Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP  
THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HIỆU QUẢ KỸ THUẬT  
CỦA HỘ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG TẠI TỈNH BẾN TRE  
Võ ái Hiệp1, Đặng anh Hà2  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của  
các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm điều chỉnh  
lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật, đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa rủi ro. Hiệu quả kỹ thuật được ước lượng từ  
hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb - Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 170 hộ nuôi tôm thẻ chân  
trắng ở các huyện Ba Tri, Bình Đại và ạnh Phú. Hiệu quả kỹ thuật của các hộ chỉ ở mức trung bình (53,9%) và có  
sự chênh lệch lớn giữa các hộ (7,0% - 89,7%). Kết quả hồi quy Tobit cho thấy hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp  
điều chỉnh lịch thời vụ và điều chỉnh kỹ thuật góp phần tăng hiệu quả kỹ thuật. Đồng thời, nếu hộ áp dụng càng  
nhiều biện pháp thích ứng hơn thì hiệu quả sẽ càng cao. Bên cạnh đó, nâng cao trình độ học vấn, tạo điều kiện cho  
người nuôi tôm tiếp cận với các nguồn thông tin về biến đổi khí hậu cũng giúp cải thiện đáng kể hiệu quả kỹ thuật.  
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, biện pháp thích ứng, hiệu quả kỹ thuật và tôm thẻ chân trắng  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
2015). Đứng trước tình hình đó, người nuôi tôm đã  
từng bước tìm kiếm các biện pháp thích ứng nhằm  
giảm các tác động tiêu cực để duy trì, cải thiện năng  
suất và hiệu quả.  
Tôm nước lợ đang được nuôi tại 30 tỉnh thành  
và trở thành sản phẩm hàng hóa lớn ở nước ta gồm  
2 loài là tôm sú (loài bản địa) và tôm thẻ chân trắng.  
Từ năm 2008, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn có chủ trương cho phép nuôi tôm thẻ  
chân trắng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nó đã  
trở thành đối tượng nuôi quan trọng. Đến năm 2013,  
tôm thẻ chân trắng đã vượt tôm sú về sản lượng và  
giá trị xuất khẩu (Đỗ Hương, 2017). Nghề nuôi tôm  
đã tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho  
nhiều cư dân ở vùng ven biển.Vì thế, nuôi tôm được  
xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn  
của nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có  
tỉnh Bến Tre.  
Nghề nuôi tôm tỉnh Bến Tre phát triển mạnh và  
khá lâu đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đời  
sống nông dân vùng ven biển được cải thiện và nâng  
lên rõ rệt. Bến Tre thuộc nhóm 05 tỉnh dẫn đầu  
Đồng bằng sông Cửu Long về diện tích và sản lượng  
tôm nước lợ. Năm 2017, diện tích là 37.285 ha và sản  
lượng là 54.870 tấn, chiếm 21,13% trong tổng sản  
lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh (BSO, 2017).  
Tuy nhiên, giá cả thức ăn, con giống, thuốc thú y  
phục vụ nuôi tôm gia tăng do nguồn nguyên liệu  
khan hiếm đã gây nhiều khó khăn. Đặc biệt, trong  
điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH), nắng nóng kéo  
dài, độ mặn tăng cao và xâm nhập sâu làm phát sinh  
nhiều dịch bệnh có tính chất ngày càng phức tạp, dễ  
lây lan và gây chết hàng loạt (UBND tỉnh Bến Tre,  
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu đánh giá  
hiệu quả tài chính của các hộ nuôi tôm thâm canh ở  
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn anh  
Long và Huỳnh Văn Hiền, 2015; Lê ị Phương Mai  
và ctv., 2014; Đỗ Minh Vạn và ctv., 2016). Gần đây,  
đánh giá hiệu quả tương đối của hộ nuôi tôm bằng  
phương pháp “phân tích màng bao dữ liệu, DEA” và  
“phân tích hàm biên ngẫu nhiên, SFA” cũng được  
một số tác giả thực hiện như Nguyễn ị Hồng Liễu  
(2020), Phạm Lê ông và Đặng ị Phượng (2015);  
Nguyễn ùy Trang và cộng tác viên (2018), Đặng  
ị Phượng và cộng tác viên (2020). Dựa vào mức  
hiệu quả được tính toán và ước lượng, các tác giả  
tiếp tục phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu  
quả, thông thường là tuổi, trình độ học vấn, kinh  
nghiệm, diện tích canh tác, tham gia khuyến nông.  
Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu phân  
tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng với  
BĐKH đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ  
chân trắng. Vì thế, nghiên cứu này là hết sức cần  
thiết để bổ sung thêm khoảng trống kiến thức này  
dưới góc nhìn kinh tế. Kết quả nghiên cứu là tiền  
đề quan trọng để nâng cao khả năng thích ứng với  
BĐKH, cải thiện hiệu quả cho ngành nuôi tôm nói  
chung và tôm thẻ chân trắng nói riêng.  
