Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
55  
Evaluation of dietary supplementation of organic minerals on survivability and feed  
efficiency in larval rearing of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)  
Duy K. Ho, Binh T. T. Vo, & Hung T. Le∗  
1Faculty of Fisheries, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
Microminerals of Zn, Se, Cu, Fe, Mn and Cr were supplemented in  
the feed either in inorganic minerals (sulfate salt) or organic minerals  
(Methionine-mineral) at various concentrations over an 8-week period.  
Catfish fry (15-day old) were fed the experimental diets for 8 weeks. At  
the end of the feeding trial, fish were challenged by immersion in a solu-  
tion of Edwardsiella ictaluri bacteria. The mortality was monitored for  
14 days. The results showed that the survival rates of fish fed the organic  
mineral -supplemented diets were higher than those fed the inorganic  
mineral -supplemented diets. Treatment 7 supplemented with organic  
minerals of 60.0 mg/kg Zn, 0.40 mg/kg Se and 0.40 mg/kg Cr had the  
highest weight gain and survival rates and the lowest FCR, there were  
significant differences in those parameters between treatment 7 and  
the control diet supplemented with inorganic minerals. The variation  
in fish weight and length of treatment 7 was also lowest and signifi-  
cantly different (P < 0.05) from that of the control treatment. After  
14 days of bacteria challenge, the cumulative mortality of fish in the  
control treatment was highest (67.86%) and the cumulative mortality  
of fish in treatment 7 was lowest (34.82%), and the cumulative mortal-  
ity rates of fish in these two treatments were significantly different (P  
< 0.05) from those of the others. The cumulative mortalities of fish in  
organic minerals treatments were lower than those of fish in inorganic  
mineral treatments. The study indicated that the dietary supplemen-  
tation of organic minerals of zinc (Zn), selenium (Se) and chromium  
(Cr) would improve growth, survival rate and disease resistance to E.  
ictaluri bacteria in Pangasius catfish nursing (from 15 to 75 days old).  
Received: August 22, 2020  
Revised: September 15, 2020  
Accepted: October 19, 2020  
Keywords  
Inorganic minerals  
Larval rearing  
Organic minerals  
Striped catfish  
∗Corresponding author  
Le Thanh Hung  
Email: lthungts@hcmuaf.edu.vn  
Cited as: Ho, D. K., Vo, B. T. T., & Le, H. T. (2020). Evaluation of dietary supplementation of  
organic minerals on survivability and feed efficiency in larval rearing of striped catfish (Pangasian-  
odon hypophthalmus). The Journal of Agriculture and Development 19(5), 55-61.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
56  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong  
ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)  
Hồ Khánh Duy, Võ Thị Thanh Bình & Lê Thanh Hùng∗  
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Bài báo khoa học  
Các loại vi khoáng như Zn, Se, Cu, Fe, Mn và Cr dưới dạng khoáng  
vô cơ (muối sulphate) hay khoáng hữu cơ (Methionine-khoáng) được bổ  
sung vào thức ăn để ương cá tra giống 15 ngày tuổi trong thời gian 8  
tuần ương nuôi. Sau thí nghiệm, cá được gây cảm nhiễm bằng phương  
pháp ngâm với vi khuẩn Edwarsiella ictaluri và theo dõi tỉ lệ chết trong  
14 ngày.  
Ngày nhận: 22/08/2020  
Ngày chỉnh sửa: 15/09/2020  
Ngày chấp nhận: 19/10/2020  
Kết quả nghiên cứu ghi nhận sau 8 tuần, tỉ lệ sống của cá ở những  
nghiệm thức bổ sung khoáng hữu cơ cao hơn bổ sung khoáng vô cơ.  
Nghiệm thức 7 (bổ sung khoáng hữu cơ 60,00 mg/kg Zinc; 0,40 mg/kg  
Se và 0,40 mg/kg Cr) cho tỉ lệ sống cao nhất, tăng trọng lớn nhất và  
FCR thấp nhất và khác biệt có nghĩa so với nghiệm thức đối chứng bổ  
sung hoàn toàn khoáng vô cơ. Nghiệm thức 7 cũng có hệ số phân đàn  
thấp nhất, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với nghiệm thức  
đối chứng.  
