Tập tính ăn và cường độ bắt mồi của cá bống cát tối Glossogobius aureus phân bố ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
THE RELATIVE GUT LENGTH AND GASTRO-SOMATIC INDEX OF  
Glossogobius aureus FROM SOME PROVINCES IN THE MEKONG DELTA  
Phan Hoang Gieo1,2, Dinh Minh Quang1*, Truong Trong Ngon1, Nguyen Huu Duc Ton1  
1Can Tho University, 2Kien Giang University  
ARTICLE INFO  
Received: 19/02/2021  
Revised: 04/3/2021  
Published: 15/3/2021  
ABSTRACT  
Glossogobius aureus is one of the economy fish species belonging to  
the family Gobiidae. Little is known about the fish’ relative gut length  
(RGL) and Gastro-somatic index (GI), which are used to determine  
the feeding habit and intensity of fish. Therefore, this research aims to  
provide additional data about RGL and GI of Glossogobius aureus by  
sex, body size, season and sampling location in Me Kong Delta. Fish  
samples were collected monthly using gill nets in Cai Rang, Long  
Phu, Hoa Binh and Dam Doi from January to December 2020.  
Intestinal analysis of 742 fish samples showed that Glossogobius  
aureus was a canivore species with RGL = 0.393 < 1. In addition, the  
variation of the RGL of this species depended on size, sampling site  
and the interaction of both size and season with locations. Meanwhile,  
season, interaction between sex with season, size with season, and sex  
with location did not affect RGL. The intensity of the female was  
similar to that of the male; the intensity of the immature was similar  
to that of the mature. Catching intensity was influenced by size and  
interaction between season and location; however, it was not  
influenced by the interaction between sex and location, size with  
location and size with season. The findings can be served for future  
culturing study on fish species.  
KEYWORDS  
Carnvore  
Glossogobius aureus  
Gastro-somatic index  
Mekong Delta  
Relative gut length  
TẬP TÍNH ĂN VÀ CƯỜNG ĐỘ BẮT MỒI CỦA CÁ BỐNG CÁT TỐI  
Glossogobius aureus PHÂN BỐ Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
Phan Hoàng Giẻo1,2, Đinh Minh Quang1*, Trương Trọng Ngôn1, Nguyễn Hữu Đức Tôn1  
1Trường Đại học Cần Thơ, 2Trường Đại học Kiên Giang  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 19/02/2021  
Ngày hoàn thiện: 04/3/2021  
Ngày đăng: 15/3/2021  
TÓM TẮT  
Glossogobius aureus là một trong những loài cá có giá trị thương  
phẩm thuộc họ Gobiidae. Có rất ít thông tin về chỉ số sinh trắc ruột  
(RGL) và chỉ số sinh trắc dạ dày (GI), những chỉ số được dùng để xác  
định tính ăn và cường độ bắt mồi của cá. Nghiên cứu này nhằm bổ  
sung thông tin về hai chỉ số RGL và GI của loài Glossogobius aureus  
theo giới tính, kích cỡ, mùa và địa điểm thu mẫu. Mẫu cá được thu  
bằng lưới đáy một lần/tháng tại Cái Răng, Long Phú, Hoà Bình và  
Đầm Dơi từ 01/2020 đến 12/2020. Kết quả phân tích 742 cá thể cho  
thấy Glossogobius aureus thuộc nhóm cá ăn động vật vì có RGL =  
0,393 < 1. Mùa, tương tác giới tính và mùa, giới tính và địa điểm,  
kích thước và mùa không ảnh hưởng đến sự biến động của RGL.  
Cường độ bắt mồi của cá cái tương đồng với cá đực và của nhóm cá  
chưa thành thục tương đồng nhóm cá thành thục. Cường độ bắt mồi  
chịu tác động bởi kích thước, tương tác mùa và địa điểm, nhưng  
không chịu tác động của đồng thời giới tính và địa điểm, kích thước  
và địa điểm, kích thước và mùa. Kích thước cá và tương tác mùa và  
địa điểm ảnh hưởng đến RGL và GI. Kết quả là cơ sở xác định chế độ  
dinh dưỡng cho nghiên cứu nuôi nhân tạo loài này.  
