Đánh giá sản lượng thủy sản khai thác qua khảo sát ngư cụ và thành phần loài cá khai thác ở hồ Trị An

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
ĐÁNH GIÁ SẢN LƯỢNG THỦY SẢN KHAI THÁC QUA KHẢO SÁT  
NGƯ CỤ VÀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ KHAI THÁC Ở HỒ TRỊ AN  
Vũ Cẩm Lương1, Nguyễn Phú Hòa1, Lê Thanh Hùng1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009, qua khảo sát 203 hộ  
ngư dân hoạt động khai thác thủy sản trên 19 loại ngư cụ ở vùng hồ Trị An. Số liệu được thu thập  
qua hai mùa mưa và khô, bao gồm các thông số CPUE (Catch per unit effort: sản lượng khai thác /  
ngư cụ), thời gian hoạt động của ngư cụ và tỷ lệ thành phần loài cá khai thác. Sản lượng khai thác  
của mỗi nhóm ngư cụ có thể tính từ tích số của CPUE, số lượng ngư cụ và thời gian khai thác. Khi  
các số liệu đăng ký ngư cụ và thời gian hoạt động được thực hiện đầy đủ như ở Công ty thủy sản  
Đồng Nai trên hồ Trị An, việc khảo sát thêm thông số biến động CPUE hàng năm của các nhóm  
ngư cụ cho phép tính nhanh sản lượng khai thác thủy sản của từng nhóm ngư cụ cũng như tổng sản  
lượng khai thác trên toàn hồ. Nghiên cứu cho kết quả tổng sản lượng khai thác trên toàn hồ trong  
năm 2008 là 3.819 tấn/năm, trong đó bước đầu định lượng được sản lượng khai thác đến từng nhóm  
loài thủy sản. Có 4 loài cá dẫn đầu sản lượng (448-727 tấn/năm) chiếm tỉ lệ đánh bắt hơn 50% tổng  
sản lượng toàn hồ nhưng lại thuộc nhóm cá tạp ít có giá trị kinh tế như sơn xiêm, cơm sông, ba dong  
và lꢀm kꢀm, cho thấy tꢀnh trạng khai thác quá mức các loài cá có giá trị kinh tế đang là trở ngại cho  
sự phát triển bền vững nghề cá trên hồ.  
Từ khóa: Sản lượng khai thác; ngư cụ; thành phần loài cá.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
thủy sản. Phát triển thủy sản trên hồ Trị An đã  
được thực hiện từ những ngày đầu thành lập hồ  
vào cuối thập niên 80, với việc thả hàng triệu  
con cá giống mè hoa, mè trắng, trôi… bổ sung  
cho hồ, mở đầu thời kỳ nuôi và khai thác cá ở  
mặt nước lớn (Lê Đông Hải, 1995). Mặc dù trên  
hồ còn tồn tại nhiều hꢀnh thức nuôi lồng bè và eo  
ngách khác, nhưng nhiệm vụ quản lý khai thác  
thủy sản tự nhiên tỏ ra nặng nề hơn cả, với việc  
hꢀnh thành riêng một trung tâm thủy sản chuyên  
trách việc quản lý nghề cá trong hồ. Công ty  
thủy sản Đồng Nai là nơi thống kê và quản lý  
ngư dân và các loại như cụ khai thác, tuy nhiên  
việc thống kê sản lượng và thành phần loài cá  
khai thác từ trước đến nay vẫn chưa có cách làm  
hiệu quả, mặc dù đây là những thông số rất quan  
Nghề cá hồ chứa giữ vai trò quan trọng  
trong việc tăng cung sản lượng thủy sản khai  
thác tự nhiên và nuôi trồng, góp phần tạo thêm  
công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và sinh kế  
cho người dân các khu vực lân cận. Mặc dù đa  
số các hồ chứa được hꢀnh thành với mục đích  
chính là để phục vụ thủy lợi và thủy điện, việc  
phát triển nghề cá hồ chứa đi kèm từ lâu đã được  
thực hiện khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.  
Hồ Trị An với diện tích ngập nước cực đại  
lên tới hơn 32.400 ha hiện là một trong những  
hồ chứa có diện tích lớn nhất ở Việt Nam. Bên  
cạnh nhiệm vụ phát triển thủy điện, hồ Trị An  
còn giữ vai trò điều tiết nước, cung cấp nguồn  
nước sạch cho vùng hạ lưu, phát triển du lịch và  
1
Khoa Thủy Sản - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM  
Email: vcluong@gmail.com  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
133  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
trọng phục vụ cho công tác quản lý, dự báo và dân bao gồm: (1) CPUE (Catch per unit effort):  
quy hoạch phát triển nguồn lợi thủy sản trên hồ sản lượng khai thác (hàng ngày) cho mỗi ngư cụ  
(Vũ Cẩm Lương, 2005).  
