Sản xuất thành công giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo tại Nghệ An

HOẠT ĐỘNG KH-CN  
SẢN XUẤT THÀNH CÔNG GIỐNG CÁ CHUỐI HOA  
TRONG ĐIỀU KIỆN NHÂN TẠO TẠI NGHỆ AN  
n
Nguyễn Đình Vinh, Tạ Thị Bình, Nguyễn Ngọc Dương  
Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh  
cân đối, không có dị tật; không có biểu hiện  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
mắc bệnh; cá cái có khối lượng trên 1,0kg; cá  
đực có khối lượng trên 0,8kg, không quá béo  
hoặc quá gầy.  
Cá chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802)  
thuộc họ cá quả (Channidae), là loài cá xương nước  
ngọt, thịt ngon, được sử dụng trong nội địa và xuất  
khẩu như là loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế. Cá  
chuối hoa được ghi trong sách đỏ Việt Nam với mức  
phân hạng nguy cấp và nằm trong danh mục các loài  
thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam  
cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển theo Quyết định  
số 82/2008-QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát  
triển nông thôn ký ngày 17/07/2008.  
Thí nghiệm được tiến hành với 3 nghiệm  
thức thức ăn, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần. Cá  
đực, cái được nuôi chung theo tỷ lệ 1:1, bố trí  
theo kiểu ngẫu nhiên.  
Nghiệm thức 1 (NT1): sử dụng 100% cá  
tạp.  
Nghiệm thức 2 (NT2): sử dụng 95% cá tạp  
và 5% giun quế.  
Nghiệm thức 3 (NT3): sử dụng 90% cá tạp  
và 10% giun quế.  
Cho cá bố mẹ ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều  
tối (17 giờ). Khối lượng thức ăn cung cấp bằng  
khoảng 3-5% khối lượng cá trong lồng. Trong  
quá trình cho cá ăn, theo dõi hoạt động bắt mồi  
của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.  
* Thí nghiệm 2: Kích thích sinh sản bằng  
các liều lượng kích dục tố khác nhau  
Thí nghiệm được tiến hành gồm 6 nghiệm  
thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, đơn vị thí  
nghiệm là 1 cá thể cá đực hoặc cá cái được sử  
dụng kích dục tố. Thí nghiệm được bố trí ngẫu  
nhiên.  
Các công trình nghiên cứu về cá chuối hoa trên thế  
giới cũng như ở Việt Nam chưa nhiều, chỉ mới dừng  
lại ở phân loại và mô tả đơn thuần trong các sách phân  
loại về khu hệ cá, bước đầu hình thành các cơ sở khoa  
học về đặc điểm sinh học sinh sản. Đặc biệt, chưa có  
nghiên cứu nào được công bố về sản xuất giống cá  
chuối hoa trong điều kiện nhân tạo tại Việt Nam.  
Trước thực trạng về nguồn lợi cá bản địa quý hiếm  
bị giảm sút nghiêm trọng ngoài tự nhiên, việc nghiên  
cứu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương  
phẩm cá chuối hoa là rất cần thiết, giúp chủ động sản  
xuất giống nhân tạo chất lượng đảm bảo cho người  
nuôi, hạn chế đánh bắt khai thác ngoài tự nhiên, giữ  
được nguồn gen quý hiếm, tăng đối tượng nuôi có giá  
trị kinh tế cao trong tập đoàn cá nước ngọt Việt Nam.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
Nghiệm thức 1 (NT1): 3000 IU HCG/kg cá  
cái.  
Nghiệm thức 2 (NT2): 3500 IU HCG/kg cá  
cái.  
Nghiệm thức 3 (NT3): 4000 IU HCG/kg cá  
cái.  
Nghiệm thức 4 (NT4): (35-40µg LRHa +  
10mg DOM)/kg cá cái.  
1. Đối tượng nghiên cứu  
Cá chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802)  
bố mẹ được tuyển chọn sau khi nuôi thuần hóa, có kích  
cỡ từ 0,8-1,0 kg/con.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
* Thí nghiệm 1: Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ với  
các loại thức ăn khác nhau  
Nghiệm thức 5 (NT5): (45-60µg LRHa +  
15mg DOM)/kg cá cái.  
Tiêu chuẩn cá đưa vào nuôi vỗ: ngoại hình phát triển  
Tạp chí  
[15]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Hình 1. Cá chuối hoa giai đoạn bột  
Hình 2. Cá chuối hoa giai đoạn hương  
Nghiệm thức 6 (NT6): (65-70µg LRHa  
+ 20mg DOM)/kg cá cái.  
