Hiện trạng khai thác và phát triển nuôi cá măng sữa (Chanos chanos) ở vùng biển Đông Nam Việt Nam
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ MĂNG SỮA
(CHANOS CHANOS) Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM VIỆT NAM
Nguyễn Thị Mỹ Dung1, Nguyễn Phú Hòa2*, Nguyễn Văn Trai2
TÓM TẮT
Thông tin về nghề khai thác và nuôi cá Măng sữa ở Việt Nam hiện nay rất ít nên việc lập kế hoạch
quản lý nguồn lợi và phát triển nghề nuôi đối tượng này gặp nhiều hạn chế. Nghiên cứu này nhằm
đánh giá hiện trạng khai thác và nuôi cá Măng sữa vùng biển Đông Nam Việt Nam. Nghiên cứu
đã tiến hành khảo sát tại các tỉnh từ Bình Định đến Bà Rịa – Vũng Tàu, trong khoảng thời gian từ
tháng 01/2017 - 6/2018. Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn, khảo sát thực địa và thu thập số
liệu thứ cấp. Kết quả khảo sát cho thấy số hꢀ nuôi rất ít (41 hꢀ), với tổng diện tích ao nuôi khoảng
56 ha, tổng sản lượng ước tính là 208,44 tấn. Mật đꢀ thả giống từ 0,5 đến 1 con/m2, hình thức gồm
nuôi đơn, nuôi ghép với tôm Sú và cua Xanh. Tỉ lệ sống dao đꢀng trong khoảng từ 80 – 90%, năng
suất trung bình của hệ thống nuôi đơn là 8 tấn/ha/vụ sau 9 tháng nuôi, của hệ thống nuôi ghép là
300 kg/ha/vụ trong 6 tháng nuôi. Thức ăn dùng để nuôi cá Măng sữa rất đa dạng, có thể là thức ăn
tự nhiên như các loài tảo và mùn bã hữu cơ, thức ăn tự chế biến từ phụ phẩm thủy hải sản và bꢀt
cám, thức ăn công nghiệp từ sản phẩm dành cho cá Tra. Loài cá này được cho là dễ nuôi trong các
ao nuôi tôm, ruꢀng muối cũ, ao đất hoặc ao lót bạt, ở các điều kiện nước mặn, nước lợ và nước ngọt
khác nhau. Cá Măng sữa hiện sinh sản ở 3 khu vực chính là đầm Đề Ghi (Bình Định), vịnh Nha Phu
(Khánh Hòa) và vịnh Cà Ná (Ninh Thuận), người dân có kinh nghiệm trong khai thác và ương nuôi
cá giống. Vùng biển Đông Nam Việt Nam có lợi thế về nguồn lợi con giống, nhưng quy mô phát
triển nghề nuôi còn nhỏ lẻ thời gian qua. Vì vậy, cần phải có các giải pháp dài hạn trong phát triển
nghề nuôi cá Măng sữa, theo hướng mở rꢀng diện tích và ngày mꢀt chuyên nghiệp hơn.
Từ khóa: Cá Măng sữa, khai thác, sản lượng nuôi, Đông Nam Việt Nam.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mꢀt trong số ít loài có khả năng duy trì thu nhập
Cá Măng sữa (Chanos chanos) trong tự ổn định cho hꢀ nuôi quy mô trung bình và nhỏ
nhiên là loài rꢀng muối, ít bệnh, phân bố cả ở ở vịnh Kendary, Indonesia (Muhammad và ctv.,
đại dương và sâu trong vùng nước ngọt nꢀi địa, 2020).
nên trong kỹ thuật nuôi, cá dễ thích nghi với các
Phần lớn ao nuôi cá Măng sữa ở Philippines
điều kiện nuôi khác nhau. Cá hiện được nuôi phổ vận hành trên diện tích lớn từ 5 – 10 ha, năng
biến ở các quốc gia Philippines, Indonesia và suất trung bình đạt 800 kg/ha/3 vụ/năm. Mꢀt số
Đài Loan, là mꢀt trong những đối tượng có khả hệ thống có thiết kế cải tiến, cho phép nuôi theo
năng cung cấp nguồn thực phẩm chất lượng cho kiểu tích hợp (Module) thì có thể nuôi được tối
nhu cầu dinh dưỡng của con người (Bagarinao, đa 8 vụ/năm, sản lượng tăng thêm hơn 2.000 kg/
1994). Nghề nuôi tận dụng được diện tích ruꢀng ha (Roxas và ctv., 2016). Ở Đài Loan, cá được
muối bỏ hoang và có tính bền vững sinh thái ở nuôi theo hình thức gối đầu, sau mỗi giai đoạn
Tanzania (Requintina và ctv., 2006). Là sinh kế nuôi cá được chuyển sang ao có kích thước lớn
thay thế có tính bền vững đối với cꢀng đồng cư hơn. Cách nuôi này giúp tiết kiệm chi phí quản
dân ven biển Ấn Đꢀ (Jaikumar và ctv., 2013). lý và cho phép gối đầu từ 4 – 8 vụ mỗi năm, tăng
1 Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa –Vũng Tàu
2 Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh
* Email: [email protected]
58
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
năng suất thu hoạch là 2.000 – 4.000 kg/ha/năm Thông tin về hiện trạng nghề nuôi và (3) Thông
(Yang và Han, 2015). Ở Indonesia, cá Măng tin về các khó khăn, thách thức nghề nuôi cá
sữa được nuôi 100% trong điều kiện nước lợ, Măng sữa đang phải đối mặt. Để thu thập thông
chiếm vị trí thứ 2 với 263.139 tấn tương đương tin chính xác và đầy đủ, bảng câu hỏi được thiết
tỉ lệ 15,6%, chỉ ngay sau cá Chép với 264.349 kế kiểu hỗn hợp, trong đó nꢀi dung (1) và (2)
tấn, tương đương tỉ lệ 15,7% trong 10 loài nuôi gồm những câu hỏi đóng, có sẵn đáp án mang
ao đất phổ biến nhất (Sari, 2010). Nghề nuôi cá tính chất định lượng. Vùng khai thác chia theo
Măng sữa phát triển rải rác ở Việt Nam trong 6 tỉnh thành, vùng sinh sống chia theo 5 vùng
thời gian gần đây, nhận được phản hồi tích cực sinh thái. Mức đꢀ hiện diện chia theo 5 mức tần
từ các hꢀ nuôi và nhà quản lý về khả năng sinh suất theo thang phân loại của Srivastava và ctv.,
trưởng tốt trên ao nuôi tôm cũ, nuôi đơn hay nuôi (2016). Thời điểm khai thác cá giống trong ngày
ghép đều thuận lợi, tiết kiệm chi phí đầu vào do chia theo 5 khoảng thời gian. Thời điểm khai
tính ăn đa dạng, giúp cải thiện chất lượng nước thác cá giống trong năm chia theo 12 tháng.
