Các giải pháp kỹ thuật kiểm soát bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) nuôi thâm canh quy mô trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
CÁC GIẢI PHÁP Kꢀ THUẬT KIỂM SOÁT BỆNH HOẠI TỬ GAN  
TỤY CẤP TRÊN TÔM CHÂN TRꢁNG (Litopenaeus vannamei)  
NUÔI THÂM CANH QUY MÔ TRANG TRẠI Ở ĐỒNG BẰNG  
SÔNG CỬU LONG  
Nguyễn Văn Phụng1*, Lê Hồng Phước2, Nguyễn Văn Hảo3  
TÓM TẮT  
Bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là nguyên nhân gây tôm  
chết hàng loạt ở ĐBSCL. Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm các giải pháp kꢁ thuật để kiểm soát  
dịch bệnh AHPND. Nghiên cứu được thực hiện trên 11 ao trong thời gian nuôi 88-98 ngày. Các thí  
nghiệm tập trung hạn chế mật độ V. parahaemolyticus trong nước bằng chất diệt khuẩn và bổ sung  
chế phẩm vi sinh và trong tôm bằng các hợp chất kháng khuẩn (Monoglycerides, sản phẩm của Nu-  
triad) và kháng sinh Oxytetracyline 10g/kg bổ sung trong thức ăn trong quá trình nuôi. Kết quả cho  
thấy, hai nghiệm thức thí nghiệm khống chế mật độ V. parahaemolyticus trong nước từ 0 – 4.500  
CFU/ml. Nhóm ao sử dụng các hợp chất kháng khuẩn kết hợp với Oxytetracyline liều 10g/kg thức  
ăn bổ sung trong thức ăn giúp hạn chế mật độ V. parahaemolyticus có ý nghĩa so đối chứng. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống của tôm ở nhóm ao thực nghiệm đạt lần lượt 87,53 ± 7,5 (%); FCR:  
1,46 ± 0,14, năng suất: 12,38 ± 1,31 tấn/ha. Ngược lại, nhóm ao đối chứng tỷ lệ sống: 60,69 ± 34,50  
(%), FCR: 1,65 ± 0,55 và năng suất: 9,39 ± 4,47 tấn/ha. Bước đầu cho thấy giải pháp bổ sung các  
chất kháng khuẩn, kháng sinh trong thức ăn, diệt khuẩn và chế phẩm vi sinh trong nước kiểm soát  
được bệnh AHPND ở điều kiện sản xuất.  
Từ khóa: Vibrio parahaemolyticus, tôm chân trắng, monoglyceries, Nutriad, Kiên Giang  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
đốm trꢀng. Các tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất là  
Sóc Trăng: 23.371 ha, Bạc Liêu: 16.919 ha, Trà  
Vinh: 12.224 ha, và Bến Tre: 2.237 ha. Trước  
tình hình đó, các cơ quan nghiên cứu trong và  
ngoài nước tập trung nghiên cứu tác nhân gây  
ra hội chứng hoại tử gan tụy cấp EMS/AHPNS.  
Lightner và ctv., (2012) cho rằng tác nhân gây  
hội chứng hoại tử gan tụy có thể là độc tố (từ  
môi trường nuôi, thức ăn hoặc từ vi khuẩn).  
Tình hình dịch bệnh tôm đang diễn ra và  
thiệt hại nặng về kinh tế đến người nuôi tôm ở  
các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.  
Nguyên nhân tôm chết được xác định do bệnh  
hoại tử gan tụy cấp từ năm 2010 đến nay (Lê  
Hồng Phước và ctv., 2012). Theo kết quả thống  
kê của Tổng cục Thủy sản (2012), cả nước có  
khoảng 100.776 ha diện tích tôm nước lợ bị  
thiệt hại do dịch bệnh. Trong đó, có 91.174 ha  
nuôi tôm sú và 7.068 ha tôm thẻ chân trꢀng bị  
thiệt hại do bệnh hoại tử gan tụy cấp tính và  
Mới đây, Lộc và ctv., (2013) đã công bố  
tác nhân gây bùng nổ dịch hội chứng hoại tử  
gan tụy cấp (EMS/AHPNS) gây ra bởi vi khuẩn  
1 Phòng Nguồn lợi và Khai thác Thủy sản Nội địa, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2  
* Email: [email protected]  
2 Trung tâm Quốc gia Quan trꢀc Cảnh báo Môi trường & Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng  
Thủy sản 2.  