Từ khóa  
Cá tra  
Khoáng hữu cơ  
Khoáng vô cơ  
Ương cá giống  
Khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri, nghiệm thức đối chứng có  
tỉ lệ chết tích lũy cao nhất (67,86%), nghiệm thức 7 có tỉ lệ chết tích  
lũy thấp nhất (34,82%), và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)  
với các nghiệm thức khác. Các nghiệm thức bổ sung khoáng hữu cơ cho  
tỉ lệ chết tích lũy thấp hơn các nghiệm thức bổ sung khoáng vô cơ.  
Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung các loại khoáng hữu cơ như Zn, Se  
và Cr vào thức ăn giúp tăng tỉ lệ sống, tăng trưởng cá cao hơn, và tăng  
khả năng kháng bệnh với vi khuẩn E. ictaluri của cá tra giống (giai  
đoạn từ 15 đến 75 ngày tuổi).  
∗Tác giả liên hệ  
Lê Thanh Hùng  
Email: lthungts@hcmuaf.edu.vn  
1. Đặt Vấn Đề  
như hiện nay. Do đó, việc nâng cao chất lượng  
con giống để có con giống sạch bệnh, có sức đề  
Giống là yếu tố rất quan trọng giúp nâng cao kháng tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, nhằm tạo  
chất lượng sản phẩm, đồng thời làm tăng lợi điều kiện cho quá trình nuôi thương phẩm gặp  
nhuận và giảm thiểu rủi ro cho người nuôi. Tuy nhiều thuận lợi hơn là điều rất cần thiết.  
nhiên, việc sử dụng hóa chất, kháng sinh trong  
khâu ương từ cá bột lên cá giống thiếu kiểm soát  
trong nhiều năm qua đã dẫn đến lạm dụng kháng  
sinh trong phòng trị bệnh cá. Tại đồng bằng sông  
Cửu Long, tỉ lệ sống từ ương cá bột lên cá giống  
cá tra đạt rất thấp, khoảng 7- 10%, tỉ lệ này hoàn  
toàn không như mong muốn của các cơ sở ương  
giống, đặc biệt trong tình hình thị trường nhiều  
biến động và nguyên vật liệu đầu vào tăng cao  
Các vi khoáng trong thức ăn như Zn, Se và Cu  
tham gia vào hệ miễn dịch giúp tôm cá kháng lại  
các tác nhân gây bệnh (Lim & ctv., 1996). Thức  
ăn ương nuôi cá thường được bổ sung các khoáng  
vô cơ. Tuy nhiên, các khoáng vô cơ thường có  
giá trị sinh học thấp hơn so với các khoáng hữu  
cơ. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá việc  
bổ sung khoáng hữu cơ so sánh với khoáng vô cơ  
trong ương nuôi cá tra từ giai đoạn cá 15 ngày  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
57  
Bảng 1. Hàm lượng các loại khoáng vi lượng bổ sung vào thức  
ăn thí nghiệm  
Khoáng vô cơ Khoáng hữu cơ (mg/kg thức ăn)  
NT1* NT2 NT3 NT4 NT5 NT6 NT7  
Zn  
Se  
Mn  
Cu  
Cr  
Fe  
20  
0,25  
2,40  
5
60  
0,25  
2,40  
5
20  
60  
20  
60  
60  
0,25 0,25 0,40 0,40 0,40  
2,40 2,40 2,40 2,40 2,40  
5
5
5
5
5
0,40  
30  
30  
30  
30  
30  
30  
30  
*Nhu cầu khoáng vi lượng cho cá da trơn Mỹ (NRC, 2011).  
tuổi đến cá giống.  
