Mức độ đa dạng và phong phú của cá bột và cá con thuộc họ Pangasiidae ở thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu giai đoạn 2017-2019

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
MỨC ĐỘ ĐA DẠNG VÀ PHONG PHÚ CỦA CÁ BỘT VÀ CÁ CON  
THUỘC HỌ PANGASIIDAE Ở THƯỢNG NGUỒN SÔNG TIỀN VÀ  
SÔNG HẬU GIAI ĐOẠN 2017 – 2019  
Trần Thúy Vy1*, Nguyễn Nguyễn Du1, Đinh Trang Điểm1 và Huꢀnh Hoàng Huy1  
TÓM TẮT  
Sông Mê Công chảy vào Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, cá bꢁt và cá con trôi dạt  
theo dòng nước về phía hạ lưu sau đó phân tán vào ruꢁng đồng, kênh rạch để sinh trưởng và phát  
triển, trong đó có họ Pangasiidae vốn có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu  
Long. Nghiên cứu sự đa dạng và phong phú cá bꢁt và cá con ở thượng nguồn sông Tiền và sông  
Hậu gần biên giới Campuchia được thu mẫu hàng ngày từ 01/06 đến 30/09 trong 3 năm 2017, 2018  
và 2019 tại thời điểm nước ròng, bằng hai loại ngư cụ Lú và Đáy. Mẫu cá được lưu trữ trong keo  
nhựa với nồng đꢁ formol 5%, sau đó mẫu được định dạng và phân tích tại phòng thí nghiệm Ngư  
Loại, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II. Tổng cꢁng 2.775 mẫu được thu với 64.994 cá thể  
thuꢁc họ cá tra đại diện cho 11 loài, trong đó 7 loài ở sông Hậu và 10 loài ở sông Tiền. Thành phần  
loài của họ Pangasiidae tương đối ổn định qua các năm, trong khi mật đꢁ và số lượng cá thể giảm  
mạnh. Xu hướng thành phần loài và mật đꢁ cá thể giảm dần từ đầu mùa lũ về cuối mùa lũ. Mức đꢁ  
đa dạng loài họ cá Tra (Pangasiidae) ở mức thấp và trung bình, tại trạm sông Tiền có mức đꢁ đa  
dạng loài cao hơn sông Hậu. Sự thay đổi chế đꢁ lũ trên thượng nguồn sông Mê Công trong những  
năm gần đây đã làm thay đổi đến các bãi đẻ của cá, thời gian sinh sản và lượng cá được sinh sản.  
Từ khóa: Biến động, cá bột và cá con, mật độ, Pagasiidae, thành phần loài.  
I. GIỚI THIỆU  
trì nguồn lợi cá tự nhiên hàng năm cho vùng  
Sông Mê Công chảy vào Việt Nam qua 2 ĐBSCL.  
nhánh sông Tiền (dài 150 km) và sông Hậu (dài  
Nghiên cứu cá bꢁt và cá con đã được thực  
190 km) tạo nên mꢁt lưu vực vùng Đồng bằng hiện từ năm 1999 đến 2004, kết quả chỉ ra rằng  
sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện tích gần có 127 loài, bao gồm 123 loài ở sông Tiền và  
40.550 km2, chiếm khoảng 12% diện tích cả 84 loài ở sông Hậu thuꢁc 29 họ, 10 bꢁ; đặc biệt  
nước, có mùa lũ hàng năm từ tháng 6 đến tháng có nhiều loài thuꢁc họ cá Tra (Pangasiidae) là  
12 (MRC, 2015). An Giang là tỉnh đầu nguồn đối tượng nuôi có ý nghĩa rất lớn đối với nghề  
của của vùng ĐBSCL, nơi có hệ thống sông cá nꢁi địa tỉnh An Giang nói riêng và cả vùng  
rạch chằng chịt và chịu ảnh hưởng của nước lũ ĐBSCL nói chung. Từ năm 2000, cá Basa  
hàng năm từ sông Mê Công. Khoảng tháng 6 – (Pangasius bocourti) và cá Tra (Pangasianodon  
7 hàng năm, đây được xem là mùa sinh sản tập hypophthalmus) đã trở thành đối tượng nuôi  
trung của các loài cá trên vùng thượng nguồn, quan trọng và xuất khẩu chủ lực thứ hai của Việt  
cá bꢁt và cá con di cư thụ đꢁng theo dòng nước Nam, sau tôm thẻ chân trắng. Chế đꢁ dòng chảy,  
về phía hạ lưu. Sau đó đàn cá con phân tán vào mực nước lũ, quy luật ngày đêm có liên quan  
các kênh rạch, ruꢁng đồng, vùng ngập lũ,… để đến mật đꢁ cá bꢁt và cá con (Nguyễn Thanh  
sinh trưởng và phát triển. Nguồn lợi cá con này Tùng, 2005).  
