Ảnh hưởng của ánh sáng đèn led (Light emitting diode) đến hormone IGF-I mRNA (Insulin-like growth factor messenger RNA) và sinh sản ở cá chép (Cyprinus carpio)

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG ĐÈN LED (LIGHT EMITTING DIODE)  
ĐẾN HORMONE IGF-I mRNA (INSULIN-LIKE GROWTH FACTOR  
MESSENGER RNA) VÀ SINH SẢN Ở CÁ CHÉP (Cyprinus carpio)  
Nguyễn Thị Đang1* và Katsuhisa Uchida2  
TÓM TẮT  
Hiện nay công cụ Light Emitting Diode (LED) đang được ứng dụng rꢀng rãi trong nuôi trồng thủy  
sản và đã chứng minh mang lại hiệu quả cao trong tăng năng suất vật nuôi. Trong nghiên cứu này,  
chúng tôi khảo sát ảnh hưởng của đèn LED với các bước sóng là trắng, xanh da trời, xanh lá và  
đỏ đến nồng đꢀ hormone IGF-I mRNA (Insulin-like Growth Factor messenger RNA) và sinh sản  
của cá chép. Cá chép có khối lượng trung bình 92 ± 4,3 g được nuôi trong bể kính trong phòng thí  
nghiệm, bể được che tối kín bằng hꢀp giấy màu đen có nắp đậy. Cá được nuôi với mật đꢀ 8 con/bể  
trong thời gian 10 tuần, cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp 34% đạm, khẩu phần ăn là 2%/trọng  
lượng thân, cho ăn 2 lần/ ngày vào lúc 9:00 và 17:00. Cá chép được nuôi dưới ánh sáng đèn LED ở  
các bước sóng 446 nm (trắng), 468 nm (xanh da trời), 537 nm (xanh lá) và 630 nm (đỏ) với mật đꢀ  
chiếu sáng là 5,0 µm/s/m2.Khoảng cách ánh sáng đến bề mặt nước là 50 cm. Thời gian chiếu sáng là  
12 giờ/ngày (07 giờ mở đèn và 19 giờ tắt đèn). Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng đꢀ IGF-I mRNA  
(insulin-like growth factor messenger RNA) cao hơn ở ánh sáng màu xanh da trời và trắng so với  
màu đỏ. Chỉ số tuyến sinh dục (GSI) của cá chép cái nuôi dưới ánh sáng màu xanh da trời tăng cao  
có ý nghĩa so với ánh sáng trắng, xanh lá và đỏ. Hình ảnh mô học cũng chỉ ra tỷ lệ phát triển noãn  
bào ở tế bào trứng cao nhất dưới ánh sáng màu xanh da trời và có tỷ lệ thấp dưới ánh sáng trắng,  
xanh lá và đỏ. Cá chép cái phơi dưới ánh sáng màu xanh da trời có nồng đꢀ estradiol -17β trong  
máu cao hơn có ý nghĩa khi so sánh với các ánh sáng trắng, xanh lá và đỏ. Kết quả nghiên cứu cho  
thấy rằng ánh sáng LED màu xanh da trời kích thích phát triển của tuyến sinh dục và cải thiện chất  
lượng trứng ở cá chép (Cyprinus carpio).  
Từ khóa: Light emitting diode (LED), Cyprinus carpio, cá chꢀp.  
I. GIỚI THIỆU  
Cá chép (Cyprinus carpio) sống trong môi  
năm 2016) (Karnai và Naukowe, 2018). Trung  
Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng  
nuôi cá chép, trong đó Việt Nam cũng là mꢀt  
trong 10 nước có sản lượng cao nuôi cá chép đạt  
khoảng 400.000 tấn năm 2015 (Weimin, 2017).  
