Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỆ THỐNG THỔI KHÍ
TRONG ƯƠNG CÁ TRA TỪ BỘT LÊN HƯƠNG Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Đinh Thị Thủy1*, Nguyễn Thành Nhân1, Đoàn Văn Cường1, Nguyễn Diễm Thư1
TÓM TẮT
Nghiên cứu đã thực hiện 2 nghiệm thức (NT) ương cá tra từ giai đoạn bột lên hương với thời gian
ương 21 ngày, mỗi NT thực hiện 6 ao, mỗi ao có diện tích từ 3.500 đến 3.700 m2, địa điểm tại huyện
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mật độ thả bột 750 con/m2 và tất cả các yếu tố kỹ thuật ương của 2 NT
đều như nhau, chỉ khác nhau ở NT 1 có cung cấp thổi khí và NT 2 thì không. Hệ thống thổi khí được
thiết kế với lượng khí thổi ra từ các đĩa hình tròn, hoạt động qua máy thổi khí và khoảng cách lắp
đặt được tính toán nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng. Kết quả ghi nhận lượng Moina sp. trong ao giai
đoạn 12 ngày đầu ở NT 1 cao hơn ở NT 2, sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); và lượng Moina
sp. ở cả hai NT đạt cao nhất ở ngày 3 và giảm dần đến ngày 12. Tăng trưởng chiều dài của cá NT
1 có kết quả tốt hơn NT 2, cá bột khi mới thả có chiều dài trung bình từ 5,85 đến 6,30 mm, sau 21
ngày, chiều dài cá đạt 27,7 mm (NT 2) và 37,0 mm (NT 1), sai khác có ý nghĩa thống kê p<0,05.
Các yếu tố thủy lý hóa như nhiệt độ nước, pH, độ kiềm, NH3-N, NO2-N, NO3-N và COD của nước
ao ở 2 NT đều nằm trong giới hạn thích hợp cho sự phát triển của cá; riêng hàm lượng oxy hòa tan
(DO) sáng ở NT 2 thấp hơn NT 1 và thấp hơn ngưỡng thích hợp cho cá phát triển, DO sáng ở NT 2
dao động từ 2,95 đến 4,80 mg/l, ở NT 1 dao động từ 4,6 đến 6,25 mg/l, sai khác có ý nghĩa thống
kê (p<0,05), trừ các ngày ương thứ 5, 6 và 16. Cá nuôi ở NT 1 có tần suất và tỷ lệ nhiễm trùng bánh
xe (Trichodina sp.) và tần suất nhiễm vi khuẩn A. hydrophyla thấp hơn cá nuôi ở NT 2, sai khác có
ý nghĩa thống kê (p<0,05); cường độ nhiễm Trichodina sp. của cá ở NT 1 ở mức (+), trong khi ở
NT 2 nhiễm cả hai mức (+) và (++). Tỷ lệ sống trung bình của cá ở NT 1 (37,17%) cao hơn NT 2
(22,82%), sai khác có ý nghĩa thống kê p <0,05 và chỉ số FCR dao động từ 0,36 đến 0,39.
Từ khóa: ương cá tra, hệ thống thổi khí.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xuân và ctv., (1994), một trong những lý do
cá ương có tỷ lệ sống thấp và chất lượng con
giống không đảm bảo là môi trường nuôi chưa
đáp ứng đúng cho sự sinh trưởng của cá, hàm
lượng oxy hòa tan không đảm bảo và các yếu tố
môi trường khác như NH3, NO2, pH, v.v... biến
thiên lớn. Tỷ lệ sống và sự sinh trưởng của cá
còn bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng. Đi đôi
với vấn đề dinh dưỡng, ảnh hưởng của mật độ
thả đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá
trong quá trình ương nuôi cá giống cũng không
kém phần quan trọng. Các nghiên cứu trước đã
Trong những năm gần đây, cá tra là một
trong những đối tượng nước ngọt được nuôi chủ
lực ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy,
nhu cầu cung cấp cá tra giống đảm bảo đủ về số
lượng và có chất lượng tốt được đặt lên hàng đầu.
Thực tế cho thấy với tình hình ương cá tra giống
hiện nay ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn
nhiều bất cập, cá giống có tỷ lệ sống thấp, dịch
bệnh xảy ra thường xuyên, chất lượng con giống
không đảm bảo để đáp ứng tốt cho nhu cầu thực
tế sản xuất trong nuôi cá tra thương phẩm. Theo
1. Trung Tâm Quan Trắc Môi Trường & Bệnh Thủy Sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2
* Email: [email protected]
98
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
2.2. Phương pháp nghiên cứu và bố trí
thí nghiệm
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
chứng minh rằng mật độ thả có liên quan đến
tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá (Sahoo
và ctv., 2004; Rahman và ctv., 2005, Schram và
ctv., 2006).
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 5 đến
tháng 6 năm 2014 với 2 nghiệm thức, ng-
hiệm thức 1 có cung cấp thổi khí và nghiệm
thức 2 không cung cấp thổi khí. Mỗi nghiệm
thức bố trí 6 ao; mỗi ao có diện tích từ 3.500
đến 3.700m2. Mật độ thả là 750 con/m2, được
thực hiện tại xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nguồn giống và các
điều kiện ương nuôi khác của 2 nghiệm thức
là như nhau.
Trước tình hình đó, đề tài „Nghiên cứu các
giải pháp kỹ thuật nâng cao tỷ lệ sống và chất
lượng cá tra từ bột lên giống ở Đồng bằng sông
Cửu Long” được hình thành và đã được thực
hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 12/2015.