3 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
83  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Vibrio parahaemolyticus có khả năng sản sinh hạn chế bệnh AHPND ở mức thấp nhất. Thí  
độc tố gây nên tổn thương gan tụy của tôm. Kết nghiệm được bố trí làm hai nghiệm thức:  
quả này rất quan trọng vì nó giúp thu hẹp hướng  
- Nhóm ao thực nghiệm (TN): sử dụng các  
nghiên cứu, hỗ trợ chuẩn đoán bệnh cũng như  
hợp chất kháng khuẩn bổ sung vào thức ăn. Hợp  
cảnh báo nguy cơ dịch bệnh khi có vi khuẩn này  
chất kháng khuẩn gồm hai chất: monoglyceri-  
hiện diện.  
des có nguồn gốc từ acid béo và sản phẩm của  
Hiện nay, chưa có công trình nào công bố  
về biện pháp phòng chống bệnh hoại tử gan tụy  
cấp một cách hữu hiệu. Mục đích của nghiên  
cứu này là nhằm xác định các giải pháp kꢁ thuật  
tổng hợp để giải quyết hiệu quả về kĩ thuật để có  
thể áp dụng rộng rãi vào sản xuất hiện nay góp  
phần phát triển bền vững nghề nuôi tôm.  
Nutriat có nguồn gốc từ thảo dược. Nhóm các  
ao TN được bố trí trên 7 ao nuôi có diện tích  
3000 m2/ao.  
- Nhóm ao đối chứng (ĐC): không sử dụng  
các hợp chất kháng khuẩn Monoglycerides và  
sản phẩm Nutriad bổ sung vào thức ăn. Nhóm  
các ao ĐC được bố trí 4 ao diện tích 1000 m2/ao.  
Nhóm ao ĐC và TN quản lý môi trường  
nước thông qua việc tầm soát vi khuẩn V. pa-  
rahaemolyticus. Mật độ V. parahaemolyticus ≥  
1000 CFU/ml được xử lý bằng hóa chất diệt  
khuẩn và 24 giờ có bổ sung chế phẩm vi sinh  
ngọai lai. Ngược lại, mật độ V. parahaemolyti-  
cus <1000 CFU/ml được xử lý bằng chế phẩm  
vi sinh định kỳ 7 ngày/lần. Trong tôm, khi tầm  
soát trong tuyến gan tụy phát hiện có V. pa-  
rahaemolyticus thì sử dụng Oxytetracyline  
(OTC) cho ăn với liều 10g/kg thức ăn. Loại thức  
ăn thương mại được sử dụng trong thí nghiệm  
có protein 30 – 35%. Tháng thứ nhất, lượng  
thức ăn không vượt quá 250kg/100.000PL.  
Tháng thứ 2 trở đi, lượng thức ăn kiểm soát  
thông qua sàn ăn. Thời gian cho ăn được chia  
4 – 5 lần ăn/ngày.  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1 Vật liệu nghiên cứu  
Tất cả 11 ao nuôi được lót bạt bờ, có diện  
tích từ 1000 – 3000 m2. Trong đó 7 ao diện tích  
3000 m2 và 4 ao diện tích 1000 m2. Mật độ thả  
giống 86-106 con/m2. Độ sâu mực nước trước  
khi thả giống là 1,4m. Hệ thống quạt nước lꢀp  
đặt theo hệ thống trục dài tổng công suất 6 –  
12HP/ao. Ao 3000 m2 lꢀp đặt 4 hệ thống quạt,  
mỗi hệ thống có 12 cánh, tổng 12HP. Ao 1000  
m2 được lꢀp đặt 10 cánh quạt tổng công suất  
6HP. Hệ thống quạt nước hoạt động 24h/ngày.  
Tôm PL 12 sạch bệnh có nguồn gốc từ công ty  
cổ phần thủy sản Trung Sơn. Thí nghiệm được  
thực hiện từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2013  
tại Công ty Cổ phần Trung Sơn (Ấp Ngã Tư, xã  
Dương Hòa, Kiên Lương, Kiên Giang).  
2.2.1 Phương pháp quản lý chất lượng nước  
Trong quá trình nuôi, sử dụng silicate và  
bicarbonate sodium để kích thích tảo khuê phát  
triển trong ao nuôi. Duy trì chất lượng nước  
bằng các bổ sung vi sinh ngoại lai định kỳ 5–7  
ngày/lần. Các chỉ tiêu chất lượng nước được  
quan trꢀc hàng ngày và định kỳ. Nhiệt độ, DO,  
pH của nước được đo hàng ngày. Độ mặn, kiềm,  
TAN, NO2-N, H2S định kỳ 7 ngày lần.  