(kg/ngày); (2) T: thời gian hoạt động của ngư cụ  
(ngày/mùa); (3) Thành phần phần trăm (%) loài:  
tỷ lệ % loài cá khai thác:  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề  
xuất quy trꢀnh đánh giá sản lượng thủy sản  
thông qua việc khảo sát ngư cụ và thành phần  
- Sản lượng khai thác trung bꢀnh của ngư cụ  
loài cá khai thác, qua đó cho phép nhà quản lý x (tấn/mùa) = CPUE * T  
có được thông số sản lượng khai thác không chỉ  
cho toàn hồ mà còn cho từng đối tượng giống  
loài thủy sản.  
- Tổng sản lượng khai thác của nhóm ngư  
cụ x = số lượng ngư cụ x * sản lượng khai thác  
trung bꢀnh của ngư cụ x.  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
- Tổng sản lượng khai thác toàn hồ = Tổng  
sản lượng khai thác của 19 nhóm ngư cụ.  
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng  
11 năm 2007 đến tháng 3 năm 2009 trên cơ sở  
khảo sát thu thập số liệu thứ cấp kết hợp điều  
tra thực địa các loại ngư cụ và thành phần loài  
cá khai thác.  
- Tỷ lệ % loài cá đánh bắt tương ứng với  
mỗi loại ngư cụ cho phép ước tính sản lượng  
của mỗi loài.  
Các thông tin khảo sát được xử lý, tổng hợp  
và phân tích thống kê thành phần phần trăm,  
min, max… bằng phần mềm Microsoft Excel  
nhằm mục đích so sánh và đánh giá sự khác biệt  
của năng suất khai thác theo các loại ngư cụ và  
thành phần loài cá khai thác.  
Số liệu thứ cấp được thu thập tại Công ty  
thủy sản Đồng Nai, Chi cục bảo vệ nguồn lợi  
thủy sản Đồng Nai, Sở Nông nghiệp và phát  
triển nông thôn tỉnh Đồng Nai. Nội dung số liệu  
thu thập bao gồm số lượng ngư dân và ngư cụ  
đăng ký hành nghề trên hồ Trị An.  
III. KẾT QUẢ  
Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra  
khảo sát 203 ngư dân có hoạt động khai thác  
trên hồ, trong đó số lượt ngư dân ở các vùng  
thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn của  
hồ lần lượt là 49, 57 và 45. Tỷ lệ các nhóm  
ngư cụ khảo sát được phân bổ tương ứng với  
tỷ lệ thực tế của ngư cụ hoạt động trên hồ,  
bao gồm 19 ngư dân lưới rê (2a: 40-60 mm),  
9 ngư dân lưới rê (2a: 70-140 mm), 8 ngư dân  
lưới rê cố định tầng mặt, 4 ngư dân lưới rê ba  
màng, 13 ngư dân làm te 18 đèn, 14 ngư dân  
làm te 1 đèn, 10 ngư dân làm vó không đèn,  
17 ngư dân vó đèn, 2 ngư dân lưới giựt, 10  
ngư dân lưới rùng 1 ghe kéo, 17 ngư dân lưới  
rùng 2 ghe kéo, 10 ngư dân chài rê, 2 ngư dân  
chài quăng, 15 ngư dân làm lợp tép, 12 ngư  
dân làm lợp bát quái, 4 ngư dân làm lợp cá rô  
phi, 10 ngư dân cào gọng, 14 ngư dân lưới sò  
và 13 ngư dân câu giăng.  
Thông số CPUE của 19 loại ngư cụ khai  
thác thủy sản trên hồ Trị An được trꢀnh bày  
ở Bảng 1. Có 7 loại ngư cụ chỉ hoạt động  
một mùa trong năm, trong khi 12 loại ngư cụ  
khác hoạt động quanh năm cả hai mùa mưa  
và nắng. Các hꢀnh thức khai thác có năng suất  
khai thác cao ở hồ (trên 42 kg/ngày) bao gồm  
nghề vó, te, chài rê, lưới rùng và lưới giựt.  
Nhóm ngư cụ có CPUE trung bꢀnh (10-31 kg/  
ngày) bao gồm cào gọng, lưới sò, lưới rê và  
chài quăng. Nhóm ngư cụ có CPUE thấp hơn  
10 kg/ngày bao gồm lưới rê cố định tầng mặt,  
câu giăng, lưới rê ba màng và các bộ lợp. Các  
ngư cụ có năng suất khai thác cao nhất vào  
mùa khô là te và lưới rùng, lần lượt là 70,4 và  
70,7 kg/ngày. Các ngư cụ có năng suất khai  
thác cao nhất vào mùa mưa là vó và te, lần  
lượt là 71,4 và 59,3 kg/ngày. Đối với các ngư  
cụ khai thác quanh năm, năng suất khai thác  
mùa khô cao hơn mùa mưa cho tất cả các loại  
ngư cụ khảo sát.  
