Khảo sát thành phần hoá học và sự hiện diện của vi sinh vật trên phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cuối quá trình chế biến
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HOÁ HỌC VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA VI SINH VẬT
TRÊN PHI LÊ CÁ RÔ PHI VẰN (Oreochromis niloticus) CUỐI QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN
PROXIMATE COMPOSITION AND MICROFLORA OF NILE TILAPIA (Oreochromis
niloticus) FILLETS AT THE PROCESSING END
Nguyễn Thị Kiều Diễm1,2, Mai Thị Tuyết Nga2
1Khoa Công nghệ Thủy sản, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ
2Khoa Công nghệ Thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang
Tác giả liên hệ: Mai Thị Tuyết Nga (Email: [email protected])
Ngày nhận bài: 08/01/2021; Ngày phản biện thông qua: 26/03/2021; Ngày duyệt đăng: 29/03/2021
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm khảo sát chất lượng của cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau khi đông rời IQF, kết
quả khảo sát cho thấy phi lê cá rô phi sau khi đông lạnh có hàm lượng lipid là 0,68% và hàm lượng acid béo tự
do 4,87 g/100 g chất béo. Chỉ số acid thiobarbituric (TBARS) trong phi lê sau khi phi lê và đông lạnh thấp (lần
lượt là 0,06 ± 0,004 và 0,11 ± 0,012 mg MDA/kg), đồng thời hàm lượng peroxide sau phi lê và sau quá trình
đông lạnh đều dưới ngưỡng phát hiện. Hàm lượng tổng nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) ban đầu của phi lê cá rô phi
sau phi lê là 11,13 ± 0,74 và sau đông lạnh là 12,82 ± 1,22 mg N/100g thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng cho
phép là 25 mg N/100 g. Lượng Pseudomonas spp., tổng số vi sinh vật hiếu khí (TVC), Clostridium perfringens,
Coliforms và E.coli nằm trong giới hạn cho phép, không phát hiện sự có mặt của các vi sinh vật gây bệnh như:
Samonella, Staphylococcus, Vibrio, Listeria. Kết quả định danh vi sinh vật trên phi lê cá rô phi cho thấy có sự
hiện diện của các vi sinh vật gây hư hỏng đặc trưng Pseudomonas lundensis và Pseudomonas fragi.
Từ khóa: Lạnh đông, cá rô phi, phi lê, Pseudomonas spp., chỉ số peroxide, thành phần hoá học cơ bản
ABSTRACT
The study aimed to investigate the quality of tilapia after filleting and IQF steps, the results showed that
tilapia fillets contained 0.68% lipid and content amount of free fatty acids 4.87g of free fatty acids/100 g lipid.
The thiobarbituric acid (TBARS) value in the fillets were low (0.06 ± 0.004 and 0.11± 0.012 mg MDA/kg after
filleting and freezing, respectively) and the peroxide contents were undetectable at these stages. The of total
volatile basic nitogen (TVB-N) values of tilapia fillets were 11.13 ± 0.74 and 12.82 ± 1.22 mg N/100 g after
being filleted and frozen, accordingly, lower than that in the permitted threshold of 25 mg N/100 g. The load
of Pseudomonas spp., total viable count (TVC), Clostridium perfringens, Coliforms and E.coli were within
the acceptable limits. In addition, no such pathogens as Salmonella, Staphylococcus, Vibrio, or Listeria were
observed in all samples. The identification results of microorganisms isolated from tilapia fillets revealed that
there was the presence of such specific spoilage organisms as Pseudomonas lundensis and Pseudomonas fragi.
Key words: Frozen, tilapia, fillets, Pseudomonas spp., peroxide value, proximate compositions
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
rô phi trên toàn thế giới đạt 6,5 triệu tấn, tăng
3,8% so với năm 2018. Theo ước tính, tốc độ
tăng trưởng trung bình của cá rô phi từ năm
2010 đến năm 2019 trên toàn thế giới là 7,7%.
Trong đó, Trung Quốc là quốc gia sản xuất cá
rô phi đứng đầu trên thế giới, với sản lượng 1,7
triệu tấn trong năm 2019 chiếm gần 50% tổng
sản lượng toàn thế giới. Trên thế giới quốc gia
có sản lượng xuất khẩu cá rô phi nhiều nhất
Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
được biết đến là nguồn nguyên liệu thuỷ sản
phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long, là một
trong những loại nguyên liệu có khả năng đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ cho Việt Nam
trong những năm qua. Ở một số quốc gia trên
thế giới cá rô phi trở thành nguồn cung cấp
protein chủ yếu [9]. Năm 2019, sản lượng cá
26 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
phải kể đến là Trung Quốc, Indonesia, Ai Cập,
Brazil, Bangladesh, Philippines, Thái Lan và
Việt Nam [7], trong đó Việt Nam sản xuất cá
rô phi đứng hàng thứ 6 trên thế giới [8]. Do đó,
cá rô phi và sản phẩm từ cá rô phi là đối tượng
đang được quan tâm và phát triển ở Viêt Nam,
đặc biệt là phi lê cá rô phi, một trong những sản
phẩm xuất khẩu phổ biến hiện nay.
II. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Vật liệu nghiên cứu
Phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus):
cá rô phi được phi lê và đông rời IQF tại nhà
máy chế biến thuỷ sản Nam Việt, An Giang, cỡ
120-170 g/phi lê. Mẫu được lấy ngay sau công
đoạn phi lê và sau công đoạn cấp đông rời IQF
và bao gói bằng túi PE, mẫu được chứa trong
thùng xốp cách nhiệt có xếp xen kẻ trong các
lớp đá gel và vận chuyển về phòng thí nghiệm
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ
trong vòng 1 giờ.
