Nghiên cứu mô phỏng tối ưu tỉ lệ ghép phối, hiệu quả chọn lọc và cận huyết giữa các quần thể cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) chọn giống

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG TỐI ƯU TỈ LỆ GHÉP PHỐI, HIỆU QUẢ  
CHỌN LỌC VÀ CẬN HUYẾT GIỮA CÁC QUẦN THỂ CÁ TRA  
(Pangasianodon hypophthalmus) CHỌN GIỐNG  
Nguyễn Văn Sáng1*, Trịnh Quốc Trọng1, Nguyễn Thanh Vũ1  
TÓM TẮT  
Trên cá tra, chương trình chọn giống với các quần thể ban đầu (G0-2001 và G0-2002 và G0-2003 có  
số lượng gia đình lần lượt là 75, 79 và 101) được sản xuất từ cá bố mẹ thuộc 4 trại sản xuất giống ở  
Đồng bằng sông Cửu Long. Chọn giống đã được tiến hành qua 3 thế hệ. Mục tiêu của báo cáo là xác  
định tỉ lệ tối ưu ghép phối nội bộ và ghép phối chéo 3 quần thể (year-class) cá tra bố mẹ G2-2002,  
G2-2003 và G3-2001 để thành lập một quần thể chọn giống duy nhất G3 cho chọn giống dài hạn  
theo tính trạng tăng trưởng, ngoài ra cũng xác định tỉ lệ tối ưu ghép phối của quần thể G3 và quần  
thể mới thành thục G3-2002. Khi tỉ lệ đóng góp của quần thể G3-2001 dao động từ 38,5 đến 50%  
thì khối lượng, EBV và tỉ lệ cận huyết của quần thể tích hợp G3 không khác biệt lớn. Khi tỉ lệ đóng  
góp của quần thể G3-2001 là 40% thì tỉ lệ cận huyết là thấp nhất (0,041 – 0,043). Quần thể đã được  
chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn thì nên có tỉ lệ đóng góp lớn hơn. Khuyến cáo sử dụng tỉ lệ đóng góp  
G3-2001 (40%), G2-2002 (35%) và G2-2003 (25%) cho việc tích hợp tạo quần thể G3, nhằm đảm  
bảo sự đóng góp các quần thể không quá chênh lệch. Khi tích hợp quần thể G3-2002 vào G3 thì tỉ lệ  
đóng góp không tạo nên khác biệt lớn. Khuyến cáo tỉ lệ tích hợp của G3-2002 là 5 – 10%.  
Từ khóa: cá tra, mô phỏng, khối lượng, EBV, tỉ lệ cận huyết.  
I. GIỚI THIỆU  
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là  
ưu ghép phối nội bộ và ghép phối chéo giữa các  
quần thể cá tra bố mẹ G2-2002, G2-2003 và G3-  
2001 bằng nghiên cứu mô phỏng sử dụng phần  
mềm QMSim (Sargolzaei và Schenkel, 2013) để  
thành lập một quần thể chọn giống duy nhất (G3)  
theo tính trạng tăng trưởng. Ngoài ra nghiên cứu  
cũng xác định tỉ lệ tối ưu ghép phối của quần thể  
G3 và quần thể mới thành thục G3-2002.  