Số liệu được thu thập qua hai mùa: mùa khô  
và mùa mưa. Thông tin khảo sát ở các nhóm ngư  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
134  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Bảng 1. CPUE các ngư cụ theo mùa vụ ở hồ Trị An  
STT Ngư cụ khai thác  
CPUE mùa khô  
(kg/ngày)  
-
CPUE mùa mưa  
(kg/ngày)  
71,4 ± 7,6  
59,3 ± 6,5  
45,3 ± 3,8  
38,6 ± 4,7  
22,5 ± 3,7  
-
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Vó (đèn)  
Te (18 đèn)  
70,4 ± 7,7  
70,7 ± 4,1  
57,0 ± 5,3  
53,5 ± 10,9  
49,8 ± 4,9  
48,8 ± 4,5  
42,0 ± 8,0  
31,2 ± 6,0  
15,2 ± 1,2  
14,8 ± 1,2  
14,0 ± 1,0  
10,1 ± 1,5  
9,7 ± 1,7  
-
Lưới rùng (2 ghe kéo)  
Te (1 đèn)  
Vó (không đèn)  
Chài rê  
Lưới rùng (1 ghe kéo)  
Lưới giựt  
40,3 ± 3,0  
-
Cào gọng  
12,6 ± 2,2  
-
10 Lưới sò  
11 Lưới rê (2a = 40-60 mm)  
12 Chài quăng  
11,8 ± 0,9  
-
13 Lưới rê (2a = 70-140 mm)  
14 Lưới rê cố định tầng mặt  
15 Bộ lợp cá rôphi  
16 Bộ lợp bát quái  
17 Lưới rê ba màng  
18 Bộ lợp tép  
8,5 ± 0,7  
7,2 ± 0,4  
8,1 ± 1,4  
7,0 ± 0,8  
6,8 ± 1,2  
3,4 ± 0,5  
4,3 ± 0,5  
8,5 ± 1,2  
-
6,3 ± 0,6  
5,8 ± 0,4  
19 Câu giăng  
Số lượng và thời gian hoạt động của các ngư cụ thuộc nhóm phổ biến trung bꢀnh (20-80  
ngư cụ theo hai mùa khô và mưa được trꢀnh bày ngư cụ/mùa), bao gồm vó đèn và không đèn,  
ở Bảng 2. Nghề lưới rê với kích thước mắt lưới lưới sò, bộ lợp tép, lưới rùng 1 và 2 ghe, bộ lợp  
40-60 mm hiện phổ biến nhất trên hồ (178-228 bát quái, cào gọng và te 1 đèn. Nhóm ngư cụ ít  
ngư cụ / mùa) với thời gian khai thác quanh phổ biến (không quá 12 ngư cụ/mùa) bao gồm  
năm. Nghề te 18 đèn và câu giăng cũng thuộc lưới rê (2a = 70-140 mm), lưới rê cố định tầng  
nhóm ngư cụ phổ biến, đạt hơn 100 ngư cụ/mùa, mặt, lưới rê ba màng, chài rê, bộ lợp cá rô phi,  
nhưng biến động lớn giữa hai mùa. Có 9 nhóm lưới giựt và chài quăng.  
Bảng 2. Số lượng và thời gian hoạt động của các ngư cụ  
TT Ngư cụ khai thác  
Mùa khô  
Số ngày /mùa  
Mùa mưa  
Số ngày /mùa  
Số lượng  
228  
Số lượng  
178  
1
2
3
4
Lưới rê (2a = 40-60 mm)  
120  
150  
30  
90  
90  
Te (18 đèn)  
Câu giăng  
Bộ lợp tép  
104  
63  
52  
108  
120  
120  
39  
90  
48  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
135  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
5
6
7
8
9
Vó (đèn)  
0
42  
70  
25  
22  
25  
18  
10  
6
0
120  
120  
120  
90  
80  
30  
0
120  
45  
0
Lưới rùng (2 ghe kéo)  
Lưới sò  
Bộ lợp bát quái  
Cào gọng  
29  
31  
20  
22  
24  
8
90  
90  
90  
105  
30  
90  
60  
67  
0
10 Te (1 đèn)  
120  
105  
150  
90  
11 Vó (không đèn)  
12 Lưới rùng (1 ghe kéo)  
13 Lưới rê cố định tầng mặt  
14 Lưới rê (2a = 70-140 mm)  
15 Bộ lợp cá Rôphi  
16 Chài rê  
2
30  
11  
12  
0
0
0
11  
0
60  
17 Lưới rê ba màng  
18 Lưới giựt  
0
6
105  
0
2
60  
0
19 Chài quăng  
2
90  
0
0
Tổng cộng  
658  
1.545  
670  
1.312  
Sản lượng khai thác của các nhóm ngư cụ 595 tấn/năm. Nhóm ngư cụ có sản lượng khai  
là kết quả tích số của CPUE, số lượng ngư cụ thác trung bꢀnh (30-150 tấn/năm) bao gồm 8  
và thời gian khai thác (Bảng 3). Nghề te 18 đèn ngư cụ như vó không đèn, lưới sò, lưới rùng 1  
măng sông, vó đèn và lưới rùng 2 ghe kéo với ghe, cào gọng, câu giăng, bộ lợp tép, bộ lợp bát  
thành phần loài khai thác chủ yếu dùng làm thức quái và chài rê. Nhóm ngư cụ có sản lượng khai  
ăn nuôi cá bè (sơn xiêm, cơm sông…) cho sản thác thấp (không quá 10 tấn/năm) bao gồm 6  
lượng khai thác cao nhất (417-1108 tấn). Nghề ngư cụ như lưới rê cố định tầng mặt, lưới rê (2a  
lưới rê (2a = 40-60 mm) với ưu điểm sản lượng = 70-140 mm), bộ lợp cá rô phi, lưới giựt, lưới  
khai thác ổn định, đa dạng thành phần loài, thời rê ba màng và chài quăng.  