1 Nghiên cứu sinh, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
2 Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
127  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Y = f (X β )exp v − u  
(1)  
{
}
i
i
i
i
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
lnY = ln f (x ) + (v −u )  
[
]
i
i
i
i
Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp thích ứng  
Trong đó, Y là đầu ra; X là các yếu tố đầu vào;  
β là tham số côing nghệ; vi cóiphân phối chuẩn với kỳ  
vọng là 0 và phương sai σ 2 (v ~ N(0, σv2)), là phần sai  
số đối xứng, biểu diễn tácvđộng của những yếu tố ngẫu  
nhiên, và ui > 0 là phần sai số một đuôi có phân phối  
với biến đổi khí hậu và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu  
quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm  
canh tại tỉnh Bến Tre.  
2.2 Phương pháp nghiên cứu  
2
nửa chuẩn (u ~ |N(0, σu )|), biểu diễn phần phi hiệu  
2.2.1. Cơ sở lý thuyết  
a) ích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất  
nông nghiệp  
quả được tính từ chênh lệch giữa (Yi) với giá trị tối đa  
có thể có của nó (Yi’) được cho bởi hàm giới hạn ngẫu  
nhiên, tức là, Yi – Yi’. Hiệu quả kỹ thuật của từng nhà  
sản xuất được tính theo công thức:  
ích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh  
của các hệ thống tự nhiên hay xã hội để ứng phó với  
các kích thích do biến đổi khí hậu đang hoặc được  
dự báo sẽ xảy ra hay với các tác động của chúng, để  
từ đó, giảm nhẹ sự thiệt hại hoặc khai thác nhưng cơ  
hội thuận lợi mà nó mang lại (IPCC, 2007). Trong  
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thích ứng với biến  
đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc  
con người đối với hoạt động canh tác nông nghiệp  
nhằm giảm khả năng bị tổn thương do biến đổi khí  
hậu gây ra và có thể tận dụng các cơ hội do biến đổi  
khí hậu mang lại (Đặng ị Hoa và Chu ị u,  
2013). Hay thích ứng với biến đổi khí hậu liên quan  
đến những thay đổi trong biện pháp quản lý nông  
nghiệp để đối phó với những thay đổi của thời tiết  
(Akinnagbe and Irohibe, 2014). ích ứng với biến  
đổi khí hậu sẽ góp phần cải thiện năng suất và hiệu  
quả sản xuất cây trồng, vật nuôi.  
TE = E exp(−u /Y  
(2)  
[
]
i
i
i
TE ∈[0, 1] ⇒ u ≥ 0. Khi u = 0 ⇒ TE = 1, đó  
i
i
i
là nhà sản xuất i nằm trên đường cực biêin và đạt  
hiệu quả kỹ thuật cao nhất. Khi u càng lớn, nhà sản  
i
xuất càng nằm xa phía dưới đường cực biên và hiệu  
quả kỹ thuật càng thấp. Các tham số trong mô hình  
(1) và ui có thể được ước lượng bằng “phương pháp  
thích hợp cực đại” (MLE), đây là phương pháp được  
sử dụng rộng rãi để đo lường mức hiệu quả của các  
nhà sản xuất cá thể. Sau khi tính toán được hiệu quả  
kỹ thuật của từng nhà sản xuất, mô hình hồi quy  
tuyến tính hoặc hồi quy Tobit được sử dụng để phân  
tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của  
nhà sản xuất.  
2.2.2. Mô hình thực nghiệm  
+ Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên thường được  
ước lượng bằng 2 mô hình phổ biến trong kinh tế  
sản xuất là Cobb - Douglas và Translog (Nguyễn  
Hữu Đặng, 2017). Hàm sản xuất Cobb - Douglas và  
Translog thực nghiệm có dạng như sau:  
b) Đo lường hiệu quả kỹ thuật  
Hiệu quả kỹ thuật là tối thiểu hóa lượng các yếu  
tố đầu vào với đầu ra cho trước hoặc tối đa hóa các  
yếu tố đầu ra với lượng yếu tố đầu vào cho trước  
(Farrell, 1957). Có hai phương pháp đo lường hiệu  
quả kỹ thuật phổ biến là phân tích màng bao dữ liệu  
(Data Envelopment Analysis - DEA) và phân tích  
đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis  
- SFA). DEA là cách tiếp cận phi tham số dựa trên  
mô hình tuyến tính nên kết quả ước lượng hiệu quả  
không thể tách các tác động nhiễu ra khỏi đường  
giới hạn khả năng sản xuất, trong khi đó SFA là cách  
tiếp cận tham số dựa trên mô hình kinh tế lượng  
nên có thể khắc phục được nhược điểm này của  
DEA (Võ Hồng Tú, 2015). Vì vậy, trong nghiên cứu  
này hiệu quả kỹ thuật được ước lượng bằng phương  
pháp tham số - hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, hàm  
này được đề xuất bởi Aigner và cộng tác viên (1977)  
và được phát triển bởi Battese và Coelli (1992). Hàm  
sản xuất biên ngẫu nhiên có dạng:  
+ Hàm sản xuất biên Cobb - Douglas:  
4
(3)  
lnY = β + β lnX +(V −U )  
∑
i
0
j
ji  
i
i
j=1  
Hàm sản xuất biên Translog:  
4
4
4
1
lnY = β + β lnX +  
β jk lnX ji ln Xki +(V −Ui )  
(4)  
∑
∑∑  
i
0
j
ji  
i
j=1  
j=1 k=1  
2
Trong đó: Yi là năng suất (kg/ha); X : Lượng giống  
(con/ha); X2i: Lượng thức ăn (kg/ha); 1Xi : Lượng lao  
động (ngày công/ha) và X4i: Lượng vôi (k3gi/ha).  