nuôi do ăn tảo và mùn bã hữu cơ. Khi nghề nuôi Người được khảo sát có thể không trả lời nếu
cá Măng sữa phát triển, xuất khẩu sản phẩm không có thông tin, hoặc chọn cùng lúc nhiều
cũng sẽ là hướng đi giàu tiềm năng, vì hiện có đáp án khác nhau, kết quả thống kê trên tổng
24 chủng loại sản phẩm chế biến từ cá Măng lượt lựa chọn. Nꢀi dung (3) gồm những câu hỏi
sữa phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, được mở, để thảo luận về các vấn đề (1) Nguồn cung
đánh giá an toàn và chất lượng theo tiêu chuẩn con giống, (2) Quy trình kỹ thuật nuôi, (3) Ô
Thực hành sản xuất tốt GMP tại Philippines nhiễm môi trường, (4) Thiên tai, bão lũ, (5) Khả
(Espejo-Hermes, 2004). Vùng ven biển Đông năng tiếp cận thị trường và (6) Thu hẹp diện tích
Nam Việt Nam, bắt đầu từ Bình Định đến Bà nuôi. Người khảo sát đưa ra quan điểm cá nhân
Rịa – Vũng Tàu có nhiều lợi thế tự nhiên đối của mình, ghi nhận thông tin bằng phương pháp
với nghề nuôi cá Măng sữa, đặc biệt là nguồn ghi âm và chép tay.
lợi cá giống tự nhiên, tuy nhiên rất thiếu cơ sở
dữ liệu làm nền tảng cho việc đề xuất hướng
2.2. Xây dựng tập mẫu khảo sát
Chọn đối tượng khảo sát phải đạt tiêu chuẩn
phát triển bền vững. Vì vậy, cần phải tiến hành là người am hiểu về đối tượng, nghề nuôi cá
điều tra thông tin khai thác cá giống, đánh giá Măng sữa. Gồm (1) Hꢀ nuôi, (2) Người kinh
hiện trạng nghề nuôi, bao gồm cả những vấn đề doanh, (3) Người khai thác, (4) Người quản lý,
về thị trường tiêu thụ, những khó khăn và thách hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật và (5) Người nghiên cứu,
thức hiện tại, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, giảng dạy từ các tổ chức chuyên ngành thủy sản.
nhằm phát triển vùng nuôi cá Măng sữa chuyên Do nghề nuôi cá Măng sữa hiện chưa phát triển
nghiệp hơn, phục vụ nhu cầu tiêu thụ nꢀi địa và mạnh, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu
chế biến xuất khẩu lâu dài.
phân tầng. Từ danh sách các cá nhân tiếp cận
ban đầu, lập danh sách đối tượng khảo sát thông
qua sự giới thiệu để mở rꢀng cỡ mẫu điều tra.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát
Nghiên cứu thực hiện trong 18 tháng, nꢀi Tổng cꢀng 78 người, trong đó có 41 hꢀ nuôi cá
dung điều tra phỏng vấn và khảo sát thực địa Măng sữa, 16 ngư dân, 12 cán bꢀ quản lý thuꢀc
(01/2017 – 12/2017), nꢀi dung nghiên cứu thứ các Trung tâm, Phòng và Sở Nông Nghiệp, và
cấp và xử lý số liệu (01/2018 – 06/2018). Bảng 9 nhà nghiên cứu thuꢀc các Viện và Trường. Về
câu hỏi gồm 3 phần chính, (1) Thông tin về đặc điểm phân bố, kết quả thể hiện Bình Định
vùng khai thác cá thương phẩm và cá giống, (2) có 17 người (21,8%), Phú Yên có 16 người
59
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
(20,5%), Khánh Hòa có 14 người (17,9%), Ninh thác cá Măng sữa, có tổng cꢀng 78 người trả lời.
