Khảo sát biến động chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn nuôi cá lóc (Channa striata)
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
KHẢO SÁT BIẾN ĐỘNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC
TRONG HỆ THỐNG TUẦN HOÀN NUÔI CÁ LÓC (Channa striata)
Phan Thị Thanh Vân1
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 15/08/2019
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
02/10/2019
Ngày chấp nhận đăng:
01/2021
ABSTRACT
"Study on the variation in the water quality regarding to the recirculating
aquaculture system on snakehead fish (Channa striata)" was arranged by 2
treatments, 3 replications. Treatment 1, the fish was fed in a recirculating
culture system and the treatment 2, the fish was fed in composite tank.
Density fingerling is 40 ind.100L. The experiment was conducted for 10
weeks. The results indicated that temperature, alkalinity, pH, TAN, NO2-,
NO3- and TSS, in both treatments are within the suitable range for the
growth of snakehead. SGRW and FCR in treatment 1 were higher than
treatment 2 and difference was statistically significant (P <0.05).
Title:
Study on the variation in the
water quality regarding to the
recirculating aquaculture
system on snakehead fish
(Channa striata)
Keywords:
TÓM TẮT
Snakehead fish, Recirculating
aquaculture systems ,
Water quality
“Khảo sát biến động chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn nuôi cá
Lóc” được bố trí bởi 2 NT, 3 lần lặp lại. NT 1, cá được nuôi trong hệ thống
tuần hoàn, thể tích của hệ thống là 260 lít và NT 2, cá được nuôi bằng bể
composite có thể tích 100 lít. Mật độ cá thả nuôi 40 con/100L. Thí nghiệm
được thực hiện trong 10 tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy các thông số:
nhiệt độ, độ kiềm, pH, TAN, NO2-, NO3-, TSS, trong cả 02 NT đều nằm
trong khoảng thích hợp cho sinh trưởng của cá Lóc. Tăng trưởng và hệ số
tiêu tốn thức ăn của cá ở NT 1 cao hơn NT 2 và sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05).
Từ khóa:
Cá Lóc, hệ thống nuôi tuần
hoàn, chất lượng nước
1. GIỚI THIỆU
cao. Trong nuôi cá Lóc, người nuôi thường áp
dụng biện pháp thay nước để loại chất thải ra khỏi
Cá Lóc đồng (Channa striata) là loài cá nước
ngọt có kích thước lớn, thịt ngon và sinh trưởng
nhanh. Trong những năm gần đây, cá Lóc là một
trong những đối tượng nuôi phát triển nhanh ở
vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, đối
với tỉnh An Giang, cá Lóc được chọn là một trong
những đối tượng nằm trong chính sách thúc đẩy
chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản.
hệ thống nuôi. Nhưng cách thay nước này sẽ gây
ra nhiều nguy cơ: việc thải bỏ chất thải không
được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, trong điều
kiện cơ sở hạ tầng của vùng nuôi không được quy
hoạch và đảm bảo, chất thải từ vùng nuôi này sẽ
theo nguồn nước cấp, đi vào các vùng nuôi khác.
Để giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường, hạn chế
tác động đến hệ sinh thái, cần phải tiến hành
nghiên cứu xử lý chất thải. Có như vậy, mới tạo ra
Hiện nay, cá Lóc có thể được nuôi trong ao, bè,
trên bể lót bạt, vèo và mang lại hiệu quả kinh tế
83
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
được mô hình nuôi bền vững và thân thiện với
môi trường.
Cá Lóc dùng thí nghiệm có kích cỡ trung bình 6,8
0,03 g/con được mua từ các trại giống. Cá thí
nghiệm khi mua về sẽ được nuôi dưỡng trong bể
composite và tập cho ăn thức ăn công nghiệp, sau
đó mới tiến hành đưa vào thí nghiệm. Cá bố trí thí
nghiệm được chọn kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh,
không có dấu hiệu bệnh lý.
