với các tác nhân khí hậu hiện tại và tương lại, như  
làm giảm những thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có  
lợi.  
Phương pháp tính  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Các bước cụ thể tính toán các chỉ số E, S, AC, VI và  
áp dụng phương pháp trọng số không cân bằng của  
Iyengar và Sudarshan (1982)17 được thể hiện chi tiết  
như sau:  
Bước 1: Xác định các chỉ thị thành phần con cần tính  
cho các chỉ số E, S và AC.  
Bước 2: u thập, tính toán và phân tích dữ liệu. Các  
dữ liệu này được khai thác từ niên giám thống kê của  
các huyện, của Tỉnh; báo cáo tổng kết của các ngành  
nông nghiệp, du lịch, công nghiệp, xây dựng, giao  
thông,…; bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch của  
các ngành; báo cáo quy hoạch phát triển KT-XH của  
Tỉnh.  
Bước 3: Cân nhắc lọc bỏ các chỉ thị thành phần  
con không đủ chuỗi số liệu (nếu xét theo địa  
phương/quận, huyện).  
Nghiên cứu được thực hiện tại An Giang. Tổng cộng  
có 27 chỉ số khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội đã  
được chọn cho ba thành phần dễ bị tổn thương: phơi  
nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng. Dữ liệu được  
phân tích bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận chỉ  
số dễ bị tổn thương tổng hợp và tính dễ bị tổn thương  
trong nuôi trồng thủy sản.  
Lựa chọn các chỉ số  
Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) nuôi trồng thủy sản  
có thể được định nghĩa là mức độ mà hệ thống nuôi  
trồng thủy sản hoặc hoạt động nuôi trồng dễ bị ảnh  
hưởng hoặc không thể đối phó với các tác động bất  
lợi của biến đổi khí hậu, bao gồm cả biến đổi khí hậu  
và cực đoan (thích nghi từ Parry et al., 2007)6. Có ba  
thành phần chính của TDBTT (VI) theo định nghĩa  
của IPCC: phơi nhiễm (E), độ nhạy (S) và khả năng  
thích ứng (AC). Tính dễ bị tổn thương là ảnh hưởng  
kết hợp của ba thành phần này6.  
Bước 4: Áp dụng công thức (2.1) để chuẩn hóa. Các  
chỉ số chính E, S, AC được tính bằng công thức (2.2)  
và chỉ số dễ bị tổn thương được áp dụng công thức  
(2.3).  
• Chuẩn hóa:  
Phơi nhiễm (E)  
Phơi nhiễm có thể được định nghĩa là sự hiện diện  
của sinh kế, các loài thủy sinh hoặc hệ sinh thái, chức  
năng môi trường, dịch vụ và cơ sở hạ tầng có thể bị  
ảnh hưởng xấu bởi biến đổi khí hậu và thay đổi (thích  
nghi từ IPCC, 2014)16. Các chỉ số phơi nhiễm được  
lựa chọn cho nuôi trồng thủy sản bao gồm các biến đổi  
về nhiệt độ và lượng mưa trong quá khứ, mực nước  
biển tăng, dự báo nhiệt độ và lượng mưa trong tương  
lai và nước dâng do bão.  
xi  
xmax  
x =  
(2.1)  
Trong đó: - xi là giá trị đã được mã hoá của yếu tố i (0  
< xi <1)  
- xmax là giá trị lớn nhất của yếu tố i trong các mức độ  
khác nhau  
Sau khi xác định được các chỉ thị, các chỉ số (E, S, AC)  
được xác định bằng công thức:  
n
i=0 wijMij  
∑
CF =  
(2.2)  
Nhạy cảm (S)  
n
wM  
∑
i
i=0  
Các chỉ số độ nhạy được lựa chọn cho nghiên cứu này  
là (i) tổng diện tích nước được sử dụng cho nuôi và  
(ii) sản xuất cá từ nuôi trồng thủy sản (Bảng 1). Nếu  
một khu vực phụ thuộc nhiều vào cá để kiếm việc làm,  
thu nhập và protein trong chế độ ăn uống, nó sẽ có  
nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi liên quan  
đến khí hậu2. Trong nghiên cứu này, các huyện có sự  
Trong đó: CF: Chỉ số chính;  
Mij: Chỉ thị thứ i được xác định tại công thức (2.1);  
wM : Số lượng chỉ thị thành phần con cấu tạo nên chỉ  
i
thị thứ i;  
• Chỉ số dễ bị tổn thương được xác định theo công  
thức18  
:
256  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
Trong đó: N: tổng số hộ nuôi cá tra của tỉnh;  
