Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP
THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HIỆU QUẢ KỸ THUẬT
CỦA HỘ NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG TẠI TỈNH BẾN TRE
Võ ái Hiệp1, Đặng anh Hà2
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của
các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu bao gồm điều chỉnh
lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật, đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa rủi ro. Hiệu quả kỹ thuật được ước lượng từ
hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb - Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 170 hộ nuôi tôm thẻ chân
trắng ở các huyện Ba Tri, Bình Đại và ạnh Phú. Hiệu quả kỹ thuật của các hộ chỉ ở mức trung bình (53,9%) và có
sự chênh lệch lớn giữa các hộ (7,0% - 89,7%). Kết quả hồi quy Tobit cho thấy hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp
điều chỉnh lịch thời vụ và điều chỉnh kỹ thuật góp phần tăng hiệu quả kỹ thuật. Đồng thời, nếu hộ áp dụng càng
nhiều biện pháp thích ứng hơn thì hiệu quả sẽ càng cao. Bên cạnh đó, nâng cao trình độ học vấn, tạo điều kiện cho
người nuôi tôm tiếp cận với các nguồn thông tin về biến đổi khí hậu cũng giúp cải thiện đáng kể hiệu quả kỹ thuật.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, biện pháp thích ứng, hiệu quả kỹ thuật và tôm thẻ chân trắng
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
2015). Đứng trước tình hình đó, người nuôi tôm đã
từng bước tìm kiếm các biện pháp thích ứng nhằm
giảm các tác động tiêu cực để duy trì, cải thiện năng
suất và hiệu quả.
Tôm nước lợ đang được nuôi tại 30 tỉnh thành
và trở thành sản phẩm hàng hóa lớn ở nước ta gồm
2 loài là tôm sú (loài bản địa) và tôm thẻ chân trắng.
Từ năm 2008, sau khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn có chủ trương cho phép nuôi tôm thẻ
chân trắng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nó đã
trở thành đối tượng nuôi quan trọng. Đến năm 2013,
tôm thẻ chân trắng đã vượt tôm sú về sản lượng và
giá trị xuất khẩu (Đỗ Hương, 2017). Nghề nuôi tôm
đã tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho
nhiều cư dân ở vùng ven biển.Vì thế, nuôi tôm được
xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của nhiều địa phương trong cả nước, trong đó có
tỉnh Bến Tre.
Nghề nuôi tôm tỉnh Bến Tre phát triển mạnh và
khá lâu đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, đời
sống nông dân vùng ven biển được cải thiện và nâng
lên rõ rệt. Bến Tre thuộc nhóm 05 tỉnh dẫn đầu
Đồng bằng sông Cửu Long về diện tích và sản lượng
tôm nước lợ. Năm 2017, diện tích là 37.285 ha và sản
lượng là 54.870 tấn, chiếm 21,13% trong tổng sản
lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh (BSO, 2017).
Tuy nhiên, giá cả thức ăn, con giống, thuốc thú y
phục vụ nuôi tôm gia tăng do nguồn nguyên liệu
khan hiếm đã gây nhiều khó khăn. Đặc biệt, trong
điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH), nắng nóng kéo
dài, độ mặn tăng cao và xâm nhập sâu làm phát sinh
nhiều dịch bệnh có tính chất ngày càng phức tạp, dễ
lây lan và gây chết hàng loạt (UBND tỉnh Bến Tre,
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu đánh giá
hiệu quả tài chính của các hộ nuôi tôm thâm canh ở
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn anh
Long và Huỳnh Văn Hiền, 2015; Lê ị Phương Mai
và ctv., 2014; Đỗ Minh Vạn và ctv., 2016). Gần đây,
đánh giá hiệu quả tương đối của hộ nuôi tôm bằng
phương pháp “phân tích màng bao dữ liệu, DEA” và
“phân tích hàm biên ngẫu nhiên, SFA” cũng được
một số tác giả thực hiện như Nguyễn ị Hồng Liễu
(2020), Phạm Lê ông và Đặng ị Phượng (2015);
Nguyễn ùy Trang và cộng tác viên (2018), Đặng
ị Phượng và cộng tác viên (2020). Dựa vào mức
hiệu quả được tính toán và ước lượng, các tác giả
tiếp tục phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả, thông thường là tuổi, trình độ học vấn, kinh
nghiệm, diện tích canh tác, tham gia khuyến nông.
Tuy nhiên, hầu như chưa có nghiên cứu phân
tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng với
BĐKH đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ
chân trắng. Vì thế, nghiên cứu này là hết sức cần
thiết để bổ sung thêm khoảng trống kiến thức này
dưới góc nhìn kinh tế. Kết quả nghiên cứu là tiền
đề quan trọng để nâng cao khả năng thích ứng với
BĐKH, cải thiện hiệu quả cho ngành nuôi tôm nói
chung và tôm thẻ chân trắng nói riêng.
