Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
55
Evaluation of dietary supplementation of organic minerals on survivability and feed
efficiency in larval rearing of striped catfish (Pangasianodon hypophthalmus)
Duy K. Ho, Binh T. T. Vo, & Hung T. Le∗
1Faculty of Fisheries, Nong Lam University, Ho Chi Minh City, Vietnam
ARTICLE INFO
ABSTRACT
Research Paper
Microminerals of Zn, Se, Cu, Fe, Mn and Cr were supplemented in
the feed either in inorganic minerals (sulfate salt) or organic minerals
(Methionine-mineral) at various concentrations over an 8-week period.
Catfish fry (15-day old) were fed the experimental diets for 8 weeks. At
the end of the feeding trial, fish were challenged by immersion in a solu-
tion of Edwardsiella ictaluri bacteria. The mortality was monitored for
14 days. The results showed that the survival rates of fish fed the organic
mineral -supplemented diets were higher than those fed the inorganic
mineral -supplemented diets. Treatment 7 supplemented with organic
minerals of 60.0 mg/kg Zn, 0.40 mg/kg Se and 0.40 mg/kg Cr had the
highest weight gain and survival rates and the lowest FCR, there were
significant differences in those parameters between treatment 7 and
the control diet supplemented with inorganic minerals. The variation
in fish weight and length of treatment 7 was also lowest and signifi-
cantly different (P < 0.05) from that of the control treatment. After
14 days of bacteria challenge, the cumulative mortality of fish in the
control treatment was highest (67.86%) and the cumulative mortality
of fish in treatment 7 was lowest (34.82%), and the cumulative mortal-
ity rates of fish in these two treatments were significantly different (P
< 0.05) from those of the others. The cumulative mortalities of fish in
organic minerals treatments were lower than those of fish in inorganic
mineral treatments. The study indicated that the dietary supplemen-
tation of organic minerals of zinc (Zn), selenium (Se) and chromium
(Cr) would improve growth, survival rate and disease resistance to E.
ictaluri bacteria in Pangasius catfish nursing (from 15 to 75 days old).
Received: August 22, 2020
Revised: September 15, 2020
Accepted: October 19, 2020
Keywords
Inorganic minerals
Larval rearing
Organic minerals
Striped catfish
∗Corresponding author
Le Thanh Hung
Email: lthungts@hcmuaf.edu.vn
Cited as: Ho, D. K., Vo, B. T. T., & Le, H. T. (2020). Evaluation of dietary supplementation of
organic minerals on survivability and feed efficiency in larval rearing of striped catfish (Pangasian-
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
56
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong
ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Hồ Khánh Duy, Võ Thị Thanh Bình & Lê Thanh Hùng∗
Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
THÔNG TIN BÀI BÁO
Bài báo khoa học
Các loại vi khoáng như Zn, Se, Cu, Fe, Mn và Cr dưới dạng khoáng
vô cơ (muối sulphate) hay khoáng hữu cơ (Methionine-khoáng) được bổ
sung vào thức ăn để ương cá tra giống 15 ngày tuổi trong thời gian 8
tuần ương nuôi. Sau thí nghiệm, cá được gây cảm nhiễm bằng phương
pháp ngâm với vi khuẩn Edwarsiella ictaluri và theo dõi tỉ lệ chết trong
14 ngày.
Ngày nhận: 22/08/2020
Ngày chỉnh sửa: 15/09/2020
Ngày chấp nhận: 19/10/2020
Kết quả nghiên cứu ghi nhận sau 8 tuần, tỉ lệ sống của cá ở những
nghiệm thức bổ sung khoáng hữu cơ cao hơn bổ sung khoáng vô cơ.
Nghiệm thức 7 (bổ sung khoáng hữu cơ 60,00 mg/kg Zinc; 0,40 mg/kg
Se và 0,40 mg/kg Cr) cho tỉ lệ sống cao nhất, tăng trọng lớn nhất và
FCR thấp nhất và khác biệt có nghĩa so với nghiệm thức đối chứng bổ
sung hoàn toàn khoáng vô cơ. Nghiệm thức 7 cũng có hệ số phân đàn
thấp nhất, khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với nghiệm thức
đối chứng.