2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm  
Trong nghiên cứu này, giải pháp kꢁ thuật  
tầm soát vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong  
nước và trong tôm được tiến hành với tần suất 2  
ngày/lần. Dựa trên kết quả tầm soát này để xây  
dựng các biện pháp kꢁ thuật xử lý kịp thời nhằm  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
84  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Bảng 1: Phương pháp phân tích chất lượng nước  
Các chỉ tiêu  
pH  
Tần suất đo  
Hàng ngày  
7 ngày/lần  
Hàng ngày  
7 ngày/lần  
Hàng ngày  
7 ngày/lần  
7 ngày/lần  
7 ngày/lần  
Phương pháp phân tích  
Máy đo pH (SM 102)  
Độ mặn  
Nhiệt độ  
Kiềm  
Khúc xạ kế (TI-SAT100)  
Nhiệt kế thủy ngân  
TCVN 6636-1-2000  
DO  
Máy đo DO (SM600)  
NH3-N  
NO2-N  
H2S  
4500 – NH3-N ; APHA (2005)  
4500 – NO2-N ; APHA (2005)  
4500 – H2S ; APHA(2005)  
2.3 Phương pháp phân tích tăng trưởng  
2.2.2 Phương pháp xác định mật độ vi  
khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong nước  
và năng suất tôm nuôi  
Mẫu nước được thu đều ở các vị trí trong  
ao trộn lại thành một mẫu chứa trong bình nhựa  
1 lít. Xác định V. parahaemolyticus trong nước  
ao nuôi bằng phương pháp pha loãng mẫu trong  
nước muối sinh lý vô trùng để được dãy nồng  
độ 1:10, 1:100, 1:1000. Lấy 100 µl mẫu từ  
các nồng độ này cấy trên môi trường chọn lọc  
Chrom agar (mỗi nồng độ cấy 3 đĩa) ủ ở nhiệt  
độ 28oC. Số khuẩn lạc mọc trên đĩa được tính  
sau 24 giờ ủ.  
Tốc độ tăng trưởng = (W2 – W1)/t= g/con,  
trong đó W1: trọng lượng tôm ban đầu, W2:  
trọng lượng tôm thu hoạch, t: thời gian (ngày).  
Tỷ lệ sống: Tỉ lệ sống (%) = 100 x (số tôm còn  
lại/số tôm ban đầu). Hệ số thức ăn (FCR) =  
(tổng lượng thức ăn (kg)/ khối lượng tôm thu  
hoạch (kg).  
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý  
số liệu  
Số liệu của các chỉ tiêu chất lượng nước,  
mật độ vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus  
trong nước và gan tôm, tăng trưởng, tỷ lệ  
sống, FCR, năng suất, thời gian nuôi, mật độ,  
diện tích, trọng lượng trước và sau thu hoạch  
được tính trung bình. Sử dụng phần mềm  
Excel phiên bản 6,0.  
2.2.3 Phương pháp xác định mật độ vi  
khuẩn Vibrio parahaemolyticus trong tôm  
Thu 10 – 15 cá thể tôm trong ao nuôi, ly  
tách một phần gan tụy, dạ dày và ruột của từng  
cá thể, tổng cộng khoảng 0,5 gram cho vào 1  
ml PBS trong eppendorff 2ml. Sau đó, sử dụng  
chày nghiền mẫu vô trùng trộn đều. Pha loãng  
dịch huyền phù mô tôm 1:10. 1:100, 1:1000.  
Lấy 100 µl dịch huyền phù từ các nồng độ này  
trải trên đĩa thạch Chroma Agar (mỗi nồng độ  
cấy 3 đĩa). Trong điều kiện ở ao tôm không có  
tủ ấm để ủ đĩa thạch ở 28oC thì có thể bảo quản  
đĩa ở nhiệt độ phòng trong 24 giờ rồi đếm số  
lượng khuẩn lạc mọc trên môi trường Chrom  
Agar. Trên môi trường Chrom Agar, vi khuẩn  
V. parahaemolyticus, khuẩn lạc có màu tím hoa  
cà đặt trưng.  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Các yếu tố chất lượng nước  
Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, các  
chỉ tiêu chất lượng nước được kiểm tra nhằm  
đánh giá biến động chất lượng nước ảnh hưởng  
đến bệnh trên tôm nuôi. Kết quả phân tích các  
chỉ tiêu về chất lượng nước được trình bày  
trong Bảng 2.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
85  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Bảng 2: Biến động các yếu tố chất lượng nước trong các ao thực nghiệm trong 90 ngày nuôi  
Ao thí nghiệm  
Chỉ tiêu theo dõi  
TB  
Min  
Max  
9,13  
pH  
7,72  
27,88  
9,12  
104,19  
5,98  
0,29  
2,73  
0,03  
7,46  
23,00  
5,00  
47,00  
4,26  
0,02  
0,01  
0,01  
31,17  
11,00  
174,00  
8,80  
Nhiệt độ (⁰C)  
Độ mặn (‰)  
Độ kiềm(mg/l)  
DO (mg/l)  
TAN (mg/l)  
N-NO2 (mg/l)  
H2S (mg/l)  
1,40  
5,00  
0,07  
Kết quả phân tích ở bảng 2 cho thấy biến động các yếu tố chất lượng nước đều nằm trong  
khoảng thích hợp và không ảnh hưởng đến bệnh AHPND tôm nuôi.  