lượng khai thác cao với sản lượng khai thác đạt  
Bảng 3. Sản lượng khai thác của các nhóm ngư cụ  
Sản lượng mùa  
mưa (tấn)  
Sản lượng mùa  
khô (tấn)  
Tổng sản lượng  
(tấn/năm)  
TT  
Ngư cụ khai thác  
1
2
3
4
5
Te 18 đèn măng sông  
Vó (đèn)  
889  
0
219  
686  
189  
61  
1108  
686  
595  
417  
313  
Lưới rê (2a = 40-60 mm)  
Lưới rùng (2 ghe kéo)  
Te 1 đèn măng sông  
406  
356  
211  
102  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
136  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
6
7
8
9
Vó (không đèn)  
Lưới sò  
101  
128  
73  
62  
9
52  
0
153  
128  
102  
97  
65  
44  
43  
33  
10  
7
Lưới rùng (1 ghe kéo)  
Cào gọng  
29  
35  
56  
20  
18  
0
10 Câu giăng  
11 Bộ lợp tép  
24  
25  
33  
5
12 Bộ lợp bát quái  
13 Chài rê  
14 Lưới rê cố định tầng mặt  
15 Lưới rê (2a = 70-140 mm)  
16 Bộ lợp cá Rôphi  
17 Lưới giựt  
5
1
6
0
6
6
5
0
5
18 Lưới rê ba màng  
19 Chài quăng  
0
4
4
3
0
3
Tổng cộng  
2.331  
1.488  
3.819  
Sản lượng khai thác thủy sản ở hồ chứa liệu lượng ngư dân hàng năm và tỷ lệ sản lượng  
Trị An từ năm 1993 đến 2008 được trꢀnh bày khai thác cho mỗi ngư dân được liệt kê làm đối  
ở Bảng 4, trong đó số liệu giai đoạn 1993-2007 chứng. Nhꢀn chung, sản lượng khai thác trên  
được thu thập từ báo cáo hàng năm của Công ty mỗi ngư dân có khuynh hướng tăng dần từ năm  
Thủy sản Đồng Nai và số liệu năm 2008 được 1993 đến 2008, tuy nhiên khi lượng ngư dân  
ước tính trực tiếp từ nghiên cứu này. Do số liệu tăng đột biến thꢀ sản lượng khai thác trên mỗi  
ước tính của Công ty Thủy sản Đồng Nai dựa ngư dân có khuynh hướng giảm đột ngột.  
trên khai báo và khảo sát các ngư dân, nên số  
Bảng 4. Sản lượng khai thác thủy sản ở hồ Trị An từ 1993 đến 2008  
Sản lượng / ngư dân  
Năm  
Sản lượng khai thác (tấn)  
Số ngư dân (người)  
(tấn/người)  
1993  
1994  
1995  
1996  
1997  
1998  
1999  
2000  
800  
833  
300  
400  
2,7  
2,1  
2,0  
2,0  
2,3  
1,5  
2,0  
1,6  
1126  
1475  
1825  
1840  
2269  
2301  
550  
748  
800  
1234  
1136  
1470  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
137  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
2008  
2786  
3118  
3080  
2835  
2589  
2600  
2837  
3819*  
1237  
892  
978  
884  
872  
721  
747  
1115  
2,3  
3,5  
3,1  
3,2  
3,0  
3,6  
3,8  
3,4  
(Ghi chú: Sản lượng khai thác từ 1993-2007 do Công ty thủy sản Đồng Nai ước tính, riêng sản  
lượng khai thác năm 2008 là kết quả của nghiên cứu này)  
Qua khảo sát tỉ lệ thành phần loài đánh bắt nhóm có sản lượng khai thác trên 100 tấn/năm  
của mỗi nhóm ngư cụ, kết quả sản lượng chi bao gồm mè vinh, bống tượng, rô phi, trèn đá và  
tiết của các loài được trꢀnh bày ở Bảng 5. Có chốt. Trong số 40 loài và nhóm loài cá khai thác  
4 loài cá dẫn đầu sản lượng (448-727 tấn/năm) phổ biến thống kê được trong nghiên cứu này,  
chiếm tỉ lệ đánh bắt hơn 50% tổng sản lượng có tới 20 loài (chiếm 50%) có sản lượng không  
toàn hồ, bao gồm sơn xiêm, cơm sông, ba dong quá 6,2 tấn/năm và có 9 loài (chiếm 23%) có sản  
và lꢀm kꢀm. Các đối tượng cá kinh tế nằm trong lượng không quá 0,6 tấn/năm.  