Dựa vào đặc tính sinh học, nhu cầu và sự
phát triển khác nhau của cá theo từng lứa tuổi,
quá trình ương cá tra từ bột lên giống được phân
làm hai giai đoạn, giai đoạn ương từ bột lên
hương và từ hương lên giống. Đối với giai đoạn
ương từ bột lên hương 21 ngày tuổi, việc cải tiến
các yếu tố kỹ thuật đã được nghiên cứu và thực
hiện với mục đích nhằm nâng cao tỷ lệ sống và
chất lượng cá hương để phục vụ tốt cho giai
đoạn ương tiếp theo từ hương lên giống. Các cải
tiến kỹ thuật đã được nghiên cứu và áp dụng từ
quy mô thực nghiệm đến quy mô sản xuất gồm
các yếu tố kỹ thuật về dinh dưỡng, môi trường
và giám sát bệnh, v.v... nhằm giải quyết các vấn
đề ô nhiễm hữu cơ, tạo môi trường nước tốt,
nâng cao sức tăng trưởng, tăng cường sức đề
kháng và khả năng phòng bệnh cho cá. Sử dụng
hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ giai đoạn
bột lên hương là một trong những cải tiến được
thực hiện trong đề tài này.
2.2.2. Kỹ thuật sàng lọc cá bột
Đánh giá cảm quan ngoại hình qua hoạt
động bơi lội đều xung quanh ao, không tụ tập
dưới đáy ao; có tỷ lệ dị hình thấp, có kích cỡ
đồng đều.
2.2.3. Hệ thống thổi khí và kỹ thuật
thổi khí
Hệ thống thổi khí được sử dụng bằng máy
thổi khí, hoạt động bằng điện. Các đĩa cung
cấp khí hình tròn, có đường kính 27 cm; hệ
thống được nối từ đầu ra của máy đến các đĩa
khí bằng ống nhựa PVC với các cỡ đường kính
tương ứng. Khoảng cách giữa các đĩa thổi khí
là 4 m. Lượng khí thổi từ xung quanh mỗi đĩa
tỏa ra với bán kính là 2 m. Từ ngày ương 1
đến hết ngày ương 2, thổi khí liên tục 24 giờ.
Từ ngày ương 3 đến ngày ương 21, thổi khí 6
giờ/ ngày từ 4 giờ đến 10 giờ. Tuy nhiên, khi
điều kiện thời tiết bất lợi hoặc khi lượng oxy
hòa tan nhỏ hơn 3 mg/l thì tiến hành bổ sung
thổi khí. Hệ thống thổi khí được lắp ráp như
Hình 1.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vậtliệunghiêncứulàcátra(Pangasianodon
hypophthalmus) giai đoạn bột lên hương, với cỡ
cá tra bột từ 1.000 đến 1.050 con/ml.
99
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Hình 1. Bảng vẽ lắp ráp hệ thống thổi khí
2.2.4. Kỹ thuật kiểm soát thức ăn tự máu, sử dụng test kit API 20E để test sinh hóa
nhiên trong ao
và định danh vi khuẩn theo khóa phân loại của
John và ctv., (1994).
Thức ăn tự nhiên trong ao được đếm từ ngày
ương 1 đến ngày ương 12. Dùng lưới thu mẫu
sinh vật phù du, lấy 10 lít nước tại 3 vị trí trong
ao đổ qua lưới vớt động vật phù du để lọc mẫu.
Định loại động vật phù du bằng phương pháp
hình thái, xác định mật độ động vật phù du bằng
buồng đếm động vật phù du. Mật độ (con/ml)=
(A*V2)/V1*V trong đó A là số lượng động vật
phù du đếm được trong buồng đếm, V1 là thể
tích mẫu đã đếm(ml), V2 thể tích mẫu đã cô đặc
(ml), V là thể tích nước thoát qua lưới lọc (L).
2.2.8. Phương pháp phân tích, định danh
ký sinh trùng và nấm
Cá được thu nguyên con, mỗi mẫu từ 10
đến 20 con; tổng thể bên ngoài cá gồm vây, gốc
vây, da, mắt, v.v... và các bộ phận bên trong như
dịch nhớt, nội tạng gan, thận, ruột, v.v... được
soi tươi qua kính hiển vi soi nổi và quang học.
Đinh loại ký sinh trùng theo khóa phân loại của
Schell (1985). Phân lập và làm thuần nấm bằng
cách cấy mẫu trên môi trường SAB và ủ ở nhiệt
2.2.5. Cách tính hệ số chuyển đổi thức ăn độ phòng 3 đến 5 ngày, sau đó chuyển sang môi
(FCR: Feed conversion ratio)
trường PGYA để làm thuần. Cấy vào hạt bắp
trong nước cất vô trùng, ủ sau 24 giờ ở nhiệt độ
phòng, quan sát dưới kính hiển vi và định danh
dựa theo khóa phân loại của Johnson và ctv.,
(2002).
Hệ số FCR là tỷ lệ giữa tổng lượng thức ăn
cho cá ăn và tổng trọng lượng cá thu hoạch được
trên một đơn vị diện tích.
2.2.6. Tính tỷ lệ sống
2.2.9. Phương pháp phân tích các yếu tố
môi trường
Tỷ lệ sống được tính bằng tổng số cá thu x
100%/ Tổng số cá thả
Các yếu tố thủy lý hóa được theo dõi và đo
đạc là oxy hòa tan (DO), pH, nhiệt độ nước, độ
kiềm, NH3, NO2, NO3 và COD. Các yếu tố DO,
pH, nhiệt độ nước đo 2 lần/ ngày, từ 6 đến 7 giờ
sáng và từ 4 đến 5 giờ chiều. Các yếu tố còn lại
2.2.7. Phương pháp phân tích và định
danh vi khuẩn
Cá được thu nguyên con, mỗi mẫu từ 10
đến 20 con; nghiền và cấy vào môi trường thạch
100
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
được thu và đo mỗi tuần 1 lần. Chỉ tiêu DO đo nước. Thực hiện nâng độ kiềm bằng giải pháp
bằng máy đo oxy cầm tay; đo pH bằng máy đo dùng vôi Dolomite (thành phần gồm CaCO3:
pH cầm tay; nhiết kế đo nhiệt độ nước; độ kiềm 30%, MgCO3:20% và P2O5: 1%), liều dùng
đo bằng phương pháp chuẩn độ. Các chỉ tiêu tùy thuộc vào pH của đất và của nước, và tùy
NH3, NO2, NO3 và COD được đo theo phương thuộc vào chỉ số giảm của độ kiềm; (iv) Cải
pháp phân tích theo tiêu chuẩn của Boyd và tiến các yếu tố kỹ thuật dinh dưỡng bằng cách
Tucker (1992) và Clescerl và ctv., (2005).