Thuận có 16 người (20,5%), Bình Thuận có 7 Kết quả cho thấy cá Măng sữa được khai thác
người (8,9%) và Vũng Tàu có 8 người (10,2%). nhiều nhất ở Bình Định và Phú Yên, chiếm tỉ lệ
2.3. Đối chiếu thông tin khảo sát
lần lượt là 92,3% và 91% số người trả lời. Tỉ lệ
Để đối chiếu và kiểm chứng tính xác thực này giảm dần về các tỉnh nằm ở phía Nam khu
của thông tin đã thu thập thông qua điều tra vực khảo sát, với Khánh Hòa và Ninh Thuận
phỏng vấn, tiến hành khảo sát thực địa tại cảng lần lượt là 82% và 67,9%. Trong khi vùng Bình
cá, chợ địa phương và hꢀ nuôi cá Măng sữa. Sử Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu tỉ lệ này rất thấp,
dụng máy thủy trắc đa chỉ tiêu, máy quay phim, là 11,5% và 2,5%. Kết quả này phù hợp với đặc
chụp ảnh; đồng thời thu mẫu cá để cân, đo các điểm phân bố tự nhiên của cá Măng sữa, phụ
thông số cần thiết là trọng lượng và chiều dài. thuꢀc vào đꢀ trong của nước biển. Do bờ biển
Việc điều tra thực địa thực hiện 2 đợt, đợt 1 vào Nam Trung bꢀ có nguồn gốc hình thành từ quá
tháng 02/2017 và đợt 2 vào tháng 10/2017. Mỗi trình mài mòn mũi đá nhô, vật liệu gốc Canxi
đợt kéo dài 20 ngày, và trên tất cả 6 tỉnh khảo giải phóng tạo đáy cát pha sỏi nhỏ, nước biển
sát. Tổng diện tích và sản lượng nuôi được ước có đꢀ trong cao. Trong khi bờ biển Đông Nam
tính từ phỏng vấn hꢀ nuôi, cán bꢀ quản lý và bꢀ có nguồn gốc hình thành do sóng, kết hợp
khảo sát thực tế. Số liệu được xử lý bằng phần rìa châu thổ của hệ thống sông ngòi mang phù
mềm MS. Excell 2017, sử dụng phương pháp sa, nên đáy và nước biển có hàm lượng bùn cao
thống kê mô tả thông qua tỉ lệ phần trăm.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
(Nguyễn Thanh Sơn và ctv., 2010).
Kích cỡ cá Măng sữa bắt gặp trong tự nhiên
khá đa dạng, có 75 ý kiến trả lời câu hỏi này, kết
3.1. Hiện trạng khai thác cá Măng sữa
Với nꢀi dung khảo sát về tình hình khai quả thể hiện như trong Bảng 1.
Bảng 1. Cỡ cá Măng sữa lớn nhất và nhỏ nhất bắt gặp tại vùng biển Đông Nam Việt Nam (N = 75).
Cỡ cá
Số ý kiến cung cấp thông tin
28 (37,3%)
1,5 – 3 g
70 – 100 g
0,8 – 1 kg
2 – 2,5 kg
7 - 8 kg
Nhỏ nhất bắt gặp
Lớn nhất bắt gặp
47 (62,7%)
52 (69,3%)
12 (16,0%)
1 (1,3%)
10 - 12 kg
> 15 kg
1 (1,3%)
1 (1,.3%)
Từ Bảng 1 có thể thấy, kích cỡ bắt gặp vịnh Quy Nhơn đẻ trứng.
trong tự nhiên của cá Măng sữa phổ biến ở giai
Với câu hỏi khảo sát mức đꢀ dễ bắt gặp cá
đoạn từ cá con đến cá hương. Theo thông tin Măng sữa trong tự nhiên, ước tính theo tỉ lệ %
thu thập từ thị trường, thông qua trao đổi với trên tổng số lượng cá hiện diện, chia thành 5
người khai thác, cỡ cá này có giá trị thương mức theo thang phân loại của Srivastava và ctv.,
phẩm thấp, do khó bóc tách xương dăm trong (2016). Chỉ có 31 trên 78 người phỏng vấn trả
quá trình sử dụng. Cá kích cỡ lớn rất ít bắt gặp, lời được câu hỏi này, trong đó 41,9% ý kiến cho
chỉ thấy trong ruꢀng sản xuất muối lâu năm ở rằng tần suất bắt gặp nằm ở mức 21 – 40% trên
Bình Thuận và thời điểm được cho là cá vào tổng khối lượng cá hiện diện, 39,7% ở mức 0
60
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
- 20%, 12,8% ở mức 41 – 60%, 6,4% ở mức huyện Phù Mỹ, trong đó tần suất xuất hiện
61 – 80% và không ai chọn mức cao nhất là nhiều nhất là tại chợ Mỹ Thành (hay còn gọi là
từ 81 – 100%. Kết quả trên thể hiện mức đꢀ chợ cá Chua) với khoảng 60% các loại cá hiện
bắt gặp của cá Măng sữa nằm ở mức thấp. Kết diện. Kích cỡ cá nhỏ nhất là 15 cm, lớn nhất
quả khảo sát thực địa cảng cá cho thấy, mức là 30 cm, cân nặng từ 0,8 - 1 kg. Theo thương
đꢀ hiện diện của cá Măng sữa trong khai thác lái, đây là cá nuôi không phải nguồn gốc đánh
tự nhiên rất khan hiếm. Hoàn toàn không hiện bắt tự nhiên, giá bán ở mức phổ biến từ 90.000
diện trong các thùng, khay nhựa chuyển cá từ - 120.000 đ/kg. Đối với khu vực Đầm Nại, cá
tàu thuyền lên bờ, cũng như trong các mẻ cá Măng sữa được người dân gọi là cá Măng miệng
tạp chưa phân loại, tại tất cả các cảng cá (1) nhỏ, thường ăn thực vật và giúp dọn sạch ao.