Kiểm định LLR (Genneralized Likelihood-Ratio  
Statistic) được sử dụng để lựa chọn mô hình ước  
lượng Cobb-Douglas (3) hay Translog (4) dựa vào  
giá trị λ được tính theo công thức: λ = −2[(L(H0) −  
L(H1)]. Trong đó: L(H0) là giá trị log-likelihood của  
128  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
mô hình hàm sản xuất Cobb- Douglas, L(H1) là giá  
chính xác về hoạt động sản xuất và tình hình biến  
đổi khí hậu cũng như những biện pháp ứng phó.  
trị log-likelihood của hàm sản xuất Translog. Nếu  
λ > giá trị tra bảng λtable thì hàm sản xuất Translog tốt  
hơn hàm Cobb-Douglas hoặc ngược lại. Giá trị tra  
bảng (the critical χ2 value) lấy từ bảng χ2 với số bậc  
tự do (df) bằng số biến độc lập của hàm Translog  
trừ số biến độc lập của hàm Cobb-Douglas (Nguyễn  
Hữu Đặng, 2017).  
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 đến tháng  
12 năm 2018, với sự tư vấn của cán bộ Phòng Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi chọn các  
xã nghiên cứu chuyên sâu bao gồm Bảo ạnh và  
Tân Xuân (Ba Tri), Định Trung và ạnh Phước  
(Bình Đại), An Điền và Giao ạnh (ạnh Phú).  
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Tobit để  
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ  
thuật. Hồi quy Tobit được khuyến khích sử dụng để  
ước lượng mô hình có biến phụ thuộc bị chặn (hay  
bị giới hạn), chặn trên hay chặn dưới hoặc bị chặn  
cả hai. Điều này phù hợp với biến phụ thuộc trong  
nghiên cứu là hiệu quả kỹ thuật (TE) bị chặn trên và  
dưới có giá trị từ 0 đến 1 (Bravo-Ureta and Pinheiro,  
1997; Khai and Yabe, 2011). Mô hình hồi quy Tobit  
có dạng thực nghiệm như sau:  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của  
hộ nuôi tôm  
Biến đổi khí hậu thực sự gây ra tính dễ bị tổn  
thương của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến  
Tre (Võ ái Hiệp và cộng tác viên, 2020), vì thế  
thích ứng là điều cần thiết trong việc giảm thiểu các  
tác động tiềm tàng. Jiri và ctv (2015) cho rằng tính dễ  
bị tổn thương của nông hộ nhỏ sẽ liên tục tăng lên  
nếu không có sự thích ứng phù hợp.  
4
6
+ φi  
TE = γ + γ D + γ z  
∑
∑
i
0
j
ji  
j
ji  
j=1  
j=1  
Trong đó: TE là hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi  
tôm i; Dji là biếnigiả về biện pháp thích ứng biến đổi  
khí hậu bao gồm D1i là biện pháp điều chỉnh lịch thời  
vụ (1 = có áp dụng; 0 = không áp dụng), D là biện  
pháp điều chỉnh kỹ thuật (1= có áp dụng; 02=i không  
áp dụng), D3i là biện pháp đa dạng hóa sản xuất  
(1 = có áp dụng; 0 = không áp dụng), D4i là biện pháp  
phòng ngừa rủi ro (1 = có áp dụng; 0 = không áp  
dụng); và Zji là đặc điểm hộ bao gồm Z1i là số lượng  
biện pháp thích ứng với BĐKH mà hộ áp dụng  
(số lượng), Z2i là tuổi của chủ hộ (năm), Z là trình độ  
học vấn của chủ hộ (số năm đi học), Z4i là3di iện tích ao  
nuôi (ha), Z5i là số lượng nguồn thông tin về BĐKH  
mà hộ tiếp cận (nguồn), Z là số năm nhận biết thời  
tiết thay đổi thất thường (6ni ăm); φi là sai số của mô  
hình hồi quy.  