TỪ KHÓA  
Cá ăn động vật  
Chỉ số sinh trắc ruột  
Chỉ số sinh trắc dạ dày  
Đồng bằng sông Cửu Long  
Glossogobius aureus  
* Corresponding author. Email: [email protected]n  
44  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
1. Giới thiệu  
Nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đa dạng và  
phong phú; tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn lợi thủy sản trong vùng đang có xu hướng  
giảm dần về sản lượng cũng như thành phần loài [1]-[3]. Cá bống cát tối Glossogobius aureus  
(Gobiidae) là một trong những loài cá phổ biến của vùng này, nhưng số lượng cá thể cá trên mỗi  
mẻ lưới đang có xu hướng giảm về số lượng dựa trên kết quả khảo sát bước đầu của nhóm. Cá  
bống cát tối sống ở cả môi trường nước mặn, nước lợ và nước ngọt [4], [5]. Chúng là một trong  
các loài cá bống có thịt thơm ngon, được nhiều người dân ưa thích và có giá trị kinh tế khá cao  
[6]. Tuy có nhiều giá trị, song đến nay việc nghiên cứu về loài này vẫn còn rất hạn chế, có rất ít  
thông tin về chỉ số sinh trắc ruột (RGL) và chỉ số sinh trắc dạ dày (GI) cũng như sự biến động của  
những chỉ số này theo giới tính, nhóm chiều dài, mùa vụ và điểm thu mẫu. Những chỉ số này  
được dùng để xác định tính ăn và cường độ bắt mồi của cá và khi được làm sáng tỏ sẽ là cở sở  
hữu ích cho việc nghiên cứu thử nghiệm nuôi nhân tạo loài này trong thời gian tới.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thu và phân tích mẫu  
Mẫu cá bống cát tối Glossogobius aureus được thu tại bốn địa điểm: Cái Răng (Cần Thơ),  
Long Phú (Sóc Trăng), Hoà Bình (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà Mau) (Hình 1); được ngư dân ở  
các địa phương thu bằng cách sử dụng lưới đáy với mắt lưới 2a = 1,5 cm. Mẫu cá được thu liên  
tục mỗi tháng một lần vào lúc triều cường, trong suốt 12 tháng của năm 2020. Mẫu được thu liên  
tục 48 giờ với các kích cỡ khác nhau.  
Hình 1. Sơ đồ bốn điểm thu mẫu  
[Địa điểm thu mẫu: 1. Cái Răng (Cần Thơ), 2. Long Phú (Sóc Trăng), 3.Hoà Bình (Bạc Liêu)  
và 4. Đầm Dơi (Cà Mau). Nguồn: Google Map]  
Formol 10% được sử dụng để định hình và bảo quản mẫu ngay khi bắt được tại điểm thu mẫu,  
sau đó vận chuyển về phòng thí nghiệm. Tại đây, khối lượng (W; 0,01 g) và chiều dài (TL; 0,1  
cm) của cá được xác định trước khi giải phẫu lấy ống tiêu hóa để tiếp tục phân tích.  
45  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
Tính ăn của cá được xác định thông qua chỉ số sinh trắc ruột (relative gut length, RGL). Cá  
thuộc nhóm ăn động vật khi RGL < 1; Cá ăn tạp khi RGL = 1 - 3; và cá ăn thực vật khi RGL > 3.  
Chỉ số này được xác định dựa vào công thức của Al-Hussaini [7].  
Chiều dài ruột cá  
R L  
Chiều dài tổng của cá  
Cường độ bắt mồi của cá được xác định dựa vào chỉ số sinh trắc dạ dày (Gastro-somatic  
index, GI). Chỉ số này được xác định dựa vào công thức Desai [8].  
Khối lượng của ruột cá  
    
Khối lượng của cơ thể cá  
2.2. Xử lý số liệu  
Sự biến động của RGL và GI theo giới tính, nhóm kích thước của cá và mùa vụ được xác định  
bằng t-test. Sự biến động của hai giá trị này theo điểm thu mẫu được xác định bằng phương pháp  
phân tích phương sai một chiều (1-way ANOVA). Sự tác động đồng thời của giới tính × mùa vụ,  
giới tính × địa điểm thu mẫu, nhóm kích thước cá × mùa vụ, nhóm kích thước cá × địa điểm thu  
mẫu và mùa vụ × địa điểm thu mẫu đến sự biến động của RGL và GI bằng phương pháp phân  
tích phương sai hai chiều (2-way ANOVA). Nhóm chiều dài của cá được chia làm hai nhóm  
(thành thục sinh dục và chưa thành thục sinh dục) dựa vào chiều dài thành thục đầu tiên của cá –  
chiều dài tại đó có 50% số cá thể cá có tuyến sinh dục ở giai đoạn ba theo thang phát triển (tài  
liệu chưa được chính thức công bố). Phần mềm SPSS v.21 được dùng để xử lý kết quả thống kê.  