Từ khóa
Cá tra
Khoáng hữu cơ
Khoáng vô cơ
Ương cá giống
Khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri, nghiệm thức đối chứng có
tỉ lệ chết tích lũy cao nhất (67,86%), nghiệm thức 7 có tỉ lệ chết tích
lũy thấp nhất (34,82%), và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)
với các nghiệm thức khác. Các nghiệm thức bổ sung khoáng hữu cơ cho
tỉ lệ chết tích lũy thấp hơn các nghiệm thức bổ sung khoáng vô cơ.
Nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung các loại khoáng hữu cơ như Zn, Se
và Cr vào thức ăn giúp tăng tỉ lệ sống, tăng trưởng cá cao hơn, và tăng
khả năng kháng bệnh với vi khuẩn E. ictaluri của cá tra giống (giai
đoạn từ 15 đến 75 ngày tuổi).
∗Tác giả liên hệ
Lê Thanh Hùng
Email: lthungts@hcmuaf.edu.vn
1. Đặt Vấn Đề
như hiện nay. Do đó, việc nâng cao chất lượng
con giống để có con giống sạch bệnh, có sức đề
Giống là yếu tố rất quan trọng giúp nâng cao kháng tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, nhằm tạo
chất lượng sản phẩm, đồng thời làm tăng lợi điều kiện cho quá trình nuôi thương phẩm gặp
nhuận và giảm thiểu rủi ro cho người nuôi. Tuy nhiều thuận lợi hơn là điều rất cần thiết.
nhiên, việc sử dụng hóa chất, kháng sinh trong
khâu ương từ cá bột lên cá giống thiếu kiểm soát
trong nhiều năm qua đã dẫn đến lạm dụng kháng
sinh trong phòng trị bệnh cá. Tại đồng bằng sông
Cửu Long, tỉ lệ sống từ ương cá bột lên cá giống
cá tra đạt rất thấp, khoảng 7- 10%, tỉ lệ này hoàn
toàn không như mong muốn của các cơ sở ương
giống, đặc biệt trong tình hình thị trường nhiều
biến động và nguyên vật liệu đầu vào tăng cao
Các vi khoáng trong thức ăn như Zn, Se và Cu
tham gia vào hệ miễn dịch giúp tôm cá kháng lại
các tác nhân gây bệnh (Lim & ctv., 1996). Thức
ăn ương nuôi cá thường được bổ sung các khoáng
vô cơ. Tuy nhiên, các khoáng vô cơ thường có
giá trị sinh học thấp hơn so với các khoáng hữu
cơ. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá việc
bổ sung khoáng hữu cơ so sánh với khoáng vô cơ
trong ương nuôi cá tra từ giai đoạn cá 15 ngày
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
57
Bảng 1. Hàm lượng các loại khoáng vi lượng bổ sung vào thức
ăn thí nghiệm
Khoáng vô cơ Khoáng hữu cơ (mg/kg thức ăn)
NT1* NT2 NT3 NT4 NT5 NT6 NT7
Zn
Se
Mn
Cu
Cr
Fe
20
0,25
2,40
5
60
0,25
2,40
5
20
60
20
60
60
0,25 0,25 0,40 0,40 0,40
2,40 2,40 2,40 2,40 2,40
5
5
5
5
5
0,40
30
30
30
30
30
30
30
*Nhu cầu khoáng vi lượng cho cá da trơn Mỹ (NRC, 2011).
tuổi đến cá giống.
2.2. Thí nghiệm 1: Đánh giá tác dụng của các
loại khoáng hữu cơ và vô cơ trong thức ăn
lên tỉ lệ sống và tăng trưởng cá tra từ cá
bột lên cá giống
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trong giai cước (mắc
lưới 0,8 mm) đặt trong ao ương cá tra có diện
tích 500 m2, độ sâu 2 m. Thí nghiệm có 28 giai
(1 m x 1,5 m x 1,3 m) gồm 7 nghiệm thức, mỗi
nghiệm thức được lặp lại 4 lần và được bố trí theo
hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên. Số lượng cá thí
nghiệm (0,12 g) 500 con/giai, thời gian ương 8
tuần tính từ ngày bố trí thí nghiệm.
Cá tra thí nghiệm được ương trong ao 300 m2
và cho ăn thức ăn tự nhiên và thức ăn công nghiệp
trong vòng 15 ngày tại trại thực nghiệm khoa
Thủy Sản, sau đó chọn những con khỏe mạnh,
không di tật đồng đều về kích cỡ, trọng lượng để
bố trí thí nghiệm (0,12 g).