có ý nghĩa rất lớn trong việc phục hồi và duy  
Nguồn lợi cá bꢁt, cá con vùng thượng nguồn  
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II  
* Email: [email protected]  
82  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
2.2. Ngư cụ thu mẫu  
ĐBSCL rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên  
trong những năm gần đây, việc xây dựng các đập  
thủy điện trên dòng chính ở thượng nguồn sông  
Mê Công , cùng với những thay đổi khí tượng  
thủy văn và biến đổi khí hậu, các hoạt đꢁng khai  
thác, hoạt đꢁng kinh tế xã hꢁi và chế đꢁ lũ trên  
lưu vực sông làm thay đổi các bãi đẽ, bãi giống  
của các loài cá trên thượng nguồn, nơi sinh sản  
chủ yếu của các loài cá di cư xuống vùng ĐBSCL  
bị ảnh hưởng đặc biệt là họ cá Tra (Pangasiidae).  
Việc bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên cũng là việc  
bảo vệ các nguồn tài nguyên thủy sản tiềm năng,  
trong đó có những loài có giá trị quan trọng thuꢁc  
họ cá Tra. Chính vì vậy, việc thực hiện nghiên  
cứu này rất quan trọng và có ý nghĩa nhằm đánh  
giá biến đꢁng thành phần loài và mật đꢁ cá bꢁt,  
cá con hiện trạng và xu hướng họ cá Tra là cơ sở  
quan trọng để đề xuất cho việc khai thác, quản lý  
hợp lý nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững  
góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản từ  
nguồn giống tự nhiên.  
Hai loại ngư cụ khác nhau được sử dụng để  
thu mẫu cá bꢁt và cá con ở hai trạm, như sau:  
Hình 2. Ngư cụ Lú (Nguyễn Nguyễn Du và  
ctv., 2006).  
- Ngư cụ 1. Lú (Bongo net), loại ngư cụ  
chuyên dùng để thu cá bꢁt. Sử dụng để thu mẫu  
định lượng, xác định biến đꢁng số lượng và mật  
đꢁ cá bꢁt. Cấu trúc của Lú bao gồm lưới có kich  
thướt mắt lưới 1 mm, miệng của lưới có đường  
kính 1 m, lưới dài 5 m, tại đuôi lưới có gắn mꢁt  
cái đụt lưới để thu cá, lưu tốc kế được gắn vào  
giữa miệng lưới. Lú được đặt cách bờ 50 m,  
dưới mặt nước 2 m (Hình 2).  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vị trí thu mẫu  
Tại hai trạm đầu nguồn của sông Tiền và  
sông Hậu thuꢁc tỉnh An Giang cách biên giới  
Campuchia 1km (Hình 1). Trạm sông Hậu thuꢁc  
xã Quốc Thái, huyệnAn Phú với tọa đꢁ 105o5’49,  
2” Đông và 10o 55’13, 2” Bắc; trạm sông Tiền  
thuꢁc xã Vĩnh Xương, huyện Tân Châu với tọa  
đꢁ 105o10’52, 4” Đông và 10o 54’11, 9” Bắc. Vị  
trí đặt trạm khảo sát là nơi tiếp nhận nguồn nước  
từ thượng nguồn đổ về hàng năm.  
- Ngư cụ 2. Đáy (Bagnet) là loại ngư cụ  
truyền thống của ngư dân dùng để khai thác cá  
tra bꢁt. Sử dụng Đáy để thu mẫu định tính, xác  
định sự đa dạng và phong phú về thành phần  
loài cá bꢁt và cá con. Cấu trúc của Đáy được  
làm bằng lưới mùng có mắt lưới 1 – 1,5 mm, dài  
45 m, miệng rꢁng 13 – 14 m, cao 3 m, đụt cá có  
hình dạng khối trụ vuông làm bằng tole cao 2,2  
m (theo kích thước 1,25 x 0,25 x 2,2 m). Đáy  
được đặt cách bờ 50 m (Hình 3).  
Phao ruột xe  
Cây chí  
Thùng phuy  
Neo cây thả  
ngoài sông  
Đụt  
Lưới Đụt  
Dây giằng  
mở miệng  
Cọc đóng  
gần bờ  
Dây sꢀt  
Hình 3. Ngư cụ Đáy (Nguyễn Nguyễn Du và  
Hình 1. Bản đồ vị trí thu mẫu.  
ctv., 2006).  
83  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
2.3. Thời gian thu mẫu  
trong đó:  
Thu mẫu bắt đầu từ ngày 01/06 kết thúc  
ngày 30/09 trong 3 năm 2017, 2018 và 2019.  
Mẫu được thu liên tục hàng ngày và được thực  
hiện cùng lúc như nhau ở hai trạm nghiên cứu.  