Nhiệt độ nước tại thời điểm tiêm kích  
dục tố cho cá dao động trong khoảng  
25÷300C.  
Thành phần và liều lượng kích dục tố  
dùng cho cá đực của mỗi nghiệm thức  
bằng 1/3 liều dùng sử dụng cho cá cái ở  
nghiệm thức tương ứng. Đối với cá cái,  
tiêm 2 lần (1 liều sơ bộ, 1 liều quyết  
định): liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều, liều  
quyết định bằng 2/3 tổng liều, tiêm vào  
gốc vây ngực, khoảng cách giữa 2 lần  
tiêm là 6-8 giờ. Đối với cá đực, tiêm 1  
lần, tiêm vào gốc vây ngực, liều tiêm  
bằng 1/3 tổng liều.  
luôn được giữ sạch, thường xuyên loại bỏ trứng hỏng và có  
sục khí liên tục.  
* Thí nghiệm 4: Thử nghiệm ương cá bột lên cá hương  
ở các mật độ khác nhau  
Cá bột mới nở được ương trong bể composite kích thước  
1x1x1m đến giai đoạn cá hương, trong thời gian 28 ngày.  
Thí nghiệm được tiến hành với 3 mức mật độ: 4 con/lít  
(NT1), 6 con/lít (NT2), 8 con/lít (NT3). Thức ăn cho cá gồm  
động vật phù du, trùng chỉ. Sau 15 ngày, cho cá ăn thêm bột  
cá, bột đậu tương. Khối lượng thức ăn cung cấp bằng  
khoảng 10-15% khối lượng cá trong bể.  
3. Thời gian và địa điểm  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2014 đến tháng  
5/2015, tại Trại thực nghiệm Thủy sản nước ngọt thuộc  
Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh.  
4. Phương pháp xử lý số liệu  
* Thí nghiệm 3: Thử nghiệm ấp trứng  
bằng các dụng cụ ấp khác nhau  
Thí nghiệm được tiến hành bởi 2  
nghiệm thức: ấp trứng trong thùng xốp  
(NT1) và ấp trứng trong bể vòng, có nước  
chảy nhẹ (NT2). Trong quá trình ấp, nước  
Số liệu thí nghiệm được xử lý, phân tích phương sai một  
yếu tố (one way ANOVA) và kiểm định để so sánh giá trị  
trung bình giữa các nghiệm thức với độ tin cậy 95%  
(P<0,05) bằng SPSS Version 16.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
1. Kết quả nuôi vỗ cá bố mẹ  
Bảng 1. Kết quả thử nghiệm các loại thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ  
Chỉ tiêu nghiên cứu  
TL thành thục cá đực (%)  
NT1  
NT2  
NT3  
90,25 2,52a  
91,25 3,21a  
12,32 0,56a  
10,84 0,23a  
93,75 3,20a  
93,75 2,34a  
13,15 0,38a  
12,11 0,32b  
93,75 2,12a  
100 0,00a  
13,69 0,62a  
12,70 0,42b  
TL thành thục con cái (%)  
Sức sinh sản tương đối (số trứng/g cơ thể)  
Sức sinh sản tuyệt đối (ngàn trứng/cá cái)  
Các chữ cái giống nhau ở các giá trị trong cùng hàng thể hiện không có sự sai khác (P>0,05)  
Tạp chí  
[16]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Kết quả tại bảng 1 cho thấy, các loại thức ăn  
được thí nghiệm đều cho tỷ lệ thành thục tương  
đối cao, ở cá đực đạt từ 90,25-93,75%; cá cái đạt  
từ 81,25-100%, sai khác không có ý nghĩa thống  
kê giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P>0,05).  
Cá cái sử dụng thức ăn tương ứng với mức bổ  
sung giun quế từ 0% lên 10% có sức sinh sản  
tương đối tăng từ 12,32-13,69% (P>0,05). Cá cái  
sử dụng thức ăn có bổ sung giun quế từ 5-10% có  
sức sinh sản tuyệt đối đạt cao hơn so với cá ăn thức  
ăn không bổ sung giun quế (P<0,05). Với kết quả  
trên có thể cho phép khuyến nghị, có thể sử dụng  
thức ăn cá tạp bổ sung 5-10% giun quế để nuôi vỗ  
cá chuối hoa bố mẹ phục vụ cho sản xuất giống.  