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm được thiết
kế trên phần mềm Feedlive có hàm lượng protein
40%, béo 6% và được sản xuất trong nhà máy
thức ăn. Thức ăn cơ bản gồm bột cá, bánh dầu
nành, bánh dầu nành lên men, cám gạo, mì lát,
DCP. Thức ăn được sản xuất tại nhà máy thức
ăn Godaco tạo viên nổi. Thức ăn cơ bản này được
xay nhuyễn và bổ sung các vi khoáng vô cơ hay
hữu cơ để tạo ra 7 loại thức ăn khác nhau tại
phòng thí nghiệm khoa Thủy Sản. Thức ăn được
ép viên và tạo ra nhiều cỡ viên: bột mịn, 0,2, 0,4
và 1,0 mm theo kích cỡ cá nuôi thí nghiệm.
Sau 4 tuần nuôi, toàn bộ số cá được chuyển
sang giai có kích thước mắc lưới 2,0 mm (số thứ
tự giai và các nghiệm thức vẫn giữ nguyên như
ban đầu). Thời gian cho ăn 2 lần/ngày, vào lúc
7 giờ và 17 giờ, cho cá ăn thức ăn trên sàng.
Kết thúc thí nghiệm: cân trọng lượng cá, đếm số
con để xác định tỉ lệ sống. Tăng trưởng (SGR và
DWG), tỉ lệ sống (SR) và hệ số thức ăn (FCR)
được tính theo các công thức sau:
Tốc độ tăng trưởng (SGR):
LnW2 − LnW1
SGR =
× 100
%/ngày
Các loại khoáng hữu cơ của công ty Zin-
Pro: Availa-Zn, Availa-Se, Availa-Mn, Availa-
Cu, Availa-Cr và Availa-Fe hũu cơ được sử
dụng để bổ sung kẽm, selen, mangan, đồng,
crôm và sắt hữu cơ. Trong khi khoáng vô
cơ bao gồm sulphate kẽm (ZnSO4.7H2O),
sulphate mangan (MnSO4.H2O), sulphate sắt
(FeSO4.7H2O), sulphate đồng (CuSO4.5H2O) và
Selenate (Na2SeO3.5H2O) sử dụng sản phẩm của
công ty MERS. Các vi khoáng được bổ sung vào
nghiệm sau đó ép viên, sấy khô và bảo quản.
Thức ăn NT1, NT2 sử dụng khoáng vô cơ, trong
khi những thức ăn còn lại sử dụng khoáng hữu
cơ (NT3, NT4, NT5, NT6 và NT7).
T2 − T1
Tăng trọng ngày (DWG):
DWG = (W2 - W1)/T2 - T1 (g/cá/ngày)
Hệ số thức ăn (FCR):
Lượng thức ăn
FCR =
Tăng trọng cá(W2 − W1)
2.3. Thí nghiệm 2: Đánh giá ảnh hưởng của
việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tình trạng
sức khỏe của cá tra giống
Sau khi kết thúc thí nghiệm 1, cá (28 con/bể)
được chọn ngẫu nhiên để tiến hành gây cảm
nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri bằng phương pháp
ngâm (nồng độ vi khuẩn 1,2 x 105 cfu/mL). Thời
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
58
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
gian ngâm là 1 giờ. Sau đó, cá sẽ được chuyển vào khối lượng lần lượt là 11,48
0,55 g, 11,81
bể thí nghiệm và theo dõi trong 14 ngày. Tỷ lệ cá 1,03 g. Tốc độ tăng trưởng của cá sau 8 tuần
chết được kiểm tra 2 lần/ngày.
nuôi được thể hiện qua chỉ tiêu tăng trọng, tăng
trọng hằng ngày và tốc độ tăng trưởng đặc biệt.
Ba chỉ tiêu này cho thấy tốc độ tăng trưởng của
cá ở nghiệm thức sử dụng khoáng hữu cơ cao hơn
3. Kết Quả và Thảo Luận
Kết quả các chỉ tiêu môi trường cho thấy chất so với nghiệm thức sử dụng khoáng vô cơ.
lượng nước nuôi cá trong thời gian thí nghiệm như
sau: DO buổi sáng: 2,0-4,0 mg/L; buổi chiều: 4,0-
6,0 mg/L. Nhiệt dộ nước buổi sáng: 28,0-30,3oC;
buổi chiều: 30,3-32,2oC. pH buổi sáng: 7,2-7,5;
buổi chiều: 7,5-7,8. Hàm lượng ammonia thấp:
0,009-0,03 mg/L. Tất cả các chỉ tiêu chất lượng
nước phù hợp với đặc điểm thích nghi và phát
triển bình thường của cá cá tra.