Đề Ghi (Phù Cát), (2) Hàm Tử (Quy Nhơn), Ghi nhận từ khảo sát thực địa cho thấy, cá Măng
(3) Dân Phước (Sông Cầu), (4) Đông Tác (Tuy sữa với kích cỡ 200 - 300 g xuất hiện ở 3 trên
Hòa), (5) Hòn Rớ (Nha Trang), (6) Vĩnh Lương 6 chợ khảo sát với tần suất rất thấp, dưới 20%
(Nha Trang), (7) Đá Bạc (Cam Ranh), (8) Đông các loại cá hiện diện. Cá xuất hiện với số lượng
Hải (Phan Rang), (9) Phan Thiết (Phan Thiết), không nhiều, kích thước nhỏ nhưng khá đồng
(10) Lagi (Hàm Tân), (11) Phước Tỉnh (Long đều, không phải nguồn gốc khai thác tự nhiên,
Điền), và (12) Cát Lở (Vũng Tàu) ở các thời mà từ ao nuôi tôm địa phương. Tại chợ Cà Ná,
điểm khảo sát.
cá bắt gặp với kích thước khá lớn, trung bình đạt
Kết quả khảo sát các chợ địa phương cho 292 g nhưng số lượng ước tính chỉ khoảng 5%
thấy, cá chỉ xuất hiện ở 3 khu vực xung quanh tổng khối lượng các loài cá bắt gặp.
đầm Đề Ghi (Bình Định), đầm Nại và vịnh Cà
Ná (Ninh Thuận); cụ thể: cá xuất hiện ở 5 trong
3.2. Khai thác cá Măng sữa giống
Với câu hỏi về thời điểm cá Măng sữa
8 chợ khảo sát ở Bình Định, đó là chợ Phổ An, giống khai thác trong ngày, có 49/78 người trả
chợ Phù Cát thuꢀc huyện Phù Cát, chợ Tre, chợ lời được câu hỏi này, tổng tỉ lệ % lượt chọn đáp
Đông Phù Mỹ và chợ cá sáng Mỹ Thành thuꢀc án thể hiện như trong Hình 1.
20 - 24 h
15 - 19 h
10 - 14 h
5 - 9 h
81,6%
32,7%
6,1%
87,8%
100,0%
1 - 4 h
0.0% 20.0% 40.0% 60.0% 80.0% 100.0% 120.0%
% Số hộ xác nhận thời điểm khai thác
Hình 1. Thời điểm khai thác cá Măng sữa giống trong ngày ở vùng biển Đông Nam Việt Nam (N = 49).
Như vậy, cá Măng sữa giống có thể khai giờ sáng, tiếp theo là 5 – 9 giờ sáng (87,8%), sau
thác mọi thời điểm trong ngày, nhưng phổ biến đó là 20 – 24 giờ (81,6%). Phù hợp với thời gian
nhất là khoảng thời gian nửa đêm về sáng. Tất cả khai thác cá Măng sữa giống là “suốt đêm” tại
người được phỏng vấn đều cho rằng, thời điểm Phillipinnes (Villaluz và ctv., 1982).
khai thác chính rơi vào khung thời gian từ 1 – 4
Thông tin mùa vụ khai thác cá giống trong
61
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
năm thể hiện như trong Hình 2. Các tháng 4, 5 trung Phillippines (Villaluz và ctv., 1982) và
và 6 được cho là thời điểm khai thác cá giống Sri Lanka (Ramanathan, 1969). Trong khi ở
nhiều nhất, với tổng lượt chọn là 46/49, đạt tỉ Indonesia (Norr-Hamid và ctv., 1977), Đài Loan
lệ 93,8%, tiếp theo là thời điểm tháng 9 và 10, (Lin, 1969) và miền Nam Phillippines (Villaluz
chiếm tỉ lệ 65,2%, và 0,1% cho rằng cá khai và ctv., 1982), chỉ 1 vụ vào thời điểm từ tháng 4
thác quanh năm. Kết quả này tương đồng với đến tháng 6 hàng năm.
đặc điểm 2 mùa vụ khai thác cá giống ở miền
93,8%
65,2%
0,1%
0,1%
0,1%
Hình 2. Mùa vụ khai thác cá Măng sữa giống trong năm ở vùng biển
Đông Nam Việt Nam (N = 49).
