Đánh giá sản lượng thủy sản khai thác qua khảo sát ngư cụ và thành phần loài cá khai thác ở hồ Trị An
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
ĐÁNH GIÁ SẢN LƯỢNG THỦY SẢN KHAI THÁC QUA KHẢO SÁT
NGƯ CỤ VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ KHAI THÁC Ở HỒ TRỊ AN
Vũ Cẩm Lương1, Nguyễn Phú Hòa1, Lê Thanh Hùng1
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009, qua khảo sát 203 hộ
ngư dân hoạt động khai thác thủy sản trên 19 loại ngư cụ ở vùng hồ Trị An. Số liệu được thu thập
qua hai mùa mưa và khô, bao gồm các thông số CPUE (Catch per unit effort: sản lượng khai thác /
ngư cụ), thời gian hoạt động của ngư cụ và tỷ lệ thành phần loài cá khai thác. Sản lượng khai thác
của mỗi nhóm ngư cụ có thể tính từ tích số của CPUE, số lượng ngư cụ và thời gian khai thác. Khi
các số liệu đăng ký ngư cụ và thời gian hoạt động được thực hiện đầy đủ như ở Công ty thủy sản
Đồng Nai trên hồ Trị An, việc khảo sát thêm thông số biến động CPUE hàng năm của các nhóm
ngư cụ cho phép tính nhanh sản lượng khai thác thủy sản của từng nhóm ngư cụ cũng như tổng sản
lượng khai thác trên toàn hồ. Nghiên cứu cho kết quả tổng sản lượng khai thác trên toàn hồ trong
năm 2008 là 3.819 tấn/năm, trong đó bước đầu định lượng được sản lượng khai thác đến từng nhóm
loài thủy sản. Có 4 loài cá dẫn đầu sản lượng (448-727 tấn/năm) chiếm tỉ lệ đánh bắt hơn 50% tổng
sản lượng toàn hồ nhưng lại thuộc nhóm cá tạp ít có giá trị kinh tế như sơn xiêm, cơm sông, ba dong
và lꢀm kꢀm, cho thấy tꢀnh trạng khai thác quá mức các loài cá có giá trị kinh tế đang là trở ngại cho
sự phát triển bền vững nghề cá trên hồ.
Từ khóa: Sản lượng khai thác; ngư cụ; thành phần loài cá.
ĐẶT VẤN ĐỀ
thủy sản. Phát triển thủy sản trên hồ Trị An đã
được thực hiện từ những ngày đầu thành lập hồ
vào cuối thập niên 80, với việc thả hàng triệu
con cá giống mè hoa, mè trắng, trôi… bổ sung
cho hồ, mở đầu thời kỳ nuôi và khai thác cá ở
mặt nước lớn (Lê Đông Hải, 1995). Mặc dù trên
hồ còn tồn tại nhiều hꢀnh thức nuôi lồng bè và eo
ngách khác, nhưng nhiệm vụ quản lý khai thác
thủy sản tự nhiên tỏ ra nặng nề hơn cả, với việc
hꢀnh thành riêng một trung tâm thủy sản chuyên
trách việc quản lý nghề cá trong hồ. Công ty
thủy sản Đồng Nai là nơi thống kê và quản lý
ngư dân và các loại như cụ khai thác, tuy nhiên
việc thống kê sản lượng và thành phần loài cá
khai thác từ trước đến nay vẫn chưa có cách làm
hiệu quả, mặc dù đây là những thông số rất quan
Nghề cá hồ chứa giữ vai trò quan trọng
trong việc tăng cung sản lượng thủy sản khai
thác tự nhiên và nuôi trồng, góp phần tạo thêm
công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và sinh kế
cho người dân các khu vực lân cận. Mặc dù đa
số các hồ chứa được hꢀnh thành với mục đích
chính là để phục vụ thủy lợi và thủy điện, việc
phát triển nghề cá hồ chứa đi kèm từ lâu đã được
thực hiện khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.
Hồ Trị An với diện tích ngập nước cực đại
lên tới hơn 32.400 ha hiện là một trong những
hồ chứa có diện tích lớn nhất ở Việt Nam. Bên
cạnh nhiệm vụ phát triển thủy điện, hồ Trị An
còn giữ vai trò điều tiết nước, cung cấp nguồn
nước sạch cho vùng hạ lưu, phát triển du lịch và
1
Khoa Thủy Sản - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM
Email: vcluong@gmail.com
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
133
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
trọng phục vụ cho công tác quản lý, dự báo và dân bao gồm: (1) CPUE (Catch per unit effort):
quy hoạch phát triển nguồn lợi thủy sản trên hồ sản lượng khai thác (hàng ngày) cho mỗi ngư cụ
(Vũ Cẩm Lương, 2005).