Hình 1. Tỷ lệ hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp  
thích ứng với biến đổi khí hậu (%)  
Kết quả nghiên cứu có 4 nhóm biện pháp thích  
ứng với BĐKH của hộ nuôi tôm thẻ chân chân trắng  
bao gồm: (1) điều chỉnh lịch thời vụ (điều chỉnh  
thời gian thả giống hay thu hoạch); (2) điều chỉnh  
kỹ thuật (thay đổi mật độ nuôi, thay đổi cách cho ăn,  
sử dụng thuốc, tăng cường sử dụng máy móc thiết  
bị, điều chỉnh tần suất thay nước); (3) đa dạng hóa  
sản xuất (nuôi tôm kết hợp thủy sản khác, làm thêm  
nghề phi nông nghiệp, chuyển sang nuôi thủy sản  
khác); (4) phòng ngừa rủi ro biến đổi khí hậu (theo  
dõi tin tức dự báo thời tiết/thiên tai, xây dựng/đắp  
cao bờ bao, mua bảo hiểm tôm). Tỷ lệ hộ nuôi tôm  
thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre áp dụng các biện pháp  
thích ứng với BĐKH thể hiện Hình 1. Nhóm biện  
pháp điều chỉnh kỹ thuật và phòng ngừa rủi ro được  
các hộ nuôi tôm áp dụng cao, chiếm tỷ lệ tương ứng  
là 84,12% và 81,76%. Kế đến là biện pháp điều chỉnh  
2.2.3. u thập dữ liệu  
Bài nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp được thu  
thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 170 hộ nuôi tôm  
thẻ chân trắng thâm canh ở các huyện ven biển Ba  
Tri (64 hộ), Bình Đại (59 hộ) và ạnh Phú (47 hộ) ở  
tỉnh Bến Tre năm 2018. Đây là các huyện ven biển có  
diện tích nuôi tôm nước lợ tập trung (BSO, 2017) và  
đang hứng chịu tác động của biến đổi khí hậu ngày  
càng nhiều (Nguyễn ị Kim Anh và ctv., 2013). Hộ  
nuôi tôm được chọn bằng phương pháp chọn mẫu  
ngẫu nhiên phân tầng (huyện/xã) với sự trợ giúp của  
cán bộ phụ trách nông nghiệp ở các xã và ấp. Người  
được phỏng vấn là chủ hộ hay thành viên tham gia  
sản xuất chính trong hộ để thu thập được thông tin  
129  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
lịch thời vụ chiếm tỷ lệ 76,47% và đa dạng hóa sản  
xuất ít được áp dụng hơn chiếm tỷ lệ 35,88%. Qua  
đây cho thấy người nuôi tôm thẻ chân trắng đã có  
ý thức khá cao trong phòng, chống ảnh hưởng tiêu  
cực của biến đổi khí hậu gây ra.  
nuôi tôm được tính toán theo phương pháp trình  
bày ở phần trước. Kết quả ước tính mức hiệu quả  
của các hộ nuôi tôm được trình bày ở Bảng 2.  
Bảng 2. Phân phối hiệu quả kỹ thuật  
của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng  
3.2. Kết quả ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên  
Mức hiệu quả (%)  
90 - 100  
80 - 90  
Số hộ  
0
11  
Tỷ trọng (%)  
0,00  
Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình ước  
lượng Cobb-Douglas hay Translog cho thấy, giá trị  
λ = -2(-169,11 – (-159,54)) = 19,14, nhỏ hơn  
giá trị λ tra bảng χ2 (df = 10, λtable = 23,21). Do  
vậy, môtahblìenh hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dạng  
Cobb-Douglas được chọn để ước lượng với sự hỗ trợ  
của phần mềm Stata 12.0.  
6,47  
70 - 80  
27  
15,88  
60 - 70  
42  
24,71  
50 - 60  
35  
20,59  
< 50  
55  
32,35  
eo mô hình thực nghiệm (3), có 4 biến được  
đưa vào hàm sản xuất, đây là những biến được sử  
dụng trong hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu  
quả kỹ thuật nuôi tôm. Kết quả ước lượng hiệu quả  
kỹ thuật của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng được  
trình bày Bảng 1. Kiểm định Wald cho thấy, ảnh  
hưởng của các biến trong mô hình đến năng suất  
có ý nghĩa thống kê 1%. Hệ số λ = 0,896 trong ước  
lượng MLE cho biết sự kém hiệu quả kỹ thuật giải  
thích 89,6% sự biến động của năng suất.  
Trung bình  
ấp nhất  
Cao nhất  
53,9%  
7,0%  
89,7%  
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).  
Số liệu trong Bảng 2 cho thấy mức hiệu quả kỹ  
thuật trung bình của hộ nuôi tôm đạt được chỉ ở  
mức trung bình là 53,9%. Kết quả này phản ánh sự  
kém hiệu quả trong quản lý, phân bổ các yếu tố đầu  
vào và chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan  
như thời tiết, khí hậu và môi trường. Như vậy, khả  
năng tăng năng suất của các hộ nuôi tôm trên địa  
bàn tỉnh Bến Tre còn rất cao khi lựa chọn tối ưu đầu  
vào - đầu ra và có các biện pháp thích ứng phù hợp.  
Số hộ đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao, trong  
khoảng từ 80 - 100%, chỉ có 11 hộ, chiếm tỷ trọng rất  
thấp là 6,47%. Đa số các hộ có mức hiệu quả kỹ thuật  
trung bình đến khá (50% - 80%), có 104 hộ, chiếm  
tỷ trọng 61,38%. Ngoài ra, số hộ có mức hiệu quả kỹ  
thuật dưới mức trung bình (< 50%) chiếm tỷ lệ đáng  
kể là 32,35% (55 hộ). Sự chênh lệch mức hiệu quả kỹ  
thuật thấp nhất và cao nhất rất lớn, khoảng cách này  
từ 7,0% đến 89,7%. Điều này chứng tỏ chênh lệch kỹ  
thuật nuôi tôm giữa các hộ trong bối cảnh biến đổi  
khí hậu khá cao là do ảnh hưởng của nhiều yếu tố.  