tìm nguồn dinh dưỡng thích hợp để gây ương
Moina sp. trong ao đủ để cung cấp cho cá bột
trong giai đoạn tuổi nhỏ và chú ý đến khẩu
phần ăn đảm bảo chất lượng và số lượng. Tất
cả các biện pháp kỹ thuật đều thực hiện như
nhau ở 2 nghiệm thức; một điểm khác nhau
được đánh giá trong bài báo này là so sánh
hiệu quả đạt được giữa nghiệm thức có cung
cấp thổi khí và nghiệm thức không cung cấp
thổi khí. Hiệu quả đạt được sẽ đánh giá thông
qua kết quả khảo sát lượng thức thức ăn tự
nhiên (Moina sp.) trong ao giai đoạn 12 ngày
đầu; diễn biến của các yếu tố thủy lý hóa nước
ao nuôi; tình trạng sức khỏe cá nuôi, sự tăng
trưởng về chiều dài của cá và tỷ lệ sống của
cá sau 21 ngày.
2.2.10. Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được phân tích và xử lý bằng
phần mềm Exel phiên bản 2007 và phần
mềm SPSS 19.0.
III. KẾT QUẢ
Trong quá trình ương cá tra từ giai đoạn
bột lên hương (21 ngày), chúng tôi đã thực
hiện cải tiến một số các giải pháp kỹ thuật
nhằm đạt hiệu quả cao về tỷ lệ sống và đảm
bảo chất lượng cá tra để thực hiện ương ở
giai đoạn tiếp theo. Các giải pháp kỹ thuật đã
được cải tiến như (i) Hạn chế sự hiện diện của
ấu trùng chuồn chuồn, bọ gạo, bắp cày bằng
cách thực hiện lấy nước vào ban đêm để hạn
chế việc đẻ trứng của địch hại; khi nước được
lấy vào thì dùng sản phẩm có tính chất chuyên
biệt đủ mạnh để diệt được trứng của các
loài chuồn chuồn, bọ gạo, bắp cày; rút ngắn
khoảng cách thời gian giữa giai đoạn lấy nước
vào và giai đoạn thả bột; che chắn, rào lưới ao
nuôi với mắc lưới thích hợp; dùng váng dầu
hôi kéo trên mặt ao (trường hợp có nghi ngờ
ao ương có xuất hiện ấu trùng chuồn chuồn,
bọ gạo, bắp cày); (ii) Giải pháp đảm bảo nhu
cầu oxy hòa tan (DO) bằng cách gắn hệ thống
thổi khí; (iii) Giải pháp ổn định điều kiện các
yếu tố thủy lý hóa (độ kiềm, NH3, pH, v.v...
bằng cách tiến hành xi phông nền đáy định kỳ
hàng tuần (hoặc hai tuần tùy theo mức độ tích
tụ cặn bã của đáy ao ương) là một trong những
giải pháp giúp hạ thấp hàm lượng NH3 trong
3.1. Lượng thức ăn tự nhiên (Moina sp.)
trong ao giai đoạn 12 ngày đầu
Các loài thuộc nhóm Zooplankton được
xem là nguồn thức ăn trong ương nuôi cá giống
ở giai đoạn đầu, sau khi tiêu thụ hết noãn hoàng
và bắt đầu tập ăn. Đối với cá tra, Moina sp. được
xem là nguồn thức ăn quan trọng trong giai
đoạn 12 ngày đầu, bên cạnh các nguồn thức ăn
bổ sung khác như bột sữa, thức ăn công nghiệp
dạng bột mịn và mảnh với 40% độ đạm. Kết
quả ở hình 2 cho thấy lượng Moina sp. trong
nước ao có chiều hướng tăng cao đến ngày thứ
3 và sau đó giảm dần đến ngày thứ 12 và lượng
này ở nghiệm thức có thổi khí luôn cao hơn ở
nghiệm thức không có thổi khí, sai khác có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05) trừ các ngày thứ 1,
4, 5 và 12.
101
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Hình 2. Diễn biến lượng Moina sp. trong ao giai đoạn 12 ngày đầu
3.2. Tăng trưởng chiều dài của cá
Hình 3. Chiều dài cá trong giai đoạn ương 21 ngày
Tăng trưởng cá được đánh giá bởi chiều dài 27,85 đến 29,10oC, nhiệt độ chiều từ 31,20
đến 32,45oC (Hình 4), các giá trị này đều
nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp cho cá
phát triển. Theo Boyd (1998) khoảng nhiệt độ
thích hợp cho sự phát triển của cá nhiệt đới từ
28 đến 32oC. Dương Thúy Yên (2003) đã chỉ
ra khoảng nhiệt độ thích hợp cho cá tra ở Việt
Nam (P. hypophthalmus) từ 16,7 đến 40,8oC.