2. Kết quả xác định loại và liều lượng kích dục  
tố trong sinh sản nhân tạo của cá chuối hoa  
Bảng 2. Số lượng, tỷ lệ cá cái đẻ trứng và hệ số thành thục sinh dục của cá chuối hoa  
khi sử dụng các loại và liều lượng kích dục tố khác nhau  
Số cá cái đẻ Tỷ lệ cá cái đẻ Hệ số thành thục Hệ số thành thục  
Nghiệm thức  
trứng (con)  
trứng (%)  
100  
cá cái (%)  
5,93 1,21  
6,30 1,32  
6,17 0,98  
5,63 1,35  
5,23 1,52  
5,83 0,75  
cá đực (%)  
1,23 0,08  
1,50 0,13  
1,35 0,12  
1,24 0,20  
1,18 0,32  
1,21 0,41  
NT1  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
3
3
3
3
3
3
100  
100  
100  
100  
100  
Kết quả thử nghiệm cho thấy, việc sử dụng  
HCG với liều lượng từ 3000-4000IU hoặc sử  
dụng kết hợp 10÷20mg DOM cùng với hàm  
lượng LRHa từ 35÷70µg cho số cá thể cái có thể  
vuốt cho trứng đạt tỷ lệ tuyệt đối (100%).  
Hệ số thành thục của cá cái cao nhất ở NT2,  
nhưng sai khác không có ý nghĩa giữa các nghiệm  
thức thí nghiệm (P>0,05). Tương tự ở cá đực cũng  
không có sự sai khác có ý nghĩa về hệ số thành thục  
giữa các nghiệm thức (P>0,05).  
Bảng 3. Thời gian hiệu ứng và năng suất trứng của cá khi sử dụng các loại  
và các liều lượng kích dục tố khác nhau  
Thời gian hiệu  
ứng (giờ)  
Sức sinh sản tuyệt đối  
(trứng/cá cái)  
Sức sinh sản tương đối (số  
trứng/g cơ thể)  
Nghiệm thức  
NT1  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
25,75 0,75bc  
21,10 0,37a  
24,26 0,93b  
27,64 1,77c  
24,24 0,82b  
23,38 0,36ab  
11738 120  
14358 123  
12650 108  
11149 110  
13272 115  
11281 105  
14 2  
16 3  
16 2  
13 3  
14 2  
15 3  
Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ cái mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian hiệu  
kích dục tố (LRHa 35-40µg + 10mg DOM) cho thời  
gian hiệu ứng dài nhất, sai khác có ý nghĩa thống kê  
với tất cả các nghiệm thức thí nghiệm (P<0,05).  
Trong quá trình thí nghiệm cho thấy, sức sinh sản  
tuyệt đối của cá chuối hoa dao động từ 11149÷14538  
trứng/cá cái, sức sinh sản tương đối dao động  
khoảng 13÷16 trứng/g cá cái với khối lượng thân  
biến động 735÷1054g/con.  
ứng thuốc của cá chuối hoa xảy ra dài nhất ở  
NT4 (27,64 giờ), tiếp đến là NT1 (25,75 giờ) và  
ngắn nhất là NT2 (21,10 giờ); giữa các nghiệm  
thức thí nghiệm NT3 và NT5 khác nhau không  
có ý nghĩa thống kê (P>0,05), trong khi giữa  
nghiệm thức NT2 và NT3, NT4, NT5 lại khác  
nhau có ý nghĩa thống kê (P<0,05). NT4 sử dụng  
Tạp chí  
[17]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Bảng 4. Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình và tỷ lệ ra bột của trứng  
Nghiệm thức  
NT1  
Tỷ lệ thụ tinh (%)  
79,06 1,99a  
88,61 1,53a  
80,14 4,79a  
77,52 2,29a  
82,01 5,97a  
77,44 2,01a  
Tỷ lệ nở (%)  
74,46 4,31a  
82,50 3,15a  
73,08 2,26a  
78,12 3,80a  
83,06 1,59a  
73,01 4,89a  
Tỷ lệ dị hình (%)  
1,15 0,30a  
0,67 0,13a  
0,69 0,87a  
1,27 0,22ab  
1,19 0,16a  
1,87 0,23b  
Tỷ lệ ra bột (%)  
88,70 1,53a  
92,03 2,96a  
88,84 1,06a  
87,29 1,53a  
89,70 1,32a  
87,88 1,20a  
NT2  
NT3  
NT4  
NT5  
NT6  
Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05)  
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thụ tinh  
Tỷ lệ ra bột ở các nghiệm thức thí nghiệm tương  
đối cao, cao nhất ở NT2 đạt 94,47% và thấp nhất ở  
NT6 đạt 86,27%, nhưng giữa các nghiệm thức có sự  
sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Như  
vậy, liều lượng kích dục tố đã ảnh hưởng tới thời  
gian gây hiệu ứng kích thích sinh sản của cá, nhưng  
ảnh hưởng không đáng kể đến tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở  
và tỷ lệ ra bột như trong thí nghiệm.  