loài cá nuôi nước ngọt quan trọng. Tính đến hết  
năm 2017, diện tích nuôi cá tra đạt 6.078 hécta  
với sản lượng 1,26 triệu tấn, và kim ngạch xuất  
khẩu (tới 142 quốc gia và vùng lãnh thổ) đạt  
1,78 tỷ đô la Mỹ (VASEP, 2018). Chương trình  
chọn giống cá tra đã được thực hiện từ năm 2001  
với 3 quần thể chọn lọc song song (Van Sang và  
ctv., 2007). Tính đến năm 2014, việc chọc lọc  
đã được thực hiện qua 2–3 thế hệ. Việc duy trì  
nhiều quần thể chọn lọc gây ra nhiều khó khăn  
cho công tác quản lý và chi phí thực hiện. Việc  
hợp nhất các quần thể hiện tại là cần thiết nếu  
đảm bảo được các mục tiêu của chương trình  
chọn giống như duy trì hệ số cận huyết, tích lũy  
di truyền để phục vụ cho chọn lọc dài hạn. Do  
đó, mục tiêu của báo cáo là xác định tỉ lệ tối  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Các quần thể chọn giống thực tế  
Các quần thể ban đầu G0-2001, G0-2002 và  
G0-2003 với số lượng gia đình lần lượt là 75, 79  
và 101 được sản xuất từ cá bố mẹ thuộc 4 trại sản  
xuất giống ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với  
quần thể 2001, đã chọn giống qua 3 thế hệ bao  
gồm G1-2001, G2-2001 và G3-2001. Quần thể  
2002 cũng đã được chọn lọc qua 3 thế hệ tương  
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II  
* Email: [email protected]  
3
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ứng là G1-2002, G2-2002 và G3-2002. Riêng giống tiếp theo G2-2002, G2-2003 và G3-2001.  
quần thể 2003, do được thành lập muộn nhất nên  
mới chỉ chọn lọc qua 2 thế hệ G1-2003 và G2-  
2003. Nghiên cứu này có 2 bước. Bước 1, tích  
hợp 3 quần thể G3-2001, G2-2002 và G2-2003  
thành 1 quần thể chọn giống G3 duy nhất. Bước  
2, tích hợp quần thể G3-2002 vào quần thể G3.  
Tính trạng chọn lọc được mô phỏng là  
tăng trưởng và xác định bằng khối lượng thu  
hoạch. Tính trạng tăng trưởng có hệ số di truyền  
được đặt ở mức 0,42 và phương sai kiểu hình  
là 66.906 g (số liệu thực tế dựa trên các thế hệ  
chọn lọc từ 2001). Quần thể ban đầu được mô  
phỏng qua 2 thế hệ với số lượng cá thể là 20.000  
cá thể trong thế hệ đầu tiên (G0) và 17.432 trong  
thế hệ tiếp theo (G1), với giả định là ghép phối  
được tiến hành ngẫu nhiên. Ba quần thể thành  
phần là G2-2002, G2-2003 và G3-2001 với chi  
tiết như sau. Quần thể G3-2001 được chọn lọc  
trước đó qua 3 thế hệ, có số lượng cá chọn lọc  
(những cá thể có giá trị chọn giống cao nhất)  
là 110 đực và 167 cá cái, số lượng cá con được  
chọn để nuôi tăng trưởng là 63 (với giả định tỉ  
lệ cá đực:cái = 1:1) cho mỗi gia đình. Quần thể  
G2-2002 được chọn lọc trước đó qua 2 thế hệ,  
bao gồm 108 cá đực và 183 cá cái chọn lọc, số  
lượng cá con/gia đình là 52 (tỉ lệ đực:cái = 1:1).  
Quần thể G2-2003 được chọn lọc trước đó qua  
2 thế hệ, bao gồm 131 cá đực và 175 cá cái chọn  
lọc, 60 cá con/gia đình (tỉ lệ đực:cái = 1:1). Giá  
trị chọn giống được ước tính bằng BLUP (Best  
Linear Unbiased Prediction). Ghép phối được  
thực hiện dựa trên giá trị chọn giống (Estimated  
Breeding Value, EBV) của từng cá thể, tức là,  
cá thể đực có EBV cao được ghép phối với cá  
thể cái cũng có EBV cao, và ngược lại. Phả hệ,  
giá trị kiểu hình (=khối lượng thu hoạch), giá trị  
chọn giống được ghi nhận và ước tính cho từng  
thế hệ/quần thể.  