3.2 Biến động mật độ Vibrio parahae-  
molyticus và hiệu quả của hóa chất diệt  
khuẩn trong nước  
độ vi khuẩn V. parahaemolyticus tăng cao theo  
thời gian nuôi. Ở một số thời điểm cuối chu kỳ  
nuôi từ ngày thứ 63 – 77 nhóm ao TN có mật  
độ V. parahaemolyticus >1000 CFU/ml và đạt  
giá trị cực đại 3400 CFU/ml ở ngày nuôi thứ 88.  
Trong khi đó ở ngày nuôi 63–81 nhóm ao ĐC có  
mật độ V. parahaemolyticus >1000 CFU/ml và  
đạt cực đại 4500 CFU/ml ở ngày nuôi 86. Kết  
quả thí nghiệm cho thấy rằng nhóm ao TN kiểm  
soát mật độ V. parahaemolyticus hiệu quả hơn  
so nhóm ao ĐC trong suốt 90 ngày nuôi.  
Kết quả phân tích số liệu hình 1 cho thấy các  
aoThựcnghiệm(TN)vàđốichứng(ĐC)ápdụng  
biện pháp diệt khuẩn và bổ sung lại chế phẩm vi  
sinh đã khống chế mật độ V. parahaemolyticus  
từ 0 – 4500 CFU/ml. Trong 60 ngày đầu sau  
khi thả giống nhóm ao TN và ĐC đã khống chế  
vi khuẩn V. parahaemolyticus <1000 CFU/ml.  
Trong khi đó kết quả hình 1 cho thấy rằng mật  
Hình 1: Biến động mật độ V.parahaemolyticus trong nước của ao nuôi ở thực nghiệm và đối chứng  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
86  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.3 Biến động mật độ Vibrio parahae-  
tôm nuôi để có giải pháp xử lý kịp thời. Từ 35  
mẫu tôm thu ở các ao thí nghiệm được phân  
tích khuẩn lạc trên môi trường Chrom agar. Kết  
quả phân tích trình bày ở hình 2 cho thấy tần  
xuất nhiễm V. parahaemolyticus của ao thực  
nghiệm là 11,9 lần trong khi đó ao đối chứng  
12,5 lần. Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng  
các hợp chất kháng khuẩn có tác dụng hạn chế  
tần suất nhiễm V. parahaemolyticus thấp hơn so  
với nhóm đối chứng. Tuy nhiên, hợp chất kháng  
khuẩn này không có tác dụng tiêu diệt hoàn toàn  
vi khuẩn V. parahaemolyticus trong tuyến gan  
tụy của tôm.  
molitycus và hiệu quả của chất diệt khuẩn  
trong tôm  
3.3.1 Ảnh hưởng của hợp chất kháng khuẩn  
bổ sung vào thức ăn lên tần suất nhiễm V.  
parahaemolyticus  
Hợp chất kháng khuẩn được bổ sung vào  
trong trong thức ăn tôm trong suốt giai đoạn thí  
nghiệm. Với tần suất thu mẫu 2 ngày/lần, định  
danh sự xuất hiện vi khuẩn V. parahaemolyticus  
trong tôm nhằm mục đích theo dõi ảnh hưởng  
của chất kháng khuẩn và tình trạng sức khỏe  
Hình 2: Tần xuất nhiễm V. pararhaemolitycus trên gan tôm trong 35 lần kiểm tra  
3.3.2 Ảnh hưởng của Oxytetracyline (OTC) bổ sung vào thức ăn lên mật độ Vibrio  
parahaemolyticus  
có mật độ V. parahaemolyticus thấp hơn đạt  
385 CFU g/gan tôm. Kết quả này cho thấy rằng  
sử dụng OTC riêng rẻ khống chế vi khuẩn V.  
parahaemolyticus kém hơn khi sử dụng phối  
hợp. Như vậy, sử dụng OTC phối hợp với  
hợp chất kháng khuẩn Monoglycerides và sản  
phẩm Nutriad đã làm hạn chế thấp mật độ V.  
prarahaemolyticus ở nhóm ao TN so với ĐC.  
Qua kết quả phân tích hình 3 cho thấy  
rằng nhóm ao thực nghiệm (TN) và nhóm ao  
đối chứng (ĐC) đều phải sử dụng kháng sinh  
OTC để kiểm soát mật độ V. parahaemolyticus  
tại một số thời điểm trong quá trình nuôi. Nhóm  
ao ĐC có mật độ V. parahaemolyticus cao nhất  
930 CFUg/gan tôm. Trong khi đó, nhóm ao TN  
Hình 3. Diễn biến mật độ Vibrio parahaemolyticus trong tôm trước và sau khi sử dụng kháng sinh  
Oxytetracyline  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
87  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.4 Đánh giá tăng trưởng và năng suất  
chứng (ĐC) 9393,2 ± 4465,5 tấn/ha. Nhóm ao  
tôm  
TN và ao ĐC có tốc độ tăng trưởng, hệ số thức ăn  
(FCR) và trọng lượng thu hoạch khác biệt không  
có ý nghĩa trong thống kê. Tuy nhiên, tỷ lệ sống  
và thời gian nuôi khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05) so với nghiệm thức đối chứng.  