2.2. Thí nghiệm 1: Đánh giá tác dụng của các  
loại khoáng hữu cơ và vô cơ trong thức ăn  
lên tỉ lệ sống và tăng trưởng cá tra từ cá  
bột lên cá giống  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Thí nghiệm được bố trí trong giai cước (mắc  
lưới 0,8 mm) đặt trong ao ương cá tra có diện  
tích 500 m2, độ sâu 2 m. Thí nghiệm có 28 giai  
(1 m x 1,5 m x 1,3 m) gồm 7 nghiệm thức, mỗi  
nghiệm thức được lặp lại 4 lần và được bố trí theo  
hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên. Số lượng cá thí  
nghiệm (0,12 g) 500 con/giai, thời gian ương 8  
tuần tính từ ngày bố trí thí nghiệm.  
Cá tra thí nghiệm được ương trong ao 300 m2  
và cho ăn thức ăn tự nhiên và thức ăn công nghiệp  
trong vòng 15 ngày tại trại thực nghiệm khoa  
Thủy Sản, sau đó chọn những con khỏe mạnh,  
không di tật đồng đều về kích cỡ, trọng lượng để  
bố trí thí nghiệm (0,12 g).  
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm được thiết  
kế trên phần mềm Feedlive có hàm lượng protein  
40%, béo 6% và được sản xuất trong nhà máy  
thức ăn. Thức ăn cơ bản gồm bột cá, bánh dầu  
nành, bánh dầu nành lên men, cám gạo, mì lát,  
DCP. Thức ăn được sản xuất tại nhà máy thức  
ăn Godaco tạo viên nổi. Thức ăn cơ bản này được  
xay nhuyễn và bổ sung các vi khoáng vô cơ hay  
hữu cơ để tạo ra 7 loại thức ăn khác nhau tại  
phòng thí nghiệm khoa Thủy Sản. Thức ăn được  
ép viên và tạo ra nhiều cỡ viên: bột mịn, 0,2, 0,4  
và 1,0 mm theo kích cỡ cá nuôi thí nghiệm.  
Sau 4 tuần nuôi, toàn bộ số cá được chuyển  
sang giai có kích thước mắc lưới 2,0 mm (số thứ  
tự giai và các nghiệm thức vẫn giữ nguyên như  
ban đầu). Thời gian cho ăn 2 lần/ngày, vào lúc  
7 giờ và 17 giờ, cho cá ăn thức ăn trên sàng.  
Kết thúc thí nghiệm: cân trọng lượng cá, đếm số  
con để xác định tỉ lệ sống. Tăng trưởng (SGR và  
DWG), tỉ lệ sống (SR) và hệ số thức ăn (FCR)  
được tính theo các công thức sau:  
Tốc độ tăng trưởng (SGR):  
LnW2 − LnW1  
SGR =  
× 100  
%/ngày  
Các loại khoáng hữu cơ của công ty Zin-  
Pro: Availa-Zn, Availa-Se, Availa-Mn, Availa-  
Cu, Availa-Cr và Availa-Fe hũu cơ được sử  
dụng để bổ sung kẽm, selen, mangan, đồng,  
crôm và sắt hữu cơ. Trong khi khoáng vô  
cơ bao gồm sulphate kẽm (ZnSO4.7H2O),  
sulphate mangan (MnSO4.H2O), sulphate sắt  
(FeSO4.7H2O), sulphate đồng (CuSO4.5H2O) và  
Selenate (Na2SeO3.5H2O) sử dụng sản phẩm của  
công ty MERS. Các vi khoáng được bổ sung vào  
các thức ăn cơ bản theo Bảng 1 tại phòng thí  
nghiệm sau đó ép viên, sấy khô và bảo quản.  
Thức ăn NT1, NT2 sử dụng khoáng vô cơ, trong  
khi những thức ăn còn lại sử dụng khoáng hữu  
cơ (NT3, NT4, NT5, NT6 và NT7).  