Về vùng khai thác cá giống, thông tin khảo khoảng đầu tháng 5. Có thông tin cho rằng
sát cho thấy, cá giống tự nhiên thường xuất cá thỉnh thoảng đẻ trứng ở Đức Phổ, Quảng
hiện sớm nhất ở Cà Ná (Ninh Thuận), ghi nhận Ngãi vào đầu tháng 6. Như vậy, mặc dù đường
được khoảng đầu tháng 4 dương lịch. Trong bờ biển Đông nam Việt Nam rất dài, có nhiều
khi ở Nha Phu (Khánh Hòa) là giữa tháng 4, vũng vịnh ven bờ, nhưng vị trí sinh sản của cá
ở Đề Ghi (Bình Định) xuất hiện muꢀn nhất Măng sữa rất hạn chế.
c
a
b
Hình 3. Vị trí khai thác cá Măng sữa giống tại vùng biển Đông Nam Việt Nam
(a) đầm Đề Ghi, (b) vịnh Nha Phu, (c) đầm Cà Ná.
62
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hình 3 cho thấy đặc điểm chung về vị trí mùa mưa lũ tới, nước lũ sẽ kéo cá con rời khỏi
sinh sản của cá Măng sữa là đầm, vịnh bán hở vùng này, ra sinh sống ở vùng nước sâu hơn.
kín gió. Cá không sinh sản ở thủy vực hở như
Đề Ghi (Bình Định) luôn được xem là vùng
vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang, vịnh Phan có sản lượng cá Măng sữa giống tự nhiên cao
Rang, hoặc đầm phá kín như đầm Nại (Ninh nhất cả nước, có thể đạt 7.720 ngàn con/năm
Thuận) và đầm Thủy Triều (Khánh Hòa). Theo trong giai đoạn 2009 - 2010 (Phan Đức Ngại và
thông tin từ người khai thác cá giống, cá không ctv., 2015). Tuy nhiên, lượng cá giống tự nhiên
đẻ ven biển mà luôn đi khá sâu vào vùng cửa tại đây đang giảm mạnh, chẳng hạn năm 2015
sông, khoảng cách khoảng 500 m đến 1 km kể cá hoàn toàn không xuất hiện, người dân phải
từ bờ biển rồi mới sinh sản. Tương đồng mꢀt mua cá giống từ Cà Ná (Ninh Thuận), dù vậy
phần với nghiên cứu của Johannes (1978), cho số lượng cũng không đáp ứng đủ nhu cầu thả
rằng cá luôn đẻ trứng ở vị trí thuận tiện, để nuôi. Ghi nhận vào thời điểm tháng 05/2017, cá
con non có thể di chuyển sâu vào vùng nước giống xuất hiện khá nhiều ở xã Cát Khánh và
nꢀi địa. Thực nghiệm thu mẫu trứng tại miền Cát Minh, huyện Phù Cát, mꢀt người khai thác
Trung Phillippines cho thấy, càng đi ra hướng có thể bắt được từ 100 – 500 con/ngày, bán với
bờ biển, số lượng trứng trên mỗi gàu thu càng giá 500 – 800 đ/con. Tuy nhiên cá chỉ xuất hiện
giảm. Cụ thể, giảm còn 1/3 số lượng trên nhiều trong khoảng thời gian rất ngắn, từ cuối
khoảng cách 500 m (Kumagai, 1990). Như tháng 4 đến giữa tháng 6, và đến cuối tháng 6
vậy khu vực cá chọn để sinh sản luôn có nhiều đã hết hẳn.
cửa sông, tuy nhiên cá không đẻ ở cửa sông
Vào mùa khai thác giống, người dân dựa
trực tiếp thông ra biển mà chỉ đẻ ở vùng cửa vào lịch thủy triều để theo dõi, họ cho rằng cá
sông thông ra vịnh. Nguyên nhân liên quan đến thường đẻ vào lúc triều đạt đỉnh cao nhất khi
đặc điểm sinh sản của cá Măng sữa. Cá cái rất trăng tròn. Khi triều ròng ở mức thấp nhất, vùng
nhiều trứng, vào mùa sinh sản buồng trứng phát nước lợ ven bờ sẽ là địa điểm trứng nở. Theo
triển chiếm 10% - 25% trọng lượng thân, cá đẻ kinh nghiệm, người dân sẽ đi vớt cá giống vào
trung bình 300.000 trứng trên 1 kg thể trọng thời điểm 3 ngày sau khi nước ròng hoặc có
(Liao, 1971). Tuy nhiên thành thục sinh dục mưa lũ. Trước đây, thời gian vớt cá giống là từ
không đồng nhất trong quần đàn, thường mỗi 1 đến 5 giờ sáng, nhưng hiện nay do sự cạnh
ngày chỉ có 1 con cái đẻ trứng, thỉnh thoảng tranh trong khai thác, nên thời gian khai thác đã
mới có 2 – 3 cùng đẻ 1 ngày (Lin, 1985). Cá diễn ra sớm hơn, có thể bắt đầu từ 7 giờ tối hôm
đực tuy trọng lượng cơ thể lớn, nhưng lại có trước. Cá giống thường ở vùng nước ven bờ có
khá ít tinh trùng, khả năng bám dính của tinh đꢀ sâu 40 cm, dụng cụ sử dụng phổ biến nhất là
trùng không cao (Bagarinao, 1994). Đây là vợt bằng vải mùng 2 lớp, đường kính 30 – 40
mꢀt trong những nguyên nhân tự nhiên, khiến cm dùng để vớt giống. Cá sau khi vớt được thả
cá thường chọn bãi đẻ ở vị trí kín gió, xa lực vào thau màu trắng để dễ quan sát, cá Măng sữa
sóng để hạn chế tối đa sự xáo trꢀn giữa các giống có thân trong suốt, nhỏ bằng que tăm, có
lớp nước, ảnh hưởng đến khả năng thụ tinh của chấm mắt đen được xem là tốt để nuôi. Những
tinh trùng. Đúng với kết quả nghiên cứu của năm 1990, nguồn cá giống tự nhiên còn phong
Kumagai (1990), cho rằng cá thường đẻ ở khu phú, người nuôi có thể tự khai thác đem về ương
vực có tốc đꢀ dòng chảy khoảng 0,3 – 0,4 m/s, nuôi. Thời gian gần đây, nguồn giống dần ít đi,
trứng trôi nổi theo hướng Nam – Đông Nam. chỉ những người khai thác chuyên nghiệp mới
Cá con sinh sống gần bờ từ 2 đến 3 tháng, khi đánh bắt được.