Cá chép là loài cá nước ngọt tương đối quan  
trọng và nuôi phổ biến ở Việt Nam vì lý do nuôi  
cá chép không cần đầu tư nhiều vốn, dễ nuôi  
trường nước ngọt, là loài nꢀi địa và có từ lâu  
đời. Cá thường thích sống theo bầy đàn tập trung  
những nơi nước cạn như sông, suối và nơi nhiều  
rau cỏ rậm rạp. Cá có thể chịu đựng trong điều  
kiện hàm lượng oxy thấp, nhiệt đꢀ thích hợp  
cho cá tăng trưởng tốt từ 23-300C và khoảng pH  
tối ưu của cá từ 7,5-8,0 (Heydarnejad, 2012). trong quy mô nhỏ, đặc biệt những nơi phong phú  
Sản lượng cá chép trên thế giới chủ yếu từ nuôi các loại phụ phẩm về nông nghiệp như vùng núi  
trồng chiếm (97,3%) đạt 3,4% (4,4 triệu tấn cao. Hơn nữa, thịt cá chép thơm ngon cung cấp  
1 Viện Nghiện cứu Nuôi trồng Thủy sản II  
2 Trường đại học Miyazaki, Nhật Bản  
13  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu thí nghiệm  
nguồn đạm cao cho con người. Nghiên cứu chỉ  
ra ánh sáng là yếu tố môi trường quan trọng bao  
gồm chất lượng, mật đꢀ cũng như thời gian chiếu  
sáng tất cả đều có ảnh hưởng mạnh đến chức  
năng sinh lý như tăng trưởng và phát triển tuyến  
sinh dục của cá (Boeuf, 1999; Björnsson, 1997;  
Imsland và ctv., 2007; Tucker và ctv., 2006).  
Cá có khả năng phát hiện mật đꢀ và phổ ánh  
sáng thông qua mắt, da và não (Bayarri và ctv.,  
2002; Vera và ctv., 2010). Ở cá xương, ánh sáng  
có ảnh hưởng đến tuyến yên tại đây kích thích  
sản xuất follicle stimulating hormone (FSH) và  
luteinizing hormone (LH) có ảnh hưởng tuyến  
sinh dục phát triển (Davie và ctv., 2007). Ngày  
nay, công cụ đèn LEDs được áp dụng cho nhiều  
lĩnh vực cây trồng, đꢀng vật và thủy sản. Trong  
nuôi trồng thủy sản mꢀt bước sóng ánh sáng rõ  
ràng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng, miễn dịch  
và sinh sản của cá trong môi trường thí nghiệm  
và vùng nuôi (Shin và ctv., 2013; Takahashi và  
ctv., 2016; Zheng và ctv., 2016). Hơn nữa, đèn  
LEDs còn có nhiều lợi thế để sử dụng trong trang  
trại nuôi thủy sản như là giá thấp, đꢀ nóng vừa  
phải và đꢀ bền cao (Migaud và ctv., 2007). Mꢀt  
vài nghiên cứu chỉ ra kết quả thú vị khi sử dụng  
đèn LED trong nuôi trồng thủy sản như đạt tăng  
trưởng cao ở cá chẽm khi nuôi dưới ánh sáng  
màu xanh da trời có bước sóng 435-500 nm  
(Villamizar và ctv., 2009a). Trên cá bơn, cá rô phi  
và cá chép koi giảm stress, cải thiện miễn dịch  
và tốc đꢀ tăng trưởng dưới ánh sáng LED màu  
xanh lá (Bairwa và ctv., 2017b; Shin và ctv.,  
2011; Volpato và ctv., 2011). Nghiên cứu cũng  
cho thấy ánh sáng LED màu xanh lá cải thiện  
sự phát triển tuyến sinh dục trên cá chép koi và  
cá ba đuôi (gold fish) (Bairwa và ctv., 2017b;  
Choi và ctv., 2015; Shin và ctv., 2013). Nghiên  
cứu của chúng tôi được thực hiện để đánh giá  
ảnh hưởng của bước sóng ánh sáng khác nhau  
đèn LEDs với màu xanh da trời, màu xanh lá,  
màu đỏ và màu trắng đến tốc đꢀ tăng trưởng và  
sinh sản ở cá chép (Cyprinus carpio).  
Cá chép (Cyprinus carpio) được cung cấp  
từ Trung tâm giống, trường đại học Miyazaki,  
Nhật Bản. Cá chép giống có khối lượng trung  
bình ban đầu là 92 ± 4,3 g và chiều dài là 19  
±0,6 cm. Cá được nuôi dưỡng trong bể xi măng  
ngoài trời cho ổn định sức khỏe trước khi thực  
hiện thí nghiệm.  
Nguồn nước  
Cá được nuôi bằng nguồn nước máy sử  
dụng cho sinh hoạt. Nước được sục khí 1 ngày  
trước khi cấp vào bể nuôi cá để hạn chế khí đꢀc.  
2.2. Thiết kế thí nghiệm  
Cá được nuôi thuần dưỡng 10 ngày cho  
quen môi trường trước khi bắt đầu thí nghiệm.  