T2 − T1  
Tăng trọng ngày (DWG):  
DWG = (W2 - W1)/T2 - T1 (g/cá/ngày)  
Hệ số thức ăn (FCR):  
Lượng thức ăn  
FCR =  
Tăng trọng cá(W2 − W1)  
2.3. Thí nghiệm 2: Đánh giá ảnh hưởng của  
việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tình trạng  
sức khỏe của cá tra giống  
Sau khi kết thúc thí nghiệm 1, cá (28 con/bể)  
được chọn ngẫu nhiên để tiến hành gây cảm  
nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri bằng phương pháp  
ngâm (nồng độ vi khuẩn 1,2 x 105 cfu/mL). Thời  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
58  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
gian ngâm là 1 giờ. Sau đó, cá sẽ được chuyển vào khối lượng lần lượt là 11,48  
0,55 g, 11,81  
bể thí nghiệm và theo dõi trong 14 ngày. Tỷ lệ cá 1,03 g. Tốc độ tăng trưởng của cá sau 8 tuần  
chết được kiểm tra 2 lần/ngày.  
nuôi được thể hiện qua chỉ tiêu tăng trọng, tăng  
trọng hằng ngày và tốc độ tăng trưởng đặc biệt.  
Ba chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng trưởng của  
cá ở nghiệm thức sử dụng khoáng hữu cơ cao hơn  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
Kết quả các chỉ tiêu môi trường cho thấy chất so với nghiệm thức sử dụng khoáng vô cơ.  
lượng nước nuôi cá trong thời gian thí nghiệm như  
sau: DO buổi sáng: 2,0-4,0 mg/L; buổi chiều: 4,0-  
6,0 mg/L. Nhiệt dộ nước buổi sáng: 28,0-30,3oC;  
buổi chiều: 30,3-32,2oC. pH buổi sáng: 7,2-7,5;  
buổi chiều: 7,5-7,8. Hàm lượng ammonia thấp:  
0,009-0,03 mg/L. Tất cả các chỉ tiêu chất lượng  
nước phù hợp với đặc điểm thích nghi và phát  
triển bình thường của cá cá tra.  
Hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR) của cá thí  
nghiệm: FCR của các nghiệm thức từ 1,36 – 1,56.  
Các nghiệm thức có bổ sung khoáng hữu cơ có  
khuynh hướng thấp hơn so với nghiệm thức bổ  
sung khoáng vô cơ. FCR cao nhất ở nghiệm thức  
1 (1,56) và thấp nhất ở nghiệm thức 7 (1,36), sự  
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).  
Tỉ lệ sống sau 8 tuần nuôi giữa các nghiệm thức  
khác nhau có ý nghĩa (P < 0,05). Ở NT1 và NT2  
sử dụng khoáng vô cơ có tỉ lệ sống thấp nhất, lần  
lượt là 17,25% và 38,60%, cao nhất là NT7 với tỉ  
lệ sống là 80,1%.  
3.1. Thức ăn thí nghiệm  
Thức ăn thí nghiệm sau khi được ép viên, bảo  
quản và phân tích thành phần dinh dưỡng và hàm  
lượng các vi khoáng được trình bày theo Bảng 2.  
Kết quả trên tương tự với nghiên cứu của  
Hamre & ctv. (2008), bổ sung Selenium vào thức  
ăn giúp cải thiện tỷ lệ sống của cá tuyết Đại Tây  
Dương (tỷ lệ sống tăng 32% so với lô đối chứng).  
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ sống  
của cá được cải thiện đáng kể ở lô bổ sung Se-  
lenium 0,4 ppm của nghiệm thức NT5, NT6 và  
NT7 so với các nghiệm thức còn lại không bổ  
sung Selenium. Nghiên cứu của Mechlaoui & ctv.  
(2019) cho thấy bổ sung Selenium hữu cơ dạng  
OH-SeMet 0,2 ppm trên cá vược (Sparus aurata)  
cho kết quả tăng trưởng tốt hơn và giúp cá chống  
lại stress và kháng oxy hóa tế bào cơ tốt hơn lô  
đối chứng.  
Thành phần dinh dưỡng của 7 loại thức ăn như  
protein thô, béo, khoáng và xơ thô theo như bảng  
2 thì không khác nhau và như thiết kế ban đầu.  