Bảng 1. Ước lượng hàm sản xuất biên  
Cobb-Douglas hộ nuôi tôm thẻ chân trắng  
Tên biến  
Hằng số  
LNX1  
LNX2  
LNX3  
am số  
Hệ số  
4,155***  
-0,178*  
0,554***  
0,089  
Giá trị Z  
3,38  
-1,79  
6,89  
1,34  
5,40  
β0  
β1  
β2  
β3  
β4  
LNX4  
0,302***  
Log likeli hood  
Lamda (λ)  
-169,11 Wald chi2(4) 109,69  
0,896 Prob > chi2 0,0000  
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).  
2
Ghi chú: Hệ số λ được tính bằng công thức λ =σu /  
2
2
(σu + σv ); ***, ** và *: chỉ mức ý nghĩa thống kê tương ứng  
3.3. Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích  
ứng với biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của  
hộ nuôi tôm  
Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu  
quả kỹ thuật và tác động biên của các hộ nuôi tôm  
thẻ chân trắng thể hiện ở bảng 3.  
Kết quả hồi quy Tobit cho thấy các yếu tố ảnh  
hưởng có ý nghĩa thống kê và đồng biến với hiệu quả  
kỹ thuật bao gồm biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ,  
biện pháp điều chỉnh kỹ thuật, số lượng biện pháp  
thích ứng, trình độ học vấn và thông tin. Trong khi  
đó, diện tích nuôi tôm có ảnh hưởng nghịch biến  
đến hiệu quả kỹ thuật.  
1%, 5%, 10%  
Kết quả ước lượng chỉ ra các yếu tố đầu vào ảnh  
hưởng đồng biến đến năng suất tôm gồm lượng  
thức ăn và lượng vôi; tuy nhiên lượng con giống ảnh  
hưởng nghịch biến đến năng suất tôm do mật độ  
thả nuôi trung bình của các hộ điều tra khá cao là  
73,12 con/m2, cao hơn so với qui chuẩn kỹ thuật qui  
định mật độ tối đa trong ao đất là 60 con/m2 của  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2013  
(Đặng ị Phượng và ctv., 2020). Dựa vào phần sai  
số phi hiệu quả kỹ thuật (ui) trong hàm sản xuất biên  
ngẫu nhiên ở trên, mức hiệu quả kỹ thuật của các hộ  
130  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
Bảng 3. Kết quả hồi quy Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật  
Tên biến  
Hệ số  
0,080**  
0,172***  
0,031  
Sai số chuẩn  
0,031  
t
P> |t|  
0,010  
0,000  
0,216  
0,292  
dy/dx  
0,079  
0,170  
-0,030  
0,033  
Điều chỉnh lịch thời vụ (D1)  
Điều chỉnh kỹ thuật (D2)  
Đa dạng hóa sản xuất (D3)  
Phòng ngừa rủi ro (D4)  
2,60  
4,76  
-1,24  
1,06  
0,036  
0,025  
0,033  
0,031  
Số lượng biện pháp thích ứng  
với BĐKH mà hộ áp dụng (Z1)  
0,013**  
0,005  
2,27  
0,024  
0,013  
Tuổi chủ hộ (Z2)  
0,001  
0,015***  
-0,032*  
0,001  
0,004  
0,179  
0,13  
3,79  
0,899  
0,000  
0,079  
0,001  
0,015  
-0,031  
Trình độ học vấn chủ hộ (Z3)  
Diện tích ao nuôi (Z4)  
-1,77  
Số lượng nguồn thông tin  
0,023**  
0,011  
2,14  
0,034  
0,023  
0,002  
về BĐKH mà hộ tiếp cận (Z5)  
Số năm nhận biết thời tiết  
thay đổi thất thường (Z6)  
0,002  
0,005  
0,069  
0,50  
0,91  
0,615  
0,362  
Hằng số  
0,063  
0,0000  
81,191  
112,84  
Prob > Chi2  
Log likelihood  
LR χ2  
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).  
Ghi chú: ***, ** và *: chỉ mức ý nghĩa thống kê tương ứng 1%, 5%, 10%.  
Hộ nuôi tôm áp dụng biện pháp điều chỉnh lịch  
thời vụ (D1) bằng cách thay đổi thời điểm thả giống  
hay thu hoạch để phù hợp với sự thay đổi thời tiết.  
Hệ số ước lượng có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và  
đồng biến với hiệu quả kỹ thuật. Nếu hộ nuôi tôm  
áp dụng biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ thì hiệu  
quả kỹ thuật sẽ tăng thêm 7,9% (dy/dx = 0,079).  
Tương tự, hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp điều  
chỉnh kỹ thuật (D2) sẽ ảnh hưởng đồng biến và có ý  
nghĩa thống kê rất cao đến hiệu quả kỹ thuật (1%).  