Hóa chất và môi trường: Hóa chất và môi
trường sử dụng đều đạt tiêu chuẩn phân tích,
gồm có: acid trichloroacetic, acid boric, acid
sulfuric, Bromocresol green, Formaldehyde
solution, Eosin Methylene Blue agar, Violet
Red Bile agar, Glycerol, Plate count agar,
Pseudomonas base F, Pseudomonas CFC
supplement, Iron agar, Pepton from meat,
Pepton from casein, Phenol red (NaCl, Kova’c
(Merck, Đức); Methyl red, Na2HPO4.12H2O,
KH2PO4 và NaOH (Xilong, Trung Quốc).
Thuỷ sản là một trong những thực phẩm
giàu dinh dưỡng và cần thiết cho sức khoẻ con
người đặc biệt là cá do có nhiều acid béo không
no với hàm lượng cao [14]. Tuy nhiên, lipid
chứa acid béo không no cao lại là nguyên nhân
gây ra sự ươn hỏng, từ đó làm giảm chất lượng
của thuỷ sản [13]. Sự biến đổi chất lượng cơ
bản quá trình chế biến thuỷ sản phải kể đến
là sự oxy hóa chất béo, quá trình này được đo
bởi các chỉ số peroxide (PV) và chỉ số acid
thiobarbituric (TBARS). TBARS phản ảnh
lượng aldehyde sinh ra khi hydroperoxide bị
phân hủy ở giai đoạn tiếp theo của sự ôi dầu
[15, 19]. Thêm vào đó, sự hiện diện của vi sinh
vật phân hủy protein và acid amin hình thành
các hợp chất cấp thấp, trong đó có các nitơ
bazơ bay hơi đặc trưng bằnghàm lượng tổng
nitơ bazơ bay hơi (TVB-N) [1], thông số này
thường được sử dụng để đánh giá chất lượng
thuỷ sản. Có thể nói vi sinh vật là một trong
những nguyên nhân thúc đẩy sự suy giảm chất
lượng của thuỷ sản, chính vì thế vi sinh vật là
đối tượng cần được quan tâm theo dõi. Sự lây
nhiễm vi sinh vật có thể xảy ra trong quá trình
chế biến, bảo quản và tiêu thụ. Đã có nhiều
nghiên cứu về hệ vi sinh vật phát triển trên phi
lê cá rô phi trong quá trình chế biến, bảo quản
và tiêu thụ như: tổng số vi sinh vật hiếu khí,
Pseudomonas spp., Coliforms, E.coli... [3, 4].
Tuy nhiên, có thể còn có những nhóm vi sinh
vật khác hiện diện trên phi lê cá, do đó, để quản
lý chất lượng phi lê cá rô phi trong chuỗi cung
ứng được tốt hơn, cần kiểm soát các nhóm vi
sinh vật hiện diện ban đầu trên phi lê cá. Xuất
phát từ thực tế cho thấy, khảo sát chất lượng
ban đầu của phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis
niloticus) tại nhà máy chế biến sẽ là cơ sở cho
quá trình quản lý chất lượng sản phẩm phi lê cá
rô phi vằn trong chuỗi cung ứng lạnh sau này.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Các chỉ tiêu phân tích
Mẫu phi lê cá rô phi được lấy ngay sau
công đoạn phi lê và sau công đoạn cấp đông
rời IQF. Ngay sau khi vận chuyển về phòng
thí nghiệm, mẫu được phân tích các chỉ tiêu
hoá học: hàm lượng nước, protein, tro, hàm
lượng lipid, hàm lượng acid béo tự do, chỉ số
peroxide, chỉ số TBARS, thành phần acid béo
tự do và TVB-N. Phi lê cá rô phi tiếp tục được
kiểm tra sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật
theo TCVN 5289:2006 và một số vi sinh vật
thường gặp trên sản phẩm thuỷ sản như: tổng
số vi sinh vật hiếu khí (TVC) phát triển ở nhiệt
độ thấp, Pseudomonas spp., Coliforms, E.coli,
Clostridium perfringens, Staphylococcus
aureus, Listeria monocytogenes, Samonella,
Vibrio…
Sau khi xác định sự hiện diện của nhóm vi
sinh vậy gây hư hỏng trên phi lê cá rô phi, tiến
hành phân lập tách ròng và định danh một số vi
sinh vật gây hỏng đặc trưng.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 27
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
2.2. Phương pháp phân tích hoá học
- Xác định hàm lượng nước theo phương
pháp TVCN 3700:1990
- Xác định hàm lượng protein theo phương
pháp TCVM 3705:1990
chỉnh cho phù hợp với tình hình nghiên cứu
thực tế.
- Xác định vi khuẩn sinh H2S và tổng số vi
sinh vật hiếu khí (TVC) phát triển ở nhiệt độ
thấp theo NMKL 86:2006
- Xác định hàm lượng tro theo phương pháp
AOAC 938:08- Xác định hàm lượng tổng nitơ
bazơ bay hơi (TVB-N) theo phương pháp của
Malle và Poumeyrol (1989)
- Xác định Pseudomonas spp. theo TCVN
7138:2013
- Xác định Coliforms và E.coli theo MNKL
125 4th ed. 2005.
- Xác định chỉ số TBARS theo phương pháp
của Raharjo và Schmidt (1992) [22]
- Xác định Staphylococcus aureus theo
MNKL 66:2003
- Xác định chỉ số Peroxide theo TVCN
6121:2018
- Xác định hàm lượng acid béo tự do (FFA)
theo TCVN 6127:2010
- Xác định hàm lượng lipid theo TCVN
3730:2009
- Xác định Vibrio theo FDA 2004
- Xác định Listeria monocytogenes theo
TCVN 7700-1:2007
- Xác định Salmonella theo ISO 6579:2002
- Xác định Clostridium perfringens theo
ISO 7937:2004.