Bảng 5. Thành phần loài thủy sản khai thác ở hồ Trị An  
TT  
Loài  
Sản lượng (tấn/năm)  
Tỉ lệ (%)  
1
2
Cá sơn xiêm Parambassis siamensis  
Cá cơm sông Clupeichthys gonognathus  
Cá ba dong Cyclocheilichthys repasson  
Cá lꢀm kꢀm Dermogenys pusillus  
Cá mè vinh Barbonymus gonionotus  
Cá bống tượng Oxyeleotris marmoratus  
Cá rô phi Oreochromis spp  
727,1  
666,2  
566,1  
448,4  
278,8  
176,5  
167,7  
155,2  
147,3  
119,0  
92,1  
19,0  
17,4  
14,8  
11,7  
7,3  
3
4
5
6
4,6  
7
4,4  
8
Cá trèn đá Kryptopterus cryptopterus  
Cá linh rꢀa Labiobarbur kuhli  
4,1  
9
3,9  
10  
11  
12  
13  
14  
Cá chốt các loại Mystus spp  
3,1  
Cá chép Cyprius carpio  
2,4  
Tép Macrobrachium spp  
69,4  
1,8  
Cá lăng ki Hemibagrus wyckii  
47,1  
1,2  
Cá lau kiếng Pterygoplichthys disjunctivus  
32,9  
0,9  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
138  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
40  
Cá hoàng đế Cichla ocellaris  
20,1  
16,9  
14,8  
13,1  
12,5  
10,7  
6,2  
0,5  
0,4  
Cá bống cát Glossogobius sp  
Cá leo Wallago attu  
0,4  
Cá linh ống Henicorhynchus siamensis  
Cá hạt mít Puntius brevis  
0,3  
0,3  
Cá lăng vàng Hemibagrus nemurus  
Cá kết Micronema bleekeri  
0,3  
0,2  
Cá mè lúi Osteochilus hasseltii  
Cá trê trắng Clarias batrachus  
Cá rô đồng Anabas testudineus  
Cá ngựa nam Hampala macrolepidota  
Cá ét mọi Labeo chrysophekadion  
Cá lóc các loại Channa spp  
5,0  
0,1  
4,9  
0,1  
4,9  
0,1  
4,0  
0,1  
3,6  
0,1  
3,0  
0,1  
Cá trèn bầu Ompok bimaculatus  
Cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix  
Cá thát lát Notopterus notopterus  
Cá chạch bông Mastacembelus armatus  
Cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus  
Cá trôi Cirrhinus spp  
1,9  
0,1  
1,7  
0,1  
1,7  
0,1  
1,5  
0,1  
0,6  
0,02  
0,01  
0,01  
0,01  
0,01  
0,01  
0,01  
0,002  
0,001  
0,4  
Cá trê vàng Clarias macrocephalus  
Cá chꢀnh hoa Anguilla marmorata  
Cá chạch lá tre Macrognathus siamensis  
Tôm càng xanh Macrobrachius rosenbergii  
Cá tra Pangasius hypophthalmus  
Cá mè hoa Hypophthalmichthys nobilis  
Cá thiểu mại Paralaubuca barroni  
0,4  
0,2  
0,2  
0,2  
0,2  
0,1  
0,01  
IV. THẢO LUẬN  
ghe kéo, te 1 đèn và 18 đèn, vó không đèn cho  
CPUE cao hơn 50 kg/ngày nhưng có nhiều cá  
tạp dùng làm thức ăn nuôi cá bè. Đáng lưu ý là  
nghề lưới rê với mắt lưới 40-60 mm có CPUE  
chỉ cao hơn khoảng 40% so với lưới rê với mắt  
lưới 70-140 mm, cho thấy kích cỡ cá khai thác  
có dấu hiệu giảm sút rõ rệt, cảnh báo tꢀnh trạng  
So với thống kê ghi nhận 14 loại ngư cụ  
khai thác trên hồ năm 2005 của Phan Thanh  
Lâm (2006), các loại nghề cào gọng, lưới giựt,  
lưới rê cố định tầng mặt, lợp bát quái và lợp cá  
rô phi là những hꢀnh thức khai thác mới được  
đưa vào hồ sau năm 2005. Các nghề lưới rùng 2  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
139  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản trên hồ các phương pháp ước tính sản lượng trong quá  
(Welcomme, 2001). Đối với các ngư cụ khai khứ không đồng nhất nên khó có thể so sánh số  
thác quanh năm, năng suất khai thác mùa khô liệu các năm. Ngoài ra, những yếu tố dao động  
cao hơn 57% so với sản lượng khai thác mùa lớn của nguồn lợi thủy sản chưa được tính đến  
mưa phản ánh đặc điểm quản lý nghề cá ở các trong thống kê ở quá khứ, như tỉ lệ thành phần  
hồ chứa lớn với mức nước dao động lớn trong loài và mối quan hệ đa loài (King, 1995), đặt ra  
năm, theo đó thời điểm đánh bắt vào mùa nước yêu cầu chi tiết hóa sản lượng của các giống loài  
kiệt được khuyến cáo cần biện pháp hạn chế cụ thể cho các năm.  