Hiện nay, các nước phát triển đã ứng dụng rất
thành công hệ thống nuôi tuần hoàn trong sản xuất
thâm canh trên các đối tượng cá nước ngọt và cá
biển (Martins và cs., 2010; Emmanuelle Roque
d’orbcastel, Jean-Paul Blancheton, Alain Belaud,
2009). Hệ thống này có những ưu điểm là: (i) quy
trình sản xuất dựa hoàn toàn vào nhóm vi sinh vật
tự nhiên nên không sử dụng hóa chất, kháng sinh
vì vậy sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn
thực phẩm thủy sản, (ii) hạn chế được dịch bệnh,
(iii) không thay nước nên không gây ô nhiễm môi
trường, (iv) lượng nước sử dụng trên một đơn vị
sản phẩm thấp.
Thức ăn được sử dụng: thức ăn viên có hàm lượng
đạm 40% ghi trên bao bì.
2.1.2 Nguồn nước dùng cho thí nghiệm: Sử dụng
nguồn nước máy sau khi khử chlorine.
2.2 Thiết kế nghiên cứu
2.2.1 Bố trí thí nghiệm:
Cá được bố trí với mật độ 40 con/100 L, thí
nghiệm có 2 NT (NT), mỗi NT được lặp lại ba
lần.
Để có thể ứng dụng hệ thống tuần hoàn nước
trong nuôi có Lóc thâm canh, việc “Khảo sát biến
động chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn
nuôi cá Lóc (Channa striata)” cần được nghiên
cứu xác định.
NT 1: Nuôi trong 3 hệ thống tuần hoàn độc lập
(260 L/hệ thống). NT 2: Nuôi trong 3 bể
composite (100 L/bể).
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mẫu nghiên cứu
Chế độ cho ăn: Mỗi ngày cá được cho ăn 3 lần
(6h; 12h và 18h), cho ăn theo nhu cầu. Chế độ
thay nước đối với NT 2 theo bảng 1:
2.1.1 Nguồn cá thí nghiệm, thức ăn:
Bảng 1. Chế độ thay nước của NT 2 (có xiphon đáy loại chất thải)
Thời gian (tuần)
Tuần 1 - tuần 4
Tần suất thay nước
Lượng nước thay đổi
2-3 ngày/lần
2 ngày/lần
70%
Tuần 5 - tuần 11
80-90%
2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
Các yếu tố chất lượng nước trong thí nghiệm nuôi cá Lóc
Thu mẫu: mẫu nước được thu định kỳ 1 lần/tuần để phân tích các chỉ tiêu: pH, độ kiềm, TN, TSS, TAN,
-
-
NO2 , NO3 . Nhiệt độ nước được kiểm tra ngày 2 lần (7h và 15h).
Bảng 2. Phương pháp phân tích mẫu
STT Chỉ tiêu
Phương pháp phân tích
Máy đo điện cực YSI.556 (USA)
Máy đo điện cực YSI.556 (USA)
Indo-phenol blue
Nguồn tham khảo
1
2
3
Nhiệt độ
pH
+
N-NH4
Arnol
E
Greenberg, Lenore S.
Clesceri, Andrew D. Eaton., 1995
4
N-NO-2
Salicylate
Salicylate
84
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
5
6
TN
Công phá mẫu Persulfate, Salicylate
Lọc mẫu qua giấy lọc
APHA et al, 1998
Arnol et al, 1995
TSS
NT 2 lấy mẫu nước trước khi thay nước
Các chỉ tiêu theo dõi về tỷ lệ sống và tăng trưởng
Tỉ lệ sống SR (%)= (số cá ngày thu mẫu/số cá thả) × 100
Tốc độ tăng trưởng tương đối (%/ngày) SGRW = 100 × (lnWf – lnWi)/t
Trong đó: t (thời gian thí nghiệm); Wi, (khối lượng đầu); Wf: (khối lượng cuối).
Tổng khối lượng thức ăn ăn vào (g)
Hệ số thức ăn FCR =
Khối lượng cá tăng trọng (g)
2.2.3 Công cụ nghiên cứu
bể lắng 30 lít, bể chứa 60 lít. Tổng thể tích của hệ
thống là 260 lít. Giá thể lọc được dùng trong hệ
thống là Kaldnes có SSA = 800 m2/m3. Tổng diện
tích bề mặt giá thể lọc (SA) của hệ thống lọc là
28,8 m2.
Bể composite loại 100 lít: 03 bể (NT 2)
Hệ thống lọc tuần hoàn chuyển động bao gồm: bể
nuôi 100 lít, bể lọc sinh học 70 lít (có sục khí) và
Hình 1. Giá thể sử dụng trong thí nghiệm
85
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
3
1
2
Hình 2. Hệ thống lọc giá thể chuyển động dùng trong thí nghiệm
(1.Bể nuôi; 2: Bể lắng; 3: Bể chứa; 4: Bể lọc sinh học)
3.1.1 Nhiệt độ :
2.3 Phân tích số liệu
Phần mềm Excel và SPSS vẽ đồ thị và phân tích
số liệu.
Nhiệt độ buổi sáng ở các NT dao động từ
0
28,7±0,02-28,7±0,1 C. Nhiệt độ buổi chiều dao
0
động từ 29,5±0,2-29,5±0,3 C (Bảng 3). Chênh
3. Kết quả và thảo luận
lệch nhiệt độ giữa buổi sáng và buổi chiều không
lớn (khoảng 1 0C)
3.1 Biến động các yếu tố môi trường
Bảng 3. Nhiệt độ trung bình của các NT
Nhiệt độ 0C
Sáng
NT 1
NT 2
28,7±0,2
29,5±0,2
28,7±0,1
29,5±0,3
Chiều
Kết quả nghiên cứu của Pillay (1990) cho rằng,
dần, đến đợt 7 hàm lượng kiềm giảm còn 60,8
mg/L ở NT 1 và 67,1 mg/L ở NT 2, mức thấp
nhất. Sau đó được bón bổ sung bicacbonate natri
(NaHCO3) vào hệ thống, nên đợt 8 độ kiềm của cả
2 NT đã được nâng lên, sau đó giữ mức dao động
ở ngưỡng trên 60 mg/L cho tới cuối đợt. Nguyên
nhân là do vi khuẩn chuyển hóa đạm của hệ thống
hoạt động tốt nên đã làm giảm độ kiềm trong
nước, còn ở NT 2 vi khuẩn chuyển hóa đạm ít
hoạt động nên không làm giảm độ kiềm quá thấp.
0
nhiệt độ thích hợp cho cá Lóc từ 25-35 C và cá
0
Lóc chịu đựng được nhiệt độ từ 15-40 C. Như
vậy, nhiệt độ của các NT trong quá trình thí
nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho sinh
trưởng của cá Lóc.
3.1.2 Độ kiềm
Hình 3 trình bày độ kiềm trung bình của các NT 1
và NT 2. Ở cả 2 NT độ kiềm có xu hướng giảm
86
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
NT1
NT2
110.00
100.00
90.00
80.00
70.00
60.00
50.00
40.00
30.00
20.00
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Đợt
Hình 3. Biến động độ kiềm của các NT
Theo Boyd (1990), hàm lượng kiềm lớn hơn 20
mg CaCO3/L là thích hợp cho ao nuôi nước ngọt
giúp ổn định pH và tăng lượng khoáng và theo
khuyến cáo của Masser P. M, J. Rakocy, và T. M.
Losordo (1992) độ kiềm tổng cộng trong hệ thống
tuần hoàn nên dao động từ 50 -100 mg CaCO3/L
thì hàm lượng kiềm ở nghiên cứu này nằm trong
khoảng thích hợp cho cá sinh trưởng và phát triển.
3.1.3 pH
Giá trị pH của 2 NT dao động từ 7,4 – 8,3 (NT 1),
7,5-8,3 (NT 2). pH có khuynh hướng giảm dần
qua các đợt thu mẫu (Hình 4).
8.4
8.2
8
NT1 NT2
7.8
7.6
7.4
7.2
7
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11
đợt
Hình 4: Biến động pH của các NT
So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng
Khoa (2012), khi nuôi cá lóc trong hệ thống tuần
hoàn, pH biến động từ 6,4 – 8,6 thì kết quả của
nghiên cứu này là hoàn toàn phù hợp. Ở NT 1, vì
trong quá trình hoạt động của hệ thống lọc, vi
khuẩn nitrate hóa sử dụng HCO3 của hệ thống. Do
đó, pH của hệ thống có khuynh hướng giảm. NT
2, pH đợt 1 đạt giá trị 8,3, do nước cấp ban đầu có
bổ sung NaHCO3.. Theo Courtenay và James
(2004), cá Lóc có thể sống trong khoảng pH thấp
4-5 và khoảng thích hợp là 6,5-8,5. Như vậy kết
quả biến động pH của các bể nuôi hoàn toàn thuận
lợi cho sinh trưởng của cá.
3.1.4 Tổng đạm ammonia (TAN)
Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng TAN của
cả 02 NT có khuynh hướng gia tăng theo thời gian
nuôi, tăng nhanh bắt đầu từ tuần thứ 5, do ảnh
hưởng của thức ăn cho cá và sự bài tiết của cá
tăng dần (Hình 5). Hàm lượng trung bình TAN
của NT 1 dao động từ 0,01 – 2,54 mg/L , NT 2
dao động từ 0,05 – 5,04 mg/L.
87
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
NT1
NT2
5.5
5
4.5
4
3.5
3
2.5
2
1.5
1
0.5
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 11
đợt
Hình 5. Biến động TAN của các NT
Hàm lượng TAN trong hệ thống nuôi tuần hoàn
thấp hơn so với hệ thống nuôi trong bể có thay
nước, điều này cho thấy chính hoạt động của vi
khuẩn Nitrosomonas trong hệ thống lọc đã làm ổn
định hàm lượng TAN.
khuẩn chuyển hóa đạm trong hệ thống tuần hoàn
của thí nghiệm hoạt động rất tốt. Ở NT 2, với hàm
lượng TAN dao động 0,5-5,04 mg/L, tương
đương với kết quả công bố của Lam Mỹ Lan và cs
(2009), hàm lượng TAN trong bể nuôi dao động
từ 0,25-5,2 mg/L .
Hàm lượng TAN của NT 1 trong nghiên cứu này
thấp hơn so với kết quả báo cáo của Nguyễn Thị
Hồng Nho (2012), khi nuôi cá tra trong hệ thống
tuần hoàn, hàm lượng TAN dao động từ 0,01 –
4,15 mg/L. Điều này cho thấy, hoạt động của vi
-
3.1.5 Đạm nitrite (N-NO2 )
Hàm lượng nitrite của các NT dao động từ 0,01-
0,27 mg/L. Trung bình ở NT 1 là 0,06±0,02 mg/L,
NT 2 là 0,14±0,09 mg/L.
NT1
NT2
0.4
0.35
0.3
0.25
0.2
0.15
0.1
0.05
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11
Đợt
Hình 6. Biến động NO2- của các NT
Hình 6 cho thấy ở NT 1, 4 đợt thu mẫu đầu, hàm
duy trì thấp hơn 0,5 mg/L. Như vậy, hàm lượng
-
-
lượng N-NO2 có tăng dần nhưng sau đó có
N-NO2 ở các NT, không gây ảnh hưởng đến sinh
khuynh hướng ổn định. Ngược lại, ở NT 2, hàm
trưởng và phát triển của cá.