n: số hộ đại diện  
E +S+(1−AC)  
(2.3)  
VI =  
e: sai số cho phép (thường lấy bằng 0.05) ở đây chọn  
e = 0,1 tức mức độ chính xác là 90%  
3
Trong đó: VI: Chỉ số dễ bị tổn thương;  
N
2.394  
n =  
=
= 96 (hộ)  
(1+Ne2)  
1+2.394×0,12  
Bước 5. Phân loại mức độ tổn thương:Chỉ số tổn  
thương được chia thành 5 mức độ (Bảng 1)19  
.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Bảng 1: Phân loại tổn thương  
Lựa chọn các chỉ số  
STT  
Chỉ số tổn thương (VI)  
≤ 0,2  
Mức độ  
Rất thấp  
ấp  
Các yếu tố tác động tới độ phơi nhiễm của cá tra thông  
qua tác động của BĐKH tại tỉnh An Giang bao gồm  
các yếu tố, diện tích đất bị ngập do nước biển dâng, các  
biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa. Các số liệu được thu  
thập từ dữ liệu của Đài KTTV (Khí tượng thuỷ văn)  
tỉnh An Giang, chi cục ống kê tỉnh An Giang. Đây  
là các số liệu hiện trạng về các hiện tượng cực đoan  
như hạn hán, lũ lụt. Các số liệu tương lai về nước  
biển dâng, nhiệt độ, lượng mưa được lấy từ kịch bản  
BĐKH và NBD (nước biển dân) cho Việt Nam năm  
2016. Các chỉ số này thể hiện mức độ biến đổi của  
khí hậu, đây là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sản  
lượng và chất lượng của ngành nuôi cá tra (Bảng 2).  
1
2
3
4
5
0,2 < VI ≤ 0,4  
0,4 < VI ≤ 0,6  
0,6 < VI ≤ 0,8  
0,8 < VI ≤ 1,0  
Trung bình  
Cao  
Rất cao  
Phương pháp điều tra thực địa  
Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp sử dụng  
phiếu điều tra, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn tại  
hiện trường của các đối tượng nghiên cứu chính (các  
doanh nghiệp, hộ dân, chính quyền các địa phương  
có liên quan, các chuyên gia và các cán bộ quản lý,…)  
nhằm thu thập và xử lý các số liệu về hoạt động sinh kế  
cộng đồng, sản xuất, canh tác, nuôi trồng tại các đối  
tượng nghiên cứu, hiện trạng ý kiến của cộng đồng  
dân cư, cán bộ, công nhân... trên địa bàn thuộc các  
đối tượng nghiên cứu và những người liên quan khác  
trong các ban ngành của các địa phương.  
Tính toán giá trị chỉ số của các biến thành  
phần và chỉ số tổn thương tổng hợp  
Giá trị của chỉ số của các biến thành phần và chỉ  
số tổn thương tổng hợp theo các đơn vị hành chính  
cấp huyện được tính toán theo các công thức từ công  
thức (2.1) đến công thức (2.3) và được trình bày trong  
Bảng 3.  
Xây dựng các mẫu phiếu phục vụ điều tra khảo sát:  
Để thực hiện nội dung này đề tài sẽ xây dựng các mẫu  
phiếu phục vụ công tác điều tra tại hiện trường (tổ  
chức điều tra nhằm lấy ý kiến các cán bộ, các hộ dân  
hoặc doanh nghiệp tại các đối tượngnghiên cứu chính  
trên địa bàn):  
Đánhgiámứcđộ tổnthươngdo biếnđổikhí  
hậu đối với ngành nuôi cá tra tỉnh An Giang  
Mức độ phơi nhiễm  
Giá trị chỉ số phơi nhiễm của các huyện của tỉnh An  
Giang dao động trong khoảng từ 0.243 – 0.845, tương  
đương với mức độ phơi nhiễm từ thấp đến rất cao.  
Giá trị E cao nhất tại huyện Tân Châu, thấp nhất tại  
huyện Tịnh Biên.  
• 01 mẫu phiếu cho cán bộ có liên quan đến công  
tác quản lý, nghiên cứu về các đối tượng và địa  
bàn ở địa phương.  
• 01 mẫu phiếu cho các doanh nghiệp.  
• Mức độ phơi nhiễm rất cao (0.8 – 1.0):  
Trong phạm vi toàn tỉnh An Giang có 1/11  
huyện/thành phố có mức độ phơi nhiễm rất cao  
(chiếm 9.1%), đó là huyện Tân Châu: 0.845  
• Mức độ phơi nhiễm cao (0.6 – 0.8): Trong phạm  
vi toàn tỉnh An Giang có 2/11 huyện (chiếm  
18.2%), đó là huyện Châu Phú: 0.743 và huyện  
Châu ành: 0.666.  
Tiến hành khảo sát, chụp ảnh tại các huyện nuôi cá  
tra điển hình của tỉnh như Châu Phú, Chợ Mới…..  
• 01 mẫu phiếu cho các hộ gia đình.  