Mẫu được thu vào lúc con nước ròng của triều  
trong ngày, mỗi ngày có hai con nước ròng.  
Thời gian thu mẫu được thể hiện cụ thể ở từng  
loại ngư cụ sử dụng như sau: 30 phút đối với Lú  
và 150 phút đối với Đáy.  
Ntot : Tổng số lượng cá bꢁt có trong mẫu  
N1: Số cá thể cá bꢁt có trong mẫu phụ 1  
N2: Số cá thể cá bꢁt có trong mẫu phụ 2  
N3: Số cá thể cá bꢁt có trong mẫu phụ 3  
Wtot: Tổng trọng lượng mẫu chính  
W1: Trọng lượng mẫu phụ 1  
W2: Trọng lượng mẫu phụ 2  
W3: Trọng lượng mẫu phụ 3  
Đo: Trong khi đếm số con, lấy ngẫu nhiên  
mẫu 30 cá thể của mỗi họ hoặc loài trong mỗi  
mẫu chính để đo chiều dài tổng cꢁng của cá  
bằng thước kẹp caliper.  
2.4. Tách và bảo quản mẫu vật  
Ngay hiện trường, sau khi thu mẫu xong thì  
mẫu được sàng lọc, rửa sạch, loại bỏ rác và tạp  
chất. Sau đó mẫu được ngâm trong dung dịch  
formaldehyde 5%.  
Vật liệu phân tích: các vật liệu phân tích  
cần thiết cho việc thực hiện phân tích mẫu: kính  
hiển vi soi nổi leica zoom 2000, khay, dĩa peptri,  
kẹp, pipette bằng nhựa, thước kẹp caliper, cân  
điện tử Pioneer PA213.  
2.5. Phương pháp phân tích mẫu vật  
Phương pháp định dạng cá bꢁt và cá con  
theo hình thái học. Các tài liệu dùng để xác định  
tên các loài cá bꢁt và cá con:  
2.6. Lưu trữ và phân tích dữ liệu  
Cơ sở dữ liệu được xây dựng, lưu trữ trên  
MS. Access 2019 và chuẩn hóa cho các năm kế  
tiếp, nhằm hệ thống hóa và đánh giá tốt hơn về  
xu hướng biến đꢁng nguồn lợi cá.  
- “Bộ sưu tập mẫu cá bột chuẩn” được lưu  
giữ trong phòng thí nghiệm Ngư Loại Học, Viện  
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy Sản II.  
- Apichart Termvidchakorn (2003): Mô tả  
hình thái cá bꢁt và cá con ở lưu vực sông Mê  
Công với 62 loài khác nhau thuꢁc 21 họ, 14 bꢁ.  
- MRC Technical Paper No.38 (2013): Tài  
liệu hướng dẫn phân loại mꢁt số loài cá bꢁt và  
cá con phổ biến ở lưu vực sông Mê Công.  
Phương pháp định lượng: Đếm tất cả số  
lượng cá thể có trong mẫu sau khi đã tách ra  
theo họ hoặc loài. Đối với trường hợp số lượng  
cá thể quá nhiều thì tiến hành lấy mẫu phụ để  
tính tổng cꢁng số lượng cá thể có trong mẫu như  
sau: cân tổng trọng lượng mẫu chính; lấy ra 3  
mẫu phụ từ những vị trí khác nhau trên mẫu;  
cân từng mẫu phụ và định loại tất cả các họ hoặc  
loài trong các mẫu phụ và đếm. Tổng số lượng  
cá bꢁt và cá con trong mẫu được tính bằng công  
thức sau:  
Số liệu được phân tích thống kê bằng phần  
mềm mã nguồn mở R version 4.0.0 và MS.  
Excel 2019.  
Công thức tính dòng chảy được đề nghị do  
General Oceanic Inc. (1996)  
Chỉ số Shannon – Weiner (H’) được dùng  
để đánh giá mức đꢁ đa dạng loài thuꢁc họ cá Tra  
giữa hai trạm khảo sát được tính theo công thức:  
Trong đó, H’: chỉ số đa dạng loài; n: tổng  
số các loài; ni: số lượng cá thể của loài i; N: số  
lượng cá thể trong toàn bꢁ mẫu.  
N1 N2  
N
Wtot  
3   
Ntot =  
+
+
×
W1 W2 W3  
3
Sử dụng thang đánh giá đa dạng sinh học  
84  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
theo các cấp của Phạm Thược (2007) như sau:  
Tra chuꢁt (Helicophagus) 2 loài, trong đó trạm  
sông Tiền là 10 loài và trạm sông Hậu là 7 loài  
(Bảng 1).  