(kg/ngày); (2) T: thời gian hoạt động của ngư cụ
(ngày/mùa); (3) Thành phần phần trăm (%) loài:
tỷ lệ % loài cá khai thác:
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề
xuất quy trꢀnh đánh giá sản lượng thủy sản
thông qua việc khảo sát ngư cụ và thành phần
- Sản lượng khai thác trung bꢀnh của ngư cụ
loài cá khai thác, qua đó cho phép nhà quản lý x (tấn/mùa) = CPUE * T
có được thông số sản lượng khai thác không chỉ
cho toàn hồ mà còn cho từng đối tượng giống
loài thủy sản.
- Tổng sản lượng khai thác của nhóm ngư
cụ x = số lượng ngư cụ x * sản lượng khai thác
trung bꢀnh của ngư cụ x.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tổng sản lượng khai thác toàn hồ = Tổng
sản lượng khai thác của 19 nhóm ngư cụ.
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng
11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009 trên cơ sở
khảo sát thu thập số liệu thứ cấp kết hợp điều
tra thực địa các loại ngư cụ và thành phần loài
cá khai thác.
- Tỷ lệ % loài cá đánh bắt tương ứng với
mỗi loại ngư cụ cho phép ước tính sản lượng
của mỗi loài.
Các thông tin khảo sát được xử lý, tổng hợp
và phân tích thống kê thành phần phần trăm,
min, max… bằng phần mềm Microsoft Excel
nhằm mục đích so sánh và đánh giá sự khác biệt
của năng suất khai thác theo các loại ngư cụ và
thành phần loài cá khai thác.
Số liệu thứ cấp được thu thập tại Công ty
thủy sản Đồng Nai, Chi cục bảo vệ nguồn lợi
thủy sản Đồng Nai, Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Đồng Nai. Nội dung số liệu
thu thập bao gồm số lượng ngư dân và ngư cụ
đăng ký hành nghề trên hồ Trị An.
III. KẾT QUẢ
Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra
khảo sát 203 ngư dân có hoạt động khai thác
trên hồ, trong đó số lượt ngư dân ở các vùng
thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn của
hồ lần lượt là 49, 57 và 45. Tỷ lệ các nhóm
ngư cụ khảo sát được phân bổ tương ứng với
tỷ lệ thực tế của ngư cụ hoạt động trên hồ,
bao gồm 19 ngư dân lưới rê (2a: 40-60 mm),
9 ngư dân lưới rê (2a: 70-140 mm), 8 ngư dân
lưới rê cố định tầng mặt, 4 ngư dân lưới rê ba
màng, 13 ngư dân làm te 18 đèn, 14 ngư dân
làm te 1 đèn, 10 ngư dân làm vó không đèn,
17 ngư dân vó đèn, 2 ngư dân lưới giựt, 10
ngư dân lưới rùng 1 ghe kéo, 17 ngư dân lưới
rùng 2 ghe kéo, 10 ngư dân chài rê, 2 ngư dân
chài quăng, 15 ngư dân làm lợp tép, 12 ngư
dân làm lợp bát quái, 4 ngư dân làm lợp cá rô
phi, 10 ngư dân cào gọng, 14 ngư dân lưới sò
và 13 ngư dân câu giăng.
Thông số CPUE của 19 loại ngư cụ khai
thác thủy sản trên hồ Trị An được trꢀnh bày
ở Bảng 1. Có 7 loại ngư cụ chỉ hoạt động
một mùa trong năm, trong khi 12 loại ngư cụ
khác hoạt động quanh năm cả hai mùa mưa
và nắng. Các hꢀnh thức khai thác có năng suất
khai thác cao ở hồ (trên 42 kg/ngày) bao gồm
nghề vó, te, chài rê, lưới rùng và lưới giựt.
Nhóm ngư cụ có CPUE trung bꢀnh (10-31 kg/
ngày) bao gồm cào gọng, lưới sò, lưới rê và
chài quăng. Nhóm ngư cụ có CPUE thấp hơn
10 kg/ngày bao gồm lưới rê cố định tầng mặt,
câu giăng, lưới rê ba màng và các bộ lợp. Các
ngư cụ có năng suất khai thác cao nhất vào
mùa khô là te và lưới rùng, lần lượt là 70,4 và
70,7 kg/ngày. Các ngư cụ có năng suất khai
thác cao nhất vào mùa mưa là vó và te, lần
lượt là 71,4 và 59,3 kg/ngày. Đối với các ngư
cụ khai thác quanh năm, năng suất khai thác
mùa khô cao hơn mùa mưa cho tất cả các loại
ngư cụ khảo sát.