Tất cả phép thử được xác định ở mức ý nghĩa 0,05.  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Chỉ số sinh trắc ruột  
Tại bốn địa điểm thu mẫu có tổng cộng 742 (382 con đực và 360 con cái) được thống kê như  
trong Bảng 1.  
Bảng 1. Số lượng cá thu được tại bốn điểm nghiên cứu  
Điểm Giới 1/2020 2/2020 3/2020 4/2020 5/2020 6/2020 7/202008/2020 9/2020 10/2020 11/2020 12/2020 Tổng  
Đực  
Cái  
Đực  
Cái  
Đực  
Cái  
Đực  
Cái  
0
0
0
0
4
9
10  
6
3
10  
4
8
9
10  
10  
8
12  
7
11  
3
4
8
6
4
10  
5
4
6
13  
1
6
9
12  
3
8
2
5
15  
6
7
2
12  
13  
5
8
9
15  
16  
13  
5
14  
8
8
8
6
7
8
12  
7
8
9
1
7
6
8
8
7
9
10  
5
9
5
7
13  
11  
8
7
7
6
9
11  
5
91  
73  
90  
77  
95  
98  
107  
112  
Cái  
Răng  
Long  
Phú  
Hoà  
Bình  
Đầm  
Dơi  
5
13  
6
8
7
12  
15  
10  
13  
11  
7
13  
9
6
Kết quả phân tích 742 mẫu cá bống cát tối Glossogobius aureus cho thấy trung bình RGL là  
0,393 ± 0,012 SE. Qua đó có thể thấy đây là loài cá ăn thiên về động vật vì chỉ số sinh trắc ruột  
của loài này < 1. Tương tự loài này, nhiều loài cá khác ở ĐBSCL cũng thuộc nhóm cá thiên về  
ăn động vật như: Glossogobius giuris [9], Glossogobius spasipapillus [10], Butis koilomatodon  
[11], Oxyeleotris urophthalmus [12], Eleotris melanosoma [13], Periophthalmodon schlosseri  
[14] và Periophthalmodon septemradiatus [15], [16].  
Tính ăn của cá bống cát tối Glossogobius aureus không thay đổi theo giới tính vì RGL ở cá  
đực (0,391 ± 0,010 SE) tương đương với ở cá cái (0,391 ± 0,013 SE, t-test, t = -0,591, p > 0,05).  
Tương tự, tính ăn của loài cá này cũng không thay đổi khi kích thước cá thay đổi. Một số loài cá  
bống ở khu vực ĐBSCL cũng có tính ăn không đổi khi trưởng thành như: Oxyeleotris  
urophthalmus [12] và Parapocryptes serperaster [17]. RGL của cá bống cát tối Glossogobius  
aureus ở mùa khô (0,392 ± 0,047 SE) tương đương ở mùa mưa (0,392 ± 0,036 SE, t = -0,391, p >  
46  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
0,05 – xem Hình 2), điều này cho thấy tính ăn của chúng cũng không thay đổi theo mùa. RGL tại  
bốn địa điểm thu mẫu có sự khác nhau, thấp nhất là tại khu vực Hoà Bình (0,374 ± 0,010 SE) và  
cao nhất tại Đầm Dơi (0,393 ± 0,011 SE, 1-way ANOVA, F = 2,889, p < 0,05, Hình 3). Kết quả  
cho thấy, các mẫu thu được tại bốn điểm khác nhau về mặt sinh thái (nước ngọt, nước lợ và nước  
mặn) và có sự khác biệt nhau về chỉ số sinh trắc ruột. RGL của loài cá bống cát tối này cũng  
không giống nhau trong 12 tháng nghiên cứu, RGL cao nhất vào tháng 11 (0,433 ± 0,009 SE) và  
thấp nhất vào tháng 12 (0,344 ± 0,011 SE, F = 7,340, p <0,05, Hình 4). Sự khác biệt này có thể  
có mối quan hệ với sự biến động của thành phần thức ăn trong môi trường theo thời gian. Sự thay  
đổi giá trị RGL của loài cá bống cát tối này chịu tác động đồng thời của nhóm chiều dài và địa  
điểm (2-way ANOVA, F = 3,333, p > 0,05) và mùa và địa điểm (F = 0,161, p > 0,05), nhưng  
không chịu sự tác động của đồng thời của chiều dài và mùa (F = 0,401, p > 0,05), giới tính và  
mùa (F = 0,212, p > 0,05) và giới tính và địa điểm (F = 2,868, p < 0,05).  