2.2. Phần mềm QMSim  
Mô phỏng được thực hiện bằng phần mềm  
QMSim (Sargolzaei và Schenkel, 2013). QMSim  
là một phần mềm chuyên biệt để mô phỏng các  
quần thể động vật từ mức độ di truyền đến mức  
độ phân tử và chức năng mô phỏng các quần thể  
ban đầu (historical populations). Mức độ phân  
tử bao gồm khả năng định hình các nhiễm sắc  
thể với QTL (Quantitative Trait Loci) và bản đồ  
của các chỉ thị (marker maps). Tuy nhiên trong  
nghiên cứu này thì QMSim chỉ được dùng để mô  
phỏng các quần thể bao gồm các cá thể được sắp  
xếp theo cấu trúc định sẵn, trong đó từng cá thể  
có kiểu hình và giá trị chọn giống.  
QMSim được thiết kế để mô phỏng các  
quần thể lớn, nhiều thế hệ, và có phả hệ phức  
tạp. Quy trình mô phỏng của QMSim có hai  
bước chính. Đầu tiên, một quần thể ban đầu  
được mô phỏng. Tiếp theo, cấu trúc các quần  
thể của các thế hệ tiếp theo cho đến thế hệ hiện  
tại được mô phỏng. Trong quá trình mô phỏng  
của các quần thể, QMSim cho phép nhiều tùy  
chọn phục vụ cho chọn giống. Chương trình vận  
hành khá hiệu quả về thời gian tính toán và yêu  
cầu về bộ nhớ trong của máy tính.  
2.3. Mô phỏng sử dụng QMSim  
Cho việc thành lập quần thể G3, số lượng  
và tỉ lệ đóng góp của các quần thể được mô  
phỏng theo 14 phương án (Bảng 2). Số lượng  
cá con là 75/gia đình, chọn lọc qua 5 thế hệ. Giá  
trị chọn giống được ước tính bằng BLUP. Ghép  
phối được thực hiện theo thứ tự EBV, tức là,  
cá thể đực có EBV cao được ghép phối với cá  
thể cái cũng có EBV cao theo thứ tự từ cao đến  
thấp. Phả hệ, giá trị kiểu hình, giá trị chọn giống  
được ghi nhận và ước tính cho từng thế hệ. Các  
thông số chung bao gồm hệ số di truyền là 0,42  
và phương sai kiểu hình là 66.906 g. Tất cả các  
phương án mô phỏng được chạy 50 lần.  
2.3.1. Mô phỏng nhập 3 quần thể G3-  
2001, G2-2002 và G2-2003 thành một quần  
thể G3 duy nhất  
Trong nghiên cứu này, các quần thể cá tra  
thành phần và quần thể tổng hợp (gộp chung)  
được mô phỏng bằng phần mềm QMSim  
(Sargolzaei và Schenkel, 2013). Tuy nhiên, các  
thông số đầu vào như hệ số di truyền, phương  
sai kiểu hình, số lượng cá thể chọn lọc, số lượng  
cá con của từng cá mẹ/gia đình được ước tính  
từ 4 quần thể chọn giống thực tế. Bốn quần thể  
này là quần thể ban đầu G0 và 3 quần thể chọn  
4
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 1. Tỉ lệ đóng góp của 3 quần thể thành phần G2-2002, G2-2003 và G3-2001 cho quần thể  
G3 theo 14 phương án khác nhau với số cá thể chọn lọc là 70 cá đực và 140 cá cái.  
Phương án  
Tỉ lệ đóng góp (%)  
G3-2001  
G2-2003  
G2-2002  
1
2
15,0  
15,0  
25,0  
25,0  
33,3  
35,0  
35,0  
37,5  
38,5  
40,0  
40,0  
40,0  
50,0  
70,0  
15,0  
70,0  
25,0  
50,0  
33,3  
25,0  
40,0  
25,0  
28,5  
25,0  
30,0  
35,0  
25,0  
15,0  
70,0  
15,0  
25,0  
25,0  
33,3  
40,0  
25,0  
37,5  
33,5  
35,0  
30,0  
25,0  
25,0  
15,0  
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
đó, trung bình của 50 lần lặp lại được tính cùng với  
độ lệch chuẩn và sai số chuẩn cho từng phương án.  