Giá trị H’  
>3,5  
Mức độ da dạng  
Rất phong phú  
Phong phú  
Kết quả nghiên cứu trong 3 năm thu được  
64.994 cá thể thuꢁc họ cá Tra, trong đó ở sông  
Tiền thu được 49.830 cá thể chiếm 76,67% so  
với sông Hậu 15.164 cá thể chiếm 23,37%. Số  
lượng cá thể thu được có xu hướng giảm theo  
từng năm từ năm 2017 đến năm 2019, cụ thể  
lần lượt là 57.846 cá thể, 4.588 cá thể và 2.560  
cá thể. Số lượng cá thể thu được ở sông Tiền và  
sông Hậu cũng có xu hướng giảm lần lượt qua  
các năm, trong đó số lượng cá thể thu được ở  
sông Tiền luôn cao hơn số lượng cá thể thu được  
ở sông Hậu qua từng năm (Bảng 1).  
2,6 – 3,5  
1,6 – 2,59  
0,6 – 1,59  
<0,6  
Tương đối tốt  
Bình thường  
Kém đa dạng  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Thành phần loài và số lượng cá thể  
thuộc họ cá Tra (Pangasiidae)  
Theo kết quả nghiên cứu từ năm 2017-2019  
tại hai trạm ở sông Tiền và sông Hậu cho thấy  
họ cá Tra (Pangasiidae) xuất hiện 11 loài được  
thể hiện ở 3 giống cá Tra dầu (Pangasianodon) 1  
loài, giống cá Tra (Pangasius) 8 loài và giống cá  
Bảng 1. Thành phần loài và số lượng cá thể khai thác được qua các năm.  
2017  
2018  
2019  
Tổng  
Tên địa  
phương  
STT Tên khoa học  
S. Tiền S. Hậu S. Tiền S. Hậu S. Tiền S. Hậu S. Tiền S. Hậu  
Helicophagus  
1
Cá sát  
bầu  
6
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
6
1
0
0
leptorhynchus  
Helicophagus  
Cá Sát  
chuꢁt  
2
waandersi  
Pangasianodon  
hypophthalmus  
3
Cá Tra  
Cá Basa  
Cá Hú  
35.727 13.058  
1.880  
3
439  
41  
12  
0
902  
4
149 38.509 13.646  
Pangasius  
bocurti  
4
0
1.036  
27  
0
103  
0
0
1
7
1.086  
27  
41  
116  
0
Pangasius  
5
43  
7
conchophilus  
Pangasius  
krempfi  
Cá Bông  
lau  
6
0
0
0
Pangasius  
7
Cá Vồ  
đém  
215  
6.572  
37  
15  
400  
1.524  
78  
1
125  
1.196  
42  
0
1
740  
9.292  
157  
2
17  
larnaudiei  
Pangasius  
8
Cá Sát  
sọc  
1.040  
0
164  
2
129  
1
1.333  
3
macronema  
Pangasius  
9
Cá Sát  
bay  
pleurotaenia  
Pangasius  
10  
Cá Sát  
xiêm  
2
8
0
0
0
8
siamensis  
11 Pangasius sp. Cá Tra sp.  
0
0
0
0
3
0
3
0
Tổng  
43.622 14.224  
3.929  
659  
2.279  
281 49.830 15.164  
85  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Kết quả thu mẫu số lượng cá thể theo macronema ) chiếm 16,60% với 9.292 cá thể ở  
từng loài cho thấy, cá Tra (Pangasianodon sông Tiền và 1.333 cá thể ở sông Hậu và đứng  
hypophthalmus) chiếm ưu thế cao nhất (79,94% thứ 3 là loài cá Hú (Pangasius conchophilus)  
với 38.509 cá thể ở sông Tiền và 13.646 cá thể ở chiếm 1,88% với 1.086 cá thể ở sông Tiền và  
sông Hậu), kế đến là loài cá Sát sọc (Pangasius 116 cá thể ở sông Hậu.  
Bảng 2. Thành phần loài họ cá Tra xuất hiện theo tháng qua các năm.  
Thời gian  
Năm 2017  
Năm 2018  
Năm 2019  
Tổng  
Tổng  
Tháng 6  
Tháng 7  
Tháng 8  
Tháng 9  
8
8
6
5
6
6
7
6
4
9
8
5
6
7
5
5
6
8
7
11  
Bảng 2 cho thấy sự biến đꢁng số loài thuꢁc nhưng số loài cao nhất thường tập trung vào  
họ cá Tra qua các năm tương đối ổn định dao tháng 7 và tháng 8 (giữa vụ).  