Nếu môi trường nước ao có nhiệt độ thích hợp
với thân nhiệt của cá thì cá sẽ có tăng trưởng
nhanh, vì thế, việc giữ được ổn định nhiệt độ
nước ao nuôi nằm trong ngưỡng thích hợp cho
cá là điều hết sức cần thiết.
cá; ở ngày thứ nhất, chiều dài cá ở 2 nghiệm
thức là như nhau, dao động từ 5,85 đến 6,30
mm. Ở các ngày ương thứ 7, 14 và 21, chiều dài
cá ở nghiệm thức có thổi khí luôn cao hơn chiều
dài cá ở nghiệm thức không thổi khí, sai khác có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Hình 3).
3.3. Các yếu tố thủy lý hóa của nước ao
nuôi
Các nghiệm thức được bố trí vào tháng
5 và 6, đây là thời điểm mùa khô ở vùng
ĐBSCL và là mùa thuận cho việc ương nuôi
cá. Nhiệt độ nước buổi sáng dao động từ
102
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Hình 4. Nhiệt độ nước ao nuôi
Giá trị pH sáng, chiều dao động từ 7,35 nuôi thủy sản. Swingle (1969) cho rằng, giá
đến 8,85 (Hình 5); độ kiềm nằm trong khoảng trị pH từ 6,5 đến 9,0 là thích hợp cho các loài
từ 70,0 đến 104,5 mg/l (Hình 6). pH là một tôm, cá. pH thích hợp cho nhóm cá da trơn từ
trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng 6,5 đến 9,0; nếu pH từ 9,0 đến 11,0 sẽ dễ gây
lớn trực tiếp và gián tiếp đến sự sinh trưởng, stress cho cá; và nếu pH lớn hơn 11 sẽ gây
tỉ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng của vật chết cá.
Hình 5. Giá trị pH nước ao nuôi
Hình 6. Độ kiềm (mg/l)
103
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Hàm lượng oxy hòa tan (DO) buổi chiều ở 2 và DO sáng ở nghiệm thức thổi khí dao động từ
nghiệm thức có và không có thổi khí nằm trong 4,6 đến 6,25 mg/l, sai khác có ý nghĩa thống kê
khoảng từ 4,75 đến 7,40 mg/l. Có sự khác biệt (p < 0,05) ở tất cả các ngày nuôi, trừ các ngày
của giá trị DO sáng; DO sáng ở nghiệm thức thứ 5, 6 và 16 (Hình 7).
không thổi khí dao động từ 2,95 đến 4,80 mg/l
Hình 7. Hàm lượng oxy hòa tan (mg/l)
Hàm lượng NH3-N ở 2 nghiệm thức có
giá trị từ 0,013 đến 0,023 mg/l (Bảng 1). Theo
Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út (2006) thì
hàm lượng NH3-N gây độc đối với cá từ 0,6 đến
2 mg/l. Cá có thể chịu đựng được 0,01 đến 0,05
mg/l (NH3-N) nếu lượng oxy hòa tan và nhiệt độ
nước nằm trong khoảng thích hợp.
oxy đề oxy hóa NO2-N (nitrite) thành NO3-N
(nitrate) (Boyd, 1998). Yếu tố chính cho quá
trình hình thành nitrate là lượng oxy hòa
tan và sự đóng góp của vi khuẩn nitrate hóa
(Nitrobacter) (Phạm Quốc Nguyên và ctv.,
2014). Theo Boyd (1998) ở nồng độ từ 0,2 đến
10 mg/l nitrate không gây hại cho cá. Giá trị
NO3-N (nitrate) trong nghiên cứu này dao động
trong khoảng từ 0,21 đến 0,66 mg/l (Bảng 1).
Theo Trương Quốc Phú (2000) thì hàm
lượng NO2-N cho phép trong các ao nuôi cá là
từ 0,01 đến 1 mg/l; nồng độ thích hợp nhất từ
0,01 đến 0,1 mg/l (Lê Như Xuân và ctv.,1994).
Lượng NO2-N của các nghiệm thức trong nghiên
cứu này có giá trị nhỏ hơn 0,1 mg/l (Bảng 1);
như vậy hàm lượng này nằm trong khoảng giá
trị thích hợp.
Hàm lượng COD dao động từ 10,25 đến
12,75 mg/l (Bảng 1). Theo tiêu chuẩn ngành
thủy sản (2002) thì COD của ao nuôi cá tra
phải nhỏ hơn 15 mg/l. Nếu nước ao nuôi có
hàm lượng COD cao thì khả năng cá dễ mắc
bệnh cao. Chỉ số COD trung bình của các
nghiệm thức trong nghiên cứu này có giá trị tối
đa ở mức 13 mg/l, nằm trong khoảng giới hạn
cho phép.
Quá trình nitrate hóa cần oxy để oxy hóa
amonia (amoniac và amonium) thành nitrite
(sản phẩm trung gian) và tiếp tục sử dụng
104
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Bảng 1. Các yếu tố N-NH3 (mg/l), N-NO2 (mg/l), N-NO3 (mg/l) và COD (mg/l)
Chỉ tiêu
Ngày ương
1
7
14
21
N-NH3 (mg/l)(TB± ĐLC)
NT có thổi khí
0,016 ± 0,006
0,023 ± 0,011
0,016 ± 0,001 0,019 ± 0,002 0,013 ± 0,000
0,017 ± 0,010 0,014 ± 0,005 0,018 ± 0,004
NT không thổi khí
N-NO2 (mg/l)(TB± ĐLC)
NT có thổi khí
0,018 ± 0,004
0,017 ± 0,002
0,019 ± 0,001 0,014 ± 0,001 0,021 ± 0,001
0,017 ± 0,004 0,018 ± 0,004 0,017 ± 0,002
NT không thổi khí
N-NO3 (mg/l)(TB± ĐLC)
NT có thổi khí
0,21 ± 0,05
0,32 ± 0,12
0,23 ± 0,04
0,66 ± 0,18
0,23 ± 0,08
0,56 ± 0,15
0,34 ± 0,04
0,55 ± 0,17
NT không thổi khí
COD (mg/l)(TB± ĐLC)
NT có thổi khí
11,75 ± 0,35
11,23 ± 0,04
11,55 ± 1,48
11,35 ± 0,68
12,60 ± 1,98
11,18 ± 0,25
12,75 ± 2,76
10,25 ± 0,01
NT không thổi khí
3.4. Diễn biến bệnh của cá
Tần xuất nhiễm và tỷ lệ nhiễm trùng bánh
xe (Trichodina sp.) của cá ở nghiệm thức không
thổi khí (15,48 %; 32,26 %) cao hơn nghiệm
thức có thổi khí (8,33 %; 21,19 %), sai khác có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05); cường độ nhiễm cũng
có kết quả tương tự, ở NT có thổi khí chỉ xảy ra ở
mức (+) trong khi ở NT không thổi khí có cường
độ nhiễm ở hai mức (+) và (++) (Bảng 2).