Kết quả phân tích bảng 3 cho thấy ở nhóm  
ao thực nghiệm (TN) có năng suất đạt cao nhất  
12376,3 ± 1307,3 tấn/ha. Tuy nhiên, khác biệt  
không có ý nghĩa thống kê so với nhóm ao đối  
Bảng 3. Năng suất và tăng trưởng của tôm trong ao thí nghiệm  
Thông số  
Đơn vị  
g/con  
Ngày  
g/g  
TN  
14,66±2a  
ĐC  
Trọng lượng thu hoạch  
Thời gian nuôi  
Hệ số thức ăn (FCR)  
Năng suất  
15,09±1,34a  
89,00±0,0b  
1,65±0,55a  
9393,2a ±4465,5  
60,69±34,5b  
0,17 ±0,02a  
95,10±4,22a  
1,46±0,14a  
12376,3±1307,3a  
87,53 ± 7,50a  
0,15 ±0,02a  
kg/ha  
%
Tỷ lệ sống  
Tốc độ tăng trưởng  
g/con  
Ký hiệu các chữ cái trên trên cùng một hàng ngang khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê (p<0,05)  
IV. THẢO LUẬN  
quả cho thấy với mật độ trên không thấy sự xuất  
hiện bệnh AHPND trong điều kiện sản xuất.  
Trong khi đó kết quả nghiên cứu nghiên cứu của  
Tran và ctv., (2013) lây nhiễm bằng cách ngâm  
vào dịch vi khuẩn V. parahaemolyticus với mật  
độ tế bào 106 - 108 cfu/ml, sau 4 ngày lây nhiễm,  
kết quả cho thấy 100% tôm chết với biểu hiện  
bệnh hoại tử gan cấp tính.  
Giải pháp kꢁ thuật chính trong nghiên cứu  
này là sử dụng biện pháp tầm soát mật độ Vibrio  
parahaemolyticus với tần xuất 2 ngày/lần trong  
suốt chu kỳ nuôi. Dựa vào kết quả tầm soát này,  
chúng tôi có cơ sở khoa học để áp dụng các biện  
pháp kꢁ thuật can thiệp trực tiếp tại ao nuôi  
nhằm giảm mật độ V. parahamolyticus trong  
nước ở ngưỡng thấp nhất <1000 CFU/ml. Kết  
quả hình 1 cho thấy rằng biến động mật độ V.  
parahaemolyticus đều phụ thuộc vào tác động  
kꢁ thuật can thiệp tại từng thời điểm của quá  
trình nuôi. Kết quả tầm soát vi khuẩn cũng cho  
thấy rằng càng về cuối chu kỳ nuôi (sau 60 ngày  
nuôi) hàm lượng hữu cơ trong nước tăng, lúc này  
ở hai nhóm ao thực nghiệm (TN) và đối chứng  
(ĐC) có mật độ V. parahaemolyticus tăng cao  
>1000 CFU/ml. Tại các thời điểm này chúng tôi  
áp dụng biện pháp diệt khuẩn và 24h bổ sung lại  
chế phẩm vi sinh đã làm giảm thấp đáng kể mật  
độ V. parahaemolyticus. Như vậy, sử dụng giải  
pháp tầm soát và can thiệp đúng thời điểm bằng  
hóa chất diệt khuẩn và bổ sung chế phẩm vi  
sinh đã khống chế mật độ V. parahaemolyticus  
từ 0 – 4500 CFU/ml ở nhóm ao TN và ĐC. Kết  
Hợp chất Monoglyceride được biết như là  
một chất kháng khuẩn và kháng virus được sử  
dụng trong dược phẩm ở người và thuốc thú  
y. Hợp chất này được xem như là một chất dự  
phòng thay thế cho thuốc kháng sinh. Trong  
khi đó, sản phẩm Nutriad là hợp chất chiết xuất  
từ thực vật, được lựa chọn nhờ đặc tính kháng  
khuẩn và diệt khuẩn, chống vi khuẩn gây hại  
trong môi trường thí nghiệm. Hợp chất này  
cũng được chứng minh có khả năng ức chế vi  
khuẩn phát tín hiệu Quorum Sensing ở nồng độ  
thấp hơn nồng độ ức chế, cho phép kiểm soát  
hiệu quả hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng  
có lợi hơn (Coutteau và ctv., 2010). Bệnh AH-  
PND gây ra do tác nhân chính là vi khuẩn V.  