Hơn nữa, khi hộ nuôi tôm áp dụng biện pháp điều  
chỉnh kỹ thuật thì hiệu quả sẽ tăng thêm 17,0%  
(dy/dx = 0,170) so với hộ không áp dụng biện pháp  
này. Cho nên, biện pháp điều chỉnh các kỹ thuật là  
rất quan trọng để tăng năng suất tôm nuôi. Bên cạnh  
đó, hệ số của biến số lượng biện pháp thích ứng với  
BĐKH mà hộ nuôi tôm áp dụng (Z1) có dấu dương  
và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này chứng  
tỏ rằng, khi hộ nuôi tôm áp dụng càng nhiều biện  
pháp thích ứng để đối phó với thời tiết thay đổi thì  
hiệu quả nuôi tôm mang lại sẽ càng cao. Cụ thể là  
khi hộ nuôi tôm áp dụng thêm 1 biện pháp thích  
ứng thì hiệu quả kỹ thuật mang lại sẽ tăng thêm 1,3%  
(dy/dx = 0,013). Vì thế, việc các cơ quan hữu quan  
cần phổ biến và khuyến khích nông hộ áp dụng các  
biện pháp để đối phó với sự thay đổi thời tiết là thực  
sự quan trọng.  
Mặc dù hệ số ước lượng của biện pháp phòng  
ngừa rủi ro (D4) không có ý nghĩa thống kê nhưng  
nó đồng biến với hiệu quả kỹ thuật. Hộ nuôi tôm  
tăng cường theo dõi thông tin dự báo thời tiết để có  
kế hoạch ứng phó kịp thời, thường xuyên đắp cao bờ  
bao ao tôm cũng có thể nâng cao được hiệu quả kỹ  
thuật (dy/dx = 0,033). Mặt khác, hệ số ước lượng của  
biện pháp đa dạng hóa sản xuất (D3) lại mang dấu  
âm và không có ý nghĩa thống kê. Qua phỏng vấn  
cho thấy những thành viên phụ trách nuôi tôm thẻ  
chân trắng thâm canh hầu như dành toàn bộ thời  
gian để chăm sóc, theo dõi quá trình sinh trưởng của  
con tôm. Cho nên, nếu họ thực hiện thêm các hoạt  
động sản xuất khác ngoài nuôi tôm thì khả năng  
giảm năng suất và hiệu quả là điều có thể xảy ra. Vì  
thế, hộ nuôi tôm cần lưu ý phân bố lực lượng lao  
động trong gia đình giữa các hoạt động khác nhau  
sao cho phù hợp.  
Trình độ học vấn của chủ hộ (Z3) có ảnh hưởng  
đồng biến với hiệu quả kỹ thuật với ý nghĩa thống  
kê 1%. Khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng  
131  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
thêm 1 năm thì hiệu quả kỹ thuật tăng thêm 1,5%  
(dy/dx = 0,015). Hộ nuôi tôm có trình độ học vấn  
cao giúp họ dễ dàng ứng dụng những kỹ thuật mới  
vào sản xuất phù hợp với đặc điểm của ao nuôi, tiếp  
nhận và xử lý thông tin có liên quan đến vấn đề biến  
đổi khí hậu tốt hơn và có kế hoạch thích ứng kịp  
thời. Vì vậy, yếu tố này đã góp phần đáng kể trong  
việc tăng hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm.  
Diện tích ao nuôi (Z4) có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch  
với hiệu kỹ thuật ở mức ý nghĩa 10%, kết quả này  
cho thấy những hộ có diện tích ao nuôi càng lớn  
thì hiệu quả kỹ thuật sẽ càng thấp. Điều này có thể  
giải thích rằng những hộ có diện tích ao nuôi lớn thì  
việc kiểm soát các yếu tố môi trường ao nuôi biến  
đổi thất thường như nhiệt độ, độ mặn, oxy trong ao  
nuôi trở nên khó khăn hơn. Khi diện tích ao nuôi  
tăng thêm 1ha thì hiệu quả kỹ thuật giảm 3,1%  
(dy/dx = - 0,031). Như vậy, hộ nuôi tôm thẻ chân  
trắng không có lợi thế về quy mô.  
Số lượng nguồn thông tin về BĐKH mà hộ tiếp  
cận (Z5) ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê ở mức 5%  
và mang dấu dương. Nghĩa là khi hộ tiếp cận thông  
tin về biến đổi khí hậu từ nhiều nguồn khác nhau  
như tivi, radio, internet, cán bộ khuyến nông, người  
quen, hàng xóm... thì hiệu quả kỹ thuật tăng lên. Khi  
hộ tiếp cận thêm 1 nguồn thông tin thì hiệu quả kỹ  
thuật tăng 2,3% (dy/dx = 0,023). Qua tiếp xúc với  
các nguồn thông tin về BĐKH giúp hộ có thêm kiến  
thức để ứng phó với thời tiết thất thường nhằm cải  
thiện năng suất tôm nuôi. Ngoài ra, số năm nhận  
biết thời tiết thay đổi thất thường ảnh hưởng đồng  
biến đến hiệu quả kỹ thuật nhưng không có ý nghĩa  
thống kê. Qua nhiều năm quan sát thời tiết thay đổi,  
người nuôi tôm có thể điều chỉnh các biện pháp  
thích ứng một cách hợp lý.  