Chọn lọc dựa trên giá trị chọn giống do QMSim  
cung cấp. Các kết quả so sánh bao gồm trung bình  
giá trị kiểu hình, giá trị chọn giống, hiệu quả chọn  
lọc và hệ số cận huyết sau 2 thề hệ chọn lọc được  
sử dụng để so sánh hiệu quả của 6 phương án tích  
hợp để thành lập quần thể G3.  
2.3.2. Mô phỏng tích hợp quần thể G3-  
2002 vào quần thể G3  
Tiếp theo, mô phỏng việc tích hợp quần thể  
G3-2002 vào quần thể G3. Các thông số đầu  
vào tương tự như khi thành lập G3 từ 3 quần thể  
G3-2001, G2-2002 và G2-2003 nêu trên. Hệ số  
di truyền được đặt ở mức 0,45.  
Bảng 2. Tỉ lệ đóng góp của hai quần thể G3  
và G3-2002 cho quần thể mới.  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Tích hợp 3 quần thể G3-2001, G2-  
2002 và G2-2003 tạo thành quần thể G3  
Phương án  
Tỉ lệ đóng góp (%)  
Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống  
và hệ số cận huyết của 8 phương án tích hợp  
3 quần thể G3-2001, G2-2002 và G2-2003 tạo  
thành quần thể G3 được trình bày trong Bảng  
3. Trung bình khối lượng và giá trị chọn giống  
(EBV) tăng đều và khá nhanh khi tỉ lệ đóng góp  
của G3-2001 tăng từ 15,0 đến 37,5%, và khá ổn  
định khi đạt 40% (bất kể đóng góp của G2-2002  
và G2-2003 có thay đổi chăng nữa). Khi tỉ lệ của  
G3-2001 tiếp tục tăng thì khối lượng và EBV  
có tăng so với các phương án trước đó, nhưng  
tương đương giữa 2 tỉ lệ 50 và 70% (Bảng 3).  
G3  
G3-2002  
1
2
3
4
5
60  
80  
85  
90  
95  
40  
20  
15  
10  
05  
2.3.3. Chỉ tiêu so sánh  
Mô phỏng sử dụng QMSim được lặp lại 50  
lần. Trong mỗi lần lặp lại, trung bình của giá trị  
chọn giống được tính toán cho từng quần thể. Sau  
5
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 3. Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống và hệ số cận huyết của 14 phương án tích  
hợp 3 quần thể G3-2001, G2-2002 và G2-2003 tạo thành quần thể G3.  