Riêng hàm lượng các vi khoáng có sự khác nhau,  
do việc bổ sung các vi khoáng vào thức ăn:  
Hàm lượng Fe, Cu và Mn của 7 nghiệm thức  
tương đương nhau do cùng bổ sung liều lượng vào  
thức ăn như nhau.  
Hàm lượng kẽm (Zn) phân tích ở nghiệm thức  
NT1 có 52,9 mg/kg Zn cho thấy hàm lượng Zn  
trong nguyên liệu thức ăn đã là 32,9 mg/kg Zn.  
Các nghiệm thức bổ sung 60 mg/kg Zn như NT2,  
NT4, NT6 và NT7 (80-100 mg/kg) có giá trị Zn  
trong thức ăn cao hơn các lô bổ sung 20 mg/kg  
Zn của NT1, NT3 và NT5 (52-60 mg/kg).  
Sự phân đàn cá sau thí nghiệm được trình bày  
qua hệ số CV (coefficient of variance) khối lượng  
và chiều dài cá. Kết quả ở Bảng 4 cho thấy, hệ  
số phân đàn về khối lượng, chiều dài ở nghiệm  
thức 7 thấp hơn so với các nghiệm thức còn lại,  
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).  
Hệ số phân đàn thấp ở nghiệm thức NT7 có thể  
liên quan đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của  
cá.  
Hàm lượng Selenium trong các lô bổ sung  
khoáng vô cơ hơi thấp hơn thiết kế, trong khi  
các lô bổ sung khoáng hữu cơ NT3, NT4, NT5,  
NT6 và NT7 đều như thiết kế.  
Hàm lượng chromium của nghiệm thức NT7  
cao nhất do bổ sung 0,40 mg/kg Chrom.  
Như vậy, việc bổ sung các loại khoáng hữu cơ  
vào thức ăn có ảnh hưởng nâng cao tỉ lệ sống, tốc  
độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của  
cá tra từ cá bột lên cá giống.  
3.2. Tăng trưởng, FCR và tỉ lệ sống của cá tra  
sau 8 tuần thí nghiệm  
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy, sau 8 tuần nuôi  
khối lượng cá giữa các nghiệm thức khác biệt có  
ý nghĩa (P < 0,05) ở NT7 và NT1 & NT2, nghiệm  
thức 7 có khối lượng lớn nhất là 14,17 0,24 g,  
nhỏ nhất là nghiệm thức 2 và nghiệm thức 1 với  
3.3. Cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri  
Sau khi kết thúc thí nghiệm, cá được gây cảm  
nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri bằng phương pháp  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
59  
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng và hàm lượng các vi khoáng trong 7 thức ăn thí nghiệm  
Thành phần dinh dưỡng NT1  
NT2  
2,98  
5,40  
3,13  
6,72  
NT3  
4,68  
4,86  
3,45  
6,40  
NT4  
5,14  
5,13  
3,58  
6,63  
NT5  
3,98  
4,90  
3,72  
6,58  
NT6  
3,88  
5,16  
3,55  
6,26  
NT7  
4,53  
5,41  
3,12  
7,16  
Độ ẩm (%)  
Béo thô (%)  
Xơ thô (%)  
Tro (%)  
2,79  
5,61  
3,06  
6,33  
Protein thô (%)  
Khoáng vi lượng  
Zn (mg/kg)  
Se (mg/kg)  
Mn (mg/kg)  
Cu (mg/kg)  
Cr (mg/kg)  
Fe (mg/kg)  
38,63 38,09 37,69 37,94 38,64 38,48 38,39  
52,9  
0,30  
88,7  
20,4  
3,30  
441  
80,5  
0,30  
94,6  
21,3  
3,61  
429  
68,4  
0,56  
92,8  
20,1  
3,25  
465  
102  
0,54  
94  
20  
3,43  
435  
64,2  
0,72  
92,1  
19,4  
3,24  
431  
102  
0,71  
92,4  
18,5  
3,22  
422  
107  
0,70  
98,3  
19,5  
4,52  
441  
Thành phần dinh dưỡng cơ bản được phân tích tại phòng thí nghiệm công ty Godaco.  