cao nhất ở NT2 đạt 88,61% và thấp nhất ở NT6  
đạt 77,44%, nhưng sai khác không có ý nghĩa  
giữa các nghiệm thức thí nghiệm (P>0,05). Tỷ lệ  
nở cao nhất ở NT5 đạt 83,06% và thấp nhất ở  
NT6 đạt 73,01%, nhưng sai khác không có ý  
nghĩa thống kê (P>0,05).  
Tỷ lệ cá dị hình xuất hiện cao nhất ở NT6  
(1,87%), sai khác có ý nghĩa so với các nghiệm  
thức NT1, NT2, NT3 và NT5 (P<0,05); thấp  
nhất ở NT2 (0,67%), nhưng khác nhau không có  
ý nghĩa so với NT4 (1,27%). Điều này có thể giải  
thích khi sử dụng kích dục tố ở liều cao đã kích  
thích sự rụng trứng của cả những trứng còn chưa  
chín, làm giảm chất lượng trứng, làm tăng tỷ lệ  
cá thể dị hình.  
3. Kết quả ấp trứng cá chuối hoa  
Trứng cá chuối hoa có đường kính và khối noãn  
hoàng bé, thuộc dạng trứng nổi. Sau khi cá đẻ,  
trứng chụm lại thành một ổ tròn có màng nhớt bọc  
trên ổ trứng nhưng trong quá trình ấp, màng trứng  
mất dần. Do vậy, chúng tôi đã thí nghiệm ấp trứng  
trong thùng xốp và ấp trứng trong bể vòng có nước  
chảy nhẹ.  
Bảng 5. Kết quả ấp trứng cá chuối hoa  
Số trứng/ lần ấp  
(quả)  
Mật độ ấp  
Nghiệm thức  
Tỷ lệ nở (%) Tỷ lệ dị hình (%)  
(trứng/cm2)  
Bể vòng  
Thùng xốp  
8000  
8000  
10  
10  
86,50 1,20a  
74,28 3,28b  
1,34 0,12b  
1,68 0,19a  
Số liệu trong cùng một cột có ký hiệu chữ mũ khác nhau thể hiện mức sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05)  
Các kết quả ở bảng 5 cho thấy, tỷ lệ nở của trứng  
Như vậy, hình thức ấp trứng trong bể vòng tốt hơn hình  
thức ấp trứng trong thùng xốp.  
khi ấp trong bể vòng đạt 86,50%, cao hơn khi ấp trứng  
trong thùng xốp đạt 74,28% (P<0,05). Tỷ lệ dị hình  
của cá bột ấp ở thùng xốp (1,68%) cao hơn có ý nghĩa  
thống kê so với trứng ấp trong bể vòng (1,34%)  
(P<0,05). Khi ấp trứng trong bể vòng có ưu điểm là  
có nước chảy, không gian rộng và rất thuận tiện khi  
loại trứng hỏng trong quá trình ấp - một khâu kỹ thuật  
quan trọng đảm bảo tỷ lệ nở cao. Ấp trứng bằng thùng  
xốp thì sẽ bị tích lũy nhiều chất cặn ở đáy thùng trong  
quá trình ấp, khi trứng gần nở và trong quá trình nở.  
4. Kết quả thí nghiệm ương nuôi cá bột  
4.1. Kết quả về tăng trưởng  
Trong giai đoạn này, cá ở các nghiệm thức thức  
ăn đều tăng trưởng tương đối tốt, từ cỡ thả trung  
bình 5,74-5,76mm, sau 28 ngày ương nuôi đạt chiều  
dài trung bình dao động từ 23,42-24,84mm, tốc độ  
tăng trưởng bình quân ngày (ADG) từ 0,63-0,68  
mm/con/ngày, tốc độ tăng trưởng đặc trưng (SGR)  
từ 5,01-5,23 %/ngày.  