- Xác định thành phần acid béo tự do theo
CASE.SK.0107-GC được thực hiện bởi trung
tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm (CASE)
2.3. Phương pháp phân tích vi sinh vật
Chuẩn bị mẫu: đồng nhất phi lê cá rô phi
bằng máy dập mẫu sau đó lấy chính xác 25 g cá
cho vào túi PE vô trùng, thêm vào 225 ml dung
dịch đệm phosphate. Tiến hành đồng nhất mẫu.
Pha loãng mẫu: mẫu sau khi đồng nhất sẽ
được pha loãng theo dãy thập phân như sau:
dùng micropipet hút 1 ml từ độ pha loãng 10-1
cho vào ống nghiệm chứa 9 ml nước muối sinh
lý (đã được khử trùng), đồng nhất dịch pha
loãng ta được mẫu pha loãng 10-2. Tiếp tục pha
đến độ nồng độ thích hợp nếu nghi ngờ mẫu có
mật độ vi sinh vật cao hơn.
Cấy mẫu: dùng micropipet hút 0,2 ml dịch
mẫu đã pha loãng vào đĩa petri có chứa 20-30
ml môi trường thạch (đã được vô trùng) thích
hợp cho từng loại vi sinh vật cần kiểm tra.
Dùng que cấy trang nhúng vào cồn 70º, đưa
que cấy đốt trên ngọn lửa đèn cồn, đợi cho que
cấy nguội, sau đó dùng que cấy trang đều mẫu
trên bề mặt thạch. Chờ mặt thạch khô, lật úp
đĩa petri nuôi cấy ở nhiệt độ và thời gian thích
hợp cho từng loại vi sinh vật cần kiểm tra theo
quy định.
2.4. Định danh vi sinh vật
Phân lập và tách ròng vi sinh vật: Đốt que
cấy vòng trên ngọn lửa đèn cồn để khử trùng,
đợi khi que cấy vừa nguội, đưa que cấy tiếp
xúc với khuẩn lạc cần phân lập trên đĩa petri.
Sau đó đưa que cấy vào đĩa petri có chứa môi
trường thạch thích hợp, thực hiện các thao tác
cấy truyền bằng cách ria các đường trên đĩa
petri chứa môi trường thạch. Sau mỗi đường
ria liên tục, đốt khử trùng que cấy và làm nguội
trước khi thực hiện đường ria tiếp theo. Lật
ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp
trong tủ ấm.
Trích ly Deoxyribonucleic acid (DNA):
DNA được trích ly bằng phương pháp của
Sambrook và cộng sự (1989) [23]. Vi khuẩn
được nuôi trong môi trường LB, lấy 2 ml dung
dịch vi khuẩn cho vào eppendorf sau đó tiến
hành ly tâm với chế độ 13.000 rpm trong 5
phút. Thu cặn và hòa tan cặn trong 250µl dung
dịch TE (Tris EDTE buffer) gồm 10 mM Tris
và 1mM Ethylene Diamine Tetracetic Acid
(EDTA) pH 8, bổ sung 50µl dung dịch 10%
SDS và 10µl Proteinase K (10 mg/l), sau đó
ủ ở nhiệt độ 65ºC trong 20 phút, cứ 5 phút
đảo eppendorf một lần để trộn đều dung dịch,
tiếp tục thêm 400µl 10% Cetyl Trimethyl
Ammonium Bromide (CTAB)/0,7 M NaCl, và
tiếp tục ủ ở nhiệt độ 65ºC trong 20 phút. Sau
đó, thêm 600µl hỗn hợp Chloroform: Isoamyl
Phương pháp xác định vi sinh vật được sử
dụng dựa vào các phương pháp theo quy định
của TCVN hiện hành, tuy nhiên có sự điều
28 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
Alcohol với tỷ lệ 24:1, trộn đều và ly tâm với
chế độ 12.000 rpm trong 10 phút, tiến hành hút
phần dung dịch trong phía trên vào eppendorf
mới và thêm 1 ml Isopropanol, lắc đều, ổn định
ở -20ºC trong 30 phút, sau đó ly tâm 13.000
rpm trong 10 phút, lấy phần kết tủa sau đó bổ
sung 1ml Ethanol 70%, tiếp tục ly tâm ở 12.000
rpm trong 5 phút, bỏ phần Ethanol, giữ lại phần
kết tủa và sấy khô kết tủa, hòa tan kết tủa với
30µl nước cất, trữ ở -20ºC.
Giải trình tự một số dòng vi khuẩn: quá
trình giải trình tự DNA sau quá trình trích
ly được tiến hành bởi công ty First BASE
Laboratories Sdn Bhd, Malaysia. Sau đó sử
dụng chương trình BLASTN (Nucleotide Basic
Local Alignment Search Tool) để so sánh trình
tự đoạn gen 16SrRNA của các dòng vi khuẩn
với trình tự gen 16SrRNA của các loài vi khuẩn
có trong dữ liệu ngân hàng của NCBI (National
Center for Biotechnology Information).
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO
LUẬN
1. Thành phần hoá học cơ bản ban đầu trên
phi lê cá rô phi
Phi lê cá rô sau quá trình đông IQF có
hàm lượng protein là 19,6%, hàm lượng lipid
là 0,68%, cao hơn so với hàm lượng protein
và lipid thông thường của cá phi lê [18, 24].