Trong 21 ngày ương, cá hoàn toàn không bị
nhiễm nấm (không thể hiện bệnh qua dấu hiệu
lâm sàng và kết quả phân tích nấm); cá nhiễm
bệnh chủ yếu là ký sinh trùng và vi khuẩn. Mức
độ cá nhiễm ký sinh trùng thấp hơn so với vi
khuẩn; nhóm ký sinh trùng được tìm thấy là
trùng bánh xe (Trichodina sp.) và vi khuẩn là
Aeromonas hydrophyla và A. caeviae; kết quả
cũng ghi nhận sự hiện diện của vi khuẩn A.
hydrophyla, chiếm từ 80 đến 90% trong tổng số
các mẫu phân tích có nhiễm khuẩn. Cá nhiễm
khuẩn có biểu hiện lâm sàng điển hình như đỏ
phần đầu và các gốc vây, các tia vây bị hoại tử
và xuất huyết nội tạng.
Tần xuất nhiễm vi khuẩn A. hydrophyla cũng
được ghi nhận ở NT có thổi khí (10,71 %) có tần
xuất thấp hơn ở NT không thổi khí (19,05 %), sai
khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); tỷ lệ nhiễm
A. hydrophyla ở NT có thổi khí (33,12 %) thấp
hơn ở NT không có thổi khí (33,89 %), sai khác
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) (Bảng 3).
Bảng 2. Tần suất nhiễm, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ký sinh trùng (Trichodina sp.)
Nghiệm thức
Tần suất nhiễm TB (%) ± Tỷ lệ nhiễm TB (%) Cường độ nhiễm
ĐLC
± ĐLC
Có thổi khí
8,33a ± 0,25
15,48b ± 1,03
21,19a ± 4,48
32,26b ± 2,41
(+)
Không thổi khí
(+), (++)
Các ký hiệu chữ (a, b) trong mỗi cột, sai khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05 trong từng cột;
cường độ nhiễm: (+)<30%; (++) 30-65%
105
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
Bảng 3. Tần suất nhiễm và tỷ lệ nhiễm vi
định đến tỷ lệ sống và tình trạng sức khỏe cá
nuôi trong giai đoạn này. Trong quá trình ương
cá trê giống (Clarias macrocephalus), Fermin
và Bolivar (1991) đã sử dụng Moina sp. là
nguồn thức ăn chính trong giai đoạn đầu và
cho tỷ lệ sống cao; trường hợp tương tự được
ghi nhận trong ương cá măng (Chanos chanos)
của Watanabe và Fujita, 1983. Nghiên cứu của
Hung và ctv., (2002) đã chứng minh Artemia,
Moina sp. và trùn chỉ (Tubifex) là những thức
ăn phù hợp trong ương nuôi cá tra giống (P.
hypophthalmus) và cá basa giống (P. bocourti)
với kết quả tỷ lệ sống đạt được dao động từ
91,0% đến 93,0%. Kết quả trong nghiên cứu
này đã chỉ ra lượng Moina sp. trong ao tăng cao
ở ngày thứ 3 và giảm dần đến hết ngày 12 và
lượng Moina sp. này cao ở nghiệm thức có thổi
khí so với nghiệm thức không thổi khí, sai khác
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), trừ các ngày thứ
1, 4, 5 và 12. Như vậy, việc cung cấp hệ thống
thổi khí đã góp phần trong việc tăng sinh khối
Moina sp. trong ao; và thực tế cho thấy rằng,
với hệ thống thổi khí hoạt động 24 giờ ở ngày
ương 1, 2; hoạt động 6 giờ/ngày từ 4 đến 10
giờ sáng ở ngày ương thứ 3 trở đi và hoạt động
khi điều kiện thời tiết bất lợi đã góp phần trong
việc cung cấp thêm oxy hòa tan cho sự hô hấp
của cá tra bột và Moina sp.; mặt khác còn giúp
khoáng hóa môi trường nước ao nhằm tăng hiệu
quả khi sử dụng các sản phẩm như chất xử lý
diệt khuẩn, các chế phẩm vi sinh, v.v...
khuẩn (A. hydrophyla)
Tần suất nhiễm
Nghiệm
thức
Tỷ lệ nhiễm
TB
TB (%)
(%) ± ĐLC
Có thổi
khí
10,71a ± 1,68
19,05b ± 3,37
33,12a ± 4,02
33,89a ± 2,08
Không
thổi khí
Các ký hiệu chữ (a, b) trong mỗi cột, sai
khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05 trong từng cột
3.5. Tỷ lệ sống của cá
Bảng 4 thể hiện chỉ số chuyển hóa thức
ăn (FCR) và tỷ lệ sống trung bình của 2 nhóm
nghiệm thức. FCR của 2 nhóm ở mức 0,36 và
0,39. Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức có thổi
khí (37,17 %) cao hơn ở nghiệm thức không
thổi khí (22,82 %), sai khác có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05).
Bảng 4. Tỷ lệ sống (TLS) của cá và hệ số
chuyển hóa thức ăn (FCR)
Nghiệm FCR TB ±
TLS TB (%) ± ĐLC
thức
Có thổi
khí
ĐLC
0,36 ± 0,04
37,17b ± 5,89
22,82a ± 3,70
Không
thổi khí
0,39 ± 0,07
Các ký hiệu chữ (a) (b) thể hiện sai khác có
ý nghĩa thống kê p < 0,05 ở mỗi cột
Kết quả của nghiên cứu đã chứng minh có
IV. THẢO LUẬN
sự khác nhau giữa hàm lượng oxy hòa tan (DO)
Trong quá trình ương cá tra từ giai đoạn bột của nước ao vào buổi sáng ở 2 nghiệm thức
lên hương trải qua 21 ngày với mật độ thả bột có và không có thổi khí; đối với nghiệm thức
là 750 con/m2, chúng tôi đã thực hiện gây nuôi không thổi khí thì DO sáng rơi xuống ở mức
thức ăn tự nhiên (Moina sp.) trực tiếp trong ao nhỏ hơn 3 mg/l trong nhiều ngày; còn đối với
với mục đích là bổ sung nguồn thức ăn đủ dinh nhóm có thổi khí, giá trị DO luôn cao hơn 4mg/l
dưỡng và được cá tra bột ưa thích trong giai và dao động từ 4,5 đến 6,5 mg/l. Trong quá trình
đoạn 12 ngày đầu. Nguồn thức ăn tự nhiên này ương cá tra, một trong những vấn đề đáng lo
là một trong những yếu tố có tính chất quyết ngại là lượng oxy hòa tan trong nước ao thấp
106
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
vào buổi sáng (khoảng từ 4-6 giờ), điều này là thành công của vụ nuôi là kết quả tỷ lệ sống, tỷ
do ảnh hưởng của quá trình quang hợp và quá lệ sống của cá ở 2 nghiệm thức có và không có
trình hô hấp nên lượng oxy hòa tan trong nước thổi khí đều lớn hơn 22,0%, kết quả này đã đánh
ao thường cao nhất vào cuối buổi chiều và thấp dấu sự thành công bước đầu của nghiên cứu này;
nhất sau nửa đêm lúc đầu giờ của buổi sáng. thực tế hiện tại ở một số nông hộ tại Đồng Tháp
Với chỉ số DO từ 1,4 đến 5,0 mg/l thì cá tồn tại, nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long
nhưng giảm ăn, tăng trưởng chậm và dễ nhạy nói chung khi ương với mật độ thả bột cùng với
cảm với bệnh tật. Với DO ở mức từ 4 mg/l đến mật độ thả bột trong nghiên cứu này (750 con/
độ bảo hòa thì là mức thích hợp cho ấu trùng, m2), kết quả chỉ đạt tỷ lệ sống trung bình nhỏ
cá con và cá giống của cá da trơn. Vì vậy, giá hơn 15,0 %. Khi so sánh tỷ lệ sống của cá ở
trị DO sáng ở nhóm không cung cấp thổi khí ở nghiệm thức có và không có thổi khí thì tỷ lệ
mức nhỏ hơn 3 mg/l và kéo dài trong nhiều ngày sống của cá ở nghiệm thức có thổi khí (37,17%
đã gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển ± 5,89) lớn hơn ở nghiệm thức không thổi khí
và tình trạng sức khỏe cá nuôi. Thật vậy, diễn (22,82% ± 3,70), sai khác có ý nghĩa thống kê
biến tăng trưởng về chiều dài cá đã thể hiện sự (p < 0,05) cùng với hệ số chuyển hóa thức ăn
chênh lệch giữa 2 nghiệm thức có và không có (FCR) của 2 nghiệm thức là 0,36 (± 0,04) và
thổi khí; chiều dài cá sau khi thả 1 tuần đến ngày 0,39 (± 0,07). Yang và Lin (2001) đã đạt được
thứ 21 ở nghiệm thức có thổi khí luôn lớn hơn ở tỷ lệ sống tốt và tăng cao về sản lượng của cá rô
nghiệm thức không thổi khí, sai khác có ý nghĩa phi nuôi bè ở nghiệm thức có cung cấp thổi khí
thống kê (p < 0,05).
so với nghiệm thức không cung cấp thổi khí, sai
khác có ý nghĩa thống kê p < 0,05. Trong nghiên
cứu này, rõ ràng rằng, việc cung cấp thổi khí đã
có nhiều tác động tốt đến đời sống của cá và môi
trường nước của ao ương. Có thể cho rằng, việc
làm này là không mới và thực tế các nông hộ
ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã và đang
áp dụng, tuy nhiên, không phải tất cả đều thành
công. Trong nghiên cứu này, một vài điểm quan
trọng mà chúng tôi đã thực hiện là sự tính toán
khi thiết kế lắp đặt hệ thống thổi khí. Hệ thống
thổi khí được thiết kế giúp lượng khí thổi ra từ
các đĩa khí xoay tròn và được đặt cách đáy từ 20
đến 30 cm đã giúp phân phối đều lượng khí từ
dưới lên trên. Với cách thiết kế có sự tính toán
khoảng cách khí tỏa ra với bán kính 2 m, đều
nhau đã giúp lượng khí được cung cấp đến mọi
hướng trong ao. Bên cạnh đó, thổi khí theo đúng
kế hoạch và linh hoạt thổi khí khi gặp sự cố bất
thường khi điều kiện thời tiết xấu, v.v... đã được
thực hiện nghiêm túc, cũng đã góp phần làm ổn
định lượng khí trong ao ở mọi thời điểm, hạn
chế cá bị sốc khi gặp sự thay đổi đột ngột do các
Khi ao ương được trang bị hệ thống thổi
khí, hoạt động của hệ thống này ngoài việc
cung cấp lượng oxy hòa tan trong ao, làm
khoáng hóa và giúp phân tán đều khi sử dụng
các chế phẩm xử lý ao nuôi hoặc chế phẩm
vi sinh, v.v... chúng còn trực tiếp hoặc gián
tiếp giúp giảm thiểu bệnh tật xảy ra. Kết quả
nghiên cứu này đã cho thấy tần suất nhiễm
và tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe (Trichodina sp.)