Phương án Tỉ lệ đóng góp (G3- Khối lượng (g)  
Giá trị chọn giống  
(EBV) (g)  
Hệ số cận huyết  
2001 : G2-2002 :  
G2-2003)  
1
2
15,0 : 15,0 : 70,0  
15,0 : 70,0 : 15,0  
25,0 : 25,0 : 50,0  
25,0 : 50,0 : 25,0  
33,3 : 33,3 : 33,3  
35,0 : 25,0 : 40,0  
35,0 : 40,0 : 25,0  
37,5 : 25,0 : 37,5  
38,5 : 28,5 : 33,5  
40,0 : 25,0 : 35,0  
40,0 : 30,0 : 30,0  
40,0 : 35,0 : 25,0  
50,0 : 25,0 : 25,0  
70,0 : 15,0 : 15,0  
1006,0 ± 6,6  
1003,8 ± 5,8  
1038,2 ± 5,3  
1032,4 ± 5,7  
1062,3 ± 6,4  
1070,5 ± 5,4  
1059,0 ± 5,4  
1068,9 ± 5,7  
1062,7 ± 5,0  
1073,8 ± 5,0  
1067,3 ± 5,5  
1079,4 ± 5,4  
1096,6 ± 5,5  
1107,6 ± 5,3  
1004,6 ± 6,6  
1002,4 ± 5,8  
1036,7 ± 5,3  
1030,8 ± 5,7  
1060,7 ± 6,4  
1068,9 ± 5,4  
1057,3 ± 5,4  
1067,0 ± 5,7  
1060,9 ± 5,1  
1072,2 ± 5,0  
1065,6 ± 5,8  
1077,7 ± 5,4  
1094,8 ± 5,6  
1105,7 ± 5,3  
0,054 ± 0,003  
0,052 ± 0,002  
0,050 ± 0,002  
0,050 ± 0,002  
0,050 ± 0,002  
0,049 ± 0,002  
0,046 ± 0,002  
0,045 ± 0,003  
0,041 ± 0,002  
0,041 ± 0,002  
0,043 ± 0,002  
0,042 ± 0,002  
0,043 ± 0,002  
0,038 ± 0,002  
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
14  
Giá trị = trung bình của 50 lượt chạy mô phỏng ± sai số chuẩn.  
3.2. Tích hợp quần thể G3-2002 vào quần  
thể G3  
Ngược lại với xu hướng của khối lượng và  
EBV, hệ số cận huyết có xu hướng giảm khá đều  
đặn (0,54 – 0,45) khi tỉ lệ đóng góp của G3-2001  
tăng (15,0 – 37,5). Khi tỉ lệ đóng góp của G3-  
2001 là từ 38,5% vào cao hơn thì hệ số cận huyết  
trở nên ổn định (0,41 – 0,43), ngoại trừ có giảm  
khi G3-2001 đóng góp 70% (0,38) (Bảng 3).  
Đáng chú ý là khi tích hợp quần thể G3-2002  
vào quần thể G3 thì trung bình khối lượng, EBV  
và hệ số cận huyết (0,42) gần như ổn định sau 2  
thế hệ chọn lọc (Bảng 4). Do quần thể G3 đã bao  
gồm thế hệ bố mẹ (G2-2002) của G3-2002, nên  
tỉ lệ ghép của G3-2002 không cần quá cao. Quần  
thể G3 nên là đóng góp chính với tỉ lệ 90 – 95%.  
Bảng 4. Trung bình khối lượng, giá trị chọn giống và hệ số cận huyết của 5 phương án tích hợp  
quần thể G3-2002 vào G3.  
Phương án  
Tỉ lệ đóng góp  
(G3 : G3-2002)  
Khối lượng (g)  
Giá trị chọn giống Hệ số cận huyết  
(EBV) (g)  
1
2
3
4
5
60 : 40  
80 : 20  
85 : 15  
90 : 10  
95 : 05  
790,0 ± 4,7  
792,5 ± 5,2  
785,0 ± 5,7  
793,5 ± 5,1  
788,8 ± 3,9  
788,6 ± 4,7  
791,3 ± 5,2  
783,8 ± 5,7  
792,1 ± 5,2  
787,5 ± 3,9  
0,047 ± 0,002  
0,047 ± 0,002  
0,047 ± 0,003  
0,046 ± 0,002  
0,045 ± 0,002  
Giá trị = trung bình của 50 lượt chạy mô phỏng ± sai số chuẩn.  