đꢁng từ 7-8 loài, và sự biến đꢁng số loài ở các  
tháng qua các năm không có sự khác biệt lớn nước) cá bột và cá con thuộc họ cá Tra  
3.2. Biến động mật độ (cá thể/1.000 m3  
Hình 4. Biến đꢁng mật đꢁ (cá thể/1.000m3) theo năm.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật đꢁ cá bꢁt Mật đꢁ cá thể của cá bꢁt và cá con biến đꢁng  
và cá con tại trạm sông Hậu giảm qua các năm, theo xu hướng giảm dần từ đầu mùa lũ (tháng 6)  
năm 2017 là 120 cá thể/1.000 m3 nước đến năm đến cuối mùa lũ (tháng 9), cụ thể tại sông Tiền  
2019 chỉ còn 1 cá thể/1.000 m3 nước. Tại trạm vào tháng 6/2017 là 87 cá thể/1.000 m3 nước,  
sông Tiền có sự gia tăng về mật đꢁ cá thể vào đến tháng 9/2017 là 1 cá thể/1.000 m3 nước và  
năm 2019 với 25 cá thể/1.000 m3 nước, trong tại sông Hậu lần lượt là 134 cá thể/1.000 m3  
khi đó năm 2018 chỉ ở mức 4 cá thể/1.000 m3 nước và 1 cá thể/1.000 m3 nước. Khi so sánh  
nước. Điều này chứng tỏ mực nước lũ và dòng mật đꢁ cá bꢁt và cá con theo các ngày trong  
chảy của nước ảnh hưởng rất lớn đến sự trôi tháng, thời gian đầu mùa lũ mật đꢁ luôn cao và  
dạt mật đꢁ cá bꢁt và cá con ở hai thủy vực sông giảm dần vào cuối mùa lũ. Điều này chứng tỏ  
Tiền và sông Hậu (Hình 4).  
mùa vụ sinh sản của các loài cá trong họ cá Tra  
(Pangasiidae) là vào đầu mùa lũ (Hình 5).  
86  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Hình 5. Biến đꢁng mật đꢁ (cá thể/1.000 m3) theo tháng qua các năm.  
3.3. Mức độ đa dạng loài thuộc họ cá tra nghiên cứu. Sông Tiền có chỉ số đa dạng (H’)  
(Pangasiidae)  
cao hơn ở sông Hậu theo từng năm thông qua  
Nhìn chung, chỉ số đa dạng (H’) đều thấp chỉ số đo Shannon – Weiner (H’) (Bảng 3).  
ở hai trạm sông Tiền và sông Hậu qua các năm  
Bảng 3. Số cá thể, số loài và chỉ số đa dạng (H’) giữa hai trạm thu mẫu.  
2017  
2018  
2019  
Sông Tiền Sông Hậu Sông Tiền Sông Hậu Sông Tiền Sông Hậu  
Số cá thể (con)  
Số loài  
43.622  
8
14.224  
5
3.929  
7
659  
7
2.297  
7
285  
6
Chỉ số đa dạng H’  
0,58  
0,32  
1,09  
0,90  
0,98  
0,81  
Bình  
Bình  
Bình  
Bình  
Mức đꢁ đa dạng  
Thấp  
Thấp  
thường  
thường  
thường  
thường  
Mức đꢁ đa dạng thành phần loài thuꢁc họ các bãi đẽ, bãi giống của các loài cá trên thượng  
cá Tra của hai sông qua các năm quan trắc đều ở nguồn, nơi sinh sản chủ yếu của các loài cá di  
mức thấp đến mức trung bình, kém đa dạng và cư xuống vùng ĐBSCL bị ảnh hưởng đặc biệt  
phong phú. Mꢁt trong những nguyên do có thể là họ cá Tra (Pangasiidae). Kết quả đo đạc của  
nhận định là do việc xây dựng các đập thủy điện Đài khí tượng thủy văn Nam Bꢁ cho thấy mực  
trên dòng chính ở thượng nguồn sông Mê Công, nước lũ năm 2019 về trễ hơn mọi năm bắt đầu từ  
cùng với những thay đổi khí tượng thủy văn, tháng 7 và kết thúc sớm hơn mọi năm vào tháng  
tình hình biến đꢁng chế đꢁ lũ và biến đổi khí 9 là mꢁt trong những nguyên nhân tác đꢁng đến  
hậu, các hoạt đꢁng khai thác, hoạt đꢁng kinh tế sự đa dạng thành phần loài, mật đꢁ cá bꢁt và cá  
xã hꢁi và chế đꢁ lũ trên lưu vực sông làm phá vỡ con trong năm 2019.  
87  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.4. Biến động chiều dài của một số loài cá qua các năm  
Hình 6. Biến đꢁng chiều dài của mꢁt số loài cá phổ biến tại hai trạm thu mẫu.  
Kết quả đo đạc chiều dài cá bꢁt và cá con đã chiều dài có xu hướng tăng qua các năm quan  
cho thấy chiều dài biến đꢁng trong khoảng 26 – trắc, cụ thể loài cá hú năm 2017 là 13 mm đến  
39 mm. Tùy thuꢁc từng loài và từng thời điểm 2019 là 21 mm. Biến đꢁng chiều dài của mꢁt  
sinh sản khác nhau của mỗi loài cá nên kích số loài cá di cư phổ biến được thể hiện trong  
thước của mỗi loài sẽ khác nhau. Biến đꢁng Hình 6.  