Số liệu được thu thập qua hai mùa: mùa khô
và mùa mưa. Thông tin khảo sát ở các nhóm ngư
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
134
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Bảng 1. CPUE các ngư cụ theo mùa vụ ở hồ Trị An
STT Ngư cụ khai thác
CPUE mùa khô
(kg/ngày)
-
CPUE mùa mưa
(kg/ngày)
71,4 ± 7,6
59,3 ± 6,5
45,3 ± 3,8
38,6 ± 4,7
22,5 ± 3,7
-
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Vó (đèn)
Te (18 đèn)
70,4 ± 7,7
70,7 ± 4,1
57,0 ± 5,3
53,5 ± 10,9
49,8 ± 4,9
48,8 ± 4,5
42,0 ± 8,0
31,2 ± 6,0
15,2 ± 1,2
14,8 ± 1,2
14,0 ± 1,0
10,1 ± 1,5
9,7 ± 1,7
-
Lưới rùng (2 ghe kéo)
Te (1 đèn)
Vó (không đèn)
Chài rê
Lưới rùng (1 ghe kéo)
Lưới giựt
40,3 ± 3,0
-
Cào gọng
12,6 ± 2,2
-
10 Lưới sò
11 Lưới rê (2a = 40-60 mm)
12 Chài quăng
11,8 ± 0,9
-
13 Lưới rê (2a = 70-140 mm)
14 Lưới rê cố định tầng mặt
15 Bộ lợp cá rôphi
16 Bộ lợp bát quái
17 Lưới rê ba màng
18 Bộ lợp tép
8,5 ± 0,7
7,2 ± 0,4
8,1 ± 1,4
7,0 ± 0,8
6,8 ± 1,2
3,4 ± 0,5
4,3 ± 0,5
8,5 ± 1,2
-
6,3 ± 0,6
5,8 ± 0,4
19 Câu giăng
Số lượng và thời gian hoạt động của các ngư cụ thuộc nhóm phổ biến trung bꢀnh (20-80
ngư cụ theo hai mùa khô và mưa được trꢀnh bày ngư cụ/mùa), bao gồm vó đèn và không đèn,
ở Bảng 2. Nghề lưới rê với kích thước mắt lưới lưới sò, bộ lợp tép, lưới rùng 1 và 2 ghe, bộ lợp
40-60 mm hiện phổ biến nhất trên hồ (178-228 bát quái, cào gọng và te 1 đèn. Nhóm ngư cụ ít
ngư cụ / mùa) với thời gian khai thác quanh phổ biến (không quá 12 ngư cụ/mùa) bao gồm
năm. Nghề te 18 đèn và câu giăng cũng thuộc lưới rê (2a = 70-140 mm), lưới rê cố định tầng
nhóm ngư cụ phổ biến, đạt hơn 100 ngư cụ/mùa, mặt, lưới rê ba màng, chài rê, bộ lợp cá rô phi,
nhưng biến động lớn giữa hai mùa. Có 9 nhóm lưới giựt và chài quăng.
Bảng 2. Số lượng và thời gian hoạt động của các ngư cụ
TT Ngư cụ khai thác
Mùa khô
Số ngày /mùa
Mùa mưa
Số ngày /mùa
Số lượng
228
Số lượng
178
1
2
3
4
Lưới rê (2a = 40-60 mm)
120
150
30
90
90
Te (18 đèn)
Câu giăng
Bộ lợp tép
104
63
52
108
120
120
39
90
48
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
135
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
5
6
7
8
9
Vó (đèn)
0
42
70
25
22
25
18
10
6
0
120
120
120
90
80
30
0
120
45
0
Lưới rùng (2 ghe kéo)
Lưới sò
Bộ lợp bát quái
Cào gọng
29
31
20
22
24
8
90
90
90
105
30
90
60
67
0
10 Te (1 đèn)
120
105
150
90
11 Vó (không đèn)
12 Lưới rùng (1 ghe kéo)
13 Lưới rê cố định tầng mặt
14 Lưới rê (2a = 70-140 mm)
15 Bộ lợp cá Rôphi
16 Chài rê
2
30
11
12
0
0
0
11
0
60
17 Lưới rê ba màng
18 Lưới giựt
0
6
105
0
2
60
0
19 Chài quăng
2
90
0
0
Tổng cộng
658
1.545
670
1.312
Sản lượng khai thác của các nhóm ngư cụ 595 tấn/năm. Nhóm ngư cụ có sản lượng khai
là kết quả tích số của CPUE, số lượng ngư cụ thác trung bꢀnh (30-150 tấn/năm) bao gồm 8
và thời gian khai thác (Bảng 3). Nghề te 18 đèn ngư cụ như vó không đèn, lưới sò, lưới rùng 1
măng sông, vó đèn và lưới rùng 2 ghe kéo với ghe, cào gọng, câu giăng, bộ lợp tép, bộ lợp bát
thành phần loài khai thác chủ yếu dùng làm thức quái và chài rê. Nhóm ngư cụ có sản lượng khai
ăn nuôi cá bè (sơn xiêm, cơm sông…) cho sản thác thấp (không quá 10 tấn/năm) bao gồm 6
lượng khai thác cao nhất (417-1108 tấn). Nghề ngư cụ như lưới rê cố định tầng mặt, lưới rê (2a
lưới rê (2a = 40-60 mm) với ưu điểm sản lượng = 70-140 mm), bộ lợp cá rô phi, lưới giựt, lưới
khai thác ổn định, đa dạng thành phần loài, thời rê ba màng và chài quăng.