Hiệu quả sử dụng thức ăn (FCR) của cá thí
nghiệm: FCR của các nghiệm thức từ 1,36 – 1,56.
Các nghiệm thức có bổ sung khoáng hữu cơ có
khuynh hướng thấp hơn so với nghiệm thức bổ
sung khoáng vô cơ. FCR cao nhất ở nghiệm thức
1 (1,56) và thấp nhất ở nghiệm thức 7 (1,36), sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).
Tỉ lệ sống sau 8 tuần nuôi giữa các nghiệm thức
khác nhau có ý nghĩa (P < 0,05). Ở NT1 và NT2
sử dụng khoáng vô cơ có tỉ lệ sống thấp nhất, lần
lượt là 17,25% và 38,60%, cao nhất là NT7 với tỉ
lệ sống là 80,1%.
3.1. Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn thí nghiệm sau khi được ép viên, bảo
quản và phân tích thành phần dinh dưỡng và hàm
Kết quả trên tương tự với nghiên cứu của
Hamre & ctv. (2008), bổ sung Selenium vào thức
ăn giúp cải thiện tỷ lệ sống của cá tuyết Đại Tây
Dương (tỷ lệ sống tăng 32% so với lô đối chứng).
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ sống
của cá được cải thiện đáng kể ở lô bổ sung Se-
lenium 0,4 ppm của nghiệm thức NT5, NT6 và
NT7 so với các nghiệm thức còn lại không bổ
sung Selenium. Nghiên cứu của Mechlaoui & ctv.
(2019) cho thấy bổ sung Selenium hữu cơ dạng
OH-SeMet 0,2 ppm trên cá vược (Sparus aurata)
cho kết quả tăng trưởng tốt hơn và giúp cá chống
lại stress và kháng oxy hóa tế bào cơ tốt hơn lô
đối chứng.
Thành phần dinh dưỡng của 7 loại thức ăn như
protein thô, béo, khoáng và xơ thô theo như bảng
2 thì không khác nhau và như thiết kế ban đầu.
Riêng hàm lượng các vi khoáng có sự khác nhau,
do việc bổ sung các vi khoáng vào thức ăn:
Hàm lượng Fe, Cu và Mn của 7 nghiệm thức
tương đương nhau do cùng bổ sung liều lượng vào
thức ăn như nhau.
Hàm lượng kẽm (Zn) phân tích ở nghiệm thức
NT1 có 52,9 mg/kg Zn cho thấy hàm lượng Zn
trong nguyên liệu thức ăn đã là 32,9 mg/kg Zn.
Các nghiệm thức bổ sung 60 mg/kg Zn như NT2,
NT4, NT6 và NT7 (80-100 mg/kg) có giá trị Zn
trong thức ăn cao hơn các lô bổ sung 20 mg/kg
Zn của NT1, NT3 và NT5 (52-60 mg/kg).
Sự phân đàn cá sau thí nghiệm được trình bày
qua hệ số CV (coefficient of variance) khối lượng
số phân đàn về khối lượng, chiều dài ở nghiệm
thức 7 thấp hơn so với các nghiệm thức còn lại,
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).
Hệ số phân đàn thấp ở nghiệm thức NT7 có thể
liên quan đến tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của
cá.
Hàm lượng Selenium trong các lô bổ sung
khoáng vô cơ hơi thấp hơn thiết kế, trong khi
các lô bổ sung khoáng hữu cơ NT3, NT4, NT5,
NT6 và NT7 đều như thiết kế.
Hàm lượng chromium của nghiệm thức NT7
cao nhất do bổ sung 0,40 mg/kg Chrom.
Như vậy, việc bổ sung các loại khoáng hữu cơ
vào thức ăn có ảnh hưởng nâng cao tỉ lệ sống, tốc
độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của
cá tra từ cá bột lên cá giống.