Tiến hành khảo sát, chụp ảnh tại các hộ nuôi cá tra  
điển hình của huyện với các quy mô và hình thức canh  
tác khác nhau.  
• Mức độ phơi nhiễm thấp (0.2 – 0.4): tại huyện  
Tịnh Biên: 0.243 (chiếm 9.1%)  
Xác định số đơn vị cần khảo sát: eo Slovin (1984),  
cỡ mẫu được xác định theo công thức sau:  
• Mức độ phơi nhiễm trung bình (0.4 – 0.6): tại 7  
huyện còn lại, chiếm 63,6% tổng số huyện.  
N
n =  
(1+Ne2)  
257  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
Bảng 2: Các chỉ số được sử dụng để tính toán mức độ phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng thích ứng.  
Yếu tố quyết định  
khả năng dễ bị tổn  
thương (Chỉ số cấp  
I)  
Chỉ số cấp II  
Chỉ số cấp III  
Đơn vị  
Nguồn  
số liệu  
Mức độ phơi nhiễm Dao động khí hậu (E1)  
(E)  
Nhiệt độ trung bình cao nhất (E2-1)  
oC  
SLQT  
Nhiệt độ trung bình thấp nhất (E2-2)  
Mực nước trung bình lớn nhất (E3-1)  
Mực nước trung bình thấp nhất (E3-2)  
Đỉnh lũ trung bình năm (E3-5)  
Dân số (S1-1)  
oC  
SLQT  
SLTK  
SLTK  
SLTK  
SLTK  
ủy văn (E2)  
cm  
cm  
Trận  
Người  
Mức độ nhạy cảm  
(S)  
Xã hội (S1)  
Mật độ dân số (S1-2)  
Người/km2  
%
SLTK  
PĐT  
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ  
sinh/phiếu điều tra (S1-3)  
Tỷ lệ phụ nữ (S1-4)  
%
SLTK  
SLTK  
SLTK/PĐT  
SLTK  
SLTK  
SLTK  
SLTK  
SLTK  
PĐT  
Tỷ lệ hộ nghèo(S1-5)  
%
ủy sản (S2)  
Diện tích mặt nước nuôi trồng cá (S2-1)  
Sản lượng cá (S2-2)  
ha  
Tấn  
Sản lượng cá tra giống (S2-3)  
Số cơ sở sản xuất giống (S2-4)  
Số bè nuôi trồng cá tra (S2-5)  
Giá trị thu từ cá tra (S2-6)  
Tỷ lệ hộ thủy sản/phiếu điều tra (S2-7)  
Triệu con  
Số cơ sở  
Số cơ sở  
Triệu đồng  
%
Mức độ thích ứng Chính quyền - Cộng Tỷ lệ số dân được tập huấn về phòng  
%
PĐT  
(AC)  
đồng (AC1)  
chống thiên tai và ứng phó với BĐKH  
(AC1-1)  
Ngân sách chi ứng phó BĐKH (AC1-2)  
Triệu VNĐ  
%
SLTK  
PĐT  
Nhận thức của người dân về BĐKH  
(AC1-3)  
Khả năng tiếp cận thông tin liên quan  
đến BĐKH và kỹ thuật canh tác (inter-  
net,TV..) (AC1-4)  
%
PĐT  
Cơ sở hạ tầng (AC2)  
Số lượng cơ sở y tế (AC2-1)  
Số vị trí quan trắc (AC2-2)  
Số cơ sở  
điểm  
SLTK  
Báo cáo  
quan  
trắc  
Số cơ sở nhân giống cá tra công nghệ  
cao thích ứng BĐKH (AC2-3)  
Số cơ sở  
Người  
SLTK  
Kinh tế - xã hội(AC3)  
Dân số trong độ tuổi lao động (AC3-1)  
SLTK  
SLTK  
u nhập bình quân đầu người/tháng Triệu  
(AC3-2)  
VND/người  
Tỷ lệ hộ có thu nhập nông nghiệp (AC3-  
3)  
%
SLTK  
258  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
Bảng 3: Bảng giá trị chỉ số dễ bị tổn thương do BĐKH đối với ngành nuôi cá tra  
Huyện/ ành phố  
Long Xuyên  
Châu Đốc  
An Phú  
E
S
AC  
VI  
Mức độ tổn thương  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Cao  
0.477  
0.495  
0.560  
0.845  
0.428  
0.743  
0.243  
0.422  
0.666  
0.492  
0.474  
0.584  
0.253  
0.261  
0.341  
0.407  
0.484  
0.207  
0.104  
0.341  
0.417  
0.329  
0.706  
0.388  
0.241  
0.527  
0.593  
0.387  
0.344  
0.297  
0.541  
0.601  
0.550  
0.45  
0.45  
0.53  
0.55  
0.41  
0.62  
0.37  
0.41  
0.49  
0.44  
0.42  
Tân Châu  
Phú Tân  
Châu Phú  
Tịnh Biên  
Tri Tôn  
ấp  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Châu ành  
Chợ Mới  
oại Sơn  
Đánh giá chung, các yếu tố phơi nhiễm đã tác động tượng này. Tương tự, các đối tượng làm nông nghiệp  