1 Nghiên cứu sinh, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
2 Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
127
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Y = f (X β )exp v − u
(1)
i
i
i
i
2.1. Đối tượng nghiên cứu
lnY = ln f (x ) + (v −u )
i
i
i
i
Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp thích ứng
Trong đó, Y là đầu ra; X là các yếu tố đầu vào;
β là tham số côing nghệ; vi cóiphân phối chuẩn với kỳ
vọng là 0 và phương sai σ 2 (v ~ N(0, σv2)), là phần sai
số đối xứng, biểu diễn tácvđộng của những yếu tố ngẫu
nhiên, và ui > 0 là phần sai số một đuôi có phân phối
với biến đổi khí hậu và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm
canh tại tỉnh Bến Tre.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2
nửa chuẩn (u ~ |N(0, σu )|), biểu diễn phần phi hiệu
2.2.1. Cơ sở lý thuyết
a) ích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất
nông nghiệp
quả được tính từ chênh lệch giữa (Yi) với giá trị tối đa
có thể có của nó (Yi’) được cho bởi hàm giới hạn ngẫu
nhiên, tức là, Yi – Yi’. Hiệu quả kỹ thuật của từng nhà
sản xuất được tính theo công thức:
ích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh
của các hệ thống tự nhiên hay xã hội để ứng phó với
các kích thích do biến đổi khí hậu đang hoặc được
dự báo sẽ xảy ra hay với các tác động của chúng, để
từ đó, giảm nhẹ sự thiệt hại hoặc khai thác nhưng cơ
hội thuận lợi mà nó mang lại (IPCC, 2007). Trong
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thích ứng với biến
đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc
con người đối với hoạt động canh tác nông nghiệp
nhằm giảm khả năng bị tổn thương do biến đổi khí
hậu gây ra và có thể tận dụng các cơ hội do biến đổi
khí hậu mang lại (Đặng ị Hoa và Chu ị u,
2013). Hay thích ứng với biến đổi khí hậu liên quan
đến những thay đổi trong biện pháp quản lý nông
nghiệp để đối phó với những thay đổi của thời tiết
(Akinnagbe and Irohibe, 2014). ích ứng với biến
đổi khí hậu sẽ góp phần cải thiện năng suất và hiệu
quả sản xuất cây trồng, vật nuôi.
TE = E exp(−u /Y
(2)
[
]
i
i
i
TE ∈[0, 1] ⇒ u ≥ 0. Khi u = 0 ⇒ TE = 1, đó
i
i
i
là nhà sản xuất i nằm trên đường cực biêin và đạt
hiệu quả kỹ thuật cao nhất. Khi u càng lớn, nhà sản
i
xuất càng nằm xa phía dưới đường cực biên và hiệu
quả kỹ thuật càng thấp. Các tham số trong mô hình
(1) và ui có thể được ước lượng bằng “phương pháp
thích hợp cực đại” (MLE), đây là phương pháp được
sử dụng rộng rãi để đo lường mức hiệu quả của các
nhà sản xuất cá thể. Sau khi tính toán được hiệu quả
kỹ thuật của từng nhà sản xuất, mô hình hồi quy
tuyến tính hoặc hồi quy Tobit được sử dụng để phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của
nhà sản xuất.
2.2.2. Mô hình thực nghiệm
+ Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên thường được
ước lượng bằng 2 mô hình phổ biến trong kinh tế
sản xuất là Cobb - Douglas và Translog (Nguyễn
Hữu Đặng, 2017). Hàm sản xuất Cobb - Douglas và
Translog thực nghiệm có dạng như sau:
b) Đo lường hiệu quả kỹ thuật
Hiệu quả kỹ thuật là tối thiểu hóa lượng các yếu
tố đầu vào với đầu ra cho trước hoặc tối đa hóa các
yếu tố đầu ra với lượng yếu tố đầu vào cho trước
(Farrell, 1957). Có hai phương pháp đo lường hiệu
quả kỹ thuật phổ biến là phân tích màng bao dữ liệu
(Data Envelopment Analysis - DEA) và phân tích
đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis
- SFA). DEA là cách tiếp cận phi tham số dựa trên
mô hình tuyến tính nên kết quả ước lượng hiệu quả
không thể tách các tác động nhiễu ra khỏi đường
giới hạn khả năng sản xuất, trong khi đó SFA là cách
tiếp cận tham số dựa trên mô hình kinh tế lượng
nên có thể khắc phục được nhược điểm này của
DEA (Võ Hồng Tú, 2015). Vì vậy, trong nghiên cứu
này hiệu quả kỹ thuật được ước lượng bằng phương
pháp tham số - hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, hàm
này được đề xuất bởi Aigner và cộng tác viên (1977)
và được phát triển bởi Battese và Coelli (1992). Hàm
sản xuất biên ngẫu nhiên có dạng:
+ Hàm sản xuất biên Cobb - Douglas:
4
(3)
lnY = β + β lnX +(V −U )
∑
i
0
j
ji
i
i
j=1
Hàm sản xuất biên Translog:
4
4
4
1
lnY = β + β lnX +
β jk lnX ji ln Xki +(V −Ui )
(4)
∑
∑∑
i
0
j
ji
i
j=1
j=1 k=1
2
Trong đó: Yi là năng suất (kg/ha); X : Lượng giống
(con/ha); X2i: Lượng thức ăn (kg/ha); 1Xi : Lượng lao
động (ngày công/ha) và X4i: Lượng vôi (k3gi/ha).