3.2. Tăng trưởng, FCR và tỉ lệ sống của cá tra
sau 8 tuần thí nghiệm
khối lượng cá giữa các nghiệm thức khác biệt có
ý nghĩa (P < 0,05) ở NT7 và NT1 & NT2, nghiệm
thức 7 có khối lượng lớn nhất là 14,17 0,24 g,
nhỏ nhất là nghiệm thức 2 và nghiệm thức 1 với
3.3. Cảm nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri
Sau khi kết thúc thí nghiệm, cá được gây cảm
nhiễm với vi khuẩn E. ictaluri bằng phương pháp
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
59
Bảng 2. Thành phần dinh dưỡng và hàm lượng các vi khoáng trong 7 thức ăn thí nghiệm
Thành phần dinh dưỡng NT1
NT2
2,98
5,40
3,13
6,72
NT3
4,68
4,86
3,45
6,40
NT4
5,14
5,13
3,58
6,63
NT5
3,98
4,90
3,72
6,58
NT6
3,88
5,16
3,55
6,26
NT7
4,53
5,41
3,12
7,16
Độ ẩm (%)
Béo thô (%)
Xơ thô (%)
Tro (%)
2,79
5,61
3,06
6,33
Protein thô (%)
Khoáng vi lượng
Zn (mg/kg)
Se (mg/kg)
Mn (mg/kg)
Cu (mg/kg)
Cr (mg/kg)
Fe (mg/kg)
38,63 38,09 37,69 37,94 38,64 38,48 38,39
52,9
0,30
88,7
20,4
3,30
441
80,5
0,30
94,6
21,3
3,61
429
68,4
0,56
92,8
20,1
3,25
465
102
0,54
94
20
3,43
435
64,2
0,72
92,1
19,4
3,24
431
102
0,71
92,4
18,5
3,22
422
107
0,70
98,3
19,5
4,52
441
Thành phần dinh dưỡng cơ bản được phân tích tại phòng thí nghiệm công ty Godaco.
Thành phần vi khoáng được phân tích tại trung tâm phân tích thí nghiệm (CASE) theo phương pháp
đo phổ phát xạ Plasma theo tiêu chuẩn TCVN 9588: 2013.
Bảng 3. Kết quả về tăng trưởng, FCR và tỉ lệ sống sau 8 tuần thí nghệm
Nghiệm
DWG56
(g/ngày)
SGR56
(%/ngày)
W56
(g/con)
SR56
(%)
FCR
thức
NT1
NT2
NT3
NT4
NT5
NT6
NT7
11,81ab 1,03 0,21ab 0,018 8,05a 0,16
1,56c 0,10
17,25a 10,67
38,60b 14,57
11,48a 0,55
0,20a 0,010 7,95a 0,18 1,51bc 0,11
12,16ab 1,00 0,21ab 0,018 8,11a 0,22 1,47bc 0,74 41,30bc 27,98
12,16ab 0,56 0,21ab 0,010 8,10a 0,06 1,46abc 0,03 58,85bc 5,71
12,56ab 0,40 0,22ab 0,007 8,17a 0,13 1,46abc 0,03 62,85cd 8,50
12,71b 0,46
14,17c 0,24
0,22b 0,008 8,13a 0,10 1,42ab 0,02
62,35cd 6,80
80,10d 3,07
0,25c 0,004 8,41b 0,10
1,36a 0,06
W56: trọng lượng cá sau 8 tuần nuôi; DWG (Daily weigh gain); SGR (Specific growth rate), FCR (feed conversion rate);
SR (survival rate); W0: trọng lượng cá ban đầu (0,12-0,13 g/cá).
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình
độ lệch chuẩn (n = 4). Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác
nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Duncan test, P < 0,05).
ngâm trong vòng 1 giờ. Tỉ lệ cá chết tích lũy sau Mỹ (khối lượng 10,6 g) với vi khuẩn E. ictaluri
mật độ 2 x 107 cfu/mL trong thời gian 1 giờ, ở
nhiệt độ 24 – 26oC thì tỉ lệ chết tích lũy trong
14 ngày là 66,7%. Trong thí nghiệm này, việc bổ
sung khoáng hữu cơ Se, Zn và Cr giúp giảm tỉ lệ
chết tích lũy trong các nghiệm thức NT5, NT6,
NT7.
ngày thứ 5 sau khi gây cảm nhiễm, tỉ lệ chết tăng
nhanh từ ngày ngày thứ 6 đến ngày thứ 10. Cá
bắt đầu ngừng chết vào ngày thứ 12 ở tất cả các
nghiệm thức. Kết quả tỉ lệ chết tích lũy (Bảng
5) giữa các nghiệm thức khác nhau có ý nghĩa
Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của Se-
(67,86%), thấp nhất là NT7 (34,82%).