đến sự phát triển của ngành nuôi cá tra tỉnh An Giang. và đặc biệt là nuôi cá tra sẽ là những đối tượng bị ảnh  
Trong đó, các huyện Tân Châu,Châu Phú và Châu hưởng chính của những tác động của BĐKH đến cá  
ành là 3 huyện có hộ nuôi cá tra lớn của tỉnh An Gi- tra. Do cá tra là loại thủy sản nuôi trồng chính, chiếm  
ang nhưng theo kết quả trên có thể thấy mức độ phơi vai trò quan trọng đối với kinh tế của tỉnh An Giang  
nhiễm của 3 huyện này nằm ở mức cao. Trong khi chính vì vậy BĐKH sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh kế của  
huyện Tân Châu chịu nhiều tác động của hiện tượng người dân. Các chỉ số về sinh kế bao gồm diện tích  
cực đoan như lũ ảnh hưởng đến diện tích và không nuôi trồng tại địa phương, sản lượng và giá trị sản xuất  
đảm bảo chất lượng nguồn nước cho nuôi cá tra, nhiệt được mỗi năm đã được đưa ra đánh giá. (Bảng 2)  
độ trung bình thấp nhất gây ảnh hưởng đến sức sống Giá trị chỉ số nhạy cảm của các huyện của tỉnh An  
của đàn cá. Châu Phú và Châu ành đối mặt với Giang dao động trong khoảng từ 0.104- 0.584, tương  
nguồn nước không đảm bảo cho ao cá vì thiếu nguồn đương với mức độ nhạy cảm từ rất thấp đến trung  
nước đảm bảo chất lượng để thay nước định kỳ cho bình. Giá trị S cao nhất tại thành phố Long Xuyên,  
ao vào mùa khô và khó kiểm soát chất lượng nguồn thấp nhất tại huyện Tri Tôn.  
nước vào mùa lũ.  
Đánh giá chung, mức độ nhạy cảm của ngành du lịch  
tỉnh An Giangtrước các tác động của BĐKH ở mức  
trung bình. Có thể nhận thấy rằng: những huyện có  
diện tích nuôi cá tra nhiều thì có mức độ nhạy cảm  
ngành nuôi trồng cao hơn so với cá huyện khác.  
Mức độ nhạy cảm  
Độ nhạy cảm (S) là các nhân tố thể hiện mức độ nhạy  
cảm, dễ thay đổi do các tác động của biến đổi khí hậu  
như nhiệt độ, lượng mưa. Đối với cá tra có rất nhiều  
chỉ số thể hiện mức độ nhạy cảm do BĐKH, tuy nhiên  
Mức độ thích ứng  
nghiên cứu chỉ sử dụng một số chỉ số được xem là có Khả năng thích ứng (AC) được đề cập đến dựa trên  
ảnh hưởng chính tại tỉnh An Giang bao gồm các yếu các yếu tố về điều kiện phát triển cơ sở vật chất, xã hội,  
tố về dân số, sinh kế, điều kiện tự nhiên và ảnh hưởng các chính sách hỗ trợ của địa phương, mức độ quan  
của BĐKH. Các chỉ số về dân số thể hiện tổng dân tâm và chú trọng của chính quyền cũng như người  
số tại mỗi địa phương, ngoài ra một số các yếu tố về dân địa phương. Các dữ liệu được thu thập từ Niên  
dân số nữ, tỉ lệ hộ nghèo cũng được đề cập đến. Phụ giám thống kê và thông tin từ phiếu điều tra khảo  
nữ là những đối tượng có thể trạng yếu, khả năng lao sát. Các chỉ số về nhận thức của của chính quyền địa  
động nặng kém hơn so với nam giới do đó khi có thiên phương cũng như người dân thể hiện mức độ quan  
tai xảy ra, khả năng chống chịu và thích ứng rất hạn tâm và chú trọng từ đó sẽ có những nỗ lực cải thiện  
chế. Người nghèo là những đối tượng không có hoặc cũng như biện pháp thích ứng đối với BĐKH. Bên  
thiếu các dữ liệu sản xuất, thường phụ thuộc chính cạnh đó, điều kiện sinh hoạt sử dụng nguồn nước của  
vào nghề nông do đó những yếu tố ảnh hưởng trực người dân và các điều kiện y tế giáo dục cũng đóng  
tiếp đến nông nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến nhóm đối vai trò quan trọng đối với khả năng thích ứng.  