Kiểm định LLR (Genneralized Likelihood-Ratio
Statistic) được sử dụng để lựa chọn mô hình ước
lượng Cobb-Douglas (3) hay Translog (4) dựa vào
giá trị λ được tính theo công thức: λ = −2[(L(H0) −
L(H1)]. Trong đó: L(H0) là giá trị log-likelihood của
128
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
mô hình hàm sản xuất Cobb- Douglas, L(H1) là giá
chính xác về hoạt động sản xuất và tình hình biến
đổi khí hậu cũng như những biện pháp ứng phó.
trị log-likelihood của hàm sản xuất Translog. Nếu
λ > giá trị tra bảng λtable thì hàm sản xuất Translog tốt
hơn hàm Cobb-Douglas hoặc ngược lại. Giá trị tra
bảng (the critical χ2 value) lấy từ bảng χ2 với số bậc
tự do (df) bằng số biến độc lập của hàm Translog
trừ số biến độc lập của hàm Cobb-Douglas (Nguyễn
Hữu Đặng, 2017).
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 đến tháng
12 năm 2018, với sự tư vấn của cán bộ Phòng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi chọn các
xã nghiên cứu chuyên sâu bao gồm Bảo ạnh và
Tân Xuân (Ba Tri), Định Trung và ạnh Phước
(Bình Đại), An Điền và Giao ạnh (ạnh Phú).
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Tobit để
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ
thuật. Hồi quy Tobit được khuyến khích sử dụng để
ước lượng mô hình có biến phụ thuộc bị chặn (hay
bị giới hạn), chặn trên hay chặn dưới hoặc bị chặn
cả hai. Điều này phù hợp với biến phụ thuộc trong
nghiên cứu là hiệu quả kỹ thuật (TE) bị chặn trên và
dưới có giá trị từ 0 đến 1 (Bravo-Ureta and Pinheiro,
1997; Khai and Yabe, 2011). Mô hình hồi quy Tobit
có dạng thực nghiệm như sau:
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của
hộ nuôi tôm
Biến đổi khí hậu thực sự gây ra tính dễ bị tổn
thương của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Bến
Tre (Võ ái Hiệp và cộng tác viên, 2020), vì thế
thích ứng là điều cần thiết trong việc giảm thiểu các
tác động tiềm tàng. Jiri và ctv (2015) cho rằng tính dễ
bị tổn thương của nông hộ nhỏ sẽ liên tục tăng lên
nếu không có sự thích ứng phù hợp.
4
6
+ φi
TE = γ + γ D + γ z
∑
∑
i
0
j
ji
j
ji
j=1
j=1
Trong đó: TE là hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi
tôm i; Dji là biếnigiả về biện pháp thích ứng biến đổi
khí hậu bao gồm D1i là biện pháp điều chỉnh lịch thời
vụ (1 = có áp dụng; 0 = không áp dụng), D là biện
pháp điều chỉnh kỹ thuật (1= có áp dụng; 02=i không
áp dụng), D3i là biện pháp đa dạng hóa sản xuất
(1 = có áp dụng; 0 = không áp dụng), D4i là biện pháp
phòng ngừa rủi ro (1 = có áp dụng; 0 = không áp
dụng); và Zji là đặc điểm hộ bao gồm Z1i là số lượng
biện pháp thích ứng với BĐKH mà hộ áp dụng
(số lượng), Z2i là tuổi của chủ hộ (năm), Z là trình độ
học vấn của chủ hộ (số năm đi học), Z4i là3di iện tích ao
nuôi (ha), Z5i là số lượng nguồn thông tin về BĐKH
mà hộ tiếp cận (nguồn), Z là số năm nhận biết thời
tiết thay đổi thất thường (6ni ăm); φi là sai số của mô
hình hồi quy.