Bể kính được đặt trong thùng xốp màu đen để  
hạn chế ảnh hưởng của ánh sáng bên ngoài. Thí  
nghiệm thực hiện trong thời gian 10 tuần trong  
bể kính có dung tích 60 lít có gắn hệ thống lọc  
nước xả tràn. Mật đꢀ thả nuôi là 8 con/ bể, cá  
được cho ăn 2 lần trong ngày (sáng 9:00, chiều  
17:00) bằng thức ăn viên công nghiệp đꢀ đạm  
34% với khẩu phần thức ăn là 2 % trọng lượng  
thân. Nhóm cá thí nghiệm được thiết kế gắn đèn  
LED với màu sắc và bước sóng khác nhau như  
màu xanh lá (468 nm), màu xanh da trời (537  
nm), màu đỏ (630 nm) và màu trắng (446 nm).  
Đèn LED được lắp đặt với khoảng cách 50 cm  
đến mặt nước và mật đꢀ ánh sáng được đo bằng  
máy đo cầm tay Sekonic spectromaster model  
C-7000. Chu kꢁ chiếu sáng của thí nghiệm là  
12 giờ sáng và 12 giờ tối (đèn được mở lúc 7  
giờ sáng và tắt lúc 19 giờ). Yếu tố môi trường  
được theo dõi trong suốt thời gian thí nghiệm,  
nhiệt đꢀ đo hàng ngày, pH và oxy đo hàng tuần.  
Nước được thay 50% mỗi ngày trong 10 tuần  
thí nghiệm.  
Phương pháp thu mẫu và phân tích  
Mẫu được thu tại thời điểm bắt đầu và kết  
thúc thí nghiệm, trước khi thu mẫu cá được  
14  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
gây mê trong dung dịch 2-phenoxyethanol (0,5  
Giai đoạn 5 (GĐ5): tế bào tích tụ các noãn  
ml/L, Sigma, St. Louis, MO). Cá được cân khối hoàng và các túi noãn hoàng ở ngoại vi của tế  
lượng, đo chiều dài, sau đó mổ cá cho thu buồng bào chất.  
trứng ở cá cái.  
Để xác định mật đꢀ phát triển khác nhau  
Chỉ số Gonadosomatic index (GSI) = [trọng của buồng trứng, 6 tiêu bản mô học được chọn  
lượng buồng trứng (g)]/[trọng lượng cá (g)] x ngẫu nhiên từ buồng trứng cho mỗi cá cái và 10  
100  
hình ảnh được chụp từ kính hiển vi quang học  
Nồng đꢀ hormone IGF-I (insulin-like cho mỗi tiêu bản.  
growth factor-I) được xác định bằng phương  
Thu mẫu máu cá: Mẫu máu cá được lấy  
pháp real time PCR. Phản ứng được tiến hành từ tĩnh mạch đuôi sử dụng xi lanh 2,5ml. Máu  
với tổng dung dịch là 10µl trong đó chứa đựng được ly tâm ở nhiệt đꢀ 4οC, 12000 rpm trong  
2,5 ng of cDNA với 0,5µl cho mỗi 2µM cặp mồi thời gian 10 phút thu huyết tương trên bề mặt  
xuôi và mồi nghịch với nhiệt đꢀ từ 60οC đến và được bảo quản trong tủ đông âm 20οC đến  
95οC.  
khi phân tích. Tiếp theo hỗn hợp gồm100μl mẫu  
Kỹ thuật cắt mô buồng trứng: Buồng trứng này và 500μl ethylene ether (tỷ lệ là 1:5). Dung  
được cố định trong 10% formaldehyde. Mẫu dịch được lắc mạnh trong 5 phút, sau đó ủ tại  
mô được làm khô bằng cồn có nồng đꢀ từ 70 nhiệt đꢀ phòng cho 1 phút và đặt trên khối đá  
đến 100%. Xylene được sử dụng cho làm sạch khô trong 1 giờ trước khi thu phần dịch nổi trên  
mô. Sau đó mô được nhúng trong paraffin 64οC. bề mặt.  
Tiêu bản cắt 5 µm sau đó đem nhuꢀm bằng  
Nồng đꢀ hormone estradiol-17β được xác  
haematoxyline, eosin và được kiểm tra bằng định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn  
kính hiển vi quang phổ với đꢀ phóng đại x10 của nhà sản xuất, công ty Cayman (Ann Arbor,  
(Nikon, Japan).  
MI, USA).  
Noãn bào được quan sát các giai đoạn phát III. KẾT QUẢ  
triển theo tác giả (Wallace và Selman, 1981),  
gồm 5 giai đoạn.  