khai thác để bảo vệ nguồn lợi (De Silva, 2001).  
So với số liệu sản lượng khai thác thủy sản  
Ngư cụ trên hồ Trị An không chỉ đa dạng về ở hồ chứa Trị An từ năm 1993 đến 2008 được  
chủng loại và ngư pháp đánh bắt mà còn có số thu thập từ báo cáo hàng năm của Công ty Thủy  
lượng và tần suất hoạt động trong năm khá cao. sản Đồng Nai, sản lượng khai thác thủy sản năm  
Số lượng ngư cụ hoạt động dao động từ 2 đến 2008 được ước tính trực tiếp từ nghiên cứu này  
228 ngư cụ cho mỗi loại nghề và có đến 658- có sự gia tăng mạnh. Sự khác biệt thể hiện ở hai  
670 đơn vị ngư cụ hoạt động trong mỗi mùa phương pháp ước tính, khi Công ty Thủy sản  
khai thác. Tuy nhiên, sự phát triển đa dạng các Đồng Nai dựa trên khai báo và khảo sát các ngư  
loại ngư cụ khai thác trên hồ có thể là cảnh báo dân, còn nghiên cứu này dựa trên đơn vị ngư cụ.  
cho tꢀnh trạng phát triển tự phát và thiếu quy Tuy nhiên, việc ghi nhận sản lượng khai thác  
hoạch quản lý trong hoạt động khai thác nguồn dựa trên số lượng ngư dân có lẽ chỉ thích hợp  
lợi thủy sản trên hồ (Oliver, 2002). Ngoài ra số cho công tác quản lý hơn là dựa trên cơ sở khoa  
đơn vị ngư cụ hoạt động ổn định ở cả hai mùa học khai thác thủy sản (Fernando, 1980). Đứng  
khai thác trong năm cho thấy các biện pháp giới ở khía cạnh quản lý, một vấn đề đáng quan tâm  
hạn mùa vụ khai thác để bảo vệ nguồn lợi thủy là khi lượng ngư dân tăng đột biến, sản lượng  
sản cần được triển khai trên hồ (Baluyut, 1983). khai thác trên mỗi ngư dân có khuynh hướng  
giảm đột ngột, điều này cho thấy cần thiết phải  
kiểm soát số lượng ngư dân khai thác để tránh  
tꢀnh trạng khai thác quá mức (Oglesby, 1985).  
Sản lượng khai thác của các nhóm ngư  
cụ được ước tính dựa trên kết quả tích số của  
CPUE, số lượng ngư cụ và thời gian khai thác  
trong năm. Lorenzen (2001) cho rằng phương  
Các loài cá sơn xiêm, cơm sông, ba dong  
pháp tính sản lượng khai thác truy xuất từ các và lꢀm kꢀm dẫn đầu sản lượng khai thác ở hồ Trị  
nhóm ngư cụ cho kết quả với độ chính xác cao An (448-727 tấn/năm) và chiếm tỉ lệ đánh bắt  
nếu có sự am hiểu các ngư cụ khai thác và thống hơn 50% tổng sản lượng toàn hồ. Tuy nhiên các  
kê được nỗ lực khai thác đã đăng ký. Ngoài ra, loài cá trên chủ yếu được sử dụng như cá tạp  
phương pháp tính sản lượng khai thác chi tiết cho hoạt động nuôi bè, ít có giá trị kinh tế, cho  
trên từng nhóm ngư cụ có thể cho phép hiệu thấy dấu hiệu khai thác quá mức trên hồ Trị An  
chỉnh các sai số sản lượng khai thác tùy theo đã diễn ra nghiêm trọng trên các đối tượng cá  
tꢀnh hꢀnh hoạt động thực tế hàng năm của các dữ có giá trị kinh tế cao (Li và Xu, 1995). Tuy  
nhóm ngư cụ.  
nhiên, trên phương diện quản lý nghề cá, việc  
tiếp tục khai thác các đối tượng cá tạp trên là  
hợp lý để giảm bớt áp lực lên bậc dinh dưỡng  
thức ăn phiêu sinh thực vật và động vật (Meyer  
và ctv., 1996).  