259  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
Giá trị chỉ số năng lực thích ứng của các huyện của - Đối với khi nhiệt độ tăng lên cao khiến cho hàm  
tỉnh An Giang dao động trong khoảng từ 0.241 – lượng ôxy trong nước giảm mạnh vào ban đêm, môi  
0.706, tương đương với năng lực thích ứng từ thấp đến trường nước xấu đi, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng  
cao. Giá trị AC cao nhất tại thành phố Long Xuyên, và phát triển của cá tra. Các hiện tượng này xảy ra  
thấp nhất tại huyện An Phú.  
cường độ ngày càng cao, diễn biến phức tạp hơn và  
Qua kết qủa tính toán khả năng thích ứng, các huyện khó đoán, làm thay đổi mùa vụ canh tác, suy giảm tốc  
thị của tỉnh An Giang, hầu như đều có mức thích ứng độ tăng trưởng, nhiều bệnh tật thường xuyên xảy ra  
khả ổn định và đồng đều, nhưng giá trị thấp dần ở khiến người nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn. Các giải  
những nơi xa thành phố, hoặc các huyện có mức phát pháp:  
triển cao hơn, còn nhưng huyện gần vùng núi thì lại + Để phòng bệnh cho cá và khử trùng nước ao, định  
thấp hơn.  
kỳ dùng vôi bột hòa nước và tạt đều khắp ao, có thể  
sử dụng thêm chế phẩm sinh học EM gốc để để xử lý  
và khử trùng nước ao nuôi, Đặc biệt, những chỗ cho  
cá ăn thường chứa thức ăn thừa, thối rữa gây nhiễm  
bẩn tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển, chế  
phẩm có thể giúp phân hủy.  
+ Quản lý môi trường: Cá tra chịu rất tốt trong điều  
kiện khắc nghiệt môi trường nuôi, nhưng do hiện nay  
thường nuôi thâm canh mật độ cao, thức ăn cho cá  
nhiều, chất thải ra cũng lớn nên môi trường ao nuôi  
bị nhiễm bẩn nhanh. Quản lý chất lượng nước trong  
ao ương và nuôi thật tốt, tránh để xảy ra hiện tượng  
các yếu tố thủy lý hóa biến động lớn và ao nhiễm bẩn  
trong quá trình sản xuất. ường xuyên thay nước,  
mỗi lần 20 - 30% lượng nước trong ao để cá tra có  
điều kiện sống sạch và khỏe mạnh.  
Đánh giá mức độ tổn thương  
Giá trị chỉ số tổn thương V của các huyện của tỉnh An  
Giang dao động trong khoảng từ 0.37 – 0.62, tương  
đương với mức độ tổn thương từ thấp đến cao. Giá  
trị V cao nhất quan sát thấy ở huyện Châu Phú, thấp  
nhất ở huyện Tịnh Biên.  
Huyện có chỉ ố tổn thương do BĐKH đối với cá tra ở  
mức cao tại tỉnh An Giang là huyện Châu Phú, đây  
là huyện có cơ cấu ngành kinh tế chủ yếu là nông  
nghiệp. Trong đó nuôi cá tra là ngành sản xuất chính  
của huyện. Những năm gần đây huyện chịu nhiều  
ảnh hưởng do BĐKH gây ra như mưa lớn kéo dài,  
thiếu nước mùa khô, nhiệt độ tăng cao (cao nhất 34 –  
350C) dẫn đến cá chết hàng loạt và chất lượng cá giống  
cũng như cá thịt bị sụt giảm đáng kể. Tuy nhiên theo  
nghiên cứu thống kê đối với khả năng thích ứng với  
biến đổi khí hậu tại địa phương cho thấy, các chỉ số về  
nhận thức của chính quyền cũng như người dân đối  
với biến đổi khí hậu khá cao trên 80%.  
Các huyện có chỉ ố dễ bị tổn thương ở mức trung bình  
mặc dù vẫn chịu nhiều các tác động từ BĐKH tuy  
nhiên các ảnh hưởng là không lớn. Bên cạnh đó, khả  
năng thích ứng thống kê được là khá tích cực. Trong  
đó nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân từ 80  
– 95%, và số lượng người dân được tham gia các buổi  
tập huấn, hội thảo về BĐKH đạt tỷ lệ cao 70 – 85%  
Các chỉ số về xã hội như cơ sở y tế, trường học, tỷ lệ  
giáo viên cũng khá cao.  
+ Giảm lượng thức ăn trong ngày từ 30 – 40 %, hoặc  
bỏ cử ăn vào buổi trưa.  
+ Để tăng sức đề kháng cho cá tra tăng cường sử dụng  
chế phẩm sinh học có nguồn gốc thảo dược để cải  
thiện chất lượng nước, nâng cao sức đề kháng vật  
nuôi, gia tăng sự chuyển hóa hấp thu thức ăn của vật  
nuôi sẽ góp phần giảm thiểu dịch bệnh, chất lượng sản  
phẩm đảm bảo an toàn và giảm thiểu tác động xấu đến  
môi trường trong đó có chế phẩm EM gốc hiệu quả.  
+ Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung Vitamin C, Vitamin  
tổng hợp, khoáng chất, các loại sản phẩm có tác động  
đến sự phục hồi hoạt động của thận, tỳ tạng, gan, gia  
tăng mật độ huyết sắc tố trong máu để tăng sức đề  
kháng cho cá tra bằng cách trộn vitamin C vào thức  
ăn. Sử dụng hóa chất và kháng sinh phải tuân theo  
quy định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm  
THẢO LUẬN  
Dựa trên các kết quả phân tích bộ chỉ số tính dễ bị tổn khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn  
thương nhằm đưa ra thứ tự ưu tiên giữa các huyện để kỹ thuật. Tuyệt đối không dùng thuốc kháng sinh để  
thực hiện thí điểm các giải pháp thích ứng với BĐKH phòng bệnh cho cá.  
giúp cho ngành thủy sản cá tra tại An Giang. Đồng - Vào những ngày trời mưa kéo dài, nhiệt độ giảm thì  
thời đưa ra các giải pháp phù hợp ứng với thực trạng cần thiết giảm lượng cho ăn và cho cá ăn vào thời điểm  
của ngành nuôi trồng cá tra tại địa phương và tạo nhiệt độ nước ao có sự cân bằng giữa tầng mặt và tầng  
thêm nguồn sinh kế mới cho người dân. eo kết quả đáy (lúc trời đứng bóng về chiều). Khi hút bùn đáy ao  
tính toán 2 yếu tố tác động lớn nhất đến ngành thủy xong, cần xử lý nền đáy và xử lý cho nước ao trong trở  
sản do BĐKH gây ra là nhiệt độ và lượng mưa.Giải lại mới cho ăn, bởi vì nếu cá phải sống và bắt mồi ở  
pháp ứng phó cho các huyện khi nhiệt độ cao và mưa vùng có tích tụ nhiều chất thải và khí độc thì dễ xảy  
kéo dài.  
ra hiện tượng cá mất đi hứng thú bắt mồi. Bên cạnh  
260  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
đó, nếu cá bắt mồi trong vùng nước nhiễm bẩn, cũng  
sẽ tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh xâm nhập vào  
nội tạng.  
LỜI CẢM ƠN  
Tập thể tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến  
Chương trình Khoa học và Công nghệ Trọng điểm  
cấp nhà nước giai đoạn 2014 – 2019 “Khoa học và  
Công nghệ Phục vụ Phát triển bền vững Vùng Tây  
Nam Bộ” đã hỗ trợ kinh phí thực hiện nghiên cứu  
này thông qua hợp đồng số 13/2018/HĐ-KHCN-  
TNB.ĐT/14-19/C25.  
Xin cảm ơn đến Đại học Quốc gia TP HCM, văn  
phòng chương trình Tây Nam Bộ, Viện Môi trường  
và Tài nguyên đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi  
để chúng tôi có thể hoàn thành nghiên cứu, xin cảm  
ơn các Sở Ban Ngành đặc biệt là Sở Tài nguyên và Môi  
trường các tỉnh ĐBSCL đã hỗ trợ và cung cấp số liệu,  
tạo điều kiện khảo sát thực tế địa phương.  
- Cải tiến kỹ thuật ương nuôi:  
+ Không nên ương, nuôi mật độ quá dày: mật độ ương  
từ cá bột lên cá hương từ 300 - 400 con/m2; cá hương  
lên cá giống từ 100 – 150 con/m2, mật độ nuôi thương  
phẩm từ 25 - 30 con/m2.  