3.1. Biểu hiện của gene IGF-I mRNA  
Mức đꢀ biểu hiện của IGF-I mRNA của cá  
Giai đoạn 1 (GĐ1): noãn bào có nhân lớn chép nuôi dưới ánh sáng đèn LED trong thời gian  
và hình cầu không đều. 10 tuần được trình bày ở Hình 1. Cá chép được  
Giai đoạn 2 (GĐ 2): xuất hiện túi noãn nuôi dưới mật đꢀ chiếu sáng là 5,0 µm/s/m2. Kết  
hoàng chiếm hai hoặc ba phần trong ngoại vi tế quả chỉ ra, nồng đꢀ của IGF-I mRNA của cá dưới  
bào chất.  
các phổ ánh sáng LED màu xanh da trời và trắng  
Giai đoạn 3 (GĐ3): noãn bào chứa đầy túi được cho thấy cao hơn so với nghiệm thức màu  
noãn hoàng. Xuất hiện các lớp nang và tế bào đỏ, mức đꢀ khác nhau này có ý nghĩa thống kê (P  
khác nhau.  
< 0,05). Các nghiệm thức còn lại không có sự sai  
Giai đoạn 4 (GĐ4): xuất hiện các noãn khác có ý nghĩa thống kê.  
hoàng ở trung tâm của noãn bào  
15  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
IGF-1 mRNA  
6
*
5
4
3
2
1
0
*
Xanh lá  
Trắng  
Đỏ  
Xanh da trời  
Hình 1: IGF-I-mRNA của cá chép nuôi dưới các phổ ánh sáng đèn LED khác nhau trong thời gian  
10 tuần, trung bình ± SE (n=8). *: Khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
3.2. Phát triển tuyến sinh dục ở cá chép cái  
được trình bày ở Hình 2. Kết quả cho thấy, cá  
cái được nuôi dưới ánh sáng màu xanh da trời  
có GSI cao hơn và có ý nghĩa thống kê (P<  
0,05) so với các ánh sáng còn lại là xanh lá, đỏ  
và trắng.  
3.2.1. Chỉ số GSI (Gonadal-somatic index)  
của cá chép cái  
Chỉ số GSI (Gonadal-somatic index) của cá  
chép cái sau thời gian 10 tuần của thí nghiệm  
12  
*
10  
8
6
4
2
0
Xanh lá  
Ban đầu  
Xanh da trời  
Đỏ  
Trắng  
Hình 2: GSI của cá chép nuôi dưới các phổ ánh sáng đèn LED khác nhau trong thời gian 10 tuần,  
trung bình ± SE (n=4). *: Khác nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
16  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.2.2. Hình ảnh mô học buồng trứng của  
cá chép cái  
thấy, nhóm cá dưới ánh sáng màu xanh da trời  
xuất hiện số đông noãn hoàng phát triển ở trung  
tâm của noãn bào (GĐ4) so với các nhóm cá  
còn lại (chủ yếu phát triển ở giai GĐ3, GĐ2 hay  
GĐ1).  
Kết quả theo dõi tiêu bản mô học các giai  
đoạn phát triển noãn bào của buồng trứng ở cá  
cái được thể hiện trong Hình 3. Quan sát cho  
a
b
GĐ4  
GĐ3  
c
d
GĐ2  
GĐ1  
Hình 3: Hình ảnh mô học của tế bào trứng cá chép nuôi dưới điều kiện ánh sáng đèn LED  
trong thời gian 10 tuần; a: màu xanh lá; b: xanh da trời; c: đỏ và d: trắng (n=30). GĐ1: noãn  
bào có nhân lớn và hình cầu không đều; GĐ2: xuất hiện túi noãn hoàng chiếm hai hoặc ba  
phần trong ngoại vi tế bào chất; GĐ3: noãn bào chứa đầy túi noãn hoàng, xuất hiện các lớp  
nang và tế bào khác nhau; GĐ4: xuất hiện các noãn hoàng ở trung tâm của noãn bào.  
Tỷ lệ phần trăm các giai đoạn phát triển của đạt 23%, cao hơn màu xanh lá (19%), màu đỏ  
buồng trứng được thể hiện ở Hình 4. Nhóm cá (6%), màu trắng (10%). Ở thời điểm đầu thí  
được nuôi dưới ánh sáng màu xanh da trời sau nghiệm, 100% số cá có buồng trứng phát triển  
10 tuần có buồng trứng phát triển ở giai đoạn 4 ở giai đoạn 1.  
17  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
100%  
90%  
80%  
70%  
60%  
50%  
40%  
30%  
20%  
10%  
0%  
Xanh lá  
19%  
Xanh da trời  
23%  
Đỏ  
6%  
7%  
5%  
82%  
Trắng  
10%  
12%  
8%  
Ban đầu  
0%  
GĐ4  
GĐ3  
GĐ2  
GĐ1  
8%  
11%  
0%  
11%  
14%  
0%  
58%  
56%  
70%  
100%  
Hình 4: Tỷ lệ phần trăm các giai đoạn phát triển của buồng trứng cá chép nuôi dưới điều kiện ánh  
sáng đèn LED màu xanh da trời, xanh lá, đỏ và trắng trong thời gian 10 tuần (n=60).  
3.3. Sựthayđổinồngđộhormoneestradiol- xanh da trời có hàm lượng estradiol-17β (E2)  
17β (E2) trong huyết tương ở cá chép cái  
trong huyết tương cao hơn so với các nhóm còn  
Kết quả thí nghiệm cho thấy, cá chép cái lại. Sự khác biệt này là có ý nghĩa về mặt thống  
nuôi dưới điều kiện ánh sáng đèn LED màu kê (P<0,05) và được chỉ ra ở Hình 5.  
1600  
*
1400  
1200  
1000  
800  
600  
400  
200  
0
Xanh lá  
Ban đầu  
Xanh da trời  
Đỏ  
Trắng  
Hình 5: Nồng đꢀ estradiol-17β (E2) ở cá chép cái sau 10 tuần nuôi dưới điều kiện ánh sáng đèn  
LED màu xanh da trời, xanh lá, đỏ và trắng, trung bình ± SE (n=4). *: Sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê (P<0,05).  
18  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
IV. THẢO LUẬN  
phát triển ở giai đoạn cao hơn so với ở ánh sáng  
Nghiên cứu được thực hiện để khảo sát ảnh màu xanh lá, đỏ và trắng. Nồng đꢀ estradiol-  
hưởng của đèn LED với các phổ ánh sáng khác 17β (E2) của cá chép cái trong điều kiện ánh  
nhau (trắng, xanh da trời, xanh lá và đỏ) lên tốc sáng màu xanh da trời tăng có ý nghĩa thống  
đꢀ tăng trưởng và sinh sản ở cá chép. Sau thời kê (P < 0,05) so với nhóm cá còn lại. Điều này  
gian 10 tuần nuôi, kết quả cho thấy nồng đꢀ khẳng định tuyến sinh dục của cá chép cái nuôi  
IGF-I trong gan của cá chép ở nghiệm thức ánh ở điều kiện ánh sáng màu xanh da trời phát triển  
sáng màu xanh da trời và ánh sáng trắng đều cao tốt hơn so với ở điều kiện ánh sáng xanh lá, đỏ  
hơn ánh sáng màu đỏ và có ý nghĩa thống kê (P< và trắng. Estradiol-17β là dạng của hormone  
0,05). Các ánh sáng còn lại khác nhau không estrogen có hoạt lực mạnh nhất, chủ yếu được  
có ý nghĩa thống kê. Kết quả của nghiên cứu sản xuất từ buồng trứng và có liên quan đến chu  
này trùng hợp với kết quả của mꢀt số nghiên kꢁ sinh sản ở giống cái. Kết quả của nghiên cứu  
cứu trước là ánh sáng màu xanh da trời làm tăng này phù hợp với kết quả của mꢀt vài nghiên  
nồng đꢀ hormone tăng trưởng so với ánh sáng cứu trước là ánh sáng có bước sóng ngắn (màu  
màu đỏ. Theo nhận định của (Shin và ctv., 2012) xanh da trời và xanh lá) kích thích sinh sản sự  
đèn LED màu xanh da trời và xanh lá làm tăng phát triển tuyến sinh dục ở cá (Bairwa và ctv.,  
nồng đꢀ hormone tăng trưởng và melatonin, vì 2017a; Choi và ctv., 2015; Shin và ctv., 2013).  
vậy giúp làm tăng tốc đꢀ tăng trưởng của cá hề Tuy nhiên chưa có nhiều thông tin về cơ chế mà  
đuôi vàng (Yellowtail clownfish). Mꢀt nghiên ánh sáng có bước sóng ngắn có khả năng kích  
cứu tương tự trên ấu trùng cá chẽm châu Âu thích phát triển buồng trứng. Theo nghiên cứu  
cũng cho thấy nồng đꢀ hormone IGF-I cao hơn của (Shin và ctv., 2013) ánh sáng có bước sóng  
dưới điều kiện ánh sáng màu xanh da trời so ngắn có thể chứa mꢀt sắc tố duy nhất với đꢀ  
với ánh sáng đỏ và trắng (Villamizar và ctv., nhạy quang phổ rꢀng, có thể liên quan đến sự  
2009). Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả tải nạp chất kích thích thần kinh ngoại sinh ở cá.  