lượng khai thác cao với sản lượng khai thác đạt
Bảng 3. Sản lượng khai thác của các nhóm ngư cụ
Sản lượng mùa
mưa (tấn)
Sản lượng mùa
khô (tấn)
Tổng sản lượng
(tấn/năm)
TT
Ngư cụ khai thác
1
2
3
4
5
Te 18 đèn măng sông
Vó (đèn)
889
0
219
686
189
61
1108
686
595
417
313
Lưới rê (2a = 40-60 mm)
Lưới rùng (2 ghe kéo)
Te 1 đèn măng sông
406
356
211
102
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
136
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
6
7
8
9
Vó (không đèn)
Lưới sò
101
128
73
62
9
52
0
153
128
102
97
65
44
43
33
10
7
Lưới rùng (1 ghe kéo)
Cào gọng
29
35
56
20
18
0
10 Câu giăng
11 Bộ lợp tép
24
25
33
5
12 Bộ lợp bát quái
13 Chài rê
14 Lưới rê cố định tầng mặt
15 Lưới rê (2a = 70-140 mm)
16 Bộ lợp cá Rôphi
17 Lưới giựt
5
1
6
0
6
6
5
0
5
18 Lưới rê ba màng
19 Chài quăng
0
4
4
3
0
3
Tổng cộng
2.331
1.488
3.819
Sản lượng khai thác thủy sản ở hồ chứa liệu lượng ngư dân hàng năm và tỷ lệ sản lượng
Trị An từ năm 1993 đến 2008 được trꢀnh bày khai thác cho mỗi ngư dân được liệt kê làm đối
ở Bảng 4, trong đó số liệu giai đoạn 1993-2007 chứng. Nhꢀn chung, sản lượng khai thác trên
được thu thập từ báo cáo hàng năm của Công ty mỗi ngư dân có khuynh hướng tăng dần từ năm
Thủy sản Đồng Nai và số liệu năm 2008 được 1993 đến 2008, tuy nhiên khi lượng ngư dân
ước tính trực tiếp từ nghiên cứu này. Do số liệu tăng đột biến thꢀ sản lượng khai thác trên mỗi
ước tính của Công ty Thủy sản Đồng Nai dựa ngư dân có khuynh hướng giảm đột ngột.
trên khai báo và khảo sát các ngư dân, nên số
Bảng 4. Sản lượng khai thác thủy sản ở hồ Trị An từ 1993 đến 2008
Sản lượng / ngư dân
Năm
Sản lượng khai thác (tấn)
Số ngư dân (người)
(tấn/người)
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
800
833
300
400
2,7
2,1
2,0
2,0
2,3
1,5
2,0
1,6
1126
1475
1825
1840
2269
2301
550
748
800
1234
1136
1470
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
137
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2786
3118
3080
2835
2589
2600
2837
3819*
1237
892
978
884
872
721
747
1115
2,3
3,5
3,1
3,2
3,0
3,6
3,8
3,4
(Ghi chú: Sản lượng khai thác từ 1993-2007 do Công ty thủy sản Đồng Nai ước tính, riêng sản
lượng khai thác năm 2008 là kết quả của nghiên cứu này)
Qua khảo sát tỉ lệ thành phần loài đánh bắt nhóm có sản lượng khai thác trên 100 tấn/năm
của mỗi nhóm ngư cụ, kết quả sản lượng chi bao gồm mè vinh, bống tượng, rô phi, trèn đá và
tiết của các loài được trꢀnh bày ở Bảng 5. Có chốt. Trong số 40 loài và nhóm loài cá khai thác
4 loài cá dẫn đầu sản lượng (448-727 tấn/năm) phổ biến thống kê được trong nghiên cứu này,
chiếm tỉ lệ đánh bắt hơn 50% tổng sản lượng có tới 20 loài (chiếm 50%) có sản lượng không
toàn hồ, bao gồm sơn xiêm, cơm sông, ba dong quá 6,2 tấn/năm và có 9 loài (chiếm 23%) có sản
và lꢀm kꢀm. Các đối tượng cá kinh tế nằm trong lượng không quá 0,6 tấn/năm.