63
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Cá giống khi mới vớt có kích thước khoảng con giống 1 bao, chứa nước biển 1/3 thể tích
1 – 1,5 cm, và được ương trong vèo hoặc bể bao và sục ô xy, cá sống tốt trong khoảng 2 – 3
xi măng ở môi trường nước biển có sục khí. ngày ở điều kiện này. Giá cá giống loại 3 cm
Thức ăn giai đoạn này là cá tạp xay nhỏ, cho ăn xuất bán từ Bình Định là 4.000 đ/con, nhưng giá
ngày 2 lần. Sau khoảng 25 ngày, cá đạt 3 cm, bán cho hꢀ nuôi ở Cà Mau là 7.000 đ/con. Đối
là kích cỡ để bán ra thị trường. Những người với mô hình nuôi ghép, cá giống cần đạt kích
nuôi có kinh nghiệm cho rằng, đây là cỡ giống cỡ lớn hơn, khoảng từ 10 g/con trở lên. Khi đó
xuất bán tốt nhất, nếu để quá lớn cá sẽ rất dễ người nuôi phải tự ương đến cỡ mong muốn,
chết trong quá trình vận chuyển. Ước tính, tỉ lệ hoặc đặt hàng riêng với cơ sở sản xuất giống,
sống trong giai đoạn ương giống ở Bình Định thường phải ương thêm khoảng 30 ngày nữa để
đạt 85 – 90%. Sau khi ương, cá được đóng trong đạt kích cỡ này.
bao 2 lớp kích thước 60 x 100 cm, mật đꢀ 250
Hình 4. Bản đồ vùng khai thác cá Măng sữa ở vùng biển Đông Nam Việt Nam.
Tổng hợp số liệu khảo sát và số liệu thứ Trang (Khánh Hòa). Vùng khai thác cá Măng
cấp, thông tin về vùng khai thác cá Măng sữa sữa cỡ thương phẩm (ký hiệu chấm tròn không
ở ven biển Đông Nam Việt Nam thể hiện như gạch chân), được cho là xuất hiện ở cả 6 tỉnh
trong Hình 4. Cho thấy ở Việt Nam hiện có 3 với mật đꢀ giảm dần về phía nam. Cá Măng sữa
vùng khai thác cá Măng sữa giống (ký hiệu có xuất hiện tại vị trí vịnh Đầm Tre, Côn Đảo
chấm tròn có gạch chân), tăng thêm 1 vùng là thuꢀc vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu, với mật
đầm Đề Ghi (Bình Định), so với với tài liệu của đꢀ rất thấp (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông
Kuronuma và Yamashita (1962), cho rằng cá thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 2012).
Măng sữa chỉ đẻ ở Cà Ná (Ninh Thuận) và Nha
64
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
3.3. Hiện trạng nghề nuôi cá Măng sữa
bệnh trong quá trình nuôi. Cá sinh trưởng tốt
trong ao nuôi thủy sản cũ. Trong nghề nuôi, cá
được cho ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, thể
hiện như trong Hình 5.
Tính đến cuối năm 2017, theo kết quả khảo
sát này thì chỉ có 41 hꢀ nuôi cá Măng sữa. Các
thông tin phỏng vấn cho thấy đây là đối tượng
nuôi rất khỏe mạnh, không quan sát thấy dịch
Thức ăn kết hợp
70,7%
Thức ăn công nghiệp
Thức ăn chế biến
Thức ăn tự nhiên
9,8%
12,2%
7,3%
20.0%
0.0%
40.0%
60.0%
80.0%
% số hộ xác nhận loại thức ăn sử dụng
Hình 5. Loại thức ăn sử dụng cho cá Măng sữa (N = 41).
Đặc điểm chính của 4 loại thức ăn gồm: (i) cứ trên mật đꢀ thả và loại thức ăn sử dụng, kết
Với những ao nuôi sử dụng thức ăn tự nhiên, quả khảo sát cho thấy hệ thống nuôi ở mật đꢀ
cá ăn nguồn tảo và mùn bã hữu cơ trong ao, và thả 1 con/m2, cho ăn thức ăn kết hợp với thức ăn
thỉnh thoảng hꢀ nuôi sử dụng phân chuồng để tự nhiên là phổ biến nhất.
gây màu tảo, tuy nhiên không có công thức cụ
Có rất ít số liệu về nghề nuôi cá Măng sữa
thể; (ii) Thức ăn chế biến từ phụ phế phẩm thủy trên vùng biển Đông Nam Việt Nam, được công
hải sản xay nhỏ, phối trꢀn với bꢀt cám gạo theo bố trong các báo cáo chính thức ở các Sở, Ban,
tỉ lệ 1:1; (iii) Thức ăn công nghiệp là Master Ngành thuꢀc vùng khảo sát. Từ kết quả phỏng
8000 - 8005 dành cho cá Tra, cá Ba Sa, đꢀ đạm vấn trực tiếp hꢀ nuôi và cán bꢀ quản lý, ước tính
40%; và (iv) Thức ăn kết hợp rất khác nhau giữa diện tích và sản lượng nuôi của từng vùng thể
các hꢀ nuôi, tỉ lệ kết hợp không đồng đều. Căn hiện như trong Bảng 2.