bước đầu cho thấy nồng đꢀ hormone IGF-I (loại Hơn nữa ánh sáng có bước sóng ngắn như ánh  
hormone có liên quan đến tăng trưởng) của cá sáng LED màu xanh da trời có thể truyền trong  
chép phơi dưới ánh sáng LED màu xanh da trời mực nước sâu tạo ra mật đꢀ ánh sáng trong nước  
và màu trắng đều cao hơn có ý nghĩa thống kê nhiều hơn, mꢀt nghiên cứu cho thấy mật đꢀ ánh  
so với màu đỏ.  
sáng là yếu tố ảnh hưởng đến sinh lý của cá  
Kết quả tìm hiểu ảnh hưởng của đèn LED (Myrberg và Fuiman, 2002). Ngược lại đối với  
đến sinh sản của cá chép. Nghiên cứu đã kiểm ánh sáng LED màu đỏ là loại ánh sáng có bước  
tra chỉ số GSI, mẫu mô học và đo nồng đꢀ sóng dài chỉ thâm nhập ở đꢀ sâu thấp hơn nên  
hormone estradiol-17β (E2) của cá chép cái. Kết có thể ít ảnh hưởng đến sự phát triển tuyến sinh  
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, nhóm cá dục của cá. Từ những nhận định trên cho thấy  
chép cái nuôi dưới ánh sáng màu xanh da trời có việc nuôi cá chép dưới ánh sáng LED màu xanh  
chỉ số GSI cao hơn các nhóm cá còn lại. Nghiên da trời kích thích sự phát triển tuyến sinh dục  
cứu trước cho thấy, chỉ số GSI là yếu tố quan của cá chép cái.  
trọng để đánh giá phát triển tuyến sinh dục ở V. KẾT LUẬN  
cá, chỉ số này cao thể hiện tuyến sinh dục phát  
Thí nghiệm cho thấy, cá chép nuôi dưới  
triển ở mức tốt (Bairwa và ctv., 2017a). Quan điều kiện ánh sáng có bước sóng ngắn đèn LED  
sát mô học buồng trứng của nhóm cá chép chỉ màu xanh da trời, xanh lá, đỏ và trắng trong thời  
ra dưới ánh sáng màu xanh da trời có noãn bào gian 10 tuần, thời gian chiếu sáng là 12 giờ/  
19  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ngày với mật đꢀ chiếu sáng là 5,0 µm/s/m2. Kết  
quả chỉ ra nồng đꢀ IGF-I mRNA trong gan của  
cá chép cao hơn dưới ánh sáng LED màu xanh  
da trời và màu trắng so với màu đỏ.  
Treasurer, J., & Migaud, H., 2007. Inhibition  
of sexual maturation in tank reared haddock  
(Melanogrammus aeglefinus) through the use of  
constant light photoperiods. Aquaculture, 270(1-  
4), 379-389.  
Cá chép cái được phơi dưới ánh sáng LED  
màu xanh da trời có ảnh hưởng đến sự phát triển  
của tuyến sinh dục cụ thể khối lượng tuyến sinh  
dục của cá chép cái tăng có ý nghĩa trong thời  
gian nuôi (chỉ số GSI tăng cao ở nghiệm thức  
màu xanh da trời so với màu xanh lá, đỏ và  
trắng). Quan sát mẫu mô học của buồng trứng  
thấy rõ tỷ lệ phần trăm noãn bào của tế bào trứng  
phát triển cao hơn dưới ánh sáng màu xanh da  
trời. Nồng đꢀ hormone estradiol-17β trong máu  
của cá cũng cao hơn ở nghiệm thức LED màu  
xanh da trời so với các màu còn lại (trắng, xanh  
lá và đỏ).  
Heydarnejad, M. S., 2012. Survival and growth  
of common carp (Cyprinus carpio L.) exposed  
to different water pH levels. Turkish Journal of  
Veterinary and Animal Sciences, 36(3), 245-249.  
Imsland, A., Foss, A., Koedijk, R., Folkvord, A.,  
Stefansson, S., & Jonassen, T. (2007). Persistent  
growth effects of temperature and photoperiod  
in Atlantic cod Gadus morhua. Journal of Fish  
Biology, 71(5), 1371-1382.  