Bảng 5. Thành phần loài thủy sản khai thác ở hồ Trị An
TT
Loài
Sản lượng (tấn/năm)
Tỉ lệ (%)
1
2
Cá sơn xiêm Parambassis siamensis
Cá cơm sông Clupeichthys gonognathus
Cá ba dong Cyclocheilichthys repasson
Cá lꢀm kꢀm Dermogenys pusillus
Cá mè vinh Barbonymus gonionotus
Cá bống tượng Oxyeleotris marmoratus
Cá rô phi Oreochromis spp
727,1
666,2
566,1
448,4
278,8
176,5
167,7
155,2
147,3
119,0
92,1
19,0
17,4
14,8
11,7
7,3
3
4
5
6
4,6
7
4,4
8
Cá trèn đá Kryptopterus cryptopterus
Cá linh rꢀa Labiobarbur kuhli
4,1
9
3,9
10
11
12
13
14
Cá chốt các loại Mystus spp
3,1
Cá chép Cyprius carpio
2,4
Tép Macrobrachium spp
69,4
1,8
Cá lăng ki Hemibagrus wyckii
47,1
1,2
Cá lau kiếng Pterygoplichthys disjunctivus
32,9
0,9
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
138
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
Cá hoàng đế Cichla ocellaris
20,1
16,9
14,8
13,1
12,5
10,7
6,2
0,5
0,4
Cá bống cát Glossogobius sp
Cá leo Wallago attu
0,4
Cá linh ống Henicorhynchus siamensis
Cá hạt mít Puntius brevis
0,3
0,3
Cá lăng vàng Hemibagrus nemurus
Cá kết Micronema bleekeri
0,3
0,2
Cá mè lúi Osteochilus hasseltii
Cá trê trắng Clarias batrachus
Cá rô đồng Anabas testudineus
Cá ngựa nam Hampala macrolepidota
Cá ét mọi Labeo chrysophekadion
Cá lóc các loại Channa spp
5,0
0,1
4,9
0,1
4,9
0,1
4,0
0,1
3,6
0,1
3,0
0,1
Cá trèn bầu Ompok bimaculatus
Cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix
Cá thát lát Notopterus notopterus
Cá chạch bông Mastacembelus armatus
Cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus
Cá trôi Cirrhinus spp
1,9
0,1
1,7
0,1
1,7
0,1
1,5
0,1
0,6
0,02
0,01
0,01
0,01
0,01
0,01
0,01
0,002
0,001
0,4
Cá trê vàng Clarias macrocephalus
Cá chꢀnh hoa Anguilla marmorata
Cá chạch lá tre Macrognathus siamensis
Tôm càng xanh Macrobrachius rosenbergii
Cá tra Pangasius hypophthalmus
Cá mè hoa Hypophthalmichthys nobilis
Cá thiểu mại Paralaubuca barroni
0,4
0,2
0,2
0,2
0,2
0,1
0,01
IV. THẢO LUẬN
ghe kéo, te 1 đèn và 18 đèn, vó không đèn cho
CPUE cao hơn 50 kg/ngày nhưng có nhiều cá
tạp dùng làm thức ăn nuôi cá bè. Đáng lưu ý là
nghề lưới rê với mắt lưới 40-60 mm có CPUE
chỉ cao hơn khoảng 40% so với lưới rê với mắt
lưới 70-140 mm, cho thấy kích cỡ cá khai thác
có dấu hiệu giảm sút rõ rệt, cảnh báo tꢀnh trạng
So với thống kê ghi nhận 14 loại ngư cụ
khai thác trên hồ năm 2005 của Phan Thanh
Lâm (2006), các loại nghề cào gọng, lưới giựt,
lưới rê cố định tầng mặt, lợp bát quái và lợp cá
rô phi là những hꢀnh thức khai thác mới được
đưa vào hồ sau năm 2005. Các nghề lưới rùng 2
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
139
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản trên hồ các phương pháp ước tính sản lượng trong quá
(Welcomme, 2001). Đối với các ngư cụ khai khứ không đồng nhất nên khó có thể so sánh số
thác quanh năm, năng suất khai thác mùa khô liệu các năm. Ngoài ra, những yếu tố dao động
cao hơn 57% so với sản lượng khai thác mùa lớn của nguồn lợi thủy sản chưa được tính đến
mưa phản ánh đặc điểm quản lý nghề cá ở các trong thống kê ở quá khứ, như tỉ lệ thành phần
hồ chứa lớn với mức nước dao động lớn trong loài và mối quan hệ đa loài (King, 1995), đặt ra
năm, theo đó thời điểm đánh bắt vào mùa nước yêu cầu chi tiết hóa sản lượng của các giống loài
kiệt được khuyến cáo cần biện pháp hạn chế cụ thể cho các năm.