Hình 1. Tỷ lệ hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp
thích ứng với biến đổi khí hậu (%)
Kết quả nghiên cứu có 4 nhóm biện pháp thích
ứng với BĐKH của hộ nuôi tôm thẻ chân chân trắng
bao gồm: (1) điều chỉnh lịch thời vụ (điều chỉnh
thời gian thả giống hay thu hoạch); (2) điều chỉnh
kỹ thuật (thay đổi mật độ nuôi, thay đổi cách cho ăn,
sử dụng thuốc, tăng cường sử dụng máy móc thiết
bị, điều chỉnh tần suất thay nước); (3) đa dạng hóa
sản xuất (nuôi tôm kết hợp thủy sản khác, làm thêm
nghề phi nông nghiệp, chuyển sang nuôi thủy sản
khác); (4) phòng ngừa rủi ro biến đổi khí hậu (theo
dõi tin tức dự báo thời tiết/thiên tai, xây dựng/đắp
cao bờ bao, mua bảo hiểm tôm). Tỷ lệ hộ nuôi tôm
thẻ chân trắng ở tỉnh Bến Tre áp dụng các biện pháp
thích ứng với BĐKH thể hiện Hình 1. Nhóm biện
pháp điều chỉnh kỹ thuật và phòng ngừa rủi ro được
các hộ nuôi tôm áp dụng cao, chiếm tỷ lệ tương ứng
là 84,12% và 81,76%. Kế đến là biện pháp điều chỉnh
2.2.3. u thập dữ liệu
Bài nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp được thu
thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 170 hộ nuôi tôm
thẻ chân trắng thâm canh ở các huyện ven biển Ba
Tri (64 hộ), Bình Đại (59 hộ) và ạnh Phú (47 hộ) ở
tỉnh Bến Tre năm 2018. Đây là các huyện ven biển có
diện tích nuôi tôm nước lợ tập trung (BSO, 2017) và
đang hứng chịu tác động của biến đổi khí hậu ngày
càng nhiều (Nguyễn ị Kim Anh và ctv., 2013). Hộ
nuôi tôm được chọn bằng phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên phân tầng (huyện/xã) với sự trợ giúp của
cán bộ phụ trách nông nghiệp ở các xã và ấp. Người
được phỏng vấn là chủ hộ hay thành viên tham gia
sản xuất chính trong hộ để thu thập được thông tin
129
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
lịch thời vụ chiếm tỷ lệ 76,47% và đa dạng hóa sản
xuất ít được áp dụng hơn chiếm tỷ lệ 35,88%. Qua
đây cho thấy người nuôi tôm thẻ chân trắng đã có
ý thức khá cao trong phòng, chống ảnh hưởng tiêu
cực của biến đổi khí hậu gây ra.
nuôi tôm được tính toán theo phương pháp trình
bày ở phần trước. Kết quả ước tính mức hiệu quả
của các hộ nuôi tôm được trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2. Phân phối hiệu quả kỹ thuật
của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng
3.2. Kết quả ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên
Mức hiệu quả (%)
90 - 100
80 - 90
Số hộ
0
11
Tỷ trọng (%)
0,00
Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình ước
lượng Cobb-Douglas hay Translog cho thấy, giá trị
λ = -2(-169,11 – (-159,54)) = 19,14, nhỏ hơn
giá trị λ tra bảng χ2 (df = 10, λtable = 23,21). Do
vậy, môtahblìenh hàm sản xuất biên ngẫu nhiên dạng
Cobb-Douglas được chọn để ước lượng với sự hỗ trợ
của phần mềm Stata 12.0.
6,47
70 - 80
27
15,88
60 - 70
42
24,71
50 - 60
35
20,59
< 50
55
32,35
eo mô hình thực nghiệm (3), có 4 biến được
đưa vào hàm sản xuất, đây là những biến được sử
dụng trong hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu
quả kỹ thuật nuôi tôm. Kết quả ước lượng hiệu quả
kỹ thuật của các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng được
trình bày Bảng 1. Kiểm định Wald cho thấy, ảnh
hưởng của các biến trong mô hình đến năng suất
có ý nghĩa thống kê 1%. Hệ số λ = 0,896 trong ước
lượng MLE cho biết sự kém hiệu quả kỹ thuật giải
thích 89,6% sự biến động của năng suất.
Trung bình
ấp nhất
Cao nhất
53,9%
7,0%
89,7%
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).
Số liệu trong Bảng 2 cho thấy mức hiệu quả kỹ
thuật trung bình của hộ nuôi tôm đạt được chỉ ở
mức trung bình là 53,9%. Kết quả này phản ánh sự
kém hiệu quả trong quản lý, phân bổ các yếu tố đầu
vào và chịu ảnh hưởng của các yếu tố khách quan
như thời tiết, khí hậu và môi trường. Như vậy, khả
năng tăng năng suất của các hộ nuôi tôm trên địa
bàn tỉnh Bến Tre còn rất cao khi lựa chọn tối ưu đầu
vào - đầu ra và có các biện pháp thích ứng phù hợp.
Số hộ đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao, trong
khoảng từ 80 - 100%, chỉ có 11 hộ, chiếm tỷ trọng rất
thấp là 6,47%. Đa số các hộ có mức hiệu quả kỹ thuật
trung bình đến khá (50% - 80%), có 104 hộ, chiếm
tỷ trọng 61,38%. Ngoài ra, số hộ có mức hiệu quả kỹ
thuật dưới mức trung bình (< 50%) chiếm tỷ lệ đáng
kể là 32,35% (55 hộ). Sự chênh lệch mức hiệu quả kỹ
thuật thấp nhất và cao nhất rất lớn, khoảng cách này
từ 7,0% đến 89,7%. Điều này chứng tỏ chênh lệch kỹ
thuật nuôi tôm giữa các hộ trong bối cảnh biến đổi
khí hậu khá cao là do ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Bảng 1. Ước lượng hàm sản xuất biên
Cobb-Douglas hộ nuôi tôm thẻ chân trắng
Tên biến
Hằng số
LNX1
LNX2
LNX3
am số
Hệ số
4,155***
-0,178*
0,554***
0,089
Giá trị Z
3,38
-1,79
6,89
1,34
5,40
β0
β1
β2
β3
β4
LNX4
0,302***
Log likeli hood
Lamda (λ)
-169,11 Wald chi2(4) 109,69
0,896 Prob > chi2 0,0000
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).
2
Ghi chú: Hệ số λ được tính bằng công thức λ =σu /
2
2
(σu + σv ); ***, ** và *: chỉ mức ý nghĩa thống kê tương ứng
3.3. Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích
ứng với biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của
hộ nuôi tôm
Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả kỹ thuật và tác động biên của các hộ nuôi tôm
thẻ chân trắng thể hiện ở bảng 3.
Kết quả hồi quy Tobit cho thấy các yếu tố ảnh
hưởng có ý nghĩa thống kê và đồng biến với hiệu quả
kỹ thuật bao gồm biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ,
biện pháp điều chỉnh kỹ thuật, số lượng biện pháp
thích ứng, trình độ học vấn và thông tin. Trong khi
đó, diện tích nuôi tôm có ảnh hưởng nghịch biến
đến hiệu quả kỹ thuật.
1%, 5%, 10%
Kết quả ước lượng chỉ ra các yếu tố đầu vào ảnh
hưởng đồng biến đến năng suất tôm gồm lượng
thức ăn và lượng vôi; tuy nhiên lượng con giống ảnh
hưởng nghịch biến đến năng suất tôm do mật độ
thả nuôi trung bình của các hộ điều tra khá cao là
73,12 con/m2, cao hơn so với qui chuẩn kỹ thuật qui
định mật độ tối đa trong ao đất là 60 con/m2 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2013
(Đặng ị Phượng và ctv., 2020). Dựa vào phần sai
số phi hiệu quả kỹ thuật (ui) trong hàm sản xuất biên
ngẫu nhiên ở trên, mức hiệu quả kỹ thuật của các hộ
130
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
Bảng 3. Kết quả hồi quy Tobit các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
Tên biến
Hệ số
0,080**
0,172***
0,031
Sai số chuẩn
0,031
t
P> |t|
0,010
0,000
0,216
0,292
dy/dx
0,079
0,170
-0,030
0,033
Điều chỉnh lịch thời vụ (D1)
Điều chỉnh kỹ thuật (D2)
Đa dạng hóa sản xuất (D3)
Phòng ngừa rủi ro (D4)
2,60
4,76
-1,24
1,06
0,036
0,025
0,033
0,031
Số lượng biện pháp thích ứng
với BĐKH mà hộ áp dụng (Z1)
0,013**
0,005
2,27
0,024
0,013
Tuổi chủ hộ (Z2)
0,001
0,015***
-0,032*
0,001
0,004
0,179
0,13
3,79
0,899
0,000
0,079
0,001
0,015
-0,031
Trình độ học vấn chủ hộ (Z3)
Diện tích ao nuôi (Z4)
-1,77
Số lượng nguồn thông tin
0,023**
0,011
2,14
0,034
0,023
0,002
về BĐKH mà hộ tiếp cận (Z5)
Số năm nhận biết thời tiết
thay đổi thất thường (Z6)
0,002
0,005
0,069
0,50
0,91
0,615
0,362
Hằng số
0,063
0,0000
81,191
112,84
Prob > Chi2
Log likelihood
LR χ2
Nguồn: Kết quả khảo sát (2018).
Ghi chú: ***, ** và *: chỉ mức ý nghĩa thống kê tương ứng 1%, 5%, 10%.
Hộ nuôi tôm áp dụng biện pháp điều chỉnh lịch
thời vụ (D1) bằng cách thay đổi thời điểm thả giống
hay thu hoạch để phù hợp với sự thay đổi thời tiết.
Hệ số ước lượng có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và
đồng biến với hiệu quả kỹ thuật. Nếu hộ nuôi tôm
áp dụng biện pháp điều chỉnh lịch thời vụ thì hiệu
quả kỹ thuật sẽ tăng thêm 7,9% (dy/dx = 0,079).
Tương tự, hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp điều
chỉnh kỹ thuật (D2) sẽ ảnh hưởng đồng biến và có ý
nghĩa thống kê rất cao đến hiệu quả kỹ thuật (1%).