parahaemolyticus (Loc và ctv., 2013). Do đó,  
biện pháp tầm soát trong tuyến gan tụy tôm là  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
88  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
cần thiết để phát hiện sớm vi khuẩn V. para- NHP trên tôm sú. Trong nghiên cứu này, bổ  
haemolyticus, nghiên cứu đã áp dụng hợp chất sung kháng sinh OTC 10g/kg thức ăn ở nhóm  
kháng khuẩn Monoglycerides và sản phẩm của ao đối chứng có độ mẫn cảm vi khuẩn V. para-  
Nutriad bổ sung vào thức ăn sau khi tôm được 1 haemolyticus thấp hơn khi dùng phối hợp với  
ngày tuổi và đến cuối chu kỳ nuôi. Kết quả hình các hợp chất kháng khuẩn.  
2 cho thấy tần xuất nhiễm V.parahaemolyticus  
giữa nhóm ao thực nghiệm và ao đối chứng thể  
hiện không rõ ràng. Tuy nhiên, khi quan sát trên  
tôm nuôi nhận thấy rằng nhóm ao thực nghiệm  
sử dụng hợp chất kháng khuẩn có màu sꢀc gan  
tụy tốt hơn so với ao đối chứng. Như vậy, các  
hợp chất kháng khuẩn chỉ có tác dụng kiềm chế  
sự phát triển vi khuẩn V. Parahaemolyticus. Tuy  
nhiên, không có tác dụng diệt vi khuẩn V. pa-  
rahaemolyticus hoàn toàn trong tuyến gan tụy  
của tôm.  
Kết quả tăng trưởng và năng suất tôm ở  
nhóm ao thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC)  
cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng, FCR và  
năng suất khác biệt không có ý nghĩa về mặt  
thống kê. Tuy nhiên, năng suất và tỷ lệ sống ở  
nhóm ao TN cao hơn so với đối chứng. Đồng  
thời FCR thấp hơn so với đối chứng. Như vậy,  
việc sử dụng hợp chất kháng khuẩn không ảnh  
hưởng đến tốc độ tăng trưởng tôm và tăng năng  
suất và tỷ lệ sống, đồng thời làm giảm thấp  
FCR trong nghiên cứu thí nghiệm. Theo tác giả  
Kháng sinh là những chất có khả năng tiêu Hermsen., (2014) nghiên cứu cho thấy hợp chất  
diệt vi khuẩn hay kìm hãm sự phát triển của vi Monoglyceride có khả năng kháng bệnh cao,  
khuẩn một cách đặc hiệu. Một số loại kháng tỷ lệ sống giữa nghiệm thức sử dụng monogly-  
sinh phổ biến như: oxytetracyline, florfenicol, ceride trên 80%. Nghiên cứu của Coutteau và  
sarafloxacine và enrofloxacine để sử dụng điều ctv., (2010) bổ sung hợp chất kháng khuẩn của  
trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Soto-Rodri- Nutriad thúc đẩy tôm tăng trưởng ở điều kiện  
guez và ctv., 2006). Oxytetracyline, kháng sinh phòng thí nghiệm; tăng 20% tăng trọng hàng  
sử dụng rộng rãi trong nuôi tôm và cá, được tuần và cải thiện 4% tỉ lệ chuyển đổi thức ăn.  
sử dụng ức chế vi khuẩn Vibrio (Reed và ctv., Tương tự như kết quả của hai tác giả (Coutteau;  
2006). Nghiên cứu này sử dụng oxytetracyline Hermsen), nghiên cứu này sử dụng các hợp chất  
(OTC) nhằm tiêu diệt vi khuẩn V. parahae- kháng khuẩn Monoglycerides và sản phẩm Nut-  
molyticus trên tôm. Với nồng độ OTC 10g/kg riad bổ sung trong thức ăn trong thí nghiệm cho  
thức ăn sử dụng 5 ngày liên tục. Kết quả kiểm thấy tăng năng suất, tỷ lệ sống tôm nuôi và giảm  
tra mật độ vi khuẩn V. parahaemolyticus trên FCR so với nhóm ao đối chứng.  
gan tôm ở nhóm ao đối chứng (ĐC) cao hơn  
2-3 lần so với nhóm thực nghiệm (TN). Nhóm  
ao TN sử dụng phối hợp với kháng sinh OTC  
đã làm giảm mật độ V. parahaemolyticus thấp  
V. KẾT LUẬN  
5.1 Kết luận  
Thí nghiệm cho thấy rằng các giải pháp  
kꢁ thuật kiểm soát bệnh AHPND dựa trên biện  
pháp tầm soát định kỳ 2 ngày/lần đã khống chế  
mật độ Vibrio parahaemolyticus <4500 CFU/ml  
trong nước và tôm nuôi <1000 CFU/g gan tôm.  