khai thác để bảo vệ nguồn lợi (De Silva, 2001).
So với số liệu sản lượng khai thác thủy sản
Ngư cụ trên hồ Trị An không chỉ đa dạng về ở hồ chứa Trị An từ năm 1993 đến 2008 được
chủng loại và ngư pháp đánh bắt mà còn có số thu thập từ báo cáo hàng năm của Công ty Thủy
lượng và tần suất hoạt động trong năm khá cao. sản Đồng Nai, sản lượng khai thác thủy sản năm
Số lượng ngư cụ hoạt động dao động từ 2 đến 2008 được ước tính trực tiếp từ nghiên cứu này
228 ngư cụ cho mỗi loại nghề và có đến 658- có sự gia tăng mạnh. Sự khác biệt thể hiện ở hai
670 đơn vị ngư cụ hoạt động trong mỗi mùa phương pháp ước tính, khi Công ty Thủy sản
khai thác. Tuy nhiên, sự phát triển đa dạng các Đồng Nai dựa trên khai báo và khảo sát các ngư
loại ngư cụ khai thác trên hồ có thể là cảnh báo dân, còn nghiên cứu này dựa trên đơn vị ngư cụ.
cho tꢀnh trạng phát triển tự phát và thiếu quy Tuy nhiên, việc ghi nhận sản lượng khai thác
hoạch quản lý trong hoạt động khai thác nguồn dựa trên số lượng ngư dân có lẽ chỉ thích hợp
lợi thủy sản trên hồ (Oliver, 2002). Ngoài ra số cho công tác quản lý hơn là dựa trên cơ sở khoa
đơn vị ngư cụ hoạt động ổn định ở cả hai mùa học khai thác thủy sản (Fernando, 1980). Đứng
khai thác trong năm cho thấy các biện pháp giới ở khía cạnh quản lý, một vấn đề đáng quan tâm
hạn mùa vụ khai thác để bảo vệ nguồn lợi thủy là khi lượng ngư dân tăng đột biến, sản lượng
sản cần được triển khai trên hồ (Baluyut, 1983). khai thác trên mỗi ngư dân có khuynh hướng
giảm đột ngột, điều này cho thấy cần thiết phải
kiểm soát số lượng ngư dân khai thác để tránh
tꢀnh trạng khai thác quá mức (Oglesby, 1985).
Sản lượng khai thác của các nhóm ngư
cụ được ước tính dựa trên kết quả tích số của
CPUE, số lượng ngư cụ và thời gian khai thác
trong năm. Lorenzen (2001) cho rằng phương
Các loài cá sơn xiêm, cơm sông, ba dong
pháp tính sản lượng khai thác truy xuất từ các và lꢀm kꢀm dẫn đầu sản lượng khai thác ở hồ Trị
nhóm ngư cụ cho kết quả với độ chính xác cao An (448-727 tấn/năm) và chiếm tỉ lệ đánh bắt
nếu có sự am hiểu các ngư cụ khai thác và thống hơn 50% tổng sản lượng toàn hồ. Tuy nhiên các
kê được nỗ lực khai thác đã đăng ký. Ngoài ra, loài cá trên chủ yếu được sử dụng như cá tạp
phương pháp tính sản lượng khai thác chi tiết cho hoạt động nuôi bè, ít có giá trị kinh tế, cho
trên từng nhóm ngư cụ có thể cho phép hiệu thấy dấu hiệu khai thác quá mức trên hồ Trị An
chỉnh các sai số sản lượng khai thác tùy theo đã diễn ra nghiêm trọng trên các đối tượng cá
tꢀnh hꢀnh hoạt động thực tế hàng năm của các dữ có giá trị kinh tế cao (Li và Xu, 1995). Tuy
nhóm ngư cụ.
nhiên, trên phương diện quản lý nghề cá, việc
tiếp tục khai thác các đối tượng cá tạp trên là
hợp lý để giảm bớt áp lực lên bậc dinh dưỡng
thức ăn phiêu sinh thực vật và động vật (Meyer
và ctv., 1996).