+ Cho cá ăn đảm bảo chất và số lượng theo giai đoạn  
phát triển, lúc cá có dấu hiệu bệnh nên giảm lượng  
thức ăn;  
+ Quản lý chất lượng nước trong ao ương và nuôi thật  
tốt, tránh để xảy ra hiện tượng các yếu tố thủy lý hóa  
biến động lớn và ao nhiễm bẩn trong quá trình sản  
xuất;  
+ Sử dụng hóa chất và kháng sinh phải tuân thủ theo  
qui định, sử dụng kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm  
khuẩn phải đúng theo hướng dẫn của chuyên môn kỹ  
thuật, tuyệt đối không sử dụng các sản phẩm có chứa  
hoạt chất Trifluralin trong quá trình nuôi với bất kỳ  
mục đích sử dụng nào; Định kỳ 10 -15 ngày sử dụng  
muối và vôi để sát khuẩn cho cá.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
AC: Khả năng thích ứng  
BĐKH: Biến đổi khí hậu  
ĐBSCL: Đồng bằng song Cửu Long  
E: Độ phơi nhiễm  
KTTV: Khí tượng thủy văn  
IPCC: Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu  
PĐT: Phiếu điều tra  
NBD: Nước biển dâng  
S: Độ nhạy cảm  
SLQT: Số liệu quan trắc  
TDTT: Tính dễ tổn thương  
VI: Chỉ số dễ bị tổn thương  
KẾT LUẬN  
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về kịch  
bản, tác động của BĐKH lên các nguồn tài nguyên,  
sinh kế của người dân đã và đang được thực hiện để  
phục vụ cho công tác đề ra chiến lược thích ứng với  
BĐKH. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu về những  
ảnh hưởng cũng như nhận thức, ứng phó của người  
nuôi thủy sản nói riêng và các lĩnh vực cụ thể nói  
chung đối với hiện tượng BĐKH. Nghiên cứu này tiến  
hành xây dựng được bộ chỉ thị đánh giá tính dễ bị tổn  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Nhóm tác giả cam đoan rằng không có xung đột  
thương do BĐKH cho cá tra tỉnh An Giang trong bối lợi ích trong công bố bài báo “Đánh giá tính dễ tổn  
cảnh BĐKH. Khi tiến hành xây dựng bộ chỉ số và tính thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá  
DBTT tuy gặp khó khăn trong việc thu thập số liệu  
nhưng lại đánh giá toàn diện tính dễ tổn thương do  
BĐKH và nhận đỉnh rằng 2 yếu tố tác động lớn nhất  
đến ngành thủy sản do BĐKH gây ra là nhiệt độ và  
lượng mưa.  
tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng”.  
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ  
Tác giả Nguyễn Hồng Anh ư, Nguyễn Khôn Huyền,  
Lê Quốc Vĩ, Trần ị Hiệu, Trần Trung Kiên, Lê  
Trọng Nhân, Lê anh Hải cùng thực hiện tất cả các  
bước và quy trình xây dựng kết quả của nghiên cứu  
này.  
Trong nghiên cứu này, mới định lượng giá kinh tế do  
BĐKH ở quy mô cấp cấp tỉnh, khu vực, nó chỉ đánh  
giá một cách định tính tác động của BĐKH thông  
qua chỉ số tổn thương. Kết quả tính toán cho thấy tại  
An Giang chỉ số dễ bị tổn thương hầu hết ở các mức  
trung bình, cao. Trong đó, huyện có mức độ dễ bị tổn  
thương cao huyện Châu Phú; huyện có mức độ dễ bị  
tổn thương trung bình bao gồm 9 huyện và 1 huyện có  
mức độ dễ bị tổn thương thấp – Tịnh Biên. Dựa vào  
kết quả tỷ lệ dễ bị tổn thương do BĐKH, các giải pháp  
thích ứng nên được tiến hành ưu tiên cho huyện Châu  
Phú vì huyện Châu Phú chịu mức độ tổn thương cao  
đồng thời người dân trong huyện đa số sống dựa vào  
nghề nuôi cá tra.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. FAO F. Minimum dietary diversity for women: a guide for mea-  
surement. Rome: FAO. 2016;82.  
2. Allison EH, et al. Vulnerability of national economies to the  
impacts of climate change on fisheries’, Fish and fisheries.  
2009;10(2):173–196. Available from: https://doi.org/10.1111/  
3. Watts MJ, Bohle HG. The space of vulnerability: the causal  
structure of hunger and famine. Progress in human geog-  
raphy. 1993;17(1):43–67. Available from: https://doi.org/10.  
261  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Trái đất và Môi trường, 5(1):254-263  
4. Handisyde N, Telfer TC, Ross LG. Vulnerability of aquaculture-  
related livelihoods to changing climate at the global scale.  
Fish and fisheries. 2017;18(3):466–488. Available from: https:  
5. Zsamboky M, Fernández-Bilbao A, et al. Impacts of climate  
change on disadvantaged UK coastal communities. York, UK:  
Joseph Rowntree Foundation. 2011;.  
6. Parry M, Hanson C. Climate change 2007-impacts, adaptation  
and vulnerability: Working group II contribution to the fourth  
assessment report of the IPCC. Cambridge University Press.  
2007;4.  
7. Kim BT, Brown CL. Assessment on the vulnerability of Korean  
aquaculture to climate change. Marine Policy. 2019;99:111–  
009.  
12. Bé NV, Đăng Văn Trí P, Hằng TTL, Triển TV. Ảnh hưởng của  
xâm nhập mặn đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản huyện  
Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Can Tho University Journal of Science.  
2017;50:94. Available from: https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.  
13. Mackay P, Russell M, Merz SK. Socialist Republic of Viet Nam:  
Climate change impact and adaptation study in the Mekong  
Delta. Technical Assistance Consultant’s Report (Kien Giang  
Atlas). 2011;60.  