Thành phần vi khoáng được phân tích tại trung tâm phân tích thí nghiệm (CASE) theo phương pháp  
đo phổ phát xạ Plasma theo tiêu chuẩn TCVN 9588: 2013.  
Bảng 3. Kết quả về tăng trưởng, FCR và tỉ lệ sống sau 8 tuần thí nghệm  
Nghiệm  
DWG56  
(g/ngày)  
SGR56  
(%/ngày)  
W56  
(g/con)  
SR56  
(%)  
FCR  
thức  
NT1  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
NT7  
11,81ab 1,03 0,21ab 0,018 8,05a 0,16  
1,56c 0,10  
17,25a 10,67  
38,60b 14,57  
11,48a 0,55  
0,20a 0,010 7,95a 0,18 1,51bc 0,11  
12,16ab 1,00 0,21ab 0,018 8,11a 0,22 1,47bc 0,74 41,30bc 27,98  
12,16ab 0,56 0,21ab 0,010 8,10a 0,06 1,46abc 0,03 58,85bc 5,71  
12,56ab 0,40 0,22ab 0,007 8,17a 0,13 1,46abc 0,03 62,85cd 8,50  
12,71b 0,46  
14,17c 0,24  
0,22b 0,008 8,13a 0,10 1,42ab 0,02  
62,35cd 6,80  
80,10d 3,07  
0,25c 0,004 8,41b 0,10  
1,36a 0,06  
W56: trọng lượng cá sau 8 tuần nuôi; DWG (Daily weigh gain); SGR (Specific growth rate), FCR (feed conversion rate);  
SR (survival rate); W0: trọng lượng cá ban đầu (0,12-0,13 g/cá).  
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình  
độ lệch chuẩn (n = 4). Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác  
nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Duncan test, P < 0,05).  
ngâm trong vòng 1 giờ. Tỉ lệ cá chết tích lũy sau Mỹ (khối lượng 10,6 g) với vi khuẩn E. ictaluri  
14 ngày được biểu thị bằng biểu đồ Hình 1.  
mật độ 2 x 107 cfu/mL trong thời gian 1 giờ, ở  
nhiệt độ 24 – 26oC thì tỉ lệ chết tích lũy trong  
14 ngày là 66,7%. Trong thí nghiệm này, việc bổ  
sung khoáng hữu cơ Se, Zn và Cr giúp giảm tỉ lệ  
chết tích lũy trong các nghiệm thức NT5, NT6,  
NT7.  
Dựa vào biểu đồ Hình 1, cá bắt đầu chết từ  
ngày thứ 5 sau khi gây cảm nhiễm, tỉ lệ chết tăng  
nhanh từ ngày ngày thứ 6 đến ngày thứ 10. Cá  
bắt đầu ngừng chết vào ngày thứ 12 ở tất cả các  
nghiệm thức. Kết quả tỉ lệ chết tích lũy (Bảng  
5) giữa các nghiệm thức khác nhau có ý nghĩa  
Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của Se-  
(P < 0,05), tỉ lệ chết tích lũy cao nhất là NT1 lenium hữu cơ lên cá hồi vân của Sebastien &  
(67,86%), thấp nhất là NT7 (34,82%).  
ctv. (2009), khi cho cá ăn thức ăn bổ sung sele-  
nium với các hàm lượng 0; 2; 4; 8 mg Se/kg thức  
ăn trong 10 tuần đã cải thiện tỷ lệ sống, tốc độ  
tăng trưởng và khả năng miễn dịch. Bên cạnh đó,  
Sritunyalucksana & ctv. (2011) đã chứng minh  
với hàm lượng 0,3 g Se hữu cơ /kg thức ăn giúp  
cải thiện tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và khả  
năng chống chịu với virus gây hội chứng Taura  
trên tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei. Như  
vậy, Se hữu cơ có vai trò trong việc kích thích hệ  
miễn dịch ở động vật thủy sản.  