và tần xuất nhiễm vi khuẩn A. hydrophyla ở
nghiệm thức có thổi khí thấp hơn ở nghiệm
thức không thổi khí (sai khác có ý nghĩa thống
kê p < 0,05). Cường độ nhiễm trùng bánh xe
(Trichodina sp.) ở nghiệm thức có thổi khí ở
mức (+), trong khi ở nghiệm thức không thổi
khí có hai mức (+) và (++), theo Bùi Quang
Tề (2008) thì cường độ nhiễm Trichodina sp.
từ 20 đến 30 trùng/ thị trường (tương ứng mức
++) với độ phóng đại 10 X đã gây nguy hiểm
cho cá.
Một điều khá quan trọng khi nói đến sự
107
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
điều kiện ngoại cảnh. Việc tính toán thời gian và giờ ở ngày ương 1 và 2; 6 giờ (từ 4 đến 10 giờ
thời điểm thổi khí để đáp ứng đúng và đủ nhu sáng) từ ngày ương thứ 3 trở đi và thổi khí khi
cầu cần thiết cho cá mà không làm ảnh hưởng gặp điều kiện thời tiết xấu đã giúp hàm lượng
đến hiệu quả kinh tế cũng được đặt lên hàng oxy hòa tan (DO) trong nước ao nuôi duy trì ở
đầu. Điều quan trọng sau cùng là sự kết hợp hài mức ổn định (dao động ở mức > 4 mg/l đến 7
hòa và hợp lý của nhiều yếu tố kỹ thuật đã được mg/l).
cải tiến, trong đó có kỹ thuật cung cấp hệ thống
thổi khí, cùng với việc giám sát diễn biến các
yếu tố thủy lý hóa môi trường nước ao và giám
sát tình trạng sức khỏe cá nuôi nhằm có biện
pháp can thiệp hợp lý và kịp thời. Tất cả những
việc trên đã giúp chúng tôi gặt hái được những
kết quả nhất định.
Chiều dài cá sau khi thả 1 tuần đến ngày
thứ 21 ở NT có thổi khí luôn cao hơn NT
không thổi khí, sai khác có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05).
Tần suất và tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe
(Trichodina sp.) và tần suất nhiễm vi khuẩn A.
hydrophyla ở nghiệm thức có thổi khí luôn thấp
hơn ở nghiệm thức không thổi khí, sai khác có ý
nghĩa thống kê p < 0,05. Cường độ nhiễm trùng
bánh xe (Trichodina sp.) ở nghiệm thức có thổi
khí là (+), ở nghiệm thức không thổi khí có hai
mức (+) và (++).
V. KẾT LUẬN
Khi ương cá tra với mật độ 750 con/m2 từ
giai đoạn bột lên hương (21 ngày), việc cung
cấp thổi khí đã có những đóng góp trong việc
tăng sinh khối Moina sp. trong ao giai đoạn 12
ngày đầu. Lượng Moina sp. trong ao ở nghiệm
thức có thổi khí luôn cao hơn ở nghiệm thức
không thổi khí và sai khác có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05), trừ các ngày thứ 1, 4, 5 và 12.
Tỷ lệ sống trung bình của cá ở nghiệm thức
có thổi khí (37,17 %) cao hơn ở nghiệm thức
không thổi khí (22,82 %), sai khác có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) với hệ số chuyển hóa thức
ăn (FCR) của 2 nghiệm thức là 0,36 và 0,39.
Với hoạt động của hệ thống thổi khí 24
108
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
John,D.,1994.Civicnvironmentalism:alternatives
toregulation in states and communities.
Washington, DC: CQ Press. 134p.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Phạm Quốc Nguyên, Lê Hồng Y, Nguyễn Văn Công
và Trương Quốc Phú, 2014. Diễn biến một số
chỉ tiêu chất lượng nước trong ao nuôi cá tra
(Pangasianodon hypopthalmus) thâm canh. Tạp
chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
Johnson, R. A., Seymour, R. L., Padgett, D. E., 2002.
Biology and the systematic of the Saprolegniaceae.
oomycete/ taxonomy and systematics/padgett
book/ (Accessed July 21, 2010)
Trương Quốc Phú, 2000. Giáo trình phân tích chất
lượng nước và quản lý môi trường ao nuôi. 39
trang.
Sahoo, S. K., Giri. S.S., and Sahu, A.K., 2004. Effect
of stocking density on growth and survival of
Clarias batrachus (Linn,) larvae and fry during
hatchery rearing, Journal of Applied Ichthyology
20: 302-305
Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006. Bài giảng
Quản lý chất lượng nước. Khoa Thủy sản, Trường
Đại học Cần Thơ.
Schell, S.C., 1985. Trematodes of North
America,University of Idaho Press, Moscow, 263
pp.
Bùi Quang Tề, 2008. Bệnh truyền nhiễm của động vật
thủy sản. p. 122-128.
Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành, 1994. Kỹ thuật
nuôi cá nước ngọt. Sở Khoa học Công nghệ Môi
trường An Giang. 266 trang.