Bước đầu cho thấy giải pháp bổ sung các hóa  
chất diệt khuẩn, chế phẩm vi sinh trong nước  
và hợp chất kháng khuẩn, kháng sinh Oxyte-  
tracyline trong thức ăn kiểm soát được bệnh  
AHPND ở điều kiện sản xuất.  
hơn so với nhóm ao ĐC lần lượt tại các thời  
điểm 48-53 ngày, 68-72 và 87-90 ngày nuôi.  
Một vài kết quả nghiên cứu gần đây của các  
tác giả Morales-Covarrubias, M.S. ctv., (2012)  
sử dụng florfenicol (FF) liều 1.000g/kg thức ăn  
và oxytetracycline (OTC) liều 6.070 g/kg thức  
ăn diệt vi khuẩn NHPB hiệu quả cao trên tôm  
chân trꢀng. Theo nghiên cứu Chanratchakool và  
ctv., (1991); Frelier và ctv., (1993) cho rằng bổ  
sung OTC liều 3-5g/kg thức ăn để điều trị bệnh  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
89  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Defoirdt, T., Halet, D., Sorgeloos, P., Bossier, P.,  
5.2 Đề nghị  
Verstraete, W., 2006. Short chain fatty acids protect  
gnotobiotic Artemia franciscana from pathogenic  
Vibrio campbellii. Aquaculture 261: 804-808.  
Để hạn chế bệnh AHPND trên tôm chân  
trꢀng cần phải tầm soát mật độ Vibrio paraha-  
emolyticus trong nước và trong tôm để có giải  
pháp khống chế bằng chất diệt khuẩn và kết hợp  
với vi sinh. Oxytetracyline có thể sử dụng với  
liều lượng thích hợp khi tôm nhiễm mầm bệnh,  
không nên sử dụng kháng sinh định kỳ. Cần  
nghiên cứu thêm cơ sở khoa học của việc ứng  
dụng chất diệt khuẩn và sử dụng vi sinh. Trong  
tương lai gần, cần nghiên cứu thử nghiệm vài  
chất kháng khuẩn khác thay thế kháng sinh để  
tăng chất lượng tôm thương phẩm.  
Eleraky, N.Z., Potgieter, L.N., Kennedy, M.A., 2002.  
Virucidal efficacy of 4 new disinfectants. J Am  
Anim Hosp Assoc 38(3): 231–234.  
Frelier, P.F., Loy, J.F., Kruppenbach, B.,1993. Trans-  
mission of Necrotizing Hepatopancreatitis in  
Penaeus vannamei. J. Invert. Pathol. 61:44-48.  
Hermsen, D., 2014. Development of 1-Monoglycerides  
Against AHPN. Global aquaculture advocate. 18-21.  
Loc Tran, Linda Nunan, Rita, M., Redman, Leone, L.,  
Mohney, Carlos R., Pantoja, Kevin Fitzsimmons,  
Donald, V., Lightner., 2013. Determination  
of the infectious nature of the agent of acute  
hepatopancreatic necrosis syndrome affecting  
penaeid shrimp. Dis Aquat Org.Vol. 105: 45–55.  
doi: 10.3354/dao02621.  
CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được thực hiện từ đề tài  
“Nghiên cứu đề xuất mô hình nuôi tôm sú và  
tôm thꢀ chân trắng phòng chống hội chứng chết  
sớm” thuộc chương trình Dịch bệnh tôm khẩn  
cấp, Bộ Nông Nghiệp đã tài trợ kinh phí cho  
nghiên cứu này. Tác giả chân thành cảm ơn đến  
Công ty cổ phần thủy sản Trung Sơn đã hợp tác  
trong nghiên cứu này.  
Lightner, D.V., Redman, R.M., Pantoja, C.R., Noble,  
B.L., Loc Tran., 2012. Early Mortality Syndrome.  
Global aquaculture advocate 2/2012, p40.  
Morales-Covarrubias, M.S., 2012. Necrotising  
hepatobacterium (NHPB) infection in Penaeus  
vannamei with florfenicol and oxytetracycline:  
a
comparative experimental study Revista  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Científica, vol. XXII, núm. 1, enero-febrero,  
2012, pp. 72-80, Universidad del Zulia Venezuela.  
Tài liệu tiếng Việt  
Lê Hồng Phước, Lê Hữu Tài và Nguyễn Văn Hảo,  
2012. Diễn biến của hội chứng hoại tử gan tụy  
trong ao nuôi tôm thâm canh ở huyện Trần Đề,  
Tỉnh Sóc Trăng. Báo cáo khoa học. 268-277.  