Nghiệm thức đối chứng âm có tỉ lệ chết là 0%,  
đều này chứng tỏ rằng các yếu tố môi trường  
(nhiệt độ, pH), thao tác gây cảm nhiễm không  
ảnh hưởng đến tỉ lệ chết tích lũy của cá trong thí  
nghiệm. Do đó, cá chết trong thí nghiệm là do bị  
nhiễm bởi vi khuẩn. Cá chết có những biểu hiện  
đặc trưng do vi khuẩn E. ictaluri gây nên như  
xuất hiện các đốm trắng trong gan và thận.  
Theo Lim & ctv. (1996), khi ngâm cá da trơn  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
   
60  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 4. Hệ số phân đàn về khối lượng và chiều dài  
Nghiệm thức CV (%) khối lượng CV (%) chiều dài  
NT1  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
NT7  
34,80c 0,70  
34,53c 1,50  
34,15c 0,77  
34,96c 2,57  
31,32b 1,04  
32,94bc 1,76  
28,04a 1,33  
20,94c 3,90  
16,86b 2,90  
22,70c 1,92  
22,39c 1,60  
21,32c 1,51  
23,50c 2,19  
10,24a 1,64  
độ lệch chuẩn (n = 4).  
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình  
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê (Duncan test, P < 0,05).  
Hình 1. Tỉ lệ chết tích lũy của cá sau 14 ngày gây cảm nhiễm.  
Bảng 5. Tỉ lệ cá chết tích lũy (%) sau 5 ngày, 10 ngày, 14 ngày cảm  
nhiễm  
Nghiệm thức  
NT1  
5 ngày  
10 ngày  
14 ngày  
0,89ab 1,79  
3,57b 0,00  
59,82d 6,10  
57,14cd 4,12  
67,86c 4,12  
61,61bc 6,10  
60,71bc 4,12  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
NT7  
2,68ab 3,42 57,14cd 6,52  
0,89ab 1,79 59,82d 12,84 60,71bc 12,71  
0,00a 0,00  
45,54bc 6,10  
53,57b 10,10  
1,79ab 3,57 42,86ab 11,29 50,00b 10,10  
2,68ab 1,79  
31,25a 6,10  
34,82a 3,42  
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình  
độ lệch chuẩn (n = 4). Các giá trị  
trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Duncan  
test, P < 0,05).  
Tran & ctv. (2013), đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ sống, thành phần sinh hóa, các chỉ số huyết  
ảnh hưởng của Selenium hữu cơ lên tăng trưởng, học và khả năng kháng lại tác nhân gây bệnh  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
     
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
61  
Vibrio parahaemolyticus trên cá chẽm. Kết quả Hamre, K., Mollan, T. A., Sæle., & Erstad, B. (2008).  
Rotifers enriched with iodine and seleniumincrease sur-  
vival in Atlantic cod (Gadusmorhua) larvae. Aquacul-  
ture 284, 190-195.  
thí nghiệm cho thấy Se hữu cơ đã cải thiện tốc  
độ tăng trưởng, làm tăng hàm lượng protein thô,  
giảm độ ẩm trong cơ thịt cá, tăng số lượng hồng  
cầu tổng số và tăng khả năng chống chịu khi tiếp  
Lim, C., Kleisius, P. H., & Ducan, P. L. (1996). Immune  
respone and resistance of chanel catfish to Edward-  
siella ictaluri challenge when fed various dietary levels  
of zin methionine and zinsufate. Journal of Aquatic  
xúc với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus ở mật  
độ 106 cfu/mL. Gần đây nhất là nghiên cứu của  
Sang & ctv. (2015), kết quả nghiên cứu trên cá  
Trachinotus blochi cho thấy, tỷ lệ sống, tốc độ  
tăng trưởng, protein trong cơ và lipid trong gan  
ở các lô có bổ sung Se hữu cơ cao hơn so với lô  
đối chứng (P < 0,05).  