Hình 2. Chỉ số sinh trắc ruột theo nhóm chiều dài  
(N1: TL < chiều dài thành thục đầu tiên; N2: TL > chiều dài thành thục đầu tiên;  
Đường đứng: sai số chuẩn; a thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
Hình 3. Chỉ số sinh trắc ruột theo địa điểm  
(CRCT: Cái Răng – Cần Thơ; LPST: Long Phú – Sóc Trăng; HBBL: Hoà Bình- Bạc Liêu; ĐDCM: Đầm  
Dơi - Cà Mau; Đường đứng: sai số chuẩn; a và b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
Hình 4. Chỉ số sinh trắc ruột biến động theo tháng của năm 2020  
(Đường đứng: sai số chuẩn; a, b, c và d thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
47  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
3.2. Cường độ bắt mồi  
Cường độ bắt mồi (GI) của loài cá bống cát tối Glossogobius aureus trung bình là  
0,020 ± 0,000 SE; giá trị GI ở loài này tương đối thấp so với một số cá loài cùng khu phân bố  
như: Periophthalmodon septemradiatus [18], Parapocryptes serperaster [17], Eleotris  
melanosoma [13]. Ở cá cái có cường độ bắt mồi (0,021 ± 0,000 SE) cao hơn cá đực (0,020 ±  
0,000 SE, t-test, t = 2,412, p < 0,05). Sự khác biệt này có thể do nhu cầu dinh dưỡng cao của cá  
cái trong quá trình phát triển. Cường độ bắt mồi của cá bống cát tối Glossogobius aureus cũng có  
sự biến đổi theo kích thước (t-test, t = -3,791, p < 0,05, Hình 5). Tuy nhiên, cường độ bắt mồi của  
loài cá này ở mùa khô (0,020 ± 0,000 SE) tương đương ở mùa mưa (0,020 ± 0,000 SE, t = -3,792,  
p > 0,05). Vì vậy có thể thấy, lượng mưa và sự thay đổi môi trường ở hai mùa không tác động  
đến cường độ bắt mồi. Một số loài cũng có GI tương đương giữa hai mùa như Eleotris  
melanosoma [13] và Stigmatogobius pleurostigma [19]. Mặc khác, cường độ bắt mồi của cá bống  
cát tối Glossogobius aureus theo không gian cũng có sự thay đổi; GI đạt cao nhất tại Long Phú  
(0,030 ± 0,020 SE) và thấp nhất tại Hòa Bình (0,019 ± 0,020 SE, 1-way ANOVA, F = 2,878, p <  
0,05, Hình 6). Cường độ bắt mồi thay đổi tùy theo sự thay đổi của môi trường. Sự thay đổi hàng  
tháng của cường độ bắt mồi được thấy rất rõ ở loài này do sự khác biệt GI trong 12 tháng nghiên  
cứu, giá trị cao nhất ghi nhận vào tháng 2 (0,030 ± 0,000 SE) và thấp nhất vào tháng 6 (0,020 ±  
0,000 SE, F = 5,793, p < 0,05, Hình 7). Sự thay đổi cường độ bắt mồi giữa các tháng cũng được  
ghi nhận ở loài Parapocryptes serperaster [17]. Ngoài các tác động từ 1 yếu tố đã phân tích, thì  
sự tương tác 2 yếu tố cũng có tác động đến cường độ bắt mồi như địa điểm × mùa (2-way  
ANOVA, F = 3,446, p < 0,05), nhưng lại không chịu tác động bởi giới tính × địa điểm (F =  
2,008, p > 0,05), kích thước × mùa (F = 1,184, p > 0,05), kích thước × địa điểm (F = 1,322, p >  
0,05) và giới tính × mùa (F = 1,688, p > 0,05).  