Reed, L. A.; Siewicki., Shah, J.C., 2006. The  
biopharma- ceutics and oral bioavailability of two  
forms of oxytetracy- cline to the white shrimp,  
Litopenaeus setiferus. Aquac. 258: 42-54.  
Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, Văn Thị Thúy, Nguyễn Văn  
Chꢀc, 2013. Phân lập và khảo sát đặc tính pro-  
biotic của các chủng Bacillus spp. Từ môi trường  
ao nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp. Tạp chí nghề cá  
sông Cửu long -2-tháng 11-2013.  
Soto-Rodríguez, S., Armenta, M., & Gomez-Gil, B.,  
2006. Effects of enrofloxacin and florfenicol  
on survival and bacterial population in an  
experimental infection with luminescent Vibrio  
campbellii in shrimp larvae of Litopenaeus  
vannamei. Aquaculture,vol.255, pp.48-54.  
Tài liệu tiếng Anh  
Balcazar, J.L., de Blas, I., Ruiz-Zarzuela, I., Cun-  
ningham, D., Vendrell, D., Muzquiz, J.L., 2006.  
The role of probiotics in aquaculture. Veterinary  
Microbiology 114, 173–186.  
VaseeharanandP.Ramasam,2003.Controlofpathogenic  
Vibrio spp. by Bacillus subtilis BT23, a possible  
probiotic treatment for black tiger shrimp Penaeus  
monodon. The Society for Applied Microbiology,  
Letters in Applied Microbiology, 36, 83–87.  
Charatchkool, P., Limsuwan, C.,1991. Accumulation of  
oxytetracycline in tiger shrimp Penaeus monodon  
(Fabricius). Thai Fisher Gazette. 44: 31-33.  
Wutzler, P., Sauerbrei, A., 2000. Virucidal efficacy of  
a combi- nation of 0.2% peracetic acid and 80%  
(v/v) ethanol (PAA-ethanol) as a potential hand  
disinfectant. J Hosp Infect 46(4):304–8  
Coutteau, P., PhD thesis, 2013. Novel additive to reduce  
economic impact of disease on shrimp production.  
International Aqufeed, 29-32.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
90  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
TECHNICAL SOLUTIONS TO CONTROL ACUTE EPATOPANCREATIC  
NECROSIS DISEASE OF WHITE LEG SHRIMP (Litopenaeus vannamei) IN  
INTENSIVE FARMING IN MEKONG DELTA  
Nguyen Van Phung1*, Le Hong Phuoc2, Nguyen Van Hao3  
ABSTRACT  
The Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease (AHPND) caused by Vibrio parahaemolyticus has  
been happened a mass mortality of shrimp culture in the Mekong Delta, Vietnam. The aim of this re-  
search is to find out effective technical solutions which can be reduced the AHPND. This study was  
conducted on 11 grow out ponds within 88-98 days of culture. Experiments carried out to reduce V.  
parahaemolyticus density in water colume and hetopancreas of L. vannamei by disinfectants com-  
bining probiotic, and Monoglycerides and Nutriad’s products and Oxytetracyline in oral feeding  
during culture period respectively. The results showed that applying the disinfectants combining  
probiotic controlled V. parahaemolyticus density about 0 – 4.500 cfu/ml in water colume. The ex-  
periments that used Monoglycerides and Nutriad’s products combining with 10g of Oxytetracyline  
per 1kg shrimp helped to decrease the V. parahaemolyticus density in hetopancreas of shrimp sig-  
nificantly. The results recorded that average of survival rate 87.53 ± 7.5 (%), FCR 1.46 ± 0.14 and  
yield reached 12.38 ± 1.30 ton/ha, while those control treatment average of survival rate 60.69 ±  
34.50 (%), FCR 1.65 ± 0.55 , yeild reached 9.39 ± 4.46 ton/ha. Preliminary results presented that  
using anti-microbials and antibiotics in oral feed, and using disinfectants combining probiotic in  
water can to control the AHPND in shrimp farming.  
Keywords: Vibrio parahaemolyticus, white shrimp, monoglyceries, Nutriad, Kien Giang  
Người phản biện: ThS. Nguyễn Nhứt  
Ngày nhận bài: 10/8/2014  
Ngày thông qua phản biện: 28/8/2014  
Ngày duyệt đăng: 05/9/2014  
1 Inland Fisheries Resources & Capture Division, Research Institure for Aquaculture No.2.  
* Email: [email protected]  
2 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic, Research Institute for Aquaculture No.2.  
3 Research Institute for Aquaculture No.2.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
91  
pdf 9 trang yennguyen 8800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các giải pháp kỹ thuật kiểm soát bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) nuôi thâm canh quy mô trang trại ở đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_giai_phap_ky_thuat_kiem_soat_benh_hoai_tu_gan_tuy_cap_tr.pdf