Bảng 2. Diện tích nuôi và sản lượng cá Măng sữa tại vùng biển Đông Nam Việt Nam.
Diện tích (ha)
Ghép
Sản lượng
(tấn/năm)*
Tỉnh
Huyện
Đơn
13,5
9,0
Phù Mỹ
Phù Cát
7,0
10
103,7
82,0
2,4
Bình Định
Khánh Hòa
Ninh Hòa
Nha Trang
Ninh Hải
4,0
3,5
4,9
2,1
2,94
Ninh Thuận
Ninh Phước
1,6
2,5
10,8
Tổng
24,1
31,9
208,44
* Ước tính theo năng suất trung bình 8 tấn/ha nuôi đơn trong 9 tháng (x 1 vụ/năm), 300 kg/ha nuôi ghꢀp trong
6 tháng (x 2 vụ/năm).
65
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Từ Bảng 2 có thể thấy, diện tích nuôi cá cá tạp hoặc các loại giáp xác như cua, ghẹ và
Măng sữa toàn vùng là khoảng 56 ha, trên 41 nhuyễn thể hai mảnh vỏ như vẹm xanh, ốc, sò.
hꢀ nuôi tập trung chủ yếu ở 3 tỉnh Bình Định, Ước tính, năng suất bình quân đạt 1.200 - 1.300
Khánh Hòa và Ninh Thuận đến thời điểm tháng kg/ha/vụ nuôi 6 tháng, trong đó bao gồm 700 -
12/2017. Cho thấy mức đꢀ hiện diện của nghề 800 kg tôm, 300 kg cá và 200 kg cua. Kết quả
nuôi cá Măng sữa trên toàn vùng biển Đông này hoàn toàn tương đương so với vùng nuôi
Nam Việt Nam là rất thấp. Nếu so sánh với diện Phillippines, ở mật đꢀ 20.000 – 50.000 tôm/
tích quy hoạch cho nuôi trồng thủy sản mặn lợ ha, 1.000 – 2.000 cá/ha, và 500 – 800 cua/ha.
là 20.649 ha, tổng hợp từ các Quyết định Quy Với vụ nuôi 6 tháng, năng suất tôm đạt từ 250 –
hoạch nghề nuôi thủy sản của các tỉnh khảo 1.300 kg/ha, cá đạt 250 – 600 kg/ha và cua đạt
sát, thì tỉ lệ diện tích nuôi cá Măng sữa hiện chỉ 200 – 350 kg/ha (Allan và Fielder, 2004).
chiếm 0,28%.
3.4. Một số khó khăn, thách thức trong
Đối với hình thức nuôi đơn, thời gian nuôi phát triển nghề nuôi cá Măng sữa tại vùng
khoảng 6 – 8 tháng, trong đó những tháng đầu biển Đông Nam Việt Nam
mới thả (vào thời điểm tháng 5 đến tháng 6) chỉ
Có 75 người tham gia thảo luận về các khó
sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên có sẵn trong khăn, thách thức trong quá trình phát triển nghề
ao, và khoảng 3 tháng cuối trước khi thu hoạch nuôi cá Măng sữa ở vùng biển Đông Nam Việt
mới cho cá ăn thêm thức ăn chế biến hoặc thức Nam, thể hiện như trong Hình 6.
ăn công nghiệp. Trọng lượng đạt 700 – 800 g/
Các ý kiến khảo sát cho rằng con giống cá
con, sản lượng khoảng 6 – 7 tấn/ha. Với những Măng sữa ở vùng biển Đông Nam Việt Nam
hꢀ nuôi đơn chuyên nghiệp tại Đề Ghi (Bình đang ngày càng cạn kiệt, sản lượng không ổn
Định), cá được cho ăn 2 lần, mỗi ngày tiêu tốn định, năm có năm không nên hꢀ nuôi không
khoảng 4 kg thức ăn cho ao nuôi 2.000 m2 trong muốn đầu tư dài hạn để phát triển nghề nuôi
tháng đầu, 6 kg cho tháng thứ 2, tăng dần đến này. Về khả năng phát triển thị trường, đa số các
40 kg/ngày vào thời điểm thu hoạch là tháng ý kiến đều nhận định, thịt cá Măng sữa tuy ngon
thứ 8 sau khi thả nuôi, trọng lượng cá đạt trung nhưng bị lẫn xương, lại là loài nuôi tương đối
bình 900 – 1000 g, tỉ lệ sống đạt 80 – 90%, sản lạ, nên không dễ phát triển thị trường ngoài khu
lượng đạt 8 – 9 tấn/ha. Kết quả này gần tương vực địa phương xung quanh vùng nuôi truyền
đương kết quả nuôi đơn tại Đài Loan năm 2015, thống. Hꢀ nuôi hiện gặp nhiều khó khăn liên
là 3,5 tấn/ha/vụ nuôi 3 - 4 tháng. Tuy nhiên do quan đến quy trình, kỹ thuật nuôi cá Măng sữa.
hình thức nuôi gối đầu, nên tại Đài Loan mỗi Hình thức nuôi hiện mang tính tự phát, công
năm có thể thu hoạch tối đa 8 vụ, giúp năng suất thức nuôi cải biên dựa trên kinh nghiệm, thiếu
thu hoạch thực tế cao hơn (Yang và Han, 2015). quy trình chuẩn. Do đối tượng nuôi chưa được
Ở 12 hꢀ nuôi ghép theo mô hình cá Măng cán bꢀ khuyến nông chú trọng, thiếu các hướng
sữa với tôm Sú, cá Măng sữa với tôm Sú và cua dẫn kỹ thuật từ cấp cơ sở, nên khi có vấn đề phát
Xanh, tôm giống có cỡ 4 – 5 cm/con, được thả sinh trong quá trình nuôi, hꢀ nuôi không biết
ở mật đꢀ 5 - 7 con/m2, sau 1 tháng thì tiến hành tham khảo và điều chỉnh từ đâu.
thả cá Măng sữa và cua cùng lúc. Cá thả ghép
Ô nhiễm môi trường được cho là thách
có cỡ từ 10 - 20 g/con, thả với mật đꢀ 0,1 con/ thức lớn nhất, đe dọa trực tiếp đến nghề nuôi
m2. Cua thả ghép ở cỡ từ 1,5 – 2 cm/con, thả cá Măng sữa, trong đó nhắc đến nguồn chất thải
ở mật đꢀ 0,2 con/m2. Sử dụng kết hợp thức ăn phát sinh từ các nghề nuôi khác và nguồn rác
tự nhiên, thức ăn chế biến và thức ăn tươi từ thải do hoạt đꢀng sản xuất của con người. Diễn
66
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Thu hẹp diện tích nuôi
36,0%
Ô nhiễm môi trường
Thiên tai bão lũ
94,6%
74,6%
78,6%
86,6%
88,0%
Quy trình kỹ thuật nuôi
Khả năng phát triển thị
trường
Nguồn cung con giống
0.0%
20.0% 40.0% 60.0% 80.0% 100.0%
% người khảo sát trao đổi về khó khăn, thách thức
Hình 6. Khó khăn, thách thức trong phát triển nghề nuôi cá Măng sữa (N = 75).
tiến thiên tai bão lũ trực tiếp làm suy giảm sản Nghề nuôi cá Măng sữa hiện phải đối mặt
lượng con giống tự nhiên, thất thoát cá nuôi, hư với không ít khó khăn, thách thức. Để mở rꢀng
hại cơ sở vật chất ... từ đó làm suy giảm hiệu quả và phát triển tốt nghề nuôi trong thời gian sắp
kinh tế của nghề nuôi nghề nuôi cá Măng sữa ở tới, cần theo hướng tận dụng tối đa diện tích
vùng biển Đông Nam Việt Nam. Vấn đề thu hẹp nuôi, ví dụ ao nuôi tôm cũ, ruꢀng muối cũ bỏ
diện tích nuôi nhận được ít ý kiến trao đổi nhất. không, nuôi ghép tầng nước. Đa dạng hóa hình
Nguyên nhân được cho là tình trạng phát triển thức nuôi cá Măng sữa, ngoài nuôi lồng/bè trên
quá nóng trong lĩnh vực xây dựng, việc quy biển, nuôi trong đầm, hoặc đăng chắn ở vũng
hoạch phát triển ồ ạt các khu dân cư, khu nghỉ vịnh nước mặn ven bờ, nên phát triển nghề nuôi
dưỡng ven biển ngoài làm mất đi môi trường trên ao đất, bể xi măng, v.v ... sâu trong nꢀi địa.
sinh sống, đẻ trứng của cá Măng sữa, còn có thể Nhằm hạn chế tác đꢀng bất lợi của thiên tai, đặc
xóa trắng vùng nuôi.
biệt là bão, lũ ở khu vực ven biển.
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Để nâng cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật
Kết quả khảo sát cho thấy, vùng biển Đông nuôi, cần chuẩn hóa quy trình, kỹ thuật khai
Nam Việt Nam hiện có 3 vị trí sinh sản của cá thác, ương nuôi cá giống và nuôi cá thương
Măng sữa là đầm Đề Ghi (Bình Định), đầm Nha phẩm. Do biến đꢀng đꢀ mặn và thức ăn là các
Phu (Khánh Hòa) và vịnh Cà Ná (Ninh Thuận). yếu tố giới hạn tăng trưởng và trao đổi chất, nên
Mỗi năm có 2 mùa vụ khai thác cá Măng sữa cần có các nghiên cứu nhằm chỉ ra điều kiện
giống (mùa vụ chính từ tháng 04 đến tháng 06, đꢀ mặn và thức ăn tối thích, giúp tăng hiệu quả
mùa vụ phụ từ tháng 09 đến tháng 10). Người nghề nuôi.
dân có kinh nghiệm trong khai thác và ương
Nghiên cứu ứng dụng sinh sản nhân tạo
nuôