Khảo sát thành phần hoá học và sự hiện diện của vi sinh vật trên phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cuối quá trình chế biến

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA VI SINH VẬT  
TRÊN PHI LÊ CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus) CUỐI QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN  
PROXIMATE COMPOSITION AND MICROFLORA OF NILE TILAPIA (Oreochromis  
niloticus) FILLETS AT THE PROCESSING END  
Nguyễn Thị Kiều Diễm1,2, Mai Thị Tuyết Nga2  
1Khoa Công nghệ Thủy sản, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ  
2Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang  
Tác giả liên hệ: Mai Thị Tuyết Nga (Email: [email protected])  
Ngày nhận bài: 08/01/2021; Ngày phản biện thông qua: 26/03/2021; Ngày duyệt đăng: 29/03/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm khảo sát chất lượng của cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau khi đông rời IQF, kết  
quả khảo sát cho thấy phi lê cá rô phi sau khi đông lạnh có hàm lượng lipid là 0,68% và hàm lượng acid béo tự  
do 4,87 g/100 g chất béo. Chỉ số acid thiobarbituric (TBARS) trong phi lê sau khi phi lê và đông lạnh thấp (lần  
lượt là 0,06 ± 0,004 và 0,11 ± 0,012 mg MDA/kg), đồng thời hàm lượng peroxide sau phi lê và sau quá trình  
đông lạnh đều dưới ngưỡng phát hiện. Hàm lượng tổng nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) ban đầu của phi lê cá rô phi  
sau phi lê là 11,13 ± 0,74 và sau đông lạnh là 12,82 ± 1,22 mg N/100g thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng cho  
phép là 25 mg N/100 g. Lượng Pseudomonas spp., tổng số vi sinh vật hiếu khí (TVC), Clostridium perfringens,  
Coliforms và E.coli nằm trong giới hạn cho phép, không phát hiện sự có mặt của các vi sinh vật gây bệnh như:  
Samonella, Staphylococcus, Vibrio, Listeria. Kết quả định danh vi sinh vật trên phi lê cá rô phi cho thấy có sự  
hiện diện của các vi sinh vật gây hư hỏng đặc trưng Pseudomonas lundensis và Pseudomonas fragi.  
Từ khóa: Lạnh đông, cá rô phi, phi lê, Pseudomonas spp., chỉ số peroxide, thành phần hoá học cơ bản  
ABSTRACT  
The study aimed to investigate the quality of tilapia after filleting and IQF steps, the results showed that  
tilapia fillets contained 0.68% lipid and content amount of free fatty acids 4.87g of free fatty acids/100 g lipid.  
The thiobarbituric acid (TBARS) value in the fillets were low (0.06 ± 0.004 and 0.11± 0.012 mg MDA/kg after  
filleting and freezing, respectively) and the peroxide contents were undetectable at these stages. The of total  
volatile basic nitogen (TVB-N) values of tilapia fillets were 11.13 ± 0.74 and 12.82 ± 1.22 mg N/100 g after  
being filleted and frozen, accordingly, lower than that in the permitted threshold of 25 mg N/100 g. The load  
of Pseudomonas spp., total viable count (TVC), Clostridium perfringens, Coliforms and E.coli were within  
the acceptable limits. In addition, no such pathogens as Salmonella, Staphylococcus, Vibrio, or Listeria were  
observed in all samples. The identification results of microorganisms isolated from tilapia fillets revealed that  
there was the presence of such specific spoilage organisms as Pseudomonas lundensis and Pseudomonas fragi.  
Key words: Frozen, tilapia, fillets, Pseudomonas spp., peroxide value, proximate compositions  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
rô phi trên toàn thế giới đạt 6,5 triệu tấn, tăng  
3,8% so với năm 2018. Theo ước tính, tốc độ  
tăng trưởng trung bình của cá rô phi từ năm  
2010 đến năm 2019 trên toàn thế giới là 7,7%.  
Trong đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất cá  
rô phi đứng đầu trên thế giới, với sản lượng 1,7  
triệu tấn trong năm 2019 chiếm gần 50% tổng  
sản lượng toàn thế giới. Trên thế giới quốc gia  
có sản lượng xuất khẩu cá rô phi nhiều nhất  
Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)  
được biết đến là nguồn nguyên liệu thuỷ sản  
phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long, là một  
trong những loại nguyên liệu có khả năng đáp  
ứng nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ cho Việt Nam  
trong những năm qua. Ở một số quốc gia trên  
thế giới cá rô phi trở thành nguồn cung cấp  
protein chủ yếu [9]. Năm 2019, sản lượng cá  
26 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
phải kể đến là Trung Quốc, Indonesia, Ai Cập,  
Brazil, Bangladesh, Philippines, Thái Lan và  
Việt Nam [7], trong đó Việt Nam sản xuất cá  
rô phi đứng hàng thứ 6 trên thế giới [8]. Do đó,  
cá rô phi và sản phẩm từ cá rô phi là đối tượng  
đang được quan tâm và phát triển ở Viêt Nam,  
đặc biệt là phi lê cá rô phi, một trong những sản  
phẩm xuất khẩu phổ biến hiện nay.  
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
1. Vật liệu nghiên cứu  
Phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus):  
cá rô phi được phi lê và đông rời IQF tại nhà  
máy chế biến thuỷ sản Nam Việt, An Giang, cỡ  
120-170 g/phi lê. Mẫu được lấy ngay sau công  
đoạn phi lê và sau công đoạn cấp đông rời IQF  
và bao gói bằng túi PE, mẫu được chứa trong  
thùng xốp cách nhiệt có xếp xen kẻ trong các  
lớp đá gel và vận chuyển về phòng thí nghiệm  
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ  
trong vòng 1 giờ.  
Hóa chất và môi trường: Hóa chất và môi  
trường sử dụng đều đạt tiêu chuẩn phân tích,  
gồm có: acid trichloroacetic, acid boric, acid  
sulfuric, Bromocresol green, Formaldehyde  
solution, Eosin Methylene Blue agar, Violet  
Red Bile agar, Glycerol, Plate count agar,  
Pseudomonas base F, Pseudomonas CFC  
supplement, Iron agar, Pepton from meat,  
Pepton from casein, Phenol red (NaCl, Kova’c  
(Merck, Đức); Methyl red, Na2HPO4.12H2O,  
KH2PO4 và NaOH (Xilong, Trung Quốc).  
Thuỷ sản là một trong những thực phẩm  
giàu dinh dưỡng và cần thiết cho sức khoẻ con  
người đặc biệt là cá do có nhiều acid béo không  
no với hàm lượng cao [14]. Tuy nhiên, lipid  
chứa acid béo không no cao lại là nguyên nhân  
gây ra sự ươn hỏng, từ đó làm giảm chất lượng  
của thuỷ sản [13]. Sự biến đổi chất lượng cơ  
bản quá trình chế biến thuỷ sản phải kể đến  
là sự oxy hóa chất béo, quá trình này được đo  
bởi các chỉ số peroxide (PV) và chỉ số acid  
thiobarbituric (TBARS). TBARS phản ảnh  
lượng aldehyde sinh ra khi hydroperoxide bị  
phân hủy ở giai đoạn tiếp theo của sự ôi dầu  
[15, 19]. Thêm vào đó, sự hiện diện của vi sinh  
vật phân hủy protein và acid amin hình thành  
các hợp chất cấp thấp, trong đó có các nitơ  
bazơ bay hơi đặc trưng bằnghàm lượng tổng  
nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) [1], thông số này  
thường được sử dụng để đánh giá chất lượng  
thuỷ sản. Có thể nói vi sinh vật là một trong  
những nguyên nhân thúc đẩy sự suy giảm chất  
lượng của thuỷ sản, chính vì thế vi sinh vật là  
đối tượng cần được quan tâm theo dõi. Sự lây  
nhiễm vi sinh vật có thể xảy ra trong quá trình  
chế biến, bảo quản và tiêu thụ. Đã có nhiều  
nghiên cứu về hệ vi sinh vật phát triển trên phi  
lê cá rô phi trong quá trình chế biến, bảo quản  
và tiêu thụ như: tổng số vi sinh vật hiếu khí,  
Pseudomonas spp., Coliforms, E.coli... [3, 4].  
Tuy nhiên, có thể còn có những nhóm vi sinh  
vật khác hiện diện trên phi lê cá, do đó, để quản  
lý chất lượng phi lê cá rô phi trong chuỗi cung  
ứng được tốt hơn, cần kiểm soát các nhóm vi  
sinh vật hiện diện ban đầu trên phi lê cá. Xuất  
phát từ thực tế cho thấy, khảo sát chất lượng  
ban đầu của phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis  
niloticus) tại nhà máy chế biến sẽ là cơ sở cho  
quá trình quản lý chất lượng sản phẩm phi lê cá  
rô phi vằn trong chuỗi cung ứng lạnh sau này.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Các chỉ tiêu phân tích  
Mẫu phi lê cá rô phi được lấy ngay sau  
công đoạn phi lê và sau công đoạn cấp đông  
rời IQF. Ngay sau khi vận chuyển về phòng  
thí nghiệm, mẫu được phân tích các chỉ tiêu  
hoá học: hàm lượng nước, protein, tro, hàm  
lượng lipid, hàm lượng acid béo tự do, chỉ số  
peroxide, chỉ số TBARS, thành phần acid béo  
tự do và TVB-N. Phi lê cá rô phi tiếp tục được  
kiểm tra sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật  
theo TCVN 5289:2006 và một số vi sinh vật  
thường gặp trên sản phẩm thuỷ sản như: tổng  
số vi sinh vật hiếu khí (TVC) phát triển ở nhiệt  
độ thấp, Pseudomonas spp., Coliforms, E.coli,  
Clostridium perfringens, Staphylococcus  
aureus, Listeria monocytogenes, Samonella,  
Vibrio…  
Sau khi xác định sự hiện diện của nhóm vi  
sinh vậy gây hư hỏng trên phi lê cá rô phi, tiến  
hành phân lập tách ròng và định danh một số vi  
sinh vật gây hỏng đặc trưng.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 27  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
2.2. Phương pháp phân tích hoá học  
- Xác định hàm lượng nước theo phương  
pháp TVCN 3700:1990  
- Xác định hàm lượng protein theo phương  
pháp TCVM 3705:1990  
chỉnh cho phù hợp với tình hình nghiên cứu  
thực tế.  
- Xác định vi khuẩn sinh H2S và tổng số vi  
sinh vật hiếu khí (TVC) phát triển ở nhiệt độ  
thấp theo NMKL 86:2006  
- Xác định hàm lượng tro theo phương pháp  
AOAC 938:08- Xác định hàm lượng tổng nitơ  
bazơ bay hơi (TVB-N) theo phương pháp của  
Malle và Poumeyrol (1989)  
- Xác định Pseudomonas spp. theo TCVN  
7138:2013  
- Xác định Coliforms và E.coli theo MNKL  
125 4th ed. 2005.  
- Xác định chỉ số TBARS theo phương pháp  
của Raharjo và Schmidt (1992) [22]  
- Xác định Staphylococcus aureus theo  
MNKL 66:2003  
- Xác định chỉ số Peroxide theo TVCN  
6121:2018  
- Xác định hàm lượng acid béo tự do (FFA)  
theo TCVN 6127:2010  
- Xác định hàm lượng lipid theo TCVN  
3730:2009  
- Xác định Vibrio theo FDA 2004  
- Xác định Listeria monocytogenes theo  
TCVN 7700-1:2007  
- Xác định Salmonella theo ISO 6579:2002  
- Xác định Clostridium perfringens theo  
ISO 7937:2004.  
- Xác định thành phần acid béo tự do theo  
CASE.SK.0107-GC được thực hiện bởi trung  
tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm (CASE)  
2.3. Phương pháp phân tích vi sinh vật  
Chuẩn bị mẫu: đồng nhất phi lê cá rô phi  
bằng máy dập mẫu sau đó lấy chính xác 25 g cá  
cho vào túi PE vô trùng, thêm vào 225 ml dung  
dịch đệm phosphate. Tiến hành đồng nhất mẫu.  
Pha loãng mẫu: mẫu sau khi đồng nhất sẽ  
được pha loãng theo dãy thập phân như sau:  
dùng micropipet hút 1 ml từ độ pha loãng 10-1  
cho vào ống nghiệm chứa 9 ml nước muối sinh  
lý (đã được khử trùng), đồng nhất dịch pha  
loãng ta được mẫu pha loãng 10-2. Tiếp tục pha  
đến độ nồng độ thích hợp nếu nghi ngờ mẫu có  
mật độ vi sinh vật cao hơn.  
Cấy mẫu: dùng micropipet hút 0,2 ml dịch  
mẫu đã pha loãng vào đĩa petri có chứa 20-30  
ml môi trường thạch (đã được vô trùng) thích  
hợp cho từng loại vi sinh vật cần kiểm tra.  
Dùng que cấy trang nhúng vào cồn 70º, đưa  
que cấy đốt trên ngọn lửa đèn cồn, đợi cho que  
cấy nguội, sau đó dùng que cấy trang đều mẫu  
trên bề mặt thạch. Chờ mặt thạch khô, lật úp  
đĩa petri nuôi cấy ở nhiệt độ và thời gian thích  
hợp cho từng loại vi sinh vật cần kiểm tra theo  
quy định.  
2.4. Định danh vi sinh vật  
Phân lập và tách ròng vi sinh vật: Đốt que  
cấy vòng trên ngọn lửa đèn cồn để khử trùng,  
đợi khi que cấy vừa nguội, đưa que cấy tiếp  
xúc với khuẩn lạc cần phân lập trên đĩa petri.  
Sau đó đưa que cấy vào đĩa petri có chứa môi  
trường thạch thích hợp, thực hiện các thao tác  
cấy truyền bằng cách ria các đường trên đĩa  
petri chứa môi trường thạch. Sau mỗi đường  
ria liên tục, đốt khử trùng que cấy và làm nguội  
trước khi thực hiện đường ria tiếp theo. Lật  
ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp  
trong tủ ấm.  
Trích ly Deoxyribonucleic acid (DNA):  
DNA được trích ly bằng phương pháp của  
Sambrook và cộng sự (1989) [23]. Vi khuẩn  
được nuôi trong môi trường LB, lấy 2 ml dung  
dịch vi khuẩn cho vào eppendorf sau đó tiến  
hành ly tâm với chế độ 13.000 rpm trong 5  
phút. Thu cặn và hòa tan cặn trong 250µl dung  
dịch TE (Tris EDTE buffer) gồm 10 mM Tris  
và 1mM Ethylene Diamine Tetracetic Acid  
(EDTA) pH 8, bổ sung 50µl dung dịch 10%  
SDS và 10µl Proteinase K (10 mg/l), sau đó  
ủ ở nhiệt độ 65ºC trong 20 phút, cứ 5 phút  
đảo eppendorf một lần để trộn đều dung dịch,  
tiếp tục thêm 400µl 10% Cetyl Trimethyl  
Ammonium Bromide (CTAB)/0,7 M NaCl, và  
tiếp tục ủ ở nhiệt độ 65ºC trong 20 phút. Sau  
đó, thêm 600µl hỗn hợp Chloroform: Isoamyl  
Phương pháp xác định vi sinh vật được sử  
dụng dựa vào các phương pháp theo quy định  
của TCVN hiện hành, tuy nhiên có sự điều  
28 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Alcohol với tỷ lệ 24:1, trộn đều và ly tâm với  
chế độ 12.000 rpm trong 10 phút, tiến hành hút  
phần dung dịch trong phía trên vào eppendorf  
mới và thêm 1 ml Isopropanol, lắc đều, ổn định  
ở -20ºC trong 30 phút, sau đó ly tâm 13.000  
rpm trong 10 phút, lấy phần kết tủa sau đó bổ  
sung 1ml Ethanol 70%, tiếp tục ly tâm ở 12.000  
rpm trong 5 phút, bỏ phần Ethanol, giữ lại phần  
kết tủa và sấy khô kết tủa, hòa tan kết tủa với  
30µl nước cất, trữ ở -20ºC.  
Giải trình tự một số dòng vi khuẩn: quá  
trình giải trình tự DNA sau quá trình trích  
ly được tiến hành bởi công ty First BASE  
Laboratories Sdn Bhd, Malaysia. Sau đó sử  
dụng chương trình BLASTN (Nucleotide Basic  
Local Alignment Search Tool) để so sánh trình  
tự đoạn gen 16SrRNA của các dòng vi khuẩn  
với trình tự gen 16SrRNA của các loài vi khuẩn  
có trong dữ liệu ngân hàng của NCBI (National  
Center for Biotechnology Information).  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN  
1. Thành phần hoá học cơ bản ban đầu trên  
phi lê cá rô phi  
Phi lê cá rô sau quá trình đông IQF có  
hàm lượng protein là 19,6%, hàm lượng lipid  
là 0,68%, cao hơn so với hàm lượng protein  
và lipid thông thường của cá phi lê [18, 24].  
Ngoài ra hàm lượng nước và tro của phi lê  
cá rô phi sau khi đông rời lần lượt là 78%  
và 0,78% (Bảng 1). Điều này cho thấy hàm  
lượng dinh dưỡng của phi lê cá rô phi tương  
đối cao, do đó cần lưu ý bởi vì hàm lượng này  
dễ bị biến đổi trong quá trình chế biến và bảo  
quản. Một trong những chỉ tiêu biểu thị sự  
biến đổi và hư hỏng sản phẩm thuỷ sản được  
quan tâm là TVB-N. Hàm lượng TVB-N của  
cá rô phi sau khi phi lê và sau quá trình lạnh  
đông được ghi nhận là 11,13 ± 0,74 và 12,82  
± 1,22 mg N/100 g, thấp hơn so với ngưỡng  
quy định là 25 mg N/100 g. Kết quả nghiên  
cứu thấp hơn so với những nghiên cứu tương  
tự trên cá rô phi đỏ sau khi lạnh đông chậm  
và lạnh đông nhanh [10]. Các tác giả cho  
rằng phương pháp lạnh đông ảnh hưởng đến  
thành phần lipid và hàm lượng TVB-N của  
phi lê. Sự khác biệt về hàm lượng TVB-N  
của cá rô phi ở nghiên cứu này và các nghiên  
cứu khác còn có thể là do sự khác biệt về  
loài, chế độ nuôi dưỡng, v.v…  
2.5. Phương pháp xử lý số liệu  
Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 6 lần độc  
lập với 6 lô phi lê cá rô phi. Số liệu được tính  
trung bình, độ lệch chuẩn trên 6 lần thí nghiệm  
bằng phần Microsoft Excel.  
So sánh trình tự đoạn gen 16SrRNA  
của vi sinh vật với dữ liệu trong ngân hàng  
NCBI (National Center for Biotechnology  
Information) bằng chương trình BLAST N  
(Nucleotide Basic Local Alignment Search  
Bảng 1. Thành phần hoá học cơ bản ban đầu trên cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau đông rời IQF.  
Chỉ tiêu  
Lipid  
Đơn vị tính  
Sau phi lê  
1,19 ± 0,03  
17,7 ± 0,6  
Sau đông  
0,68 ± 0,04  
19,6 ± 0,2  
%
Protein  
Độ ẩm  
Tro  
%
%
%
79,7 ± 1,1  
78,0 ± 0,9  
0,81 ± 0,04  
11,13 ± 0,74  
0,78 ± 0,02  
12,82 ± 1,22  
TVB-N  
mg N/100g  
Lipid và thành phần lipid là một trong  
những chỉ tiêu rất được quan tâm trong thực  
phẩm nói chung và trong thuỷ sản nói riêng,  
lipid trong thuỷ sản thường được biết đến là  
nguồn lipid quý giá và tốt cho sức khoẻ con  
người. Tuy nhiên, hàm lượng lipid cao lại dễ  
dàng bị biến đổi trong quá trình chế biến và  
bảo quản từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của  
thuỷ sản.  
Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy hàm  
lượng lipid phi lê cá rô phi sau đông là 0,68 ±  
0,04% và hàm lượng acid béo tự do là 4,87 ±  
0,12 g/100 g chất béo, các chỉ số thường dùng để  
đánh giá sự biến đổi thành phần lipid trong quá  
trình chế biến phải kể đến là: chỉ số peroxide và  
chỉ số TBARS, kết quả phân tích cho thấy chỉ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 29  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Bảng 2. Thành phần lipid trên cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau đông rời IQF.  
Chỉ tiêu  
Acid béo tự do  
Peroxide  
TBARS  
C14:0  
Đơn vị tính  
Sau phi lê  
2,86 ± 0,05  
0
Sau đông  
g/100 g béo  
4,87 ± 0,12  
meq/kg béo  
0
mg MDA/kg  
0,06 ± 0,004  
0,03  
0,11 ± 0,012  
%
%
%
%
%
%
%
0
C16:0  
0,29  
0,15  
0
C16:1  
0,04  
C18:0  
0,08  
0,05  
0,17  
0,08  
0,04  
C18:1  
0,38  
C18:2  
0,16  
C20:4  
0,03  
số peroxide không có sau quá trình phi lê và  
đông lạnh, còn chỉ số TBARS sau phi lê và sau  
làm đông lần lượt là 0,06 và 0,11 mg MDA/kg.  
Điều này cho thấy chất lượng của lipid chưa có  
sự biến đổi sau quá trình lạnh đông, có thể hiểu  
do quá trình đông rời có thời gian đông nhanh  
nên chưa có sự biến đổi về chỉ tiêu này. Trong  
một số nghiên cứu trên cá rô phi đỏ so sánh  
chất lượng lipid của phi lê lạnh đông chậm và  
lạnh đông nhanh sau 6 tháng, kết quả cho thấy  
hàm lượng TBARS của mẫu lạnh đông chậm  
cao hơn so với mẫu lạnh đông nhanh [10].  
Trong những nghiên cứu khác về cá bơn, cá  
trích cũng có kết quả tương tự [11, 16].  
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thành  
phần acid béo của các loại thuỷ sản đặc biệt là  
cá, trong đó các acid béo tự do là chỉ tiêu luôn  
được quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
thành phần chất béo của phi lê cá rô phi vằn có  
chứa các acid béo không no như C18:1 chiếm  
0,17÷0,38%, C18:2 chiếm 0,08÷0,16% và  
C20:4 chiếm 0,03÷0,04% cho thấy phi lê cá rô  
phi vằn là một nguồn dinh dưỡng rất tốt, mặc  
khác chất lượng của sản phẩm rất dễ bị biến đổi  
do oxy hoá chất béo. Nghiên cứu trên cá trắng  
nước ngọt, cá đối và cá chép [10] chỉ ra rằng  
hàm lượng acid béo thường thay đổi trong quá  
trình làm đông và bảo quản đông.  
2. Sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật ban  
đầu trên phi lê cá rô phi vằn  
Kiểm tra sự hiện diện và mật số của các  
nhóm vi sinh vật trên cá rô phi sau phi lê và sau  
đông rời IQF được thực hiện trên 6 lô cá độc  
lập. Tuy nhiên, một số nhóm vi sinh vật được  
phát hiện trên cá tiếp tục được theo dõi và kiểm  
soát sau khi cá được vận chuyển về phòng thí  
nghiệm, bởi vì các vi sinh vật này có thể tiếp  
tục phát triển trên cá, và dễ dàng bị lây nhiễm  
trong quá trình bảo quản và vận chuyển. Do đó,  
sau khi cá được đưa về phòng thí nghiệm và  
bảo quản để phục vụ cho quá trình nghiên cứu,  
chúng tôi tiếp tục kiểm ra mật số vi sinh vật  
ban đầu ở tất cả nội dung tiếp theo của đề tài  
nghiên cứu. Vì vậy mật số TVC, Pseudomonas  
spp., Coliforms và E.coli. được thực hiện trên  
60 lô cá độc lập.  
Bảng 3. Sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật trên mẫu sau quá trình phi lê và phi lê sau khi đông rời  
IQF của cá rô phi vằn.  
Mật số vi sinh vật  
Chỉ tiêu kiểm tra  
TVC  
Sau vận chuyển về  
phòng thí nghiệm  
Sau phi lê  
Sau đông IQF  
8.103÷8,3.103 CFU/g 3,4.103 ÷3,9.103 CFU/g 3,33.104 ÷9,3.105 CFU/g*  
Pseudomonas spp. 102÷1,33.103 CFU/g 2,23.103÷3,03.103 CFU/g 4,5.102 ÷3,63.104 CFU/g*  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Vi khuẩn sinh H2S  
30 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Coliforms  
< 10 CFU/g  
< 10 CFU/g  
1,02.102 ÷1,21.104 CFU/g*  
< 10 CFU/g  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
< 10 CFU/g  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
< 10 CFU/g*  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
E. Coli  
Staphylococcus.  
aureus  
Listeria  
monocytogenes  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 25g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện  
trong 25g mẫu  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Không phát hiện trong  
25g mẫu  
Salmonella  
Không phát hiện  
trong 1g mẫu  
Vibrio  
parahaemolyticus  
Không phát hiện  
trong 25g mẫu  
Không phát hiện  
trong 25g mẫu  
Không phát hiện  
trong 25g mẫu  
Vibrio cholerae  
Clostridium  
perfringens  
Ghi chú:  
<10 CFU/g  
<10 CFU/g  
< 10 CFU/g  
- Chỉ tiêu vi sinh vật của mẫu sau phi lê và sau đông được thực hiện trên 6 lô cá  
- *Chỉ tiêu TVC, Pseudomonas spp., Coliforms và E.coli của mẫu sau khi đến phòng thí nghiệm được thực hiện trên 60 lô cá.  
Kết quả phân tích ở Bảng 3 cho thấy mật số  
vi sinh vật trên phi lê cá rô phi chưa vượt quá  
ngưỡng theo quy định mật số vi sinh vật trên  
mặt hàng thuỷ sản đông lạnh của Bộ Y tế [6] và  
TCVN 5289: 2006, cụ thể tổng số vi sinh vật  
hiếu khí sau quá trình đông lạnh trên phi lê cá  
rô phi dao động từ 3,4.103 ÷3,9.103 CFU/g, mật  
số Coliforms và E.coli nhỏ hơn 10 CFU/g, các  
nhóm vi sinh vật còn lại không phát hiện trên  
phi lê. Riêng mật số Pseudomonas spp. dao  
động từ 2,23.103÷3,03.103 CFU/g. Điều này có  
thể hiểu đây là sản phẩm của quá trình chế biến  
nên yếu tố vệ sinh luôn đặt lên hàng đầu đối với  
nhà sản xuất, quá trình chế biến được kiểm soát  
chặt chẽ, do đó việc lây nhiễm vi sinh vật ít xảy  
ra trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, mật số  
TVC và Pseudomonas spp. của phi lê cá sau  
khi vận chuyển về phòng thí nghiệm có mức  
dao động lớn hơn so với mẫu sau phi lê và sau  
đông, sự gia tăng mật số vi sinh vật phụ thuộc  
nhiều vào yếu tố như biến động nhiệt trong quá  
trình vận chuyển, thời gian lưu kho tại nhà máy,  
an toàn vệ sinh trong quá trình vận chuyển và  
bảo quản tại nhà máy, tất cả các yếu tố trên  
góp phần thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật,  
kết quả kiểm tra cho thấy phi lê cá sau khi vận  
chuyển về phòng thí nghiệm có mật số TVC  
dao động từ 3,33.104 ÷9,3.105 CFU/g và mật số  
Pseudomonas spp. dao động 4,5.102 ÷3,63.104  
CFU/g, vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo  
quy định của Bộ Y tế và TCVN 5289:2006.  
Kết quả của nghiên cứu tương đồng với  
nghiên cứu của Nguyễn Thuỵ Vân Duyên  
(2017) [5] và Huỳnh Thị Ái Vân (2015) [2],  
các tác giả cho rằng vi sinh vật hiện diện trên  
nguyên liệu cá ban đầu có thể như nhau, tuy  
nhiên trong quá trình chế biến có thể có sự lây  
nhiễm từ bề mặt tiếp xúc như dụng cụ chế biến  
vào sản phẩm, kiểm soát tốt quá trình chế biến  
sẽ giảm thiểu lượng vi sinh vật ban đầu. Kết  
quả phân tích của các tác giả trên về mật số vi  
sinh vật ban đầu trên phi lê cá tra và phi lê cá  
rô phi đều nằm ở mức cho phép theo quy định  
của Bộ Y tế [6], hầu hết chỉ phát hiện sự có  
mặt của TVC và nhóm vi sinh vật chỉ thị vệ  
sinh, còn lại không phát hiện sự có mặt của các  
vi sinh vật gây bệnh Samonella, Clostridium,  
Staphylococcus, Vibrio, hay Listeria. Kết quả  
phân tích của nghiên cứu này và nghiên cứu  
của Nguyễn Thụy Vân Duyên (2017) [5] và  
Huỳnh Thị Ái Vân (2015) [2] đều cho thấy  
Pseudomonas spp. chính là vi sinh vật đặc  
trưng trên phi lê cá rô phi bảo quản lạnh/lạnh  
đông, đây là nhóm vi sinh vật gây hư hỏng đặc  
trưng trên hầu hết các sản phẩm thuỷ sản ướp  
lạnh, do đó cần được kiểm soát trong quá trình  
chế biến và bảo quản.  
Từ kết quả kiểm tra ban đầu trên phi lê cá  
rô phi cho thấy sản phẩm đạt chất lượng theo  
quy định. Tuy nhiên, trong chuỗi cung ứng sẽ  
có nhiều thay đổi xảy ra như sự biến động nhiệt  
độ trong quá trình vận chuyển và bảo quản, khi  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 31  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
bày bán, hay mức độ vệ sinh trong tiêu thụ…,  
tất cả các yếu tố trên đều tạo điều kiện thuận  
lợi cho sự hư hỏng sản phẩm và mất an toàn  
thực phẩm xảy ra. Do đó nên tiếp tục theo dõi  
sự thay đổi mật số vi sinh vật chỉ thị vệ sinh  
(Coliforms và E.coli) và nhóm vi sinh vật gây  
hư hỏng đặc trưng (TVC phát triển ở nhiệt độ  
thấp, Pseudomonas spp. ) tại các điều kiện bảo  
quản của chuỗi cung ứng.  
GCCGTAAGGGCCATGATGACTTGAC-  
GTCATCCCCACCTTCCTCCGGTTT-  
GTCACCGGCAGTCTCCTTAGAGT-  
GCCCACCATTATGTGCTGGTAACTA-  
AGGACAAGGGTTGCGCTCGTTAC-  
GGGACTTAACCCAACATCTCACGA-  
CACGAGCTGACGACAGCCATGCAG-  
CACCTGTCTCAATGTTCCCGAAGGCAC-  
CAATCTATCTCTAGAAAGTTCATTG-  
GATGTCAAGGCCTGGTAAGGTTCTTC-  
GCGTTGCTTCGAATTAAACCACAT-  
GCTCCACCGCTTGTGCGGGCCCCC-  
GTCAATTCATTTGAGTTTTAACCTT-  
G C G G C C G TA C T C C C C A G G C G G T-  
CAACTTAATGCGTTAGCTGCGCCAC-  
TAAGAGTTCAAGACTCCCAACGGC-  
TAGTTGACATCGTTTACGGCGTG-  
GACTACCAGGGTATCTAATCCTGTTT-  
GCTCCCCACGCTTTCGCACCTCAGTGT-  
CAGTATCAGTCCAGGTAGTCGCCTTC-  
GCCACTGGTGTTCCTTCCTATATCTAC-  
GCATTTTCACCGCTACACAGGAATTC-  
CACTACCCCTCTACCATACTCTAGCTT-  
GCCAGTTTTTGGGATGCAGTTCCCAG-  
G T T G A G C C C G G G G A T T T C W -  
CATCCCAACTTWACAAACCACCCTAC-  
GCGCGGCTTTTWACG  
3. Kết quả nhận diện các dòng vi sinh vật  
Tiến hành giải trình tự các dòng vi khuẩn  
đã được phân lập từ quá trình kiểm tra mật số  
vi sinh vật ban đầu trên phi lê cá rô phi sau  
phi lê và phi lê sau quá trình đông lạnh, chúng  
tôi dụng chương trình BLAST N để so sánh  
mức độ đồng hình của trình tự các dòng vi  
khuẩn được phân lập với trình tự của các dòng  
vi khuẩn trong ngân hàng gen trên trang wed:  
Trình tự nucleotid của dòng P1  
TYRKKTAWYMMMCGTGGTAC-  
CGTCCTCCCGAAGGTTAGACTAGC-  
TACTTCTGGTGCAACCCACTCCCATG-  
G T G T G A C G G G C G G T G T G T A -  
CAAGGCCCGGGAACGTATTCACCGT-  
GACATTCTGATTCACGATTACTAGC-  
GATTCCGACTTCACGCAGTCGAGTTG-  
CAGACTGCGATCCGGACTACGATCG-  
GTTTTATGGGATTAGCTCCACCTCGC-  
GGCTTGGCAACCCTTTGTACCGAC-  
CATTGTAGCACGTGTGTAGCCCAG-  
Kết quả đối sánh cho thấy dòng P1 có tổng  
số nucleotid được giải là 951 nucleotid, cho kết  
quả đồng hình với dòng Pseudomonas ludensis  
ATCC 49968 với tỉ lệ 98% (Hình 1).  
Hình 1. Mức độ đồng hình của dòng P1 với các dòng vi sinh vật có trên cơ sở dữ liệu NCBI.  