Karnai, L.,  
&
naukowe StowaRzySzenia  
ekonomiStów, I. S. R., 2018. Outlooks and  
perspectives of the common carp production.  
Roczniki Naukowe SERiA, 20(1).  
Migaud, H., Cowan, M., Taylor, J., & Ferguson, H.  
W., 2007. The effect of spectral composition and  
light intensity on melatonin, stress and retinal  
damage in post-smolt Atlantic salmon, Salmo  
salar. Aquaculture, 270(1-4), 390-404.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Myrberg, A., & Fuiman, L. A., 2002. The sensory  
world of coral reef fishes. Coral reef fishes:  
dynamics and diversity in a complex ecosystem.  
Academic, San Diego, 123-148.  
Navarro, R. D., de Sousa, S. C., Bizarro, Y. W. S.,  
da Silva, R. F., & Navarro, F. K. S. P., 2015.  
Effects of photoperiod on somatic growth and  
gonadal development in male nile tilapia. Acta  
Scientiarum. Technology, 37(4), 381-385.  
Bairwa, M. K., Saharan, N., Rawat, K. D., Tiwari,  
V. K., & Prasad, K. P., 2017a. Effect of LED  
light spectra on reproductive performance of Koi  
carp (Cyprinus carpio). Indian Journal of Animal  
Research, 51(6), 1012-1018.  
Bairwa, M. K., Saharan, N., Rawat, K. D., Tiwari, V.  
K., & Prasad, K. P., 2017b. Effect of Light Spectra  
on Growth Performance and Immune Response  
of Koi Carp, Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758).  
Fishery Technology, 54(2), 100-106.  
Bayarri, M., Madrid, J., & Sánchez‐Vázquez, F.,  
2002. Influence of light intensity, spectrum  
and orientation on sea bass plasma and ocular  
melatonin. Journal of pineal research, 32(1), 34-  
40.  
Björnsson, B. T., 1997. The biology of salmon  
growth hormone: from daylight to dominance.  
Fish physiology and biochemistry, 17(1-6), 9-24.  
Boeuf, G., & Le Bail, P.-Y., 1999. Does light have an  
influence on fish growth? Aquaculture, 177(1-4),  
129-152.  
Ruchin, A., 2002. Growth and feeding intensity  
of young carp Cyprinus carpio under different  
constant  
and  
variable  
monochromatic  
illuminations. J Ichthyol, 42, 191-199.  
Shin, H. S., Kim, N. N., Choi, Y. J., Habibi, H. R.,  
Kim, J. W., & Choi, C. Y., 2013. Light-emitting  
diode spectral sensitivity relationship with  
reproductive parameters and ovarian maturation  
in yellowtail damselfish, Chrysiptera parasema.  
Journal of Photochemistry and Photobiology B:  
Biology, 127, 108-113.  
Shin, H. S., Lee, J., & Choi, C. Y., 2011. Effects  
of LED light spectra on oxidative stress and  
the protective role of melatonin in relation to  
the daily rhythm of the yellowtail clownfish,  
Amphiprion clarkii. Comparative Biochemistry  
and Physiology Part A: Molecular & Integrative  
Physiology, 160(2), 221-228.  
Choi, C.Y., Shin, H. S., Kim, N. N.,Yang, S.-G., Kim,  
B.-S., & Yu, Y. M., 2015. Time-related effects  
of various LED light spectra on reproductive  
hormones in the brain of the goldfish Carassius  
auratus. Biological rhythm research, 46(5), 671-  
682.  
Shin, H. S., Lee, J., & Choi, C. Y., 2012. Effects of  
Davie, A., de Quero, C. M., Bromage, N.,  
20  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
LED light spectra on the growth of the yellowtail  
(Dicentrarchuslabrax) larvae. Aquaculture,  
clownfish Amphiprion clarkii. Fisheries science,  
78(3), 549-556.  
292(1-2), 80-86.  
Villamizar, N., García-Alcazar, A., & Sánchez-  
Vázquez, F. J., 2009. Effect of light spectrum  
and photoperiod on the growth. Dña. Natalia  
Villamizar Villamizar, 292, 67.  
Volpato, G. L., & Barreto, R., 2001. Environmental  
blue light prevents stress in the fish Nile tilapia.  
Brazilian Journal of Medical and Biological  
Research, 34(8), 1041-1045.  
Takahashi, A., Kasagi, S., Murakami, N., Furufuji,  
S., Kikuchi, S., Mizusawa, K., & Andoh, T.,  
2016. Chronic effects of light irradiated from  
LED on the growth performance and endocrine  
properties of barfin flounder Verasper moseri.  