Tạp chí  
[18]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
HOẠT ĐỘNG KH-CN  
Bảng 6. Kết quả ương của cá chuối hoa từ giai đoạn ương cá bột lên cá hương  
Chỉ tiêu  
Cá thả (mm)  
Cá thu (mm)  
ADG (mm/ngày)  
SGR (%/ngày)  
NT1  
NT2  
NT3  
5,76 0,04a  
24,84 0,02c  
0,68 0,01c  
5,23 0,03b  
5,75 0,06a  
23,98 0,03b  
0,65 0,02b  
5,10 0,04a  
5,74 0,00a  
23,42 0,10a  
0,63 0,02a  
5,01 0,01a  
Các chữ cái giống nhau ở các giá trị trong cùng hàng thể hiện không có sự sai khác (P>0,05)  
Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm,  
tốc độ tăng trưởng bình quân theo ngày  
của cá cao nhất là NT1 (0,68  
mm/con/ngày), tiếp đến là NT2 (0,65  
mm/con/ngày) và thấp nhất là NT3  
Hình 3. Tỷ lệ sống của cá chuối hoa khi ương ở các mật độ khác nhau  
(0,63 mm/con/ngày) (P<0,05). Kết quả  
phân tích thống kê cho thấy, tốc độ tăng  
IV. KẾT LUẬN  
trưởng đặc trưng của cá chuối hoa qua  
28 ngày ương có sự khác biệt đáng kể  
giữa các nghiệm thức thức ăn. Cá chuối  
hoa ương ở NT1 (5,23%/ngày) có tốc  
độ tăng trưởng cao hơn, có ý nghĩa  
thống kê so với NT2 (5,10%/ngày) và  
NT3 (5,01%/ngày) (P< 0,05).  
- Các loại thức ăn được thử nghiệm đều cho tỷ lệ thành thục  
tương đối cao đạt từ 91,25-100%. Cá cái sử dụng thức ăn có bổ  
sung giun quế từ 5-10% có sức sinh sản tương đối đạt cao hơn  
so với cá ăn thức ăn không bổ sung giun quế.  
- Loại kích dục tố HCG (3500 IU HCG/kg cá cái) cho hiệu quả  
xử lý: thời gian hiệu ứng thuốc 22,93 giờ, tỷ lệ trứng được thụ tinh  
88,61%, thời gian nở 66,35 giờ, tỷ lệ nở 82,5%, tỷ lệ ra bột  
94,47%; được đánh giá tốt cho sinh sản nhân tạo của cá chuối hoa.  
- Trong quá trình ấp trứng thí nghiệm, các hình thức ấp khác  
nhau đều cho tỷ lệ trứng nở tương đối cao. Hình thức ấp trong  
bể vòng cho tỷ lệ nở cao và tỷ lệ dị hình thấp hơn so với hình  
thức ấp trong thùng xốp.  
- Cá bột ương ở mật độ 4 con/lít có tốc tộ tăng trưởng và tỷ  
lệ sống cao hơn cá ương ở các mật độ 6 con/lít và 8 con/lít.  
Trong quá trình ương, tỷ lệ sống của cá bột đến cá hương tương  
đối cao, dao động từ 55,60-63,78%./.  
4.2. Kết quả về tỷ lệ sống  
Tỷ lệ sống của cá khi kết thúc thí  
nghiệm tương đối cao ở NT1 (4  
con/lít), đạt 63,78 %, NT2 (6 con/lít)  
đạt 57,50 % và NT3 (8 con/lít) đạt  
55,60%. Kết quả phân tích thống kê  
cho thấy, có sự sai khác về tỷ lệ sống  
của cá giữa NT1 với NT2, NT3  
(P<0,05), nhưng giữa NT2 và NT3 lại  
khác nhau không có ý nghĩa (P>0,05).  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Tường Anh (1999), Một số vấn đề về nội tiết học sinh sản cá, Nxb Nông nghiệp.  
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Danh lục đỏ Việt Nam, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.  
3. Chen, T. P. (1976), Aquaculture PraNTices in Taiwan. Fishing News (Books) Limited, Farnham, England.  
4. Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân (2001), Cá nước ngọt Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.  
Tạp chí  
[19]  
SỐ 7/2015  
KH-CN Nghệ An  
pdf 5 trang yennguyen 18400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sản xuất thành công giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo tại Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsan_xuat_thanh_cong_giong_ca_chuoi_hoa_trong_dieu_kien_nhan.pdf