Ngoài ra hàm lượng nước và tro của phi lê
cá rô phi sau khi đông rời lần lượt là 78%
và 0,78% (Bảng 1). Điều này cho thấy hàm
lượng dinh dưỡng của phi lê cá rô phi tương
đối cao, do đó cần lưu ý bởi vì hàm lượng này
dễ bị biến đổi trong quá trình chế biến và bảo
quản. Một trong những chỉ tiêu biểu thị sự
biến đổi và hư hỏng sản phẩm thuỷ sản được
quan tâm là TVB-N. Hàm lượng TVB-N của
cá rô phi sau khi phi lê và sau quá trình lạnh
đông được ghi nhận là 11,13 ± 0,74 và 12,82
± 1,22 mg N/100 g, thấp hơn so với ngưỡng
quy định là 25 mg N/100 g. Kết quả nghiên
cứu thấp hơn so với những nghiên cứu tương
tự trên cá rô phi đỏ sau khi lạnh đông chậm
và lạnh đông nhanh [10]. Các tác giả cho
rằng phương pháp lạnh đông ảnh hưởng đến
thành phần lipid và hàm lượng TVB-N của
phi lê. Sự khác biệt về hàm lượng TVB-N
của cá rô phi ở nghiên cứu này và các nghiên
cứu khác còn có thể là do sự khác biệt về
loài, chế độ nuôi dưỡng, v.v…
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Thí nghiệm được tiến hành lặp lại 6 lần độc
lập với 6 lô phi lê cá rô phi. Số liệu được tính
trung bình, độ lệch chuẩn trên 6 lần thí nghiệm
bằng phần Microsoft Excel.
So sánh trình tự đoạn gen 16SrRNA
của vi sinh vật với dữ liệu trong ngân hàng
NCBI (National Center for Biotechnology
Information) bằng chương trình BLAST N
(Nucleotide Basic Local Alignment Search
Bảng 1. Thành phần hoá học cơ bản ban đầu trên cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau đông rời IQF.
Chỉ tiêu
Lipid
Đơn vị tính
Sau phi lê
1,19 ± 0,03
17,7 ± 0,6
Sau đông
0,68 ± 0,04
19,6 ± 0,2
%
Protein
Độ ẩm
Tro
%
%
%
79,7 ± 1,1
78,0 ± 0,9
0,81 ± 0,04
11,13 ± 0,74
0,78 ± 0,02
12,82 ± 1,22
TVB-N
mg N/100g
Lipid và thành phần lipid là một trong
những chỉ tiêu rất được quan tâm trong thực
phẩm nói chung và trong thuỷ sản nói riêng,
lipid trong thuỷ sản thường được biết đến là
nguồn lipid quý giá và tốt cho sức khoẻ con
người. Tuy nhiên, hàm lượng lipid cao lại dễ
dàng bị biến đổi trong quá trình chế biến và
bảo quản từ đó ảnh hưởng đến chất lượng của
thuỷ sản.
Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy hàm
lượng lipid phi lê cá rô phi sau đông là 0,68 ±
0,04% và hàm lượng acid béo tự do là 4,87 ±
0,12 g/100 g chất béo, các chỉ số thường dùng để
đánh giá sự biến đổi thành phần lipid trong quá
trình chế biến phải kể đến là: chỉ số peroxide và
chỉ số TBARS, kết quả phân tích cho thấy chỉ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 29
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
Bảng 2. Thành phần lipid trên cá rô phi vằn sau quá trình phi lê và sau đông rời IQF.
Chỉ tiêu
Acid béo tự do
Peroxide
TBARS
C14:0
Đơn vị tính
Sau phi lê
2,86 ± 0,05
0
Sau đông
g/100 g béo
4,87 ± 0,12
meq/kg béo
0
mg MDA/kg
0,06 ± 0,004
0,03
0,11 ± 0,012
%
%
%
%
%
%
%
0
C16:0
0,29
0,15
0
C16:1
0,04
C18:0
0,08
0,05
0,17
0,08
0,04
C18:1
0,38
C18:2
0,16
C20:4
0,03
số peroxide không có sau quá trình phi lê và
đông lạnh, còn chỉ số TBARS sau phi lê và sau
làm đông lần lượt là 0,06 và 0,11 mg MDA/kg.
Điều này cho thấy chất lượng của lipid chưa có
sự biến đổi sau quá trình lạnh đông, có thể hiểu
do quá trình đông rời có thời gian đông nhanh
nên chưa có sự biến đổi về chỉ tiêu này. Trong
một số nghiên cứu trên cá rô phi đỏ so sánh
chất lượng lipid của phi lê lạnh đông chậm và
lạnh đông nhanh sau 6 tháng, kết quả cho thấy
hàm lượng TBARS của mẫu lạnh đông chậm
cao hơn so với mẫu lạnh đông nhanh [10].
Trong những nghiên cứu khác về cá bơn, cá
trích cũng có kết quả tương tự [11, 16].
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thành
phần acid béo của các loại thuỷ sản đặc biệt là
cá, trong đó các acid béo tự do là chỉ tiêu luôn
được quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy
thành phần chất béo của phi lê cá rô phi vằn có
chứa các acid béo không no như C18:1 chiếm
0,17÷0,38%, C18:2 chiếm 0,08÷0,16% và
C20:4 chiếm 0,03÷0,04% cho thấy phi lê cá rô
phi vằn là một nguồn dinh dưỡng rất tốt, mặc
khác chất lượng của sản phẩm rất dễ bị biến đổi
do oxy hoá chất béo. Nghiên cứu trên cá trắng
nước ngọt, cá đối và cá chép [10] chỉ ra rằng
hàm lượng acid béo thường thay đổi trong quá
trình làm đông và bảo quản đông.
2. Sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật ban
đầu trên phi lê cá rô phi vằn
Kiểm tra sự hiện diện và mật số của các
nhóm vi sinh vật trên cá rô phi sau phi lê và sau
đông rời IQF được thực hiện trên 6 lô cá độc
lập. Tuy nhiên, một số nhóm vi sinh vật được
phát hiện trên cá tiếp tục được theo dõi và kiểm
soát sau khi cá được vận chuyển về phòng thí
nghiệm, bởi vì các vi sinh vật này có thể tiếp
tục phát triển trên cá, và dễ dàng bị lây nhiễm
trong quá trình bảo quản và vận chuyển. Do đó,
sau khi cá được đưa về phòng thí nghiệm và
bảo quản để phục vụ cho quá trình nghiên cứu,
chúng tôi tiếp tục kiểm ra mật số vi sinh vật
ban đầu ở tất cả nội dung tiếp theo của đề tài
nghiên cứu. Vì vậy mật số TVC, Pseudomonas
spp., Coliforms và E.coli. được thực hiện trên
60 lô cá độc lập.
Bảng 3. Sự hiện diện của các nhóm vi sinh vật trên mẫu sau quá trình phi lê và phi lê sau khi đông rời
IQF của cá rô phi vằn.
Mật số vi sinh vật
Chỉ tiêu kiểm tra
TVC
Sau vận chuyển về
phòng thí nghiệm
Sau phi lê
Sau đông IQF
8.103÷8,3.103 CFU/g 3,4.103 ÷3,9.103 CFU/g 3,33.104 ÷9,3.105 CFU/g*
Pseudomonas spp. 102÷1,33.103 CFU/g 2,23.103÷3,03.103 CFU/g 4,5.102 ÷3,63.104 CFU/g*
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Vi khuẩn sinh H2S
30 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
Coliforms
< 10 CFU/g
< 10 CFU/g
1,02.102 ÷1,21.104 CFU/g*
< 10 CFU/g
Không phát hiện
trong 1g mẫu
< 10 CFU/g
Không phát hiện
trong 1g mẫu
< 10 CFU/g*
Không phát hiện
trong 1g mẫu
E. Coli
Staphylococcus.
aureus
Listeria
monocytogenes
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 25g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện
trong 25g mẫu
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Không phát hiện trong
25g mẫu
Salmonella
Không phát hiện
trong 1g mẫu
Vibrio
parahaemolyticus
Không phát hiện
trong 25g mẫu
Không phát hiện
trong 25g mẫu
Không phát hiện
trong 25g mẫu
Vibrio cholerae
Clostridium
perfringens
Ghi chú:
<10 CFU/g
<10 CFU/g
< 10 CFU/g
- Chỉ tiêu vi sinh vật của mẫu sau phi lê và sau đông được thực hiện trên 6 lô cá
- *Chỉ tiêu TVC, Pseudomonas spp., Coliforms và E.coli của mẫu sau khi đến phòng thí nghiệm được thực hiện trên 60 lô cá.
Kết quả phân tích ở Bảng 3 cho thấy mật số
vi sinh vật trên phi lê cá rô phi chưa vượt quá
ngưỡng theo quy định mật số vi sinh vật trên
mặt hàng thuỷ sản đông lạnh của Bộ Y tế [6] và
TCVN 5289: 2006, cụ thể tổng số vi sinh vật
hiếu khí sau quá trình đông lạnh trên phi lê cá
rô phi dao động từ 3,4.103 ÷3,9.103 CFU/g, mật
số Coliforms và E.coli nhỏ hơn 10 CFU/g, các
nhóm vi sinh vật còn lại không phát hiện trên
phi lê. Riêng mật số Pseudomonas spp. dao
động từ 2,23.103÷3,03.103 CFU/g. Điều này có
thể hiểu đây là sản phẩm của quá trình chế biến
nên yếu tố vệ sinh luôn đặt lên hàng đầu đối với
nhà sản xuất, quá trình chế biến được kiểm soát
chặt chẽ, do đó việc lây nhiễm vi sinh vật ít xảy
ra trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, mật số
TVC và Pseudomonas spp. của phi lê cá sau
khi vận chuyển về phòng thí nghiệm có mức
dao động lớn hơn so với mẫu sau phi lê và sau
đông, sự gia tăng mật số vi sinh vật phụ thuộc
nhiều vào yếu tố như biến động nhiệt trong quá
trình vận chuyển, thời gian lưu kho tại nhà máy,
an toàn vệ sinh trong quá trình vận chuyển và
bảo quản tại nhà máy, tất cả các yếu tố trên
góp phần thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật,
kết quả kiểm tra cho thấy phi lê cá sau khi vận
chuyển về phòng thí nghiệm có mật số TVC
dao động từ 3,33.104 ÷9,3.105 CFU/g và mật số
Pseudomonas spp. dao động 4,5.102 ÷3,63.104
CFU/g, vẫn nằm trong giới hạn cho phép theo
quy định của Bộ Y tế và TCVN 5289:2006.