14. Nhuận MT. Đánh giá tổn thương phục vụ cho quy hoạch và  
quản lý môi trường (lấy thí dụ ở thành phố Hải Phòng và phụ  
cận). VIETNAM JOURNAL OF EARTH SCIENCES. 2006;28(1):1–  
10.  
15. Kam SP, Badjeck MC. Autonomous adaptation to climate  
change by shrimp and catfish farmers in Vietnam’s Mekong  
River delta. 2012;.  
8. ShawR. Community-basedclimatechangeadaptationinViet-  
nam: inter-linkages of environment, disaster, and human se-  
curity’, Multiple dimensions of global environmental change.  
TERI Press, New Delhi(India). 2006;p. 521–547.  
16. IPCC CC. Mitigation of climate change. Contribution of work-  
ing group III to the fifth assessment report of the intergovern-  
mental panel on climate change. 2014;.  
9. Dolan AH, Walker IJ. Understanding vulnerability of coastal  
communities to climate change related risks. Journal of  
Coastal Research. 2006;p. 1316–1323.  
17. Iyengar NS, Sudarshan P. A method of classifying regions  
from multivariate data. Economic and political weekly. , pp  
-, . 1982;p. 2047–2052.  
10. Adger WN, Kelly PM, Ninh NH. Living with environmental  
change: social vulnerability, adaptation and resilience in Viet-  
nam. Routledge. 2012;Available from: https://doi.org/10.4324/  
11. Ngữ ND. Biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kỹ thuật’, Hà Nội.  
2008;412.  
18. Pillai P, Philips BR, Shyamsundar P, Ahmed K, Wang L. Climate  
risks and adaptation in Asian coastal megacities. Washington,  
DC: World Bank. 2010;.  
19. Hiền TD. Nghiên Cứu Xây Dựng Mô Hình Đánh Giá Tác Động  
Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Một Số Lĩnh Vực Kinh Tế - Xã Hội  
Cho Thành Phố Đà Nẵng;.  
262  
                               
Science & Technology Development Journal – Science of The Earth & Environment, 5(1):254-263  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
Evaluation for the vulnerability of climate change affecting to  
shark catfish farming in An Giang and suggesting some solutions  
for this case.  
Nguyen Hong Anh Thu1,*, Nguyen Khon Huyen1, Le Quoc Vi1, Tran Thi Hieu1, Tran Trung Kien1,  
Le Trong Nhan2, Le Thanh Hai1  
ABSTRACT  
Aquaculture that belongs to Fishery is one of the high-value economies accounting for a signifi-  
cant portion in the economic structure of Agriculture- Forestry- Fishery in Viet Nam and An Giang-  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
a province that has prevailed in Aquaculture in Viet Nam. However, its sustainability has been fac-  
ing many obstacles derived from climate change; Hence, it is essential to evaluate the vulnerability  
of climate change affecting shark catfish farming in An Giang based on the prediction of temper-  
ature and rainfall obtained from sets of conditions of climate change and then evaluate their vul-  
nerability for each area by using a numerical method and based on Intergovernmental Panel on  
Climate Change in vulnerability to overcome the difficulties in development strategies adapt for  
a certain area. There are 27 indicators of climate, environment, and social economics selected for  
three vulnerable components: exposure, sensitivity, and adaptability. As a result, it is shown that  
the vulnerability of catfish farming in An Giang due to climate change is at a moderate level, and  
Chau Phu district is suffering from high vulnerability because catfish farming is known as residents'  
livelihood there. Followed by practical issues and the levels of vulnerability due to climate change,  
some solutions are suggested for the purpose of sustainability in this prevailed economy as well as  
the creation of new means of living and reduce effects affecting the environment.  
Key words: vulnerability index, vulnerability, climate change, pangasius farming  
1Institute For Environment And  
Resources – VNU-HCM, Vietnam  
2Ton Duc ang University, Việt Nam  
Correspondence  
Nguyen Hong Anh Thu, Institute For  
Environment And Resources –  
VNU-HCM, Vietnam  
Email: anhthu0710.95@gmail.com  
History  
• Received: 01-06-2020  
• Accepted: 18-01-2021  
• Published: 05-3-2021  
DOI : 10.32508/stdjsee.v5i1.530  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Thu N H A, Huyen N K, Vi L Q, Hieu T T, Kien T T, Nhan L T, Hai L T. Evaluation for the  
vulnerability of climate change affecting to shark catfish farming in An Giang and suggesting some  
solutions for this case.. Sci. Tech. Dev. J. - Sci. Earth Environ.; 5(1):254-263.  
263  
pdf 10 trang yennguyen 22200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng cá tra An Giang và đề xuất các biện pháp thích ứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tinh_de_ton_thuong_do_bien_doi_khi_hau_den_nganh_nu.pdf