6
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
IV. THẢO LUẬN  
phương án 13 và 14) thì khối lượng và EBV  
tăng trong khi cận huyết lại giảm nhẹ (0,38 –  
0,43) (Bảng 3). Một kết quả đáng lưu ý khác là  
khi tăng tỉ lệ đóng góp của 2 quần thể đã chọn  
lọc qua 2 thế hệ (G2-2002 và G2-2003) lên đến  
70% (phương án 1 và 2) thì khối lượng và EBV  
là thấp nhất, và thấp hơn hẳn so với phương án  
quần thể đã chọn lọc qua 3 thế hệ G3-2001 có tỉ  
lệ đóng góp 70% (Phương án 14) (Bảng 3). Xu  
hướng tương tự cũng đúng cho hệ số cận huyết  
(phương án 1 và 2 có hệ số cận huyết cao hơn  
phương án 13 và 14), dĩ nhiên với chiều hướng  
ngược lại (cận huyết cao thì không tốt) (Bảng  
3). Điều này cho phép nhận định rằng quần thể  
đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn thì nên  
có tỉ lệ đóng góp lớn hơn. Nhận định này phù  
hợp với đặc điểm chung của chọn giống là qua  
nhiều thế hệ thì hiệu quả và độ chính xác của  
chọn lọc sẽ gia tăng (Gjedrem, 2005).  
Phương pháp tiến tiến nhất để ước tính giá  
trị chọn giống là BLUP (Best Linear Unbiased  
Prediction) (Henderson, 1984). Phương pháp  
BLUP sử dụng thông tin của cá thể và họ hàng,  
do đó gia tăng độ chính xác của EBV. Chọn lọc  
dựa trên EBV (tức là chọn những cá thể có EBV  
cao nhất trong quần thể) là phương pháp chuẩn  
trong chọn giống hiện nay. Chọn lọc theo EBV  
đem lại hiệu quả cao nhưng cũng gia tăng tỉ lệ  
cận huyết, vì rằng có sự tương quan cao giữa  
các EBV trong cùng một gia đình khiến cho  
những cá thể chọn lọc xuất xứ từ một số ít gia  
đình (Wray và Thompson, 1990). Trong nghiên  
cứu này, vì các thông số đầu vào (dựa trên kết  
quả chọn lọc thực tế) là chọn lọc và ghép phối  
đều dựa trên EBV nên khối lượng và EBV đều  
tăng nhanh qua các thế hệ. Ngoài ra, do hệ số di  
truyền đầu vào ở mức khá cao (0,42) nên EBV  
cũng cao tương ứng, do EBV cá thể tăng khi hệ  
số di truyền tăng (Henderson, 1984). Tuy nhiên,  
tỉ lệ cận huyết cũng tăng nhanh (4,4 – 5,1%).  
Tỉ lệ cận huyết này nằm trong mức được báo  
cáo trong chương trình chọn giống cá hồi coho  
(Oncorhynchus kisutch) tại Chilê (3 – 13%/thế  
hệ) (Yáñez và ctv., 2014). Lưu ý rằng mức độ  
này cao hơn so với mức khuyến cáo lý thuyết  
1,0% (Bijma, 2000) trong chọn giống động vật.  
Mô phỏng một chương trình chọn giống là  
một công việc phức tạp. Các thông số di truyền,  
số lượng cá bố mẹ chọn lọc, số lượng cá con/  
gia đình có thể (và thường) thay đổi qua từng  
thế hệ, khác nhau giữa các quần thể (year-class).  
Các thông số đầu vào trong phần mềm QMSim  
bao gồm hệ số di truyền chung (cho tất cả các  
quần thể và thế hệ), số lượng cá bố mẹ chọn lọc  
của từng quần thể, số lượng cá con của từng gia  
đình, phương pháp chọn lọc và ghép phối. Tất  
cả các thông số này là cố định cho tất cả các  
thế hệ (không có tùy chọn liệt kê riêng rẽ cho  
từng thế hệ) của 3 quần thể G3-2001, G2-2002  
và G2-2003. Do đó, kết quả của mô phỏng nên  
được kiểm chứng với số liệu thực tế của những  
thế hệ chọn giống sau này.  