Hơn nữa, khi hộ nuôi tôm áp dụng biện pháp điều
chỉnh kỹ thuật thì hiệu quả sẽ tăng thêm 17,0%
(dy/dx = 0,170) so với hộ không áp dụng biện pháp
này. Cho nên, biện pháp điều chỉnh các kỹ thuật là
rất quan trọng để tăng năng suất tôm nuôi. Bên cạnh
đó, hệ số của biến số lượng biện pháp thích ứng với
BĐKH mà hộ nuôi tôm áp dụng (Z1) có dấu dương
và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này chứng
tỏ rằng, khi hộ nuôi tôm áp dụng càng nhiều biện
pháp thích ứng để đối phó với thời tiết thay đổi thì
hiệu quả nuôi tôm mang lại sẽ càng cao. Cụ thể là
khi hộ nuôi tôm áp dụng thêm 1 biện pháp thích
ứng thì hiệu quả kỹ thuật mang lại sẽ tăng thêm 1,3%
(dy/dx = 0,013). Vì thế, việc các cơ quan hữu quan
cần phổ biến và khuyến khích nông hộ áp dụng các
biện pháp để đối phó với sự thay đổi thời tiết là thực
sự quan trọng.
Mặc dù hệ số ước lượng của biện pháp phòng
ngừa rủi ro (D4) không có ý nghĩa thống kê nhưng
nó đồng biến với hiệu quả kỹ thuật. Hộ nuôi tôm
tăng cường theo dõi thông tin dự báo thời tiết để có
kế hoạch ứng phó kịp thời, thường xuyên đắp cao bờ
bao ao tôm cũng có thể nâng cao được hiệu quả kỹ
thuật (dy/dx = 0,033). Mặt khác, hệ số ước lượng của
biện pháp đa dạng hóa sản xuất (D3) lại mang dấu
âm và không có ý nghĩa thống kê. Qua phỏng vấn
cho thấy những thành viên phụ trách nuôi tôm thẻ
chân trắng thâm canh hầu như dành toàn bộ thời
gian để chăm sóc, theo dõi quá trình sinh trưởng của
con tôm. Cho nên, nếu họ thực hiện thêm các hoạt
động sản xuất khác ngoài nuôi tôm thì khả năng
giảm năng suất và hiệu quả là điều có thể xảy ra. Vì
thế, hộ nuôi tôm cần lưu ý phân bố lực lượng lao
động trong gia đình giữa các hoạt động khác nhau
sao cho phù hợp.
Trình độ học vấn của chủ hộ (Z3) có ảnh hưởng
đồng biến với hiệu quả kỹ thuật với ý nghĩa thống
kê 1%. Khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng
131
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
thêm 1 năm thì hiệu quả kỹ thuật tăng thêm 1,5%
(dy/dx = 0,015). Hộ nuôi tôm có trình độ học vấn
cao giúp họ dễ dàng ứng dụng những kỹ thuật mới
vào sản xuất phù hợp với đặc điểm của ao nuôi, tiếp
nhận và xử lý thông tin có liên quan đến vấn đề biến
đổi khí hậu tốt hơn và có kế hoạch thích ứng kịp
thời. Vì vậy, yếu tố này đã góp phần đáng kể trong
việc tăng hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm.
Diện tích ao nuôi (Z4) có ảnh hưởng tỷ lệ nghịch
với hiệu kỹ thuật ở mức ý nghĩa 10%, kết quả này
cho thấy những hộ có diện tích ao nuôi càng lớn
thì hiệu quả kỹ thuật sẽ càng thấp. Điều này có thể
giải thích rằng những hộ có diện tích ao nuôi lớn thì
việc kiểm soát các yếu tố môi trường ao nuôi biến
đổi thất thường như nhiệt độ, độ mặn, oxy trong ao
nuôi trở nên khó khăn hơn. Khi diện tích ao nuôi
tăng thêm 1ha thì hiệu quả kỹ thuật giảm 3,1%
(dy/dx = - 0,031). Như vậy, hộ nuôi tôm thẻ chân
trắng không có lợi thế về quy mô.
Số lượng nguồn thông tin về BĐKH mà hộ tiếp
cận (Z5) ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
và mang dấu dương. Nghĩa là khi hộ tiếp cận thông
tin về biến đổi khí hậu từ nhiều nguồn khác nhau
như tivi, radio, internet, cán bộ khuyến nông, người
quen, hàng xóm... thì hiệu quả kỹ thuật tăng lên. Khi
hộ tiếp cận thêm 1 nguồn thông tin thì hiệu quả kỹ
thuật tăng 2,3% (dy/dx = 0,023). Qua tiếp xúc với
các nguồn thông tin về BĐKH giúp hộ có thêm kiến
thức để ứng phó với thời tiết thất thường nhằm cải
thiện năng suất tôm nuôi. Ngoài ra, số năm nhận
biết thời tiết thay đổi thất thường ảnh hưởng đồng
biến đến hiệu quả kỹ thuật nhưng không có ý nghĩa
thống kê. Qua nhiều năm quan sát thời tiết thay đổi,
người nuôi tôm có thể điều chỉnh các biện pháp
thích ứng một cách hợp lý.