-
lượng N-NO2 tăng dần và cao hơn nhiều so với
-
3.1.6 Đạm nitrate (N-NO3 )
NT 1, cho đến tuần 9 mới bắt đầu tăng chậm lại.
-
Hàm lượng N-NO3 của 2 NT biến động trong
-
Hàm lượng N-NO2 của NT 2 đạt cao nhất ở tuần
khoảng từ 0,1 - 7,1 mg/L. Mức trung bình ở NT 1:
thứ 9 (0,3 mg/L). Masser và cs. (1992) cho rằng
3,4±1,6 mg/L , NT 2: 4,7±1,2 mg/L.
hàm lượng nitrite trong hệ thống tuần hoàn nên
88
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
9.00
8.00
7.00
6.00
5.00
4.00
3.00
2.00
1.00
.00
NT1
NT2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 11
Đợt
Hình 7. Biến động NO3- của các NT
-
-
Theo Boyd (1990) nồng độ NO3 tối ưu cho sự
đi vào hoạt động ổn định. Riêng hàm lượng NO3
-
phát triển của cá <10 mg/L. Nồng độ NO3 cao
trong NT 2 có xu hướng tăng dần theo thời gian
nuôi (Hình 7), hiện tượng này có liên quan rất lớn
đến tích lũy vật chất dinh dưỡng. Trong suốt quá
nhất ở 2 NT là 7,2 mg/L nên không ảnh hưởng
đến sinh trưởng của cá nuôi.
-
trình nuôi giá trị N-NO3 có xu hướng tăng dần về
Theo Herbert (1999) thì các hợp chất gây độc cho
cuối đợt ở cả 2 NT nhưng NT 2 luôn cao hơn NT
1, do lượng vật chất hữu cơ tích lũy dần và ngày
càng nhiều trong bể nuôi.
-
các đối tượng thủy sản như NH3 và NO2 sẽ được
-
chuyển sang dạng không độc NO3 nhờ vào quá
trình nitrate hóa được thực hiện bởi các vi khuẩn
-
nitrate hóa. Hàm lượng N-NO3 trong NT 1 tăng
3.1.7 Tổng đạm (TN)
dần đến tuần thứ 7, sau đó ổn định, điều này
Hàm lượng TN trung bình ở 2 NT có sự chênh
lệch lớn, ở NT 1 là 4,9±2,2 mg/L , NT 2 là 10,6±
6,3 mg/L.
-
-
chứng tỏ vi khuẩn chuyển hóa NO2 thành NO3
phát triển dần trong hệ thống và đến tuần thứ 7 đã
NT1
NT2
21.00
18.00
15.00
12.00
9.00
6.00
3.00
.00
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11 Đợt
Hình 8. Biến động TN của các NT
Hàm lượng TN ở NT 1 tăng từ từ trong suốt thời
gian nuôi, trong khi đó hàm lượng TN ở NT 2 lại
tăng nhanh và và luôn đạt giá trị cao hơn NT 1
(Hình 8).
hoàn hoạt động được đảm bảo, trong khi Muir
(1982) cho rằng khoảng giới hạn thích hợp là từ
20 đến 40 mg/L.
Kết quả thí nghiệm cho thấy vật chất lơ lửng của
NT 1 rất thấp, trung bình 0,022±0,015 mg/L. Hàm
lượng này là thích hợp cho hệ thống lọc hoạt động
bình thường. Kết quả này cũng chứng tỏ bể lắng
3.1.8 Chất hữu cơ lơ lững (TSS)
Theo FIFAC (1980) đề nghị tổng vật chất lơ lửng
nên duy trì thấp hơn 15 mg/L để hệ thống tuần
89
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
của hệ thống làm việc hiệu quả. Ngược lại, hàm
lượng TSS ở NT 2 trung bình 0,38±0,44 mg/L và
có xu hướng tăng dần trong thời gian nuôi.