Hình 5. Cường độ bắt mồi theo nhóm chiều dài  
(N1: TL < chiều dài thành thục đầu tiên; N2: TL > chiều dài thành thục đầu tiên; số liệu trong mỗi cột là  
số cá thể cá thu được; Đường đứng: sai số chuẩn; a và b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
Hình 6. Cường độ bắt mồi theo địa điểm  
(CRCT: Cái Răng – Cần Thơ; LPST: Long Phú – Sóc Trăng; HBBL: Hoà Bình- Bạc Liêu; ĐDCM: Đầm  
Dơi - Cà Mau; số liệu trong mỗi cột là số cá thể cá thu được; Đường đứng: sai số chuẩn; a và b thể hiện  
sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
48  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
Hình 7. Sự biến động của cường độ bắt mồi theo tháng của năm 2020  
(Đường đứng: sai số chuẩn; a và b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê)  
4. Kết luận  
Cá bống cát tối Glossogobius aureus là nhóm cá ăn động vật. Chỉ số sinh trắc ruột của loài cá  
này dao động theo kích thước cá, địa điểm, thời gian, kích thước cá × địa điểm, mùa × địa điểm,  
nhưng không theo mùa, giới tính × mùa, giới tính × địa điểm, kích thước cá × mùa. Cường độ bắt  
mồi của cá cái tương đồng với cá đực, nhóm cá thành thục tương đồng với nhóm cá đã thành  
thục. Cường độ bắt mồi chịu tác động bởi yếu tố kích thước cá và cặp tương tác mùa × địa điểm.  
Tuy nhiên, cường độ bắt mồi không chịu tác động bởi giới tính × địa điểm, kích thước cá × địa  
điểm và kích thước cá × mùa. Kết quả thu được qua nghiên cứu đã bổ sung thêm những dẫn liệu  
khoa học về tính ăn của cá và cường độ bắt mồi; qua đó làm cơ sở cho những công trình nghiên  
cứu khoa học kế tiếp về nuôi nhân tạo cho loài cá bống cát tối Glossogobius aureus.  
Lời cám ơn  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hỗ trợ kinh phí cho đề tài này  
(B2020-TCT-13), Nguyễn Thị Thúy Hiền và Trần Chí Cảnh đã hỗ trợ thu và phân tích mẫu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] A. T. Diep, Q. M. Dinh, and D. D. Tran, "Species composition of gobiidae distributed in the coastal  
areas, Soc Trang Province," VNU Journal of Sciences: Natural Sciences and Technology, vol. 30, pp.  
68-76, 2014.  
[2] D. D. Tran, T. V. Nguyen, T. M. H. To, T. T. Nguyen, and Q. M. Dinh, "Species composition and  
biodiversity index of gobiid assemblage in estuarine areas of the Mekong Delta, Vietnam," Egyptian  
Journal of Aquatic Biology and Fisheries, vol. 24, pp. 931-941, 2020, doi:  
10.21608/ejabf.2020.131385.  
[3] Q. M. Dinh, Y. T. N. Nguyen, T. H. Dang, N. S. Tran, and T. T. H. Lam, "The impact of human  
activities on the biodiversity of fish species composition in rice paddy field in An Giang Province,  
Southern Vietnam," Egyptian Journal of Aquatic Biology and Fisheries, vol. 24, pp. 107-120, 2020,  
doi: 10.21608/EJABF.2020.78889  
[4] D. D. Tran, K. Shibukawa, T. P. Nguyen, P. H. Ha, X. L. Tran, V. H. Mai, and K. Utsugi, Fishes of  
Mekong Delta, Vietnam. Can Tho University Publisher, Can Tho, 2013.  
[5] P. Akihito and K. Meguro, "Description of a new gobiid fish, Glossogobius aureus, with notes on  
related species of the genus," Japanese Journal of Ichthyology, vol. 22, pp. 127-142, 1975.  
[6] M. T. Nguyen, T. N. L. Huynh, T. P. Nguyen, and D. D. Tran, "Some reproductive biological  
characteristics of the Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975 distributed in Ben Tre coastal  
areas," Can Tho University Journal of Science, vol. 2, pp. 169-176, 2014.  
49  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 44 - 50  
[7] A. H. Al-Hussaini, "The feeding habits and the morphology of the alimentary tract of some teleosts  
living in the neighbourhood of the Marine Biological Station, Ghardaqa, Red Sea," Publications of the  
Marine Biology Station Ghardaga (Red Sea), vol. 5, pp. 1-61, 1947.  