General and comparative endocrinology, 232,  
101-108.  
Tucker, B. J., Booth, M. A., Allan, G. L., Booth, D.,  
& Fielder, D. S., 2006. Effects of photoperiod  
and feeding frequency on performance of newly  
weaned Australian snapper Pagrus auratus.  
Aquaculture, 258(1-4), 514-520.  
Vera, L., Davie, A., Taylor, J., & Migaud, H.,  
2010. Differential light intensity and spectral  
sensitivities of Atlantic salmon, European sea  
bass and Atlantic cod pineal glands ex vivo.  
General and comparative endocrinology, 165(1),  
25-33.  
Wallace, R. A., & Selman, K., 1981. Cellular and  
dynamic aspects of oocyte growth in teleosts.  
American Zoologist, 21(2), 325-343.  
Weimin, M., 2017. Aquaculture production and  
trade trends: carp, tilapia and shrimp. Paper  
presented at the FMM/RAS/298: Strengthening  
Capacities, Policies and NationalAction Plans on  
Prudent and Responsible Use of Antimicrobials  
in Fisheries Final Workshop in Cooperation with  
AVA Singapore and INFOFISH.  
Zheng, J.-L., Yuan, S.-S., Li, W.-Y., & Wu, C.-W.,  
2016. Positive and negative innate immune  
responses in zebrafish under light emitting  
diodes conditions. Fish & shellfish immunology,  
56, 382-387.  
Villamizar, N., García-Alcazar, A., & Sánchez-  
Vázquez, F., 2009. Effect of light spectrum  
and photoperiod on the growth, development  
and survival of European sea bass  
21  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
EFFECT OF LIGHT EMITING DIODE (LED) WAVELENGTH ON  
HORMONE IGF-I mRNA (INSULIN-LIKE GROWTH FACTOR  
MESSENGER RNA) AND REPRODUCTION IN  
COMMON CARP (Cyprinus carpio)  
Nguyen Thi Dang1* and Katsuhisa Uchida2  
ABSTRACT  
Light Emitting Diode (LED) light sources are being used to improve the efficiency of aquaculture  
production. In this study, we investigated effects of various LED wavelength (white, blue, green  
and red) on concentration of IGF-I mRNA hormone and reproduction of common carp (Cyprinus  
carpio) with average individual weight of 92 ± 4.3g. Fishes were reared in flow-through water tanks,  
covered by black box in the laboratory for 10 weeks and stocked at a density of 8 fish per tank. The  
fish were fed with a commercial feed diet (containing 34.0% crude protein) and twice daily (09:00  
h and 17:00 h) with 2 % of body weight per day. The experimental groups were exposed to white  
(446 nm), blue (peak at 468 nm), green (537 nm) and red (630 nm) light. The LED lights were  
positioned 50 cm above the water surface and the irradiance at the water surface was maintained  
at approximately 5.0 µm/s/m2. The photoperiod was a 12h light-dark cycle, with 7:00 light-on  
and 19:00 light-off. The results showed that hepatic IGF-I mRNA hormone levels under the blue  
and white light were significantly greater than that under red light condition. Moreover, gonado-  
somatic index (GSI) of female was significantly higher in the blue LED treated group than that in  
other experimental groups. Histological observation of ovary tissue indicated that the proportion  
of early vitellogenic stage oocyte was highest in the blue treated group while the percentage of  
pre-vitellogenic stage oocyte was still high in the white and red LED treated groups. Estradiol  
-17β concentration in female blood also was significantly higher under the blue LED condition  
compared to those in the others groups. These results suggest that the blue light promotes gonadal  
development and the improvement of egg quality in common carp.  
Keywords: Light Emitting Diode (LED), Cyprinus carpio, common carp  
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh  
Ngày nhận bài: 04/7/2020  
Người phản biện: PGS. TS. Đỗ Thị Thanh Hương  
Ngày nhận bài: 04/7/2019  
Ngày thông qua phản biện: 28/7/2020  
Ngày duyệt đăng: 25/8/2020  
Ngày thông qua phản biện: 25/7/2020  
Ngày duyệt đăng: 25/8/2020  
1
2
Research Institute for Aquaculture No.2  
Phygiology Lab, Miyazaki university, Japan.  
22  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
pdf 10 trang yennguyen 15580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của ánh sáng đèn led (Light emitting diode) đến hormone IGF-I mRNA (Insulin-like growth factor messenger RNA) và sinh sản ở cá chép (Cyprinus carpio)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_anh_sang_den_led_light_emitting_diode_den_horm.pdf