Nhìn chung, khi tỉ lệ đóng góp của các quần  
thể dao động quanh 33% (tức là mức độ đóng  
góp của ba quần thể là tương đương nhau và  
=1/3) thì khối lượng, EBV và tỉ lệ cận huyết  
không khác nhau nhiều. Có thể nhận thấy xu  
hướng là khi tỉ lệ đóng góp của quần thể G3-  
2001 (được chọn lọc qua nhiều thế hệ hơn, do  
đó có phả hệ “sâu” hơn) cao nhất (40%) thì tỉ lệ  
cận huyết là thấp nhất (0,041 – 0,044 hoặc 4,1  
– 4,4%). Trong bất kỳ chương trình chọn giống  
nào thì điều tối quan trọng là phải duy trì tỉ lệ  
cận huyết ở mức chấp nhận được (Sonesson và  
ctv., 2005), vì cận huyết có ảnh hưởng tiêu cực  
trực tiếp đến các tính trạng tăng trưởng, sinh sản  
và sức sống (Falconer và Mackay, 1996).  
V. KẾT LUẬN  
Khi tỉ lệ đóng góp của quần thể G3-2001 dao  
động từ 38,5 đến 50% thì khối lượng, EBV và  
tỉ lệ cận huyết của quần thể tích hợp G3 không  
khác biệt lớn. Khi tỉ lệ đóng góp của quần thể  
G3-2001 là 40% thì tỉ lệ cận huyết là thấp nhất  
(0,041 – 0,043). Quần thể đã được chọn lọc qua  
nhiều thế hệ hơn thì nên có tỉ lệ đóng góp lớn  
Điểm thú vị là khi tăng tỉ lệ đóng góp của hơn. Khuyến cáo sử dụng tỉ lệ đóng góp G3-2001  
quần thể G3-2001 (lên đến 50% hoặc 70%, (40%), G2-2002 (35%) và G2-2003 (25%) cho  
7
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Falconer, D. S. and T. F. C. Mackay (1996).  
việc tích hợp tạo quần thể G3, nhằm đảm bảo  
sự đóng góp các quần thể không quá chênh lệch.  
Khi tích hợp quần thể G3-2002 vào G3 thì tỉ lệ  
đóng góp không tạo nên khác biệt lớn. Khuyến  
cáo tỉ lệ tích hợp của G3-2002 là 5 – 10%.  
Introduction to quantitative genetics. Harlow,  
Longman.  
Gjedrem, T. (2005). Selection and breeding programs  
in aquaculture, Springer.  
Henderson, C. R. (1984). Applications of Linear  
Models in Animal Breeding University of  
Guelph, Guelph, Canada.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
Sargolzaei, M. and F. Schenkel (2013). “QMSim  
User’s Guide Version 1.10.” Centre for Genetic  
Improvement of Livestock, Department of  
Animal and Poultry Science, University of  
Guelph, Guelph, Canada.  
Phạm Đình Khôi, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn  
Sáng, Nguyễn Thanh Vũ, Nguyễn Quyết Tâm,  
N.H.N., Lê Hồng Phước, Nguyễn Thị Hiền,  
Nguyễn Diễm Thư, Hà Thị Ngọc Nga, 2010.  
Bước đầu đánh giá một số thông số di truyền làm  
cơ sở cho chọn giống kháng bệnh gan thận mủ.  
Báo cáo tổng kết tóm tắt. 10 trang.  
Sonesson, A. K., et al. (2005). Kinship, relationship  
and inbreeding. Selection and breeding programs  
in aquaculture. T. Gjedrem. P.O. Box 17, 3300  
AA Dordrecht, The Netherlands, Springer: 364.  
Nguyễn Văn Sáng, Phạm Văn Khánh, Phạm Đình  
Khôi, Phan Thanh Lâm, Nguyễn Quyết Tâm,  
Đặng Minh Phương, Nguyễn Thị Đang, Trần  
Anh Dũng, Nguyễn Văn Ngô, 2010. Báo cáo  
tổng kết đề tài ‘Đánh giá hiện trạng sản xuất  
giống và xây dựng các giải pháp quản lý nhằm  
nâng cao chất lượng giống cá tra ở Đồng bằng  
sông Cửu Long’. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng  
Thủy sản II, 105 trang.  