Swingle, H.S., 1969. Methods of Analysis for waters,
organic matter and Pond Bottom Soils Used in
Fisheries Research. Auburn Univ. Auburn, Ala,
119pp.
Dương Thúy Yên, 2003. Khảo sát một số tính trạng,
hình thái, sinh trưởng và sinh lý của cá basa
(P.bocourti), cá tra (P.hypophthalmus) và con lai
của chúng. Luận văn Thạc sĩ. Khoa Thủy sản.
Trường Đại học Cần Thơ.
Schram, E, Van der Heul J. W., Kamstra, A., and
Verdegem, M.C. J., 2006. Stocking density
dependent growth of dover (Solea solea),
Aquaculture 252: 239-247
Rahman, M. A., Mazid, M.A., Rahman, M.R., Khan,
M.N., Hossain, M.A., and Hussain, M.G., 2005.
Effect of stocking density on survival and growth
of critically endangered mashseer, Tor putitora
(Hamilton), in nursery ponds, Aquaculture 249:
275-284
Tài liệu tiếng Anh
Boyd, C. E., 1998. Water quality for pond aquaculture.
Resarch and development series. No.43.
International center for aquaculture and aquatic
environtments Alabama quaculture experient
station Auburn University.
Xuan, L.N., Long, D.N., Kiem, N.V., Thanh, P.M.,
Dung, T.T., Tam, B.M., and Liem, P.T., 1994.
Some biological characteristic and fish culture
techniques in the Mekong Delta, Published by
An Giang Environmental and Technical Science
Department – An Giang province and Can tho
University, Vietnam
Boyd, C. E., and Tucker, C. S., 1992. Water Quality
and Pond Soil Analyses for Aquaculture. Alabama
Agricultural Experiment Station, Auburn
University, Alabama, 183 pp
Clescerl, L. S., Greenberg, A. E., Eaton, A. D., 2005.
Standard Methods for Examination of Water &
Waste water 21st ed. American Public Health
Association
Watanabe, T., Kitajima, C., and Fujita, S., 1983.
Nutritional values of live organisms used in Japan
for mass production of fish:Areview.Aquaculture,
34: 115-143.
Fermin, A. C., and Bolivar, M. E. C., 1991. Larval
rearing of the Philippine freshwater catfish,
Clarias macrocephalus (Gunther) fed live
zooplankton and artificial diet : A preliminary
study. lsr. }. Aquaculture/Bamidgeh, 43 (3): 87-94.
Yang, Y., and Kwei Lin, C., 2001. Effects of biomass
of caged Nile tilapia (Oreochromis niloticus)
and aeration on the growth and yields of all Nile
tilapia in an integrated cage-cum-pond system.
Aquaculture, 195 (3): 253- 267.
Hung, L.T., Tuan, N.A., Cacot, P., Lazard, J., 2002.
Larval rearing of the Asian Catfish, Pangasius
bocourti (Siluroidei, Pangasiidae): alternative
feedsandweaningtime.Aquaculture;212:115–127
109
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2
EFFECTS OF AERATION TO ‘TRA’ CATFISH (Pangasianodon
hypophthalmus) LARVAE REARED IN PONDS IN THE MEKONG DELTA
Dinh Thi Thuy1*, Nguyen Thanh Nhan1, Doan Van Cuong1, Nguyen Diem Thu1
ABSTRACT
Effects of aeration to nursing of tra catfish larvae up to 21 days was investigated with two treatmens,
each consisted of 6 earthern ponds (3,500 – 3,700 m2 each). All experimented ponds are located
in Cai Lay district, Tien Giang province. Stocking density was 750 fish/m2. Two treatments
differed only in the presence of aeration, in which treatment 1 was provided with aeration while
treatment 2 was not. Aeration system consists of circular aeration disks, powered by electrical or
backup diesel blowers.The distance between aeration disks were manipulated to ensure maximum
efficiency. Biomass of Moina sp. for treatment 1 was significantly higher (p < 0.05) than that for
treatment 2, increased at day 3 and thereafter decreased at day 12. Fish length of treatment 1 was
significatnly higher (p < 0.05) than that of treatment 2. At stocking, fish length varied from 5.85
to 6.30 mm. After 21 days, fish length was 37.0 mm for treatment 1 and 27.7 mm for treatment 2,
and this difference was significant (p < 0.05). Water quality parameters such as water temperature,
pH, alkalinity, NH3-N , NO2-N, NO3–N, and COD in both treatments were within limits for fish
development. However, the dissolved oxygen in early morning of treatment 2 was lower than that
of treatment 1 and lower than the required limits. Dissolved oxygen values of treatment 2 ranged
from 2.95 to 4.80 mg/l (except for day 5, 6 and 16), and was significantly different (p < 0.05) from
those of treatment 1. The infection frequency and ratio of Trichodina sp. and A. hydrophila of
treatment 1 was significantly lower (p < 0.05) than those of treatment 2. Effects of the aeration was
also assessed via fish survival rate. Average survival rate of treatment 1 (37.17%) was significantly
higher (p < 0.05) than that of treatment 2 (22.82%). Finally, average FCR for both treatments
ranged from 0.36 to 0.39.
Keywords: rearing, aeration, ‘tra’catfish.
Người phản biện: TS. Trịnh Quốc Trọng
Ngày nhận bài: 18/11/2015
Ngày thông qua phản biện: 18/12/2015
Ngày duyệt đăng: 25/12/2015
1. Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic, Research Institute for Aquaculture No2
* Email: [email protected]
110
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 7 - THÁNG 01/2016
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả của việc sử dụng hệ thống thổi khí trong ương cá tra từ bột lên hương ở đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hieu_qua_cua_viec_su_dung_he_thong_thoi_khi_trong_uong_ca_tr.pdf