Tổng sản lượng khai thác của 19 nhóm ngư  
cụ có đăng ký hợp pháp ở hồ Trị An là 3.819  
tấn/năm. So với số liệu sản lượng khai thác ước  
tính của Công ty thủy sản Đồng Nai thông qua  
các bến cá và số ngư dân đăng ký từ năm 1993  
Điều đáng lưu ý là trong số các đối tượng cá  
đến 2007, số liệu tính toán của năm 2008 có thả bổ sung hàng năm trên hồ như mè, trôi, trắm,  
mức sai khác đáng kể (Bảng 4). Tuy nhiên do rô phi… chỉ có cá rô phi đạt sản lượng khai thác  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
140  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
cao do khả năng sinh sản và tái bổ sung mạnh. lượng khai thác thủy sản của từng nhóm ngư cụ  
Tuy nhiên, xét trên phương diện nguồn lợi thức cũng như tổng sản lượng khai thác trên toàn hồ.  
ăn tự nhiên trên hồ, rõ ràng chiến lược thả cá  
trên hồ Trị An chưa phù hợp do chưa chọn được  
những đối tượng sử dụng nguồn lợi dồi dào của  
cá tạp kích thước nhỏ và tôm tép (Lương và  
ctv, 2002). Ngoài ra, Li và Xu (1995) cho thấy  
chiến lược thả bổ sung ở Trung Quốc ngày nay  
đã quan tâm hơn đến điều kiện thức ăn tự nhiên  
của hồ chứa để có công thức thả phù hợp.  
LỜI CẢM TẠ  
Tác giả xin cảm tạ Trần Văn Mẫn và các  
cán bộ ở Công ty thủy sản Đồng Nai, Chi cục  
bảo vệ nguồn lợi thủy sản Đồng Nai và Trạm  
thủy sản Trị An đã hỗ trợ khảo sát. Nghiên cứu  
này được sự hỗ trợ kinh phí từ dự án CRSP mã  
số 07MNE03UM/ Vietnam.  
So với các thống kê từng ghi nhận 139 loài  
cá trên hồ Trị An (Nguyễn Thanh Tùng, Phan  
Thanh Lâm, 2002), hiện nay nhiều loài cá trong  
số này rất khó tꢀm thấy trong khai thác cũng như  
ở các bến cá. Tuy nhiên rất khó có thể so sánh  
về mức độ phong phú thành phần loài khi hai  
nỗ lực nghiên cứu ở khía cạnh phân loại và khai  
thác là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, xét trên  
khía cạnh quản lý khai thác, danh mục 40 loài  
cá khai thác phổ biến mang ý nghĩa thiết thực  
hỗ trợ công tác quản lý và vận hành nghề cá trên  
các hồ chứa (Li và Xu, 1995).  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Baluyut, E.A., 1983. Stocking and introduction of fish  
in lakes and reservoirs in the ASEAN countries.  
FAO Fish. Tech. Pap. No. 236, 82pp.  
De Silva, S.S., 2001. The impact of large reservoirs  
on fish biodiversity and fisheries in China. In:  
Reservoir and culture-based fisheries: biology  
and management (ed. S.S. De Silva), pp. 22-28.  
ACIAR Proceedings No. 98. 384 p.  
Fernando, C.H., 1980. The fishery potential of  
man-made lakes in South East Asia and some  
strategies for its optimization. Regional Center for  
Tropical Biology (BIOTROP), Bogor, Indonesia.  
Anniversary Publication, 1980, 25-38.  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
Lê Đông Hải, 1995. Đánh giá hiện trạng, dự báo biến  
đổi môi trường khu vực công trꢀnh Trị An và đề  
xuất phương hướng phát triển kinh tế xã hội trong  
vùng. Báo cáo đề tài KT.02.15, Trung tâm bảo vệ  
môi trường EPC, 96 trang.  
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát hiện trạng  
khai thác thủy sản ở hồ chứa Trị An với các dữ  
liệu về năng suất khai thác trên từng nhóm ngư  
cụ, số lượng và thời gian hoạt động của các  
nhóm ngư cụ và tỷ lệ thành phần loài cá khai  
thác trên từng nhóm ngư cụ. Nghiên cứu cũng  
đã ước tính gián tiếp sản lượng khai thác của  
mỗi nhóm ngư cụ từ tích số của CPUE, số lượng  
ngư cụ và thời gian khai thác. Ngoài ra tỷ lệ  
thành phần loài cá khai thác trên toàn hồ cũng  
có thể ước tính được hàng năm dựa trên kết quả  
khảo sát tỷ lệ thành phần loài cá khai thác cho  
từng nhóm ngư cụ.  
King, M., 1995. Fisheries biology, assessment and  
management. Fishing News Books, UK, 341 pp.  