Tổng sản lượng khai thác của 19 nhóm ngư
cụ có đăng ký hợp pháp ở hồ Trị An là 3.819
tấn/năm. So với số liệu sản lượng khai thác ước
tính của Công ty thủy sản Đồng Nai thông qua
các bến cá và số ngư dân đăng ký từ năm 1993
Điều đáng lưu ý là trong số các đối tượng cá
đến 2007, số liệu tính toán của năm 2008 có thả bổ sung hàng năm trên hồ như mè, trôi, trắm,
mức sai khác đáng kể (Bảng 4). Tuy nhiên do rô phi… chỉ có cá rô phi đạt sản lượng khai thác
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
140
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
cao do khả năng sinh sản và tái bổ sung mạnh. lượng khai thác thủy sản của từng nhóm ngư cụ
Tuy nhiên, xét trên phương diện nguồn lợi thức cũng như tổng sản lượng khai thác trên toàn hồ.
ăn tự nhiên trên hồ, rõ ràng chiến lược thả cá
trên hồ Trị An chưa phù hợp do chưa chọn được
những đối tượng sử dụng nguồn lợi dồi dào của
cá tạp kích thước nhỏ và tôm tép (Lương và
ctv, 2002). Ngoài ra, Li và Xu (1995) cho thấy
chiến lược thả bổ sung ở Trung Quốc ngày nay
đã quan tâm hơn đến điều kiện thức ăn tự nhiên
của hồ chứa để có công thức thả phù hợp.
LỜI CẢM TẠ
Tác giả xin cảm tạ Trần Văn Mẫn và các
cán bộ ở Công ty thủy sản Đồng Nai, Chi cục
bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng Nai và Trạm
thủy sản Trị An đã hỗ trợ khảo sát. Nghiên cứu
này được sự hỗ trợ kinh phí từ dự án CRSP mã
số 07MNE03UM/ Vietnam.
So với các thống kê từng ghi nhận 139 loài
cá trên hồ Trị An (Nguyễn Thanh Tùng, Phan
Thanh Lâm, 2002), hiện nay nhiều loài cá trong
số này rất khó tꢀm thấy trong khai thác cũng như
ở các bến cá. Tuy nhiên rất khó có thể so sánh
về mức độ phong phú thành phần loài khi hai
nỗ lực nghiên cứu ở khía cạnh phân loại và khai
thác là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, xét trên
khía cạnh quản lý khai thác, danh mục 40 loài
cá khai thác phổ biến mang ý nghĩa thiết thực
hỗ trợ công tác quản lý và vận hành nghề cá trên
các hồ chứa (Li và Xu, 1995).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Baluyut, E.A., 1983. Stocking and introduction of fish
in lakes and reservoirs in the ASEAN countries.
FAO Fish. Tech. Pap. No. 236, 82pp.
De Silva, S.S., 2001. The impact of large reservoirs
on fish biodiversity and fisheries in China. In:
Reservoir and culture-based fisheries: biology
and management (ed. S.S. De Silva), pp. 22-28.
ACIAR Proceedings No. 98. 384 p.
Fernando, C.H., 1980. The fishery potential of
man-made lakes in South East Asia and some
strategies for its optimization. Regional Center for
Tropical Biology (BIOTROP), Bogor, Indonesia.
Anniversary Publication, 1980, 25-38.
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Lê Đông Hải, 1995. Đánh giá hiện trạng, dự báo biến
đổi môi trường khu vực công trꢀnh Trị An và đề
xuất phương hướng phát triển kinh tế xã hội trong
vùng. Báo cáo đề tài KT.02.15, Trung tâm bảo vệ
môi trường EPC, 96 trang.
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát hiện trạng
khai thác thủy sản ở hồ chứa Trị An với các dữ
liệu về năng suất khai thác trên từng nhóm ngư
cụ, số lượng và thời gian hoạt động của các
nhóm ngư cụ và tỷ lệ thành phần loài cá khai
thác trên từng nhóm ngư cụ. Nghiên cứu cũng
đã ước tính gián tiếp sản lượng khai thác của
mỗi nhóm ngư cụ từ tích số của CPUE, số lượng
ngư cụ và thời gian khai thác. Ngoài ra tỷ lệ
thành phần loài cá khai thác trên toàn hồ cũng
có thể ước tính được hàng năm dựa trên kết quả
khảo sát tỷ lệ thành phần loài cá khai thác cho
từng nhóm ngư cụ.
King, M., 1995. Fisheries biology, assessment and
management. Fishing News Books, UK, 341 pp.
Lorenzen, K., 2001. Using population models to assess
culture-based fisheries: a brief review with an
applicationtotheanalysisofstockingexperiments.