53,9%. Kết quả này hàm ý hiệu quả kỹ thuật của các  
hộ nuôi tôm chỉ ở mức trung bình do việc sử dụng  
các đầu vào chưa hợp lý, đồng thời do ảnh hưởng  
của các yếu tố khách quan thời tiết, khí hậu và môi  
trường. Năng suất của hộ nuôi tôm còn có khả năng  
tăng đến 46,1%. Nghiên cứu đã khám phá ra rằng  
các hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp điều chỉnh  
lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật sẽ làm tăng hiệu quả  
kỹ thuật. Đồng thời, nếu hộ áp dụng càng nhiều biện  
pháp thích ứng với biến đổi khí hậu thì hiệu quả kỹ  
thuật càng tăng. Bên cạnh đó, chủ hộ có trình độ học  
vấn cao và tiếp cận được nhiều nguồn thông tin liên  
quan đến biến đổi khí hậu cũng góp phần nâng cao  
hiệu quả kỹ thuật. Tuy nhiên, diện tích ao nuôi càng  
lớn thì hiệu quả kỹ thuật càng giảm.  
4.2. Đề nghị  
Kết quả nghiên cứu này cho thấy để tăng năng  
suất và cải thiện hiệu quả kỹ thuật, trước tiên cần  
nâng cao nhận thức, tuyên truyền phổ biến thông  
tin đến người nuôi tôm về vấn đề biến đổi khí hậu  
(nguyên nhân, tác động của nó đối với sản xuất).  
Hướng dẫn người nuôi tôm áp dụng các biện pháp  
để thích ứng thông qua các lớp tập huấn khuyến  
nông, trên các phương tiện truyền thông như loa,  
đài phát thanh, truyền hình, tờ rơi. Đồng thời, cải  
thiện giáo dục sẽ đẩy nhanh sự thích ứng và gia tăng  
khả năng ra quyết định của các hộ nuôi tôm trong  
việc áp dụng các biện pháp thích ứng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn ị Kim Anh, Bùi Nguyễn Phúc iên  
Chương, Hồ Xuân Hướng và Lê ị Huyền Trang,  
2013. Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí  
hậu của các hộ dân ven biển tỉnh Bến Tre. Tạp chí  
Kinh tế & Phát triển, 194: 63-73.  
Cục ống kê tỉnh Bến Tre (BSO), 2017. Niên giám  
ống kê tỉnh Bến Tre. Nhà xuất bản anh niên.  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
Nguyễn Hữu Đặng, 2017. Phân tích hiệu quả kỹ thuật  
của hộ trồng thanh long tại huyện Châu thành, tỉnh  
Long An. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,  
15 (4): 537-544.  
Võ ái Hiệp, Đặng anh Hà, Châu Tấn Lực và  
Nguyễn Ngọc ùy, 2020. Đánh giá tính dễ bị tổn  
thương của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh  
ven biển tỉnh Bến Tre do biến đổi khí hậu. Tạp chí  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 15: 112-121.  
4.1. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu này dựa trên số liệu thu thập  
từ 170 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh  
Bến Tre. Các nhóm biện pháp thích ứng chủ yếu mà  
hộ nuôi tôm áp dụng là điều chỉnh lịch thời vụ, điều  
chỉnh kỹ thuật, đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa  
rủi ro. Nghiên cứu đã sử dụng hàm sản xuất biên  
ngẫu nhiên Cobb-Douglas để ước lượng hiệu quả kỹ  
thuật của hộ nuôi tôm bằng chương trình Stata 12.0.  
Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm dao động  
khá lớn trong khoảng 7,0% đến 89,7%, trung bình là  
Đặng ị Hoa và Chu ị u, 2013. Giải pháp nâng  
cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản  
xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Giao  
132  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
ủy, tỉnh Nam Định. Đề tài nghiên cứu khoa học  
công nghệ cấp cơ sở. Trường Đại học Lâm nghiệp,  
Hà Nội.  
UBND tỉnh Bến Tre, 2015. Báo cáo tóm tắt dự án “Cập  
nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí  
hậu tỉnh Bến Tre”. Văn phòng Chương trình Mục  
tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.  
Đỗ Minh Vạn, Trần Ngọc Hải, Trần Hoàng Tuân và  
Trương Hoàng Minh, 2016. Đánh giá hiệu quả nuôi  
tôm thẻ chân trắng thâm canh theo các hình thức tổ  
chức ở đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học  
- Trường Đại học Cần ơ, 42d: 50-57.  
Akinnagbe O.M. and Irohibe I.J., 2014. Agricultural  
adaptation strategies to climate change impacts in  
Africa: a review. Bangladesh Journal Agricultural  
Research 39 (3): 407-418.  