[8] V. R. Desai, "Studies on fishery and biology of Tor tor (Hamilton) from river Narmada. I. Food and  
feeding habits," Journal of the Inland Fisheries Society of India, vol. 2, pp. 101-112, 1970.  
[9] X. T. M. Pham, The composition of the goby species of Gobiidea and Eleotridae and some biological  
characteristics of the tanks goby Glossogobius giuris (Hamilton, 1822) in Can Tho, MS thesis, Can  
Tho University, 2012.  
[10] T. K. Tran, Composition of goby (Gobiidae and Eleotridae) and some biological characteristics of  
Glossogobius sparsipapillus Akihito and Meguro, 1796 distributed in coastal areas of Thanh Phu  
district, Ben Tre province., MS thesis, Can Tho University, 2013.  
[11] Y. T. N. Nguyen, T. T. H. Lam, and Q. M. Dinh, "The relative gut length and gastro-somatic indexes  
of Butis koilomatodon living in the coastal estuaries of some provinces in the Mekong Delta," TNU  
Journal of Science and Technology, vol. 225, no. 8, pp. 358-365, 2020.  
[12] T. T. Vo, D. D. Tran, and O. H. T. Duong, "Study on nutritional characteristics of broadhead sleeper  
(Eleotris melanosoma Bleeker, 1853) distributed along the Hau river," The 2nd national conference on  
marine biology and sustainable development, Science and Technics Publishing House, 2014, pp. 507-514.  
[13] Q. M. Dinh, D. T. Nguyen, and S. Danh, "Food and feeding habits of the broadheah sleeper Eleotris  
melanosoma from coastline in Soc Trang," Proceedings of the 7th National Scientific Conference on  
Ecology and Biological Resources, Publishing House for Science and Technology, 2017, pp. 1873-  
1879.  
[14] T. L. Tran, D. H. Hoang, and Q. M. Dinh, "Digestive tract morphology, food composition and feeding  
habits of the giant mudskipper Periophthalmodon schlosseri (Pallas, 1770) from the coastline in Tran  
De, Soc Trang," VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, vol. 35, pp. 30-38, 2019,  
doi: 10.25073/2588-1140/vnunst.4871.  
[15] Q. M. Dinh, L. T. Tran, T. M. T. Tran, K. D. To, T. T. K. Nguyen, and D. D. Tran, "Variation in diet  
composition of the mudskipper Periophthalmodon septemradiatus from Hau River, Vietnam," Bulletin  
of Marine Science, vol. 96, pp. 487-500, 2020, doi: 10.5343/bms.2018.0067.  
[16] Q. M. Dinh, T. L. Tran, and T. K. T. Nguyen, "The relative gut length and gastro-somatic indices of  
the mudskipper Periophthalmodon septemradiatus (Hamilton, 1822) from the Hau River," VNU  
Journal of Science: Natural Sciences and Technology, vol. 34, pp. 75-83, 2018, doi: 10.25073/2588-  
1140/vnunst.4775.  
[17] Q. M. Dinh, J. G. Qin, S. Dittmann, and D. D. Tran, "Seasonal variation of food and feeding in  
burrowing goby Parapocryptes serperaster (Gobiidae) at different body sizes," Ichthyological  
Research, vol. 64, pp. 179-189, 2017, doi: 10.1007/s10228-016-0553-4.  
[18] Q. M. Dinh, "Aspects of reproductive biology of the red goby Trypauchen vagina (Gobiidae) from the  
Mekong Delta," Journal of Applied Ichthyology, vol. 34, pp. 103-110, doi: 10.1111/jai.13521.  
[19] Q. M. Dinh and M. T. D. Tran, "Digestive tract morphology, food and feeding habits of the goby  
Stigmatogobius pleurostigma (Bleeker, 1849) from the Coastline in Soc Trang," VNU Journal of  
Science: Natural Sciences and Technology, vol. 34, pp. 46-55, 2018, doi: 10.25073/2588-  
1140/vnunst.4740.  
50  
pdf 7 trang yennguyen 21780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tập tính ăn và cường độ bắt mồi của cá bống cát tối Glossogobius aureus phân bố ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftap_tinh_an_va_cuong_do_bat_moi_cua_ca_bong_cat_toi_glossogo.pdf