53,9%. Kết quả này hàm ý hiệu quả kỹ thuật của các
hộ nuôi tôm chỉ ở mức trung bình do việc sử dụng
các đầu vào chưa hợp lý, đồng thời do ảnh hưởng
của các yếu tố khách quan thời tiết, khí hậu và môi
trường. Năng suất của hộ nuôi tôm còn có khả năng
tăng đến 46,1%. Nghiên cứu đã khám phá ra rằng
các hộ nuôi tôm áp dụng các biện pháp điều chỉnh
lịch thời vụ, điều chỉnh kỹ thuật sẽ làm tăng hiệu quả
kỹ thuật. Đồng thời, nếu hộ áp dụng càng nhiều biện
pháp thích ứng với biến đổi khí hậu thì hiệu quả kỹ
thuật càng tăng. Bên cạnh đó, chủ hộ có trình độ học
vấn cao và tiếp cận được nhiều nguồn thông tin liên
quan đến biến đổi khí hậu cũng góp phần nâng cao
hiệu quả kỹ thuật. Tuy nhiên, diện tích ao nuôi càng
lớn thì hiệu quả kỹ thuật càng giảm.
4.2. Đề nghị
Kết quả nghiên cứu này cho thấy để tăng năng
suất và cải thiện hiệu quả kỹ thuật, trước tiên cần
nâng cao nhận thức, tuyên truyền phổ biến thông
tin đến người nuôi tôm về vấn đề biến đổi khí hậu
(nguyên nhân, tác động của nó đối với sản xuất).
Hướng dẫn người nuôi tôm áp dụng các biện pháp
để thích ứng thông qua các lớp tập huấn khuyến
nông, trên các phương tiện truyền thông như loa,
đài phát thanh, truyền hình, tờ rơi. Đồng thời, cải
thiện giáo dục sẽ đẩy nhanh sự thích ứng và gia tăng
khả năng ra quyết định của các hộ nuôi tôm trong
việc áp dụng các biện pháp thích ứng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn ị Kim Anh, Bùi Nguyễn Phúc iên
Chương, Hồ Xuân Hướng và Lê ị Huyền Trang,
2013. Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí
hậu của các hộ dân ven biển tỉnh Bến Tre. Tạp chí
Kinh tế & Phát triển, 194: 63-73.
Cục ống kê tỉnh Bến Tre (BSO), 2017. Niên giám
ống kê tỉnh Bến Tre. Nhà xuất bản anh niên.
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nguyễn Hữu Đặng, 2017. Phân tích hiệu quả kỹ thuật
của hộ trồng thanh long tại huyện Châu thành, tỉnh
Long An. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,
15 (4): 537-544.
Võ ái Hiệp, Đặng anh Hà, Châu Tấn Lực và
Nguyễn Ngọc ùy, 2020. Đánh giá tính dễ bị tổn
thương của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
ven biển tỉnh Bến Tre do biến đổi khí hậu. Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 15: 112-121.
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu này dựa trên số liệu thu thập
từ 170 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh
Bến Tre. Các nhóm biện pháp thích ứng chủ yếu mà
hộ nuôi tôm áp dụng là điều chỉnh lịch thời vụ, điều
chỉnh kỹ thuật, đa dạng hóa sản xuất và phòng ngừa
rủi ro. Nghiên cứu đã sử dụng hàm sản xuất biên
ngẫu nhiên Cobb-Douglas để ước lượng hiệu quả kỹ
thuật của hộ nuôi tôm bằng chương trình Stata 12.0.
Hiệu quả kỹ thuật của các hộ nuôi tôm dao động
khá lớn trong khoảng 7,0% đến 89,7%, trung bình là
Đặng ị Hoa và Chu ị u, 2013. Giải pháp nâng
cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản
xuất nông nghiệp của người dân ven biển huyện Giao
132
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
ủy, tỉnh Nam Định. Đề tài nghiên cứu khoa học
công nghệ cấp cơ sở. Trường Đại học Lâm nghiệp,
Hà Nội.
UBND tỉnh Bến Tre, 2015. Báo cáo tóm tắt dự án “Cập
nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí
hậu tỉnh Bến Tre”. Văn phòng Chương trình Mục
tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đỗ Minh Vạn, Trần Ngọc Hải, Trần Hoàng Tuân và
Trương Hoàng Minh, 2016. Đánh giá hiệu quả nuôi
tôm thẻ chân trắng thâm canh theo các hình thức tổ
chức ở đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học
- Trường Đại học Cần ơ, 42d: 50-57.
Akinnagbe O.M. and Irohibe I.J., 2014. Agricultural
adaptation strategies to climate change impacts in
Africa: a review. Bangladesh Journal Agricultural
Research 39 (3): 407-418.
Aigner,D.,Lovell,C.andSchmidt,P.,1977.Formulation
and Estimation of Stochastic Frontier Production
Function Models. Journal of Econometrics, 6: 21-37.
Bravo-Ureta, Boris E, and Pinheiro, Antonio E., 1997.