Animal Health 8(4), 302-307.  
Mechlaoui, M., Dominguez, D., Robaina, L., Geraert, P.,  
Kaushik, S., Saleh, R., Briens, M., Montero, D., &  
Izquierdo, M. (2019). Effects of different dietary se-  
lenium sources on growth performance, liverand mus-  
cle composition, antioxidant status, stress response  
and expression of related genes in gilthead seabream  
(Sparus aurata). Aquaculture 507, 251-259.  
Nghiên cứu của Ahmed (2012) trên cá chép cho  
thấy, thức ăn chứa nhiều carbohydrates sẽ làm  
gia tăng hàm lượng glucose trong máu cá và việc  
bổ sung Crom hữu cơ giúp ổn định glucose trong  
máu cá dẫn đến cá tăng trưởng tốt hơn, tỉ lệ sống  
cải thiện so với đối chứng. Trong thí nghiệm, NT7  
bổ sung Crom (Cr) hữu cơ cải thiện tăng trưởng  
và tỉ lệ sống của cá, cũng như gia tăng sức khỏe  
của cá khi gây cãm nhiễm. Kết quả này cần nhiều  
nghiên cứu tiếp tục để theo dõi và đánh giá tác  
dụng của Crom khi bổ sung vào thức ăn.  
NRC (National Research Council). (2011). Nutrient re-  
quirements of fish and shrimp, animal nutrition se-  
ries. Washington, USA: The National Academy Press.  
Sang, H. M., Thuy, N. T. T., & Hoang, D. H. (2015).  
Effects of dietary organic selenium on growth, survival,  
physiological and hematology conditions of snub-nose  
dart (Trachinotus blochii Lacepide, 1801). The Israeli  
Journal of Aquaculture - Bamidgeh 67.  
Sebastien, A., & Rider, E. (2009). Supra-nutritional di-  
etary intake of selenite and Selenium yeast in normal  
and stressed rainbow trout (Oncorhynchus mykiss):  
Implications on Selenium status and health responses.  
Aquaculture 295, 282-291.  
4. Kết Luận  
Khi bổ sung các loại khoáng hữu cơ vào thức  
ăn cá tra giai đoạn từ cá bột lên cá giống với liều  
dùng: 60 mg/kg Zn; 0,4 mg/kg Se; 0,4 mg/kg Cr;  
2,4 mg/kg Mn; 5 mg/kg Cu và 30 mg/kg Fe cho  
thấy các chỉ tiêu về tăng trưởng và tỉ lệ sống cao  
hơn và FCR thấp hơn so với nghiệm thức sử dụng  
khoáng vô cơ. Khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E.  
ictaluri thì có tỉ lệ chết tích lũy thấp nhất. Điều  
này chứng tỏ rằng việc bổ sung các loại khoáng  
hữu cơ vào thức ăn cá tra giai đoạn từ cá bột lên  
cá giống giúp cá tăng cường sức đề kháng chống  
lại các tác nhân gây bệnh.  
Sritunyalucksana, K., Intaraprasong, A., Sanguanrut, P.,  
Filer, K., & Fegan, D. F. (2011). Organic selenium sup-  
plementation promotes shrimp growth and disease re-  
sistance to Taura syndrome virus. Science Asia 37,  
24-30.  
Tran, D. D., Huynh, S. M., & Le, H. M. (2013). The effect  
of organic selenium on growth, survival ratio biochem-  
istry composition and immunological capacity of Asian  
seabass (Lates calcarifer Bloch 1790). Journal of Trop-  
ical Science and Technology 112, 40-50.  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
Ahmed, A. R. (2012). The effect of dietary chromium(III)  
on growth and carbohydrate utilization in mirror  
and common carp (Cyprinus carpio) (Doctoral  
dissertation). University of Plymouth, Plymouth, UK.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
pdf 7 trang yennguyen 21460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_viec_bo_sung_khoang_huu_co_len_ty_le_song_va_hieu_q.pdf