ctv. (2009), khi cho cá ăn thức ăn bổ sung sele-
nium với các hàm lượng 0; 2; 4; 8 mg Se/kg thức
ăn trong 10 tuần đã cải thiện tỷ lệ sống, tốc độ
tăng trưởng và khả năng miễn dịch. Bên cạnh đó,
Sritunyalucksana & ctv. (2011) đã chứng minh
với hàm lượng 0,3 g Se hữu cơ /kg thức ăn giúp
cải thiện tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và khả
năng chống chịu với virus gây hội chứng Taura
trên tôm thẻ chân trắng Penaeus vannamei. Như
vậy, Se hữu cơ có vai trò trong việc kích thích hệ
miễn dịch ở động vật thủy sản.
Nghiệm thức đối chứng âm có tỉ lệ chết là 0%,
đều này chứng tỏ rằng các yếu tố môi trường
(nhiệt độ, pH), thao tác gây cảm nhiễm không
ảnh hưởng đến tỉ lệ chết tích lũy của cá trong thí
nghiệm. Do đó, cá chết trong thí nghiệm là do bị
nhiễm bởi vi khuẩn. Cá chết có những biểu hiện
đặc trưng do vi khuẩn E. ictaluri gây nên như
xuất hiện các đốm trắng trong gan và thận.
Theo Lim & ctv. (1996), khi ngâm cá da trơn
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
60
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Bảng 4. Hệ số phân đàn về khối lượng và chiều dài
Nghiệm thức CV (%) khối lượng CV (%) chiều dài
NT1
NT2
NT3
NT4
NT5
NT6
NT7
34,80c 0,70
34,53c 1,50
34,15c 0,77
34,96c 2,57
31,32b 1,04
32,94bc 1,76
28,04a 1,33
20,94c 3,90
16,86b 2,90
22,70c 1,92
22,39c 1,60
21,32c 1,51
23,50c 2,19
10,24a 1,64
độ lệch chuẩn (n = 4).
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình
Các giá trị trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (Duncan test, P < 0,05).
Hình 1. Tỉ lệ chết tích lũy của cá sau 14 ngày gây cảm nhiễm.
Bảng 5. Tỉ lệ cá chết tích lũy (%) sau 5 ngày, 10 ngày, 14 ngày cảm
nhiễm
Nghiệm thức
NT1
5 ngày
10 ngày
14 ngày
0,89ab 1,79
3,57b 0,00
59,82d 6,10
57,14cd 4,12
67,86c 4,12
61,61bc 6,10
60,71bc 4,12
NT2
NT3
NT4
NT5
NT6
NT7
2,68ab 3,42 57,14cd 6,52
0,89ab 1,79 59,82d 12,84 60,71bc 12,71
0,00a 0,00
45,54bc 6,10
53,57b 10,10
1,79ab 3,57 42,86ab 11,29 50,00b 10,10
2,68ab 1,79
31,25a 6,10
34,82a 3,42
Các giá trị thể hiện trên bảng là số trung bình
độ lệch chuẩn (n = 4). Các giá trị
trên cùng một cột có chữ cái khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Duncan
test, P < 0,05).
Tran & ctv. (2013), đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ sống, thành phần sinh hóa, các chỉ số huyết
ảnh hưởng của Selenium hữu cơ lên tăng trưởng, học và khả năng kháng lại tác nhân gây bệnh
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
61
Vibrio parahaemolyticus trên cá chẽm. Kết quả Hamre, K., Mollan, T. A., Sæle., & Erstad, B. (2008).
Rotifers enriched with iodine and seleniumincrease sur-
vival in Atlantic cod (Gadusmorhua) larvae. Aquacul-
ture 284, 190-195.
thí nghiệm cho thấy Se hữu cơ đã cải thiện tốc
độ tăng trưởng, làm tăng hàm lượng protein thô,
giảm độ ẩm trong cơ thịt cá, tăng số lượng hồng
cầu tổng số và tăng khả năng chống chịu khi tiếp
Lim, C., Kleisius, P. H., & Ducan, P. L. (1996). Immune
respone and resistance of chanel catfish to Edward-
siella ictaluri challenge when fed various dietary levels
of zin methionine and zinsufate. Journal of Aquatic
xúc với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus ở mật
độ 106 cfu/mL. Gần đây nhất là nghiên cứu của
Sang & ctv. (2015), kết quả nghiên cứu trên cá
Trachinotus blochi cho thấy, tỷ lệ sống, tốc độ
tăng trưởng, protein trong cơ và lipid trong gan
ở các lô có bổ sung Se hữu cơ cao hơn so với lô
đối chứng (P < 0,05).