Nguyên nhân là do lượng thức ăn cho ăn càng
nhiều và lượng phân cũng như lượng vật chất hữu
cơ lơ lửng trong nước ngày càng tăng. Mặc dù hệ
thống nuôi có thay nước nhưng không loại thải
hết hoàn toàn các chất thải sinh ra trong quá trình
nuôi.
NT1
NT2
1.2
1
0.8
0.6
0.4
0.2
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 11
Đợt
Hình 9. Biến động TSS của các NT
3.2 Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, FCR của cá Lóc nuôi trong hệ thống
3.2.1 Tăng trưởng của cá
Tốc độ tăng trưởng tương đối của cá ở NT 1 (3,57±0,01 %/ngày) cao hơn so với NT 2 (3,39±0,01
%/ngày) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 3. Tăng trưởng về khối lượng của cá Lóc
NT
NT1
NT2
Wđ (g/con)
Wc (g/con)
SGR (%/ngày)
6,8±0,01a
6,78±0,04a
281,36±5,82b
3,39±0,01 b
345,83±2,42a
3,57±0,01 a
Các giá trị trong cùng một hàng mang cùng chữ cái thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Các giá trị thể hiện
là số trung bình và độ lệch chuẩn.
Tăng trưởng của cá thí nghiệm tương đương với
kết quả của Phan Thị Thanh Vân và Cao văn
Thích (2014) khi nuôi cá Lóc trong hệ thống tuần
hoàn với mật độ 40 con.100L-1.
Tỷ lệ sống của cá trong thí nghiệm này cao hơn so
với thí nghiệm của Nguyễn Đăng Khoa (2012) khi
nuôi cá Lóc trong hệ thống tuần hoàn (90,04%) và
tương đương với kết quả của Phan Thị Thanh Vân
và Cao Văn Thích (2014) là 98,5%. Điều này có
thể là do trong điều kiện thí nghiệm cá được chăm
sóc và các yếu tố môi trường được kiểm soát tốt.
3.2.2 Tỷ lệ sống, hệ số tiêu tốn thức ăn
Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lệ sống của cá ở cả
02 NT rất cao (Bảng 4). Tỷ lệ sống của các NT
dao động từ 97,0 - 97,3%, không có sự khác biệt
thống kê (P>0,05).
90
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
Bảng 4. Tỷ lệ sống, hệ số thức ăn và năng suất của cá Lóc
NT
NT1
NT2
Tỷ lệ sống
FCR
97,33±2,55a
1,09±0,01b
97±3,61a
1,18±0,01a
Các giá trị trong cùng một hàng mang cùng chữ cái thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Các giá trị thể hiện
là số trung bình và độ lệch chuẩn.
Hệ số tiêu tốn thức ăn có sự khác biệt giữa 02 NT
(P<0,05), NT 1 có hệ số tiêu tốn thức ăn thấp hơn
NT 2.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Boyd, C. E. (1990). Water Quality in Ponds for
Aquaculture.
Birmingham,
Alabama:
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Phan
Thị Thanh Vân và Cao Văn Thích (2014), với hệ
số tiêu tốn thức ăn 1,03. Thấp hơn so với báo cáo
của Đỗ Minh Chung (2010) khi nuôi cá Lóc bằng
thức ăn viên thì hệ số tiêu tốn thức ăn trung bình
từ 1,2 – 1,4.
Birmingham Publishing Co.
Courtenay W. R., Jr., & D. W James. (2004).
Snakeheads (Pisces, Channidae) - A Biological
Synopsis and Risk Assessment. U.S. Reston,
VA: Geological Survey.