In: Reservoir and culture-based fisheries: biology
and management (ed. S.S. De Silva), pp. 257-265.
ACIAR Proceedings No. 98, 384 p.
Phan Thanh Lâm, 2006. Phân tích mô hꢀnh kinh tế
sinh học cho nghề khai thác thủy sản trên hồ
chứa Trị An. Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy
sản II, 15 trang.
Để kết quả nghiên cứu có thêm giá trị ứng
dụng thực tiễn, các đơn vị quản lý thủy sản trên
hồ chứa Trị An cần triển khai thu thập số liệu
đăng ký ngư cụ và thời gian hoạt động hàng
năm của các nhóm ngư cụ. Khi đó, việc khảo
sát thêm thông số biến động CPUE hàng năm
của các nhóm ngư cụ cho phép tính nhanh sản
Vũ Cẩm Lương, 2005. Quản lý nguồn lợi thủy sản trong
các hồ chứa ở châu Á: tổng quan các phương pháp
tiếp cận. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông lâm
nghiệp, số 1, 109-119.
Li, S. and Xu, S., 1995. Culture and capture of fish in
Chinese Reservoirs. IDRC, Ottawa, Canada and
Southbound Sdn. Bhd. Penang, Malaysia, 128 pp.
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
141
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Luong, V.C., Kwei Lin, C. and Yakupitiyage, A., 2002.
Oliver, M.A.R. (Ed.), 2002. Sustainable fisheries
management in Asia. Asian Productivity
Organization, Tokyo, 325 pp.
A trophic box model of cove aquaculture in Tri
An Reservoir, Vietnam. Verh. Internat. Verein.
Limnol., Stuttgart, 28, 1381-1384.
Nguyễn Thanh Tùng, Phan Thanh Lâm, 2002. Đánh
giá tꢀnh hꢀnh bảo tồn, bảo vệ tái tạo và phát triển
nguồn lợi thủy sản tại hồ Trị An 5 năm qua. Viện
nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, 45 trang.
Meyer, R.M., Zhang, C., McCay, B.J., Husak, L.J.,
Muth, R.M., Wolotira, R.J. (Eds.), 1996. Fisheries
resources utilization and policy. Oxford & IBH,
New Delhi, 535 pp.
Welcomme, R.L., 2001. Inland fisheries, ecology and
management. Fishing News Books, Blackwell
Science, London, 358 pp.
Oglesby, R.T., 1985. Management of lacustrine
fisheries in the tropics. Fisheries, 10, 16-19.
FISH CATCH ASSESSMENT WITH FISHING GEARS AND FISH SPECIES
COMPOSITION AT TRI AN RESERVOIR
Vu Cam Luong1, Nguyen Phu Hoa1, Le Thanh Hung1
ABSTRACT
This study was conducted at Tri An Reservoir of Vietnam during November 2007 to March 2009 to
investigate 203 fishermen within 19 fishing gears. The data was collected throughout both rainy and
dry seasons, including CPUE (Catch per unit effort), fishing operation time and species composi-
tion. Fish catch of each fishing gear can be calculated as the product of CPUE, quantity of fishing
gears and fishing operation time. As fishing gears data was recorded carefully at Dongnai Fisheries
Company, additional yearly investigation of CPUE may allow quick access to total catch as well
as fish catch of each fishing gear. This study resulted a total catch of 3,819 tons/year in 2008, in
which fish catch of each species were also included. There were four fish species with highest catch
(448-727 tons/year) accounting of more than 50% the reservoir’s total catch, such as Parambassis
siamensis, Clupeichthys gonognathus, Cyclocheilichthys repasson and Dermogenys pusillus. How-
ever, such species were small low-value fish that are abundant in the reservoir for the use of feeding
cage culture, thus overfishing of economically important fish may occur and threating sustainable
fisheries development at the reservoir.
Key words: Fish catch; fishing gear; fish species composition
N g ư ờ i p h ả n b i ệ n : T h S . V ũ V i A n
N g à y n h ậ n b à i : 6 / 6 / 2 0 1 3
N g à y t h ô n g q u a p h ả n b i ệ n : 2 2 / 6 / 2 0 1 3
Ngày duyệt đăng: 8/7/2013
1
Department of Fish Pathology, Faculty of Fisheries - Nong Lam University, Hochiminh City
Email: vcluong@gmail.com
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013
142
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá sản lượng thủy sản khai thác qua khảo sát ngư cụ và thành phần loài cá khai thác ở hồ Trị An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_san_luong_thuy_san_khai_thac_qua_khao_sat_ngu_cu_va.pdf