Trình tự nucleotid của dòng P2  
GACATTCTGATTCACGATTACTAGC-  
GATTCCGACTTCACGCAGTCGAGTTG-  
CAGACTGCGATCCGGACTACGATCG-  
GTTTTATGGGATTAGCTCCACCTCGC-  
GGCTTGGCAACCCTTTGTACCGAC-  
CATTGTAGCACGTGTGTAGCCCAG-  
TRWYYYWKKTYYMMMCGTTGKTA-  
ACCGTCCTCCCGAAGGTTAGACTAGC-  
TACTTCTGGTGCAACCCACTCCCATG-  
G T G T G A C G G G C G Y S T G T K T A -  
CAAGGCCCGGGAACGTATTCACCGT-  
32 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
GCCGTAAGGGCCATGATGACTTGAC-  
GTCATCCCCACCTTCCTCCGGTTT-  
GTCACCGGCAGTCTCCTTAGAGT-  
GCCCACCATTATGTGCTGGTAACTA-  
AGGACAAGGGTTGCGCTCGTTAC-  
GGGACTTAACCCAACATCTCACGA-  
CACGAGCTGACGACAGCCATGCAG-  
CACCTGTCTCAATGTTCCCGAAGGCAC-  
CAATCTATCTCTAGAAAGTTCATTG-  
GATGTCAAGGCCTGGTAAGGTTCTTC-  
GCGTTGCTTCGAATTAAACCACAT-  
GCTCCACCGCTTGTGCGGGCCCCC-  
GTCAATTCATTTGAGTTTTAACCTT-  
G C G G C C G TA C T C C C C A G G C G G T-  
CAACTTAATGCGTTAGCTGCGCCAC-  
TAAGAGTTCAAGACTCCCAACGGC-  
TAGTTGACATCGTTTACGGCGTG-  
GACTACCAGGGTATCTAATCCTGTTT-  
GCTCCCCACGCTTTCGCACCTCAGTGT-  
CAGTATCAGTCCAGGTAGTCGCCTTC-  
GCCACTGGGTGTTCCTTCCTATATC-  
TA C G C AT T T C A C C G C TA C A C A G -  
GAAATTCCACTACCCTCTACCATYM-  
KYRRMWSKMYTTGCCAGTTTTG-  
GATGCAGTTCCCAGGTTTGAGCCC-  
GGGGATTTCACATCCAACTTAACAAAC-  
CACCTACGCGCGCTTTTACGCCCAGTA-  
ATTCCGATTAACGCTTTGCACCCTTCTG  
Dòng P2 có tổng số nucleotid được giải là  
951 nucleotid, cho kết quả đồng hình với dòng  
Pseudomponas fragi ATCC 4973 với tỉ lệ 98%  
(Hình 2).  
Hình 2. Mức độ đồng hình của dòng P2 với các dòng vi sinh vật có trên cơ sở dữ liệu NCBI.  
Pseudomonas lundensis và Pseudomonas  
fragi được định danh từ các dòng vi sinh vật  
đã được phân lập trên phi lê cá rô phi vằn, đây  
là loài gây hư hỏng thường gặp trong các sản  
phẩm thịt [26], sữa và cá bảo quản ở nhiệt độ  
thấp [20]. Trong đó Pseudomonas lundensis là  
một trong những vi khuẩn quan trọng nhất gây  
hư hỏng thịt ướp lạnh [17], còn Pseudomonas  
fragi là nguyên nhân gây ra mùi và vị ôi khét do  
chuyển hóa lipid và axit béo trong một số sản  
phẩm thực phẩm [12]. Các loài này thuộc chi  
Pseudomonas đã được công nhận là tác nhân  
gây hư hỏng thực phẩm tươi sống có nguồn gốc  
động vật được bảo quản trong điều kiện hiếu  
khí [21]. Pseudomonas spp. ảnh hưởng rất lớn  
đến sự giảm chất lượng của sản phẩm [25], đã  
có nhiều nghiên cứu về sự hư hỏng thuỷ sản  
bắt nguồn từ Pseudomonas spp. Từ đó cho  
thấy Pseudomonas spp. là nhóm vi sinh vật cần  
được theo dõi trong quá trình chế biến và bảo  
quản lạnh/lạnh đông nhằm hạn chế sự hư hỏng  
sản phẩm thuỷ sản.  
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Từ thực tế nghiên cứu cho thấy phi lê cá rô  
phi trước và sau khi đông lạnh là một nguồn  
thực phẩm dinh dưỡng với hàm lượng protein  
tương đối cao (trung bình 19,6%) và lipid giàu  
acid béo không no. Ngoài ra, lượng TVB-N  
ban đầu trên phi lê cá là 12,82 mg N/100 thấp  
hơn so với giới hạn tối đa cho phép. Không  
phát hiện sự hiện diện của các vi sinh vật gây  
bệnh như: Samonella, Staphylococcus, Vibrio,  
Listeria, Clostridium perfringens… trên phi lê  
cá, điều này cho thấy quá trình sản xuất, chế  
biến tại nhà máy đảm bảo chất lượng vệ sinh an  
toàn thực phẩm. Tuy nhiên, sự hiện diện của vi  
sinh vật gây hỏng đặc trưng Pseudomonas spp.  
và nhóm vi sinh vật chỉ thị vệ sinh trên phi lê  
cá cho thấy cần giám sát và kiểm soát quá trình  
bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ cuối chuỗi  
cung ứng lạnh/lạnh đông để duy trì và đảm bảo  
chất lượng của sản phẩm.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 33  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
1. Huss, H.H., 2004. Cá tươi: chất lượng và các biến đổi về chất lượng. Nông nghiệp, Hà Nội.  
2. Huỳnh Thị Ái Vân, 2015. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến đổi của vi sinh vật gây hỏng  
đặc trưng (Pseudomonas spp.) và vi sinh vật gây bệnh (Coliform, E. coli) hiện diện trên fillet cá Tra (Pangasius  
hypophthalmus) bảo quản lạnh. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang.  
3. Nguyễn Thị Kiều Diễm, Mai Thị Tuyết Nga và Lý Nguyễn Bình, 2020. Nghiên cứu sự phát triển của  
coliform và escherichia coli trên phi lê cá rô phi khi bảo quản ở nhiệt độ thấp. Tạp chí Nông nghiệp và Phát  
triển Nông thôn, 12, p. 67-72.  
4. Nguyễn Thị Kiều Diễm, Nguyễn Thụy Vân Duyên và Mai Thị Tuyết Nga, 2019. Mật số Pseudomonas spp.  
và tổng số vi sinh vật hiếu khí trên cá rô phi phi lê khi bảo quản ở nhiệt độ thấp. Tạp chí Khoa học Công nghệ  
Nông nghiệp Việt Nam 9(106), p. 151-157.  
5. Nguyễn Thụy Vân Duyên, 2017. Nghiên cứu sự biến đổi của vi sinh vật gây hỏng đặc trưngvà vi sinh vật gây  
bệnh hiện diện trên fillet cá rô phi bảo quản lạnh. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang.  
6. Bộ Y tế, 19/12/2007 Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT 19/12/2007 Về việc ban hành “Quy định giới hạn tối  
đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”.  
cập ngày 24/3/2018.  
org.vn, truy cập ngày 10/10/2018.  
Tiếng Anh  
9. Al-Harbi, A.H., and Naim Uddin, 2005. Bacterial diversity of tilapia (Oreochromis niloticus) cultured in  
brackish water in Saudi Arabia. Aquaculture, 250(3), p. 566-572.  
10. Babak Karami, Y.M., Abbas Ali Motalebi and Amir Eghbal Khajehrahimi, 2018. Effect of Different  
Freezing Processes on the Quality and Histological Changes of Red Tilapia (Oreochromis niloticus × Tilapia  
mosambicus). Journal of Fisheries and Aquatic Science, 13(2), p. 82-88.  
11. Chevalier, D., Sequeira-Munoz, Amaral, Le Bail, Alain, Simpson, Benjamin K, Ghoul, Mohamed, 2000.  
Effect of freezing conditions and storage on ice crystal and drip volume in turbot (Scophthalmus maximus):  
evaluation of pressure shift freezing vs. air-blast freezing. Innovative Food Science & Emerging Technologies,  
1(3), p. 193-201.  
12. Dousset, X.J., E. Zagorec, M. Spoilage: Bacterial Spoilage, in Encyclopedia of Food and Health, B.  
Caballero, P.M. Finglas, and F. Toldrá, Editors. 2016, Academic Press, Oxford. p. 106-112.  
13. Eyo, A., 2001. Fish processing technology in the tropics, National Institute for Freshwater Fisheries  
Research (NIFFR).  
14. Hu, F.B., Bronner, Leslie, Willett, Walter C., Stampfer, Meir J.,Rexrode, Kathryn M., Albert, Christine M.,  
Hunter, David Manson, JoAnn E., 2002. Fish and omega-3 fatty acid intake and risk of coronary heart disease  
in women. Jama, 287(14), p. 1815-1821.  
15. Jaczynski, J., A. Hunt, and J.W. Park. Safety and quality of frozen fish, shellfish, and related products, in  
Handbook of frozen food processing and packaging. 2005, CRC Press. p. 341-376.  
16. Karaçam, H. and M. Boran, 1996. Quality changes in frozen whole and gutted anchovies during storage  
at− 18 C. International journal of food science & technology, 31(6), p. 527-531.  
34 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
17. Liu, Y.J., Xie, J., Zhao, L. J., Qian, Y. F., Zhao, Y., Liu, X., 2015. Biofilm Formation Characteristics of  
Pseudomonas lundensis Isolated from Meat. J Food Sci, 80(12), p. M2904-10.  
18. Love, R.M., 1970. The chemical biology of fishes. With a key to the chemical literature. The chemical  
biology of fishes. With a key to the chemical literature.  
19. Magnussen, O.M., A.K.T. Hemmingsen, V. Hardarsson, T.S. Nordtvedt and T.M. Eikevik 2008. Chapter  
7 – Freezing of Fish. In: J.A. Evan (editor). Frozen Food Science and Technology. Backwell Publishing.  
20. Nychas, G., V. Dillon, and R. Board, 1988. Glucose, the key substrate in the microbiological changes  
occurring in meat and certain meat products. Biotechnology and applied biochemistry, 10(3), p. 203-231.  
21. Nychas, G.-J.E., D.L. Marshall, and J.N. Sofos. Meat, poultry, and seafood, in Food Microbiology:  
Fundamentals and Frontiers, Third Edition. 2007, American Society of Microbiology. p. 105-140.  
22. Raharjo S, S.J.N.a.S.G.R., 1992. Improved speed, specificity ang limit of determination of an aqueous acid-  
extraction thiobarbituric acid -C18 mothed for measuring lipid-peroxidation in beef. Journal of Agricultural  
and Food Chemistry, 40(11), p. 2182-2185.  
23. Sambrook, H., 1989. Molecular cloning: a laboratory manual. Cold Spring Harbor, NY.  
24. Stansby, M.E., 1962. Proximate composition of fish.  
25. Tryfinopoulou, P., E. Tsakalidou,G.-J. E. Nychas, 2002. Characterization of Pseudomonas spp. Associated  
with Spoilage of Gilt-Head Sea Bream Stored under Various Conditions. Applied and Environmental  
Microbiology, 68(1), p. 65-72.  
26. Zagorec, M. and M.-C. Champomier-Vergès. Chapter 6 - Meat Microbiology and Spoilage, in Lawrie´s  
Meat Science (Eighth Edition), F. Toldra´, Editor. 2017, Woodhead Publishing. p. 187-203.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 35  
pdf 10 trang yennguyen 17720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát thành phần hoá học và sự hiện diện của vi sinh vật trên phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cuối quá trình chế biến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_thanh_phan_hoa_hoc_va_su_hien_dien_cua_vi_sinh_vat.pdf