Đỗ Minh Chung (2010). Phân tích chuỗi giá trị
nuôi cá Lóc ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
(Luận văn thạc sĩ không xuất bản). Trường Đại
học Cần Thơ, Việt Nam
4. KẾT LUẬN VA KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Qua kết quả nghiên cứu, một số kết luận được đúc
kết như sau :
FIFAC. (1980). Symposium on new developments
in the utilization of heated effluent and
Biến động các yếu tố thủy lý hóa như nhiệt độ,
recirculation
systems
for
intensive
-
DO, pH, TAN, NO2 , NO3, TSS, trong cả 02 hệ
aquaculture. Paper presented at the meeting of
the EIFAC, Stavanger, Norway.
thống nuôi đều nằm trong khoảng thích hợp cho
sinh trưởng của cá Lóc. Tuy nhiên, trong hệ thống
nuôi tuần hoàn các chỉ tiêu này ổn định hơn so với
hệ thống nuôi bình thường. Điều này cho thấy
hoạt động lọc của vi khuẩn trong hệ thống tốt. Từ
đó cho thấy, việc nuôi cá trong hệ thống tuần hoàn
mang ý nghĩa lớn về việc bảo vệ môi trường, có
thể nuôi ở mật độ cao, lượng nước cần trao đổi
thấp.
Herbert, R.A. (1999). Nitrgen Cycling in Coastal
Marine Ecosystems, NCBI, 23, 563-590. DOI:
10.1111/j.1574-6976.1999.tb00414.x
Lam Mỹ Lan., Nguyễn Thanh Hiệu., & Dương
Nhựt Long. (2009). Thực nghiệm nuôi cá Lóc
trong bể lót bạt tại xã Hòa An, Phụng Hiệp,
Hậu Giang. Kỷ yếu Hội nghị khoa học thủy
sản toàn quốc, Đại Học Nông Lâm TP HCM.
Tăng trưởng và hệ số tiêu tốn thức ăn của cá ở NT
1 cao hơn NT 2 và sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05). Trung bình tỷ lệ sống của các
NT dao động từ 97,0 - 97,3%, không có sự khác
biệt thống kê (P>0,05) giữa 2 NT.
Martins C.I.M. , E.H. Eding., M.C.J. Verdegema.,
L.T.N. Heinsbroeka., O. Schneiderc., J.P.,
Blanchetond , E. Roque d’Orbcasteld & J.A.J.
Verretha. (2010). New developments in
recirculating aquaculture systems in Europe: A
perspective on environmental sustainability.
Aquacultural Engineering November, 43, 83-
93.
4.2 Khuyến nghị
Cần nghiên cứu thêm về hệ thống lọc tuần hoàn
với những giá thể khác nhau, để tìm ra một loại
giá thể tối ưu nhất về khả năng lọc và có hiệu quả
kinh tế cao nhất.
91
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 83 – 92
Masser P. M., J. Rakocy., & T. M. Losordo.
(1992). Recirculating aquaculture tank
Lóc (Channa striata). (Luận văn thạc sĩ không
xuất bản). Trường Đại học Cần Thơ, Việt
production
systems
management
of
Nam.
recirculating systems: Integrating Fish and
Plant Culture. SRAC Publication, 454, 1-7.
Nguyễn Thị Hồng Nho. (2012). Cân bằng vật
chất dinh dưỡng trong hệ thống tuần hoàn
nuôi cá tra. (Luận văn thạc sĩ không xuất bản).
Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam.
Muir, R. F. (1982). Recirculation systems in
aquaculture. Muir, J.F and Robers, R. J
editors), in Recent Advances in Aquaculture.
London: Croom Helm and Westview Press.
Phan Thị Thanh Vân. & Cao Văn Thích. (2014).
Khảo sát một số yếu tố kỹ thuật trong quy trình
nuôi cá Lóc thâm canh. Đề tài NCKH cấp
trường. An Giang:Trường Đại học An Giang,
Việt Nam.
Nguyễn Đăng Khoa. (2012). Cân bằng vật chất
dinh dưỡng trong hệ thống tuần hoàn nuôi cá
92
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát biến động chất lượng nước trong hệ thống tuần hoàn nuôi cá lóc (Channa striata)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khao_sat_bien_dong_chat_luong_nuoc_trong_he_thong_tuan_hoan.pdf