Van Sang, N., et al. (2007). “Selective breeding  
for growth and fillet yield of river catfish  
Pangasianodon hypophthalmus in the Mekong  
Delta, Vietnam.” Aquaculture Asia 12(2): 26.  
VASEP (2018). “VIETNAM ASSOCIATION OF  
SEAFOOD EXPORTERS AND PRODUCERS  
(VASEP).  
seafood/51_12505/vietnam-pangasius-exports-  
in-2017-totaled-us178-billion.htm”.  
Trịnh Quốc Trọng, Nguyễn Thanh Vũ, Ngô Hồng  
Ngân, Nguyễn Huỳnh Duy, Nguyễn Thị Đang,  
Trần Hữu Phúc, Phạm Đăng Khoa, 2016. Chọn  
giống cá tra kháng bệnh gan thận mủ. Báo cáo  
tổng kết đề tài trọng điểm cấp Nhà nước thuộc  
Chương trình KC06, Bộ Khoa học Công nghệ.  
Wray, N. R. and R. Thompson (1990). “Prediction  
of rates of inbreeding in selected populations.”  
Genetical Research 55(1): 41-54.  
Yáñez, J. M., et al. (2014). “Inbreeding and effective  
population size in a coho salmon (Oncorhynchus  
kisutch) breeding nucleus in Chile.” Aquaculture  
420–421, Supplement 1: S15-S19.  
Tài liệu tiếng Anh  
Bijma, P. (2000). Long-term Genetic Contributions.  
Prediction of Rates of Inbreeding and Genetic  
Gain in Selected Populations, Wageningen  
University. PhD Dissertation.  
8
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
USING SIMULATION TO OPTIMISE MATING PROPORTION,  
SELECTION RESPONSE AND INBREEDING COEFFICIENCY  
BETWEEN MULTIPLE RECENT TRA CATFISH (Pangasianodon  
hypophthalmus) YEAR-CLASSES  
Nguyen Van Sang1*, Trinh Quoc Trong1, Nguyen Thanh Vu1  
ABSTRACT  
On Tra catfish, selective breeding program initiated with three base populations (G0-2001, G0-2002  
and G0-2003 with number of according families were 75, 79 and 101) which were produced from  
brooders of four hatcheries in Mekong Delta. We have reached three generations of selection. The  
aim of this study was to dertemine internal and external mating proportion (number of brooder  
use in each year-class) between multiple recent year-classes (G2-2002, G2-2003 and G3-2001)  
to establish a unique population and use this to merge with the most recent year-class (G3-2002)  
which was yet enough maturation to participate the former. While mating percentage of year-class  
G3-2001 ranged 38.5 – 50.0%, the differences between merge populations regarded the weight,  
EBV and inbreeding coefficient were insignificant. Mating proportion of G3-2001 of 40% gave  
lowest inbreeding values (0.041 – 0.043). Year-classes which undertaking longer selection should  
be contributed more. Our results proposed mating porportions were followed by G3-2001 (40%),  
G2-2002 (35%) và G2-2003 (25%). The percentage of G3-2002 was small (5 – 10%) for subsequent  
nesting to merged population according to its minor contribution.  
Keywords: Tra catfish, simulation, weight, EBV, inbreeding coefficent  
Người phản biện: ThS. Trần Hữu Phúc  
Ngày nhận bài: 20/6/2018  
Ngày thông qua phản biện: 30/6/2018  
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018  
1 Research Institute for Aquaculture No.2  
* Email: [email protected]  
9
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
pdf 7 trang yennguyen 18580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mô phỏng tối ưu tỉ lệ ghép phối, hiệu quả chọn lọc và cận huyết giữa các quần thể cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) chọn giống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_mo_phong_toi_uu_ti_le_ghep_phoi_hieu_qua_chon_loc.pdf