Bảng 4. Tần suất chiều dài và ước tính ngày tuổi của 4 loài cá di cư quan trọng.  
Chiều dài Chiều dài  
Chiều dài  
Tổng cá  
thể (con)  
STT Tên khoa học  
nhỏ nhất  
(mm)  
lớn nhất  
(mm)  
trung bình Tuổi ước tính (ngày)  
(mm)  
Pangasianodon  
1
12.362  
18  
10,3  
8
95  
65  
86  
92  
40,99 ± 23,1 10-95 (PL - J)/(PL)  
16,54 ± 15,41 8-65 (PL - J)/(PL)  
43,22 ± 10,53 25-86 (PL - J)/(PL)  
34,77 ± 13,97 11-92 (PL - J)/(PL)  
hypophthalmus  
Pangasius  
2
conchophilus  
Pangasius  
3
538  
25  
11  
larnaudiei  
Pangasius  
4
23.695  
macronema  
Kết quả đo tần suất chiều dài các loài cá cho  
Qua kết quả quan trắc từ năm 2017-2019,  
thấy hầu hết các cá thể được đo đều thuꢁc giai nhận thấy rằng thành phần loài cá bꢁt và cá con  
đoạn cá giống, số ngày tuổi cá bắt được từ 8 – 95 thuꢁc họ cá Tra (Pangasiidae) ở sông Tiền đa  
ngày và nơi các cá thể này được sinh sản cách dạng và phong phú hơn sông Hậu (10 loài so  
trạm thu mẫu từ 73 - 1.245 km về phía thượng với 7 loài). So với các kết quả nghiên cứu trước  
nguồn của sông (Campuchia). Kết quả này căn đây thành phần loài trong nghiên cứu này khá  
cứ dựa vào chiều dài của cá bꢁt và cá con xác tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn  
định được số ngày tuổi của cá (Termvidchakorn Văn Thường và ctv., (2007) đã thu được 10 loài  
và ctv., 2013) (Bảng 4).  
cá thuꢁc họ Pangasiidae ở lưu vực sông Tiền và  
sông Hậu, của Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn  
IV. THẢO LUẬN  
88  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bạch Loan (1999) đã mô tả được 14 loài thuꢁc hầu hết các loài cá sinh sản chủ yếu vào đầu  
họ cá Tra (Pangasiidae) ở Việt Nam.  
và giữa mùa lũ bởi vì đó cũng vào thời điểm  
Theo số liệu quan trắc tại hai trạm trên sông đầu mùa mưa nên thuận lợi cho nhiều loài cá  
Tiền và sông Hậu, sự biến đꢁng thành phần loài ở sông Mê Công sinh sản và di cư sinh sản.  
và mật đꢁ cá bꢁt và cá con có sự tương đồng với Thành phần loài cá bꢁt và cá con có xu hướng  
nhau. Sự biến đꢁng về thành phần loài và mật giảm qua các năm, mực nước lũ hàng năm có  
đꢁ cá thể có xu hướng giảm dần vào thời điểm thể ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đꢁng thành  
kết thúc thời gian quan trắc ở cả hai sông vào phần loài của chúng.  
tháng 9 (cuối mùa lũ). Điều này có nghĩa rằng  
Mức nước tại Stung Treng và Số lượng cá bột vào đầu  
tháng 6  
Mức nước tại Stung Treng và Số lượng cá bột  
vào cuối tháng 6  
6.00  
5.00  
4.00  
3.00  
2.00  
1.00  
0.00  
6.00  
5.00  
4.00  
3.00  
2.00  
1.00  
0.00  
Mức nước (mét)  
Log(SL cá bột)  
Mức nước (mét)  
Log(SL cá bột)  
Hình 7. Mức nước tại Stung Treng và số lượng cá bꢁt vào tháng 6 (Nguồn MRC, 2020).  
Sự di cư sinh sản của các loài cá di cư thuꢁc đầu nguồn của sông Tiền và sông Hậu (Hình 7).  
họ cá Tra có liên quan mật thiết đến chế đꢁ lũ  
Theo kết quả nghiên cứu trước đây của  
của sông Mê Công. Vào cuối mùa khô cá di cư Nguyễn Thanh Tùng (2005), cho thấy vào mùa  
lên thượng nguồn tìm bãi đẻ, đến đầu mùa lũ khi sinh sản hầu hết các loài cá đều tham gia sinh  
mực nước bắt đầu dâng lên thì hàng loạt các loài sản nhưng sự sinh sản này diễn ra không liên  
cá tham gia sinh sản. Sự trôi dạt của trứng và ấu tục mà theo từng đợt, ít nhất là 3 -5 đỉnh điểm  
trùng cá từ các bãi đẻ theo dòng nước sông Mê trong mꢁt mùa đẻ trứng. Trong nghiên cứu này,  
Công đổ về hạ lưu với vận tốc nước trung bình sự sinh sản của cá được thể hiện ở 3 đỉnh điểm  
0,19 (m/s) nếu thuận lợi không cản trở dòng khác nhau như vào đầu tháng 6, vào cuối tháng  
chảy, đường di cư của cá sau thời gian 8 -10 6 và đầu tháng 7 (Hình 7 và Hình 8).  