Technical, economic, and allocative efficiency in
peasant farming: evidence from the Dominican
Republic. e Developing Economies, 35 (1): 48-67.
Battese, G.E. and Coelli, T.J., 1992. Frontier production
functions, technical efficiency and panel data with
application to paddy farmers in India. Journal of
Productivity Analysis, 3: 153-169.
Đỗ Hương, 2017. Ngành nuôi tôm có lợi thế thuyệt đối,
ngày truy cập: 4 tháng 10 năm 2020. Địa chỉ truy cập:
tom-Viet-Nam-co-loi-the-tuyet-doi/298074.vgp.
Đặng ị Phượng, Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn ị Kim
Quyên, Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nobuyuki Yagi,
2020. Hiệu quả kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ
chân trắng Litopenaeus vannamei (Boone, 1931)
qui mô nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp
chí Khoa học - Trường Đại học Cần ơ, tập 56, số
chuyên đề thủy sản: 110-116.
Nguyễn ị Hồng Liễu, 2020. Phân tích hiệu quả kỹ
thuật của mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh
Trà Vinh. Tạp chí Công ương. Các kết quả nghiên
cứu khoa học và ứng dụng công nghệ , số 13, 7 trang.
Võ Hồng Tú, 2015. Ứng dụng phương pháp phân tích
giới hạn sản xuất ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả
môi trường của hoạt động sản xuất nông nghiệp. Tạp
chí Khoa học và Phát triển, tập 13, số 8: 1519-1526.
Nguyễn anh Long và Huỳnh anh Hiền, 2015.
Phân tích hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô
hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở tỉnh Cà Mau. Tạp
chí Khoa học - Trường Đại học Cần ơ, 1: 105-111.
Farrell, M. J., 1957. e measurement of productive
efficiency. Journal of the Royal Statistical Society:
Series A, 21: 253-281.
IPCC, 2007. Climate change 2007: Impact, adaptation
and vulnerability. Contribution of Working
group II to the Fourth Assessment Report of the
Intergovernmental Panel On Climate Change, 2007,
Cambridge University Press., 1000.
Jiri, O., Mafongoya, P., and Chivenge, P., 2015.
Smallholder farmer perceptions on climate change
and variability: A predisposition for their subsequent
adaptation strategies. Journal of Earth Science and
Climate Change, 6 (5): 1-5.
Khai, Huynh Viet, and Yabe, Mitsuyasu, 2011.
Productive Efficiency of Soybean Production in the
Mekong River Delta of Vietnam Soybean - Applications
and Technology (pp. 111-128): InTech Publishing:
Rijeka, Croatia.
Lê ị Phương Mai, Dương Văn Ni và Trần Ngọc Hải,
2014. Phân tích khía cạnh kỹ thuật và tài chánh của
mô hình nuôi tôm sú (penaeus monodon) thâm canh
ở Sóc trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Tạp chí Khoa học
- Trường Đại học Cần ơ, số chuyên đề thủy sản:
114-122.
Phạm Lê ông và Đặng ị Phượng, 2015. Hiệu quả
kinh tế của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và bán
thâm canh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí
Kinh tế và phát triển, 217: 46-55.
Nguyễn ùy Trang, Huỳnh Việt Khải và Võ Hồng Tú,
2018. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm vùng
ven biển tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học - Trường
Đại học Cần ơ. Tập 54(7D): 146-154.
Analysis of the effects of climate change adaptation measures on technical efficiency
of the white-leg shrimp farming households in Ben Tre province
Vo ai Hiep, Dang anh Ha
Abstract
e study aims to analyze the effects of climate change adaptation measures on the technical efficiency of intensive
white-leg shrimp farming households in Ben Tre province. Climate change adaptation measures include seasonal
calendar adjustments, technical adjustments, production diversification and risk prevention. e technical
efficiency was estimated from the Cobb - Douglas random marginal production function, based on primary data
collected from 170 white-leg shrimp farming households in Ba Tri, Binh Dai and anh Phu districts. e level of
133
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 10(119)/2020
technical efficiency of households was only average (53.9%) and there was a large difference between households
(7.0 - 89.7%). e Tobit regression results showed that shrimp farming households applied measures of seasonal
calendar adjustments and technical adjustments could contribute to increasing technical efficiency. At the same
time, if more adaptation measures were applied by shrimp farming households, the efficiency would be increased.
e research results also showed that improving education levels, creating conditions for shrimp farming households
to access sources of information on climate change also significantly improves technical efficiency.
Keywords: Climate change, adaptation measures, technical efficiency and white-leg shrimp
Ngày nhận bài: 05/10/2020
Ngày phản biện: 17/10/2000
Người phản biện: TS Khổng Tiến Dũng
Ngày duyệt đăng: 22/10/2020
134
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích ảnh hưởng của các biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Bến Tre", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_anh_huong_cua_cac_bien_phap_thich_ung_bien_doi_khi.pdf