Aigner,D.,Lovell,C.andSchmidt,P.,1977.Formulation  
and Estimation of Stochastic Frontier Production  
Function Models. Journal of Econometrics, 6: 21-37.  
Bravo-Ureta, Boris E, and Pinheiro, Antonio E., 1997.  
Technical, economic, and allocative efficiency in  
peasant farming: evidence from the Dominican  
Republic. e Developing Economies, 35 (1): 48-67.  
Battese, G.E. and Coelli, T.J., 1992. Frontier production  
functions, technical efficiency and panel data with  
application to paddy farmers in India. Journal of  
Productivity Analysis, 3: 153-169.  
Đỗ Hương, 2017. Ngành nuôi tôm có lợi thế thuyệt đối,  
ngày truy cập: 4 tháng 10 năm 2020. Địa chỉ truy cập:  
tom-Viet-Nam-co-loi-the-tuyet-doi/298074.vgp.  
Đặng ị Phượng, Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn ị Kim  
Quyên, Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nobuyuki Yagi,  
2020. Hiệu quả kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ  
chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)  
qui mô nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp  
chí Khoa học - Trường Đại học Cần ơ, tập 56, số  
chuyên đề thủy sản: 110-116.  
Nguyễn ị Hồng Liễu, 2020. Phân tích hiệu quả kỹ  
thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh  
Trà Vinh. Tạp chí Công ương. Các kết quả nghiên  
cứu khoa học và ứng dụng công nghệ , số 13, 7 trang.  
Võ Hồng Tú, 2015. Ứng dụng phương pháp phân tích  
giới hạn sản xuất ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả  
môi trường của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tạp  
chí Khoa học và Phát triển, tập 13, số 8: 1519-1526.  
Nguyễn anh Long và Huỳnh anh Hiền, 2015.  
Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô  
hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau. Tạp  
chí Khoa học - Trường Đại học Cần ơ, 1: 105-111.  
Farrell, M. J., 1957. e measurement of productive  
efficiency. Journal of the Royal Statistical Society:  
Series A, 21: 253-281.  
IPCC, 2007. Climate change 2007: Impact, adaptation  
and vulnerability. Contribution of Working  
group II to the Fourth Assessment Report of the  
Intergovernmental Panel On Climate Change, 2007,  
Cambridge University Press., 1000.  
Jiri, O., Mafongoya, P., and Chivenge, P., 2015.  
Smallholder farmer perceptions on climate change  
and variability: A predisposition for their subsequent  
adaptation strategies. Journal of Earth Science and  
Climate Change, 6 (5): 1-5.  
Khai, Huynh Viet, and Yabe, Mitsuyasu, 2011.  
Productive Efficiency of Soybean Production in the  
Mekong River Delta of Vietnam Soybean - Applications  
and Technology (pp. 111-128): InTech Publishing:  
Rijeka, Croatia.  
Lê ị Phương Mai, Dương Văn Ni và Trần Ngọc Hải,  
2014. Phân tích khía cạnh kỹ thuật và tài chánh của  
mô hình nuôi tôm sú (penaeus monodon) thâm canh  
ở Sóc trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Tạp chí Khoa học  
- Trường Đại học Cần ơ, số chuyên đề thủy sản:  
114-122.  
Phạm Lê ông và Đặng ị Phượng, 2015. Hiệu quả  
kinh tế của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán  
thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí  
Kinh tế và phát triển, 217: 46-55.  
Nguyễn ùy Trang, Huỳnh Việt Khải và Võ Hồng Tú,  
2018. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm vùng  
ven biển tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học - Trường  
Đại học Cần ơ. Tập 54(7D): 146-154.  
Analysis of the effects of climate change adaptation measures on technical efficiency  
of the white-leg shrimp farming households in Ben Tre province  
Vo ai Hiep, Dang anh Ha  
Abstract  
e study aims to analyze the effects of climate change adaptation measures on the technical efficiency of intensive  
white-leg shrimp farming households in Ben Tre province. Climate change adaptation measures include seasonal  
calendar adjustments, technical adjustments, production diversification and risk prevention. e technical  
efficiency was estimated from the Cobb - Douglas random marginal production function, based on primary data  
collected from 170 white-leg shrimp farming households in Ba Tri, Binh Dai and anh Phu districts. e level of  
133  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020  
technical efficiency of households was only average (53.9%) and there was a large difference between households  
(7.0 - 89.7%). e Tobit regression results showed that shrimp farming households applied measures of seasonal  
calendar adjustments and technical adjustments could contribute to increasing technical efficiency. At the same  
time, if more adaptation measures were applied by shrimp farming households, the efficiency would be increased.  
e research results also showed that improving education levels, creating conditions for shrimp farming households  
to access sources of information on climate change also significantly improves technical efficiency.  
Keywords: Climate change, adaptation measures, technical efficiency and white-leg shrimp  
Ngày nhận bài: 05/10/2020  
Ngày phản biện: 17/10/2000  
Người phản biện: TS Khổng Tiến Dũng  
Ngày duyệt đăng: 22/10/2020  
134  
pdf 8 trang yennguyen 18720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_anh_huong_cua_cac_bien_phap_thich_ung_bien_doi_khi.pdf