ngày thì cá giống và cá con xuất hiện ở các trạm  
Mức nước tại Stung Treng và Số lượng cá bột vào đầu  
tháng 7  
7.00  
6.00  
5.00  
4.00  
3.00  
Mức nước (mét)  
Log(SL cá bột)  
2.00  
1.00  
0.00  
Hình 8. Mức nước tại Stung Treng và số lượng cá bꢁt vào tháng 7 và 8-9.  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
89  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Vào thời điểm tháng 8 mực nước tại thượng cá bổ sung vào nguồn lợi thủy sản tự nhiên của  
nguồn sông Mê Công bắt đầu giảm xuống, thể vùng nói chung và sản lượng thủy sản nói riêng  
hiện kết thúc mùa lũ được bắt đầu. Vào thời điểm ở vùng ĐBSCL. Do vậy, bất kꢀ mꢁt công trình  
này số lượng cá thể cá bꢁt và cá con cũng giảm thủy điện hay thủy lợi nào được hình thành trên  
dần theo cho đến khi kết thúc mùa lũ (Hình 8).  
dòng chính sông Mê Công đều cần được nghiên  
Mối liên hệ giữa mức nước và sự sinh sản cứu kỹ đánh giá tác đꢁng môi trường nhằm  
của cá rất phụ thuꢁc, nếu mꢁt trong những tác giảm thiểu tối đa sự ảnh hưởng đến nguồn lợi  
đꢁng nào ảnh hưởng đến sự gia tăng mức nước thủy sản tự nhiên của vùng hay của khu vực.  
theo quy luật tự nhiên sẽ làm mất đi sản lượng  
Hình 9. Mức nước tại trạm Kratie trong 3 năm 2017, 2018 và 2019 (Nguồn MRC, 2020).  
Nguồn nước trên dòng chính Mê Công cung  
Mức đꢁ đa dạng loài thuꢁc họ cá Tra  
cấp cho ĐBSCL được xem xét tại trạm Kratie (Pangasiidae) ở mức thấp và trung bình, tại trạm  
(Hoàng Minh Tuyển, 2016). Theo số liệu quan sông Tiền có mức đꢁ đa dạng loài cao hơn sông  
trắc đo đạc của MRC mức nước tại trạm Kratie Hậu.  
trong 3 năm 2017, 2018 và 2019 cho thấy: mực  
Sự thay đổi chế đꢁ lũ trên thượng nguồn  
nước cao vào cuối mùa vụ quan trắc cho thấy lũ trong những năm gần đây đã làm ảnh hưởng đến  
những năm gần đây xuất hiện tương đối trễ gây các bãi đẻ của cá, thời gian sinh sản của cá và  
ảnh hưởng đến sự sinh sản và trôi dạt của cá bꢁt lượng cá được sinh sản.  
và cá con (Hình 9).  
5.2. Đề xuất  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
5.1. Kết luận  
Tiếp tục nghiên cứu sự đa dạng và phong  
phú nguồn lợi cá bꢁt và cá con trôi dạt từ thượng  
Tổng cꢁng 2.775 mẫu được thu với 64.994 nguồn xuống vùng hạ lưu ĐBSCL.  
cá thể thuꢁc họ cá tra được đại diện cho 11 loài,  
Bổ sung quan trắc các chỉ tiêu chất lượng  
trong đó 7 loài ở sông Hậu và 10 loài ở sông Tiền. nước và chế đꢁ lũ lên sự trôi dạt, đa dạng và  
Thành phần loài và mật đꢁ cá thể có xu phong phú của cá bꢁt và cá con.  
hướng giảm qua các năm và tập trung cao vào  
Hạn chế khai thác vào đầu mùa lũ để đảm  
các tháng đầu mùa lũ giảm dần về cuối mùa vụ bảo được nguồn lợi cá bꢁt cá con được duy trì.  
quan trắc.  
90  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Tài liệu tiếng Anh  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
General Oceanic Inc., 1996. General Oceanic’s  
Digital Flow meter Mechanical and Electronic  
Operators Manual. Floria 33169 – 5887.  
MRC., 2015. Annual Mekong Flood Report 2013,  
Mekong River Commission, 102 pages.  