Kết quả của nghiên cứu tương đồng với
nghiên cứu của Nguyễn Thuỵ Vân Duyên
(2017) [5] và Huỳnh Thị Ái Vân (2015) [2],
các tác giả cho rằng vi sinh vật hiện diện trên
nguyên liệu cá ban đầu có thể như nhau, tuy
nhiên trong quá trình chế biến có thể có sự lây
nhiễm từ bề mặt tiếp xúc như dụng cụ chế biến
vào sản phẩm, kiểm soát tốt quá trình chế biến
sẽ giảm thiểu lượng vi sinh vật ban đầu. Kết
quả phân tích của các tác giả trên về mật số vi
sinh vật ban đầu trên phi lê cá tra và phi lê cá
rô phi đều nằm ở mức cho phép theo quy định
của Bộ Y tế [6], hầu hết chỉ phát hiện sự có
mặt của TVC và nhóm vi sinh vật chỉ thị vệ
sinh, còn lại không phát hiện sự có mặt của các
vi sinh vật gây bệnh Samonella, Clostridium,
Staphylococcus, Vibrio, hay Listeria. Kết quả
phân tích của nghiên cứu này và nghiên cứu
của Nguyễn Thụy Vân Duyên (2017) [5] và
Huỳnh Thị Ái Vân (2015) [2] đều cho thấy
Pseudomonas spp. chính là vi sinh vật đặc
trưng trên phi lê cá rô phi bảo quản lạnh/lạnh
đông, đây là nhóm vi sinh vật gây hư hỏng đặc
trưng trên hầu hết các sản phẩm thuỷ sản ướp
lạnh, do đó cần được kiểm soát trong quá trình
chế biến và bảo quản.
Từ kết quả kiểm tra ban đầu trên phi lê cá
rô phi cho thấy sản phẩm đạt chất lượng theo
quy định. Tuy nhiên, trong chuỗi cung ứng sẽ
có nhiều thay đổi xảy ra như sự biến động nhiệt
độ trong quá trình vận chuyển và bảo quản, khi
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 31
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
bày bán, hay mức độ vệ sinh trong tiêu thụ…,
tất cả các yếu tố trên đều tạo điều kiện thuận
lợi cho sự hư hỏng sản phẩm và mất an toàn
thực phẩm xảy ra. Do đó nên tiếp tục theo dõi
sự thay đổi mật số vi sinh vật chỉ thị vệ sinh
(Coliforms và E.coli) và nhóm vi sinh vật gây
hư hỏng đặc trưng (TVC phát triển ở nhiệt độ
thấp, Pseudomonas spp. ) tại các điều kiện bảo
quản của chuỗi cung ứng.
GCCGTAAGGGCCATGATGACTTGAC-
GTCATCCCCACCTTCCTCCGGTTT-
GTCACCGGCAGTCTCCTTAGAGT-
GCCCACCATTATGTGCTGGTAACTA-
AGGACAAGGGTTGCGCTCGTTAC-
GGGACTTAACCCAACATCTCACGA-
CACGAGCTGACGACAGCCATGCAG-
CACCTGTCTCAATGTTCCCGAAGGCAC-
CAATCTATCTCTAGAAAGTTCATTG-
GATGTCAAGGCCTGGTAAGGTTCTTC-
GCGTTGCTTCGAATTAAACCACAT-
GCTCCACCGCTTGTGCGGGCCCCC-
GTCAATTCATTTGAGTTTTAACCTT-
G C G G C C G TA C T C C C C A G G C G G T-
CAACTTAATGCGTTAGCTGCGCCAC-
TAAGAGTTCAAGACTCCCAACGGC-
TAGTTGACATCGTTTACGGCGTG-
GACTACCAGGGTATCTAATCCTGTTT-
GCTCCCCACGCTTTCGCACCTCAGTGT-
CAGTATCAGTCCAGGTAGTCGCCTTC-
GCCACTGGTGTTCCTTCCTATATCTAC-
GCATTTTCACCGCTACACAGGAATTC-
CACTACCCCTCTACCATACTCTAGCTT-
GCCAGTTTTTGGGATGCAGTTCCCAG-
G T T G A G C C C G G G G A T T T C W -
CATCCCAACTTWACAAACCACCCTAC-
GCGCGGCTTTTWACG
3. Kết quả nhận diện các dòng vi sinh vật
Tiến hành giải trình tự các dòng vi khuẩn
đã được phân lập từ quá trình kiểm tra mật số
vi sinh vật ban đầu trên phi lê cá rô phi sau
phi lê và phi lê sau quá trình đông lạnh, chúng
tôi dụng chương trình BLAST N để so sánh
mức độ đồng hình của trình tự các dòng vi
khuẩn được phân lập với trình tự của các dòng
vi khuẩn trong ngân hàng gen trên trang wed:
Trình tự nucleotid của dòng P1
TYRKKTAWYMMMCGTGGTAC-
CGTCCTCCCGAAGGTTAGACTAGC-
TACTTCTGGTGCAACCCACTCCCATG-
G T G T G A C G G G C G G T G T G T A -
CAAGGCCCGGGAACGTATTCACCGT-
GACATTCTGATTCACGATTACTAGC-
GATTCCGACTTCACGCAGTCGAGTTG-
CAGACTGCGATCCGGACTACGATCG-
GTTTTATGGGATTAGCTCCACCTCGC-
GGCTTGGCAACCCTTTGTACCGAC-
CATTGTAGCACGTGTGTAGCCCAG-
Kết quả đối sánh cho thấy dòng P1 có tổng
số nucleotid được giải là 951 nucleotid, cho kết
quả đồng hình với dòng Pseudomonas ludensis
ATCC 49968 với tỉ lệ 98% (Hình 1).
Hình 1. Mức độ đồng hình của dòng P1 với các dòng vi sinh vật có trên cơ sở dữ liệu NCBI.