Animal Health 8(4), 302-307.
Mechlaoui, M., Dominguez, D., Robaina, L., Geraert, P.,
Kaushik, S., Saleh, R., Briens, M., Montero, D., &
Izquierdo, M. (2019). Effects of different dietary se-
lenium sources on growth performance, liverand mus-
cle composition, antioxidant status, stress response
and expression of related genes in gilthead seabream
(Sparus aurata). Aquaculture 507, 251-259.
Nghiên cứu của Ahmed (2012) trên cá chép cho
thấy, thức ăn chứa nhiều carbohydrates sẽ làm
gia tăng hàm lượng glucose trong máu cá và việc
bổ sung Crom hữu cơ giúp ổn định glucose trong
máu cá dẫn đến cá tăng trưởng tốt hơn, tỉ lệ sống
cải thiện so với đối chứng. Trong thí nghiệm, NT7
bổ sung Crom (Cr) hữu cơ cải thiện tăng trưởng
và tỉ lệ sống của cá, cũng như gia tăng sức khỏe
của cá khi gây cãm nhiễm. Kết quả này cần nhiều
nghiên cứu tiếp tục để theo dõi và đánh giá tác
dụng của Crom khi bổ sung vào thức ăn.
NRC (National Research Council). (2011). Nutrient re-
quirements of fish and shrimp, animal nutrition se-
ries. Washington, USA: The National Academy Press.
Sang, H. M., Thuy, N. T. T., & Hoang, D. H. (2015).
Effects of dietary organic selenium on growth, survival,
physiological and hematology conditions of snub-nose
dart (Trachinotus blochii Lacepide, 1801). The Israeli
Journal of Aquaculture - Bamidgeh 67.
Sebastien, A., & Rider, E. (2009). Supra-nutritional di-
etary intake of selenite and Selenium yeast in normal
and stressed rainbow trout (Oncorhynchus mykiss):
Implications on Selenium status and health responses.
Aquaculture 295, 282-291.
4. Kết Luận
Khi bổ sung các loại khoáng hữu cơ vào thức
ăn cá tra giai đoạn từ cá bột lên cá giống với liều
dùng: 60 mg/kg Zn; 0,4 mg/kg Se; 0,4 mg/kg Cr;
2,4 mg/kg Mn; 5 mg/kg Cu và 30 mg/kg Fe cho
thấy các chỉ tiêu về tăng trưởng và tỉ lệ sống cao
hơn và FCR thấp hơn so với nghiệm thức sử dụng
khoáng vô cơ. Khi gây cảm nhiễm với vi khuẩn E.
ictaluri thì có tỉ lệ chết tích lũy thấp nhất. Điều
này chứng tỏ rằng việc bổ sung các loại khoáng
hữu cơ vào thức ăn cá tra giai đoạn từ cá bột lên
cá giống giúp cá tăng cường sức đề kháng chống
lại các tác nhân gây bệnh.
Sritunyalucksana, K., Intaraprasong, A., Sanguanrut, P.,
Filer, K., & Fegan, D. F. (2011). Organic selenium sup-
plementation promotes shrimp growth and disease re-
sistance to Taura syndrome virus. Science Asia 37,
24-30.
Tran, D. D., Huynh, S. M., & Le, H. M. (2013). The effect
of organic selenium on growth, survival ratio biochem-
istry composition and immunological capacity of Asian
seabass (Lates calcarifer Bloch 1790). Journal of Trop-
ical Science and Technology 112, 40-50.
Tài Liệu Tham Khảo (References)
Ahmed, A. R. (2012). The effect of dietary chromium(III)
on growth and carbohydrate utilization in mirror
and common carp (Cyprinus carpio) (Doctoral
dissertation). University of Plymouth, Plymouth, UK.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá việc bổ sung khoáng hữu cơ lên tỷ lệ sống và hiệu quả sử dụng thức ăn trong ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_viec_bo_sung_khoang_huu_co_len_ty_le_song_va_hieu_q.pdf