MRC., 2020. Mekong River Commission, http://  
ffw.mrcmekong.org/index.php, ngày truy cập:  
10/07/2020  
Termvidchakorn Apichart, 2003. Freshwater Fish  
Larvae. Inland Fisheries Resources Research  
and Development Institute, Inland Fisheries  
Research and Development Bureau Department  
of Fisheries. Thailand, 135 pages.  
Tài liệu tiếng Việt  
Hoàng Minh Tuyển., 2016. Tình hình thủy văn hạ  
lưu sông Mê Công mùa khô năm 2015-2016,  
hinh-thuy-van-ha-luu-song-Me-Cong-mua-kho-  
nam, ngày truy cập: 03/11/2020.  
Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Bạch Loan, 1991.  
Phân loại họ cá Tra ở Việt Nam. Tuyển tập  
Nghiên cứu biển, Tập IX, trang 246-258.  
Nguyễn Nguyễn Du, Claire Smallwood, Nguyễn  
Văn Hảo, Nguyễn Văn Trinh, Nguyễn Trọng  
Tín., 2006. Bꢁ Sưu tập ngư cụ nꢁi địa vùng Đồng  
bằng sông Cửu Long. 352 trang.  
Termvidchakorn, A., and Hortle, K.G., 2013. A  
guide to larvae and juveniles of some common  
fish species from the Mekong River Basin.  
MRC Technical Paper No. 38. Mekong River  
Commission, Phnom Penh. 234pp. ISSN: 1683-  
1489.  
Nguyễn Thanh Tùng., 2005. Biến đꢁng thành phần  
loài và mật đꢁ cá bꢁt, cá con ở Vĩnh Xương và  
Quốc Thái, An Giang. Luận án Tiến sĩ. Viện Hải  
Dương Học. Nha Trang, Khánh Hòa. 186 trang.  
Nguyễn Văn Thường và ctv., 2007. Khảo sát thành  
phần loài cá trơn họ pangasiidae ở Đồng bằng  
sông Cửu Long. Báo cáo khoa học. Đại học Cần  
Thơ. 12 trang.  
Phạm Thược., 2007. Cơ sở khoa học của việc bảo  
tồn đa dạng sinh học vùng biển Tây Nam Bꢁ.  
Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nꢁi. 175 trang.  
91  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
THE DIVERSITY AND ABUNDANCE OF LARVAE AND JUVENILE  
FISH OF PANGASIIDAE FAMILY AT UPSTREAM OF THE TIEN AND  
HAU RIVERS DURING THE PERIODS OF 2017 – 2019  
Tran Thuy Vy1*, Nguyen Nguyen Du1, Dinh Trang Diem1 and Huynh Hoang Huy1  
ABSTRACT  
The Mekong River flows into Viet Nam throughout Tien and Hau rivers, larvae and juvenile fish  
drift downstream and then disperse into floodplains and canals to grow and develop; including  
the Pagasiidae family, which is of great significance to the economy of the Mekong Delta. Study  
of the diversity and abundance of larvae and juvenile in the upstream of Tien and Hau rivers near  
the Cambodian border were sampled daily from 1st June to 30th September during 2017 and 2019  
at low tide by using both Bongo nets (quantify) and Bag nets (qualitative) in Vinh Xuong site and  
Quoc Thai site. Samples were stored in plastic jars containing 5% formalin for later identification  
and analysis at Research Institute forAquaculture No. 2, Ho Chi Minh City. Atotal of 2,772 samples  
were analyzed under-representing 64,994 individuals belonging to Pagasiidae with 11 species, of  
which 7 species are in Hau river and 10 species are in Tien river. The species composition of  
the Pangasidae was relatively stable over the years while the density and number of individuals  
decreased sharply. The trend of species composition and individual density decreases from the early  
of the flood season to the end of the flood season. Shannon – Weiner (H’) of Pangasiidae family is  
from low to medium level, the Tien river has more diverse species composition and population of  
individuals than the Hau river. The change in flood regime upstream in recent years has changed the  
spawning grounds of fish, the time of fish spawning and the amount of fish being spawned.  
Keywords: Pagasiidae, density, fish larvae, species composition, variation.  
Người phản biện: TS. Hà Phước Hùng  
Ngày nhận bài: 05/8/2020  
Người phản biện: TS. Thái Ngọc Trí  
Ngày nhận bài: 09/8/2020  
Ngày thông qua phản biện: 23/8/2020  
Ngày duyệt đăng: 27/8/2020  
Ngày thông qua phản biện: 24/8/2020  
Ngày duyệt đăng: 27/8/2020  
1 Research Institute for Aquaculture No.II  
* Email: [email protected]  
92  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020  
pdf 11 trang yennguyen 17820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mức độ đa dạng và phong phú của cá bột và cá con thuộc họ Pangasiidae ở thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu giai đoạn 2017-2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmuc_do_da_dang_va_phong_phu_cua_ca_bot_va_ca_con_thuoc_ho_pa.pdf