Trình tự nucleotid của dòng P2
GACATTCTGATTCACGATTACTAGC-
GATTCCGACTTCACGCAGTCGAGTTG-
CAGACTGCGATCCGGACTACGATCG-
GTTTTATGGGATTAGCTCCACCTCGC-
GGCTTGGCAACCCTTTGTACCGAC-
CATTGTAGCACGTGTGTAGCCCAG-
TRWYYYWKKTYYMMMCGTTGKTA-
ACCGTCCTCCCGAAGGTTAGACTAGC-
TACTTCTGGTGCAACCCACTCCCATG-
G T G T G A C G G G C G Y S T G T K T A -
CAAGGCCCGGGAACGTATTCACCGT-
32 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
GCCGTAAGGGCCATGATGACTTGAC-
GTCATCCCCACCTTCCTCCGGTTT-
GTCACCGGCAGTCTCCTTAGAGT-
GCCCACCATTATGTGCTGGTAACTA-
AGGACAAGGGTTGCGCTCGTTAC-
GGGACTTAACCCAACATCTCACGA-
CACGAGCTGACGACAGCCATGCAG-
CACCTGTCTCAATGTTCCCGAAGGCAC-
CAATCTATCTCTAGAAAGTTCATTG-
GATGTCAAGGCCTGGTAAGGTTCTTC-
GCGTTGCTTCGAATTAAACCACAT-
GCTCCACCGCTTGTGCGGGCCCCC-
GTCAATTCATTTGAGTTTTAACCTT-
G C G G C C G TA C T C C C C A G G C G G T-
CAACTTAATGCGTTAGCTGCGCCAC-
TAAGAGTTCAAGACTCCCAACGGC-
TAGTTGACATCGTTTACGGCGTG-
GACTACCAGGGTATCTAATCCTGTTT-
GCTCCCCACGCTTTCGCACCTCAGTGT-
CAGTATCAGTCCAGGTAGTCGCCTTC-
GCCACTGGGTGTTCCTTCCTATATC-
TA C G C AT T T C A C C G C TA C A C A G -
GAAATTCCACTACCCTCTACCATYM-
KYRRMWSKMYTTGCCAGTTTTG-
GATGCAGTTCCCAGGTTTGAGCCC-
GGGGATTTCACATCCAACTTAACAAAC-
CACCTACGCGCGCTTTTACGCCCAGTA-
ATTCCGATTAACGCTTTGCACCCTTCTG
Dòng P2 có tổng số nucleotid được giải là
951 nucleotid, cho kết quả đồng hình với dòng
Pseudomponas fragi ATCC 4973 với tỉ lệ 98%
(Hình 2).
Hình 2. Mức độ đồng hình của dòng P2 với các dòng vi sinh vật có trên cơ sở dữ liệu NCBI.
Pseudomonas lundensis và Pseudomonas
fragi được định danh từ các dòng vi sinh vật
đã được phân lập trên phi lê cá rô phi vằn, đây
là loài gây hư hỏng thường gặp trong các sản
phẩm thịt [26], sữa và cá bảo quản ở nhiệt độ
thấp [20]. Trong đó Pseudomonas lundensis là
một trong những vi khuẩn quan trọng nhất gây
hư hỏng thịt ướp lạnh [17], còn Pseudomonas
fragi là nguyên nhân gây ra mùi và vị ôi khét do
chuyển hóa lipid và axit béo trong một số sản
phẩm thực phẩm [12]. Các loài này thuộc chi
Pseudomonas đã được công nhận là tác nhân
gây hư hỏng thực phẩm tươi sống có nguồn gốc
động vật được bảo quản trong điều kiện hiếu
khí [21]. Pseudomonas spp. ảnh hưởng rất lớn
đến sự giảm chất lượng của sản phẩm [25], đã
có nhiều nghiên cứu về sự hư hỏng thuỷ sản
bắt nguồn từ Pseudomonas spp. Từ đó cho
thấy Pseudomonas spp. là nhóm vi sinh vật cần
được theo dõi trong quá trình chế biến và bảo
quản lạnh/lạnh đông nhằm hạn chế sự hư hỏng
sản phẩm thuỷ sản.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ thực tế nghiên cứu cho thấy phi lê cá rô
phi trước và sau khi đông lạnh là một nguồn
thực phẩm dinh dưỡng với hàm lượng protein
tương đối cao (trung bình 19,6%) và lipid giàu
acid béo không no. Ngoài ra, lượng TVB-N
ban đầu trên phi lê cá là 12,82 mg N/100 thấp
hơn so với giới hạn tối đa cho phép. Không
phát hiện sự hiện diện của các vi sinh vật gây
bệnh như: Samonella, Staphylococcus, Vibrio,
Listeria, Clostridium perfringens… trên phi lê
cá, điều này cho thấy quá trình sản xuất, chế
biến tại nhà máy đảm bảo chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm. Tuy nhiên, sự hiện diện của vi
sinh vật gây hỏng đặc trưng Pseudomonas spp.
và nhóm vi sinh vật chỉ thị vệ sinh trên phi lê
cá cho thấy cần giám sát và kiểm soát quá trình
bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ cuối chuỗi
cung ứng lạnh/lạnh đông để duy trì và đảm bảo
chất lượng của sản phẩm.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 33
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Huss, H.H., 2004. Cá tươi: chất lượng và các biến đổi về chất lượng. Nông nghiệp, Hà Nội.
2. Huỳnh Thị Ái Vân, 2015. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến sự biến đổi của vi sinh vật gây hỏng
đặc trưng (Pseudomonas spp.) và vi sinh vật gây bệnh (Coliform, E. coli) hiện diện trên fillet cá Tra (Pangasius
hypophthalmus) bảo quản lạnh. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang.
3. Nguyễn Thị Kiều Diễm, Mai Thị Tuyết Nga và Lý Nguyễn Bình, 2020. Nghiên cứu sự phát triển của
coliform và escherichia coli trên phi lê cá rô phi khi bảo quản ở nhiệt độ thấp. Tạp chí Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn, 12, p. 67-72.
4. Nguyễn Thị Kiều Diễm, Nguyễn Thụy Vân Duyên và Mai Thị Tuyết Nga, 2019. Mật số Pseudomonas spp.
và tổng số vi sinh vật hiếu khí trên cá rô phi phi lê khi bảo quản ở nhiệt độ thấp. Tạp chí Khoa học Công nghệ
Nông nghiệp Việt Nam 9(106), p. 151-157.