Lorenzen, K., 2001. Using population models to assess  
culture-based fisheries: a brief review with an  
applicationtotheanalysisofstockingexperiments.  
In: Reservoir and culture-based fisheries: biology  
and management (ed. S.S. De Silva), pp. 257-265.  
ACIAR Proceedings No. 98, 384 p.  
Phan Thanh Lâm, 2006. Phân tích mô hꢀnh kinh tế  
sinh học cho nghề khai thác thủy sản trên hồ  
chứa Trị An. Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy  
sản II, 15 trang.  
Để kết quả nghiên cứu có thêm giá trị ứng  
dụng thực tiễn, các đơn vị quản lý thủy sản trên  
hồ chứa Trị An cần triển khai thu thập số liệu  
đăng ký ngư cụ và thời gian hoạt động hàng  
năm của các nhóm ngư cụ. Khi đó, việc khảo  
sát thêm thông số biến động CPUE hàng năm  
của các nhóm ngư cụ cho phép tính nhanh sản  
Vũ Cẩm Lương, 2005. Quản lý nguồn lợi thủy sản trong  
các hồ chứa ở châu Á: tổng quan các phương pháp  
tiếp cận. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông lâm  
nghiệp, số 1, 109-119.  
Li, S. and Xu, S., 1995. Culture and capture of fish in  
Chinese Reservoirs. IDRC, Ottawa, Canada and  
Southbound Sdn. Bhd. Penang, Malaysia, 128 pp.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
141  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Luong, V.C., Kwei Lin, C. and Yakupitiyage, A., 2002.  
Oliver, M.A.R. (Ed.), 2002. Sustainable fisheries  
management in Asia. Asian Productivity  
Organization, Tokyo, 325 pp.  
A trophic box model of cove aquaculture in Tri  
An Reservoir, Vietnam. Verh. Internat. Verein.  
Limnol., Stuttgart, 28, 1381-1384.  
Nguyễn Thanh Tùng, Phan Thanh Lâm, 2002. Đánh  
giá tꢀnh hꢀnh bảo tồn, bảo vệ tái tạo và phát triển  
nguồn lợi thủy sản tại hồ Trị An 5 năm qua. Viện  
nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, 45 trang.  
Meyer, R.M., Zhang, C., McCay, B.J., Husak, L.J.,  
Muth, R.M., Wolotira, R.J. (Eds.), 1996. Fisheries  
resources utilization and policy. Oxford & IBH,  
New Delhi, 535 pp.  
Welcomme, R.L., 2001. Inland fisheries, ecology and  
management. Fishing News Books, Blackwell  
Science, London, 358 pp.  
Oglesby, R.T., 1985. Management of lacustrine  
fisheries in the tropics. Fisheries, 10, 16-19.  
FISH CATCH ASSESSMENT WITH FISHING GEARS AND FISH SPECIES  
COMPOSITION AT TRI AN RESERVOIR  
Vu Cam Luong1, Nguyen Phu Hoa1, Le Thanh Hung1  
ABSTRACT  
This study was conducted at Tri An Reservoir of Vietnam during November 2007 to March 2009 to  
investigate 203 fishermen within 19 fishing gears. The data was collected throughout both rainy and  
dry seasons, including CPUE (Catch per unit effort), fishing operation time and species composi-  
tion. Fish catch of each fishing gear can be calculated as the product of CPUE, quantity of fishing  
gears and fishing operation time. As fishing gears data was recorded carefully at Dongnai Fisheries  
Company, additional yearly investigation of CPUE may allow quick access to total catch as well  
as fish catch of each fishing gear. This study resulted a total catch of 3,819 tons/year in 2008, in  
which fish catch of each species were also included. There were four fish species with highest catch  
(448-727 tons/year) accounting of more than 50% the reservoir’s total catch, such as Parambassis  
siamensis, Clupeichthys gonognathus, Cyclocheilichthys repasson and Dermogenys pusillus. How-  
ever, such species were small low-value fish that are abundant in the reservoir for the use of feeding  
cage culture, thus overfishing of economically important fish may occur and threating sustainable  
fisheries development at the reservoir.  
Key words: Fish catch; fishing gear; fish species composition  
N g ư ờ i p h ả n b i ệ n : T h S . V ũ V i A n  
N g à y n h ậ n b à i : 6 / 6 / 2 0 1 3  
N g à y t h ô n g q u a p h ả n b i ệ n : 2 2 / 6 / 2 0 1 3  
Ngày duyệt đăng: 8/7/2013  
1
Department of Fish Pathology, Faculty of Fisheries - Nong Lam University, Hochiminh City  
Email: vcluong@gmail.com  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
142  
pdf 10 trang yennguyen 21720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá sản lượng thủy sản khai thác qua khảo sát ngư cụ và thành phần loài cá khai thác ở hồ Trị An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_san_luong_thuy_san_khai_thac_qua_khao_sat_ngu_cu_va.pdf