5. Nguyễn Thụy Vân Duyên, 2017. Nghiên cứu sự biến đổi của vi sinh vật gây hỏng đặc trưngvà vi sinh vật gây
bệnh hiện diện trên fillet cá rô phi bảo quản lạnh. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang.
6. Bộ Y tế, 19/12/2007 Quyết định số 46/2007/QĐ-BYT 19/12/2007 Về việc ban hành “Quy định giới hạn tối
đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm”.
7. Vasep, 2017. Bản tin thương mại thuỷ sản số 3, truy cập tại địa chỉ: http://hoinghecavietnam.org.vn., truy
cập ngày 24/3/2018.
8. Vasep, 2018. Sản lượng cá rô phi trên toàn cầu đến năm 2030, truy cập tại địa chỉ: http://hoinghecavietnam.
org.vn, truy cập ngày 10/10/2018.
Tiếng Anh
9. Al-Harbi, A.H., and Naim Uddin, 2005. Bacterial diversity of tilapia (Oreochromis niloticus) cultured in
brackish water in Saudi Arabia. Aquaculture, 250(3), p. 566-572.
10. Babak Karami, Y.M., Abbas Ali Motalebi and Amir Eghbal Khajehrahimi, 2018. Effect of Different
Freezing Processes on the Quality and Histological Changes of Red Tilapia (Oreochromis niloticus × Tilapia
mosambicus). Journal of Fisheries and Aquatic Science, 13(2), p. 82-88.
11. Chevalier, D., Sequeira-Munoz, Amaral, Le Bail, Alain, Simpson, Benjamin K, Ghoul, Mohamed, 2000.
Effect of freezing conditions and storage on ice crystal and drip volume in turbot (Scophthalmus maximus):
evaluation of pressure shift freezing vs. air-blast freezing. Innovative Food Science & Emerging Technologies,
1(3), p. 193-201.
12. Dousset, X.J., E. Zagorec, M. Spoilage: Bacterial Spoilage, in Encyclopedia of Food and Health, B.
Caballero, P.M. Finglas, and F. Toldrá, Editors. 2016, Academic Press, Oxford. p. 106-112.
13. Eyo, A., 2001. Fish processing technology in the tropics, National Institute for Freshwater Fisheries
Research (NIFFR).
14. Hu, F.B., Bronner, Leslie, Willett, Walter C., Stampfer, Meir J.,Rexrode, Kathryn M., Albert, Christine M.,
Hunter, David Manson, JoAnn E., 2002. Fish and omega-3 fatty acid intake and risk of coronary heart disease
in women. Jama, 287(14), p. 1815-1821.
15. Jaczynski, J., A. Hunt, and J.W. Park. Safety and quality of frozen fish, shellfish, and related products, in
Handbook of frozen food processing and packaging. 2005, CRC Press. p. 341-376.
16. Karaçam, H. and M. Boran, 1996. Quality changes in frozen whole and gutted anchovies during storage
at− 18 C. International journal of food science & technology, 31(6), p. 527-531.
34 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản
Số 1/2021
17. Liu, Y.J., Xie, J., Zhao, L. J., Qian, Y. F., Zhao, Y., Liu, X., 2015. Biofilm Formation Characteristics of
Pseudomonas lundensis Isolated from Meat. J Food Sci, 80(12), p. M2904-10.
18. Love, R.M., 1970. The chemical biology of fishes. With a key to the chemical literature. The chemical
biology of fishes. With a key to the chemical literature.
19. Magnussen, O.M., A.K.T. Hemmingsen, V. Hardarsson, T.S. Nordtvedt and T.M. Eikevik 2008. Chapter
7 – Freezing of Fish. In: J.A. Evan (editor). Frozen Food Science and Technology. Backwell Publishing.
20. Nychas, G., V. Dillon, and R. Board, 1988. Glucose, the key substrate in the microbiological changes
occurring in meat and certain meat products. Biotechnology and applied biochemistry, 10(3), p. 203-231.
21. Nychas, G.-J.E., D.L. Marshall, and J.N. Sofos. Meat, poultry, and seafood, in Food Microbiology:
Fundamentals and Frontiers, Third Edition. 2007, American Society of Microbiology. p. 105-140.
22. Raharjo S, S.J.N.a.S.G.R., 1992. Improved speed, specificity ang limit of determination of an aqueous acid-
extraction thiobarbituric acid -C18 mothed for measuring lipid-peroxidation in beef. Journal of Agricultural
and Food Chemistry, 40(11), p. 2182-2185.
23. Sambrook, H., 1989. Molecular cloning: a laboratory manual. Cold Spring Harbor, NY.
24. Stansby, M.E., 1962. Proximate composition of fish.
25. Tryfinopoulou, P., E. Tsakalidou,G.-J. E. Nychas, 2002. Characterization of Pseudomonas spp. Associated
with Spoilage of Gilt-Head Sea Bream Stored under Various Conditions. Applied and Environmental
Microbiology, 68(1), p. 65-72.
26. Zagorec, M. and M.-C. Champomier-Vergès. Chapter 6 - Meat Microbiology and Spoilage, in Lawrie´s
Meat Science (Eighth Edition), F. Toldra´, Editor. 2017, Woodhead Publishing. p. 187-203.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 35
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát thành phần hoá học và sự hiện diện của vi sinh vật trên phi lê cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) cuối quá trình chế biến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khao_sat_thanh_phan_hoa_hoc_va_su_hien_dien_cua_vi_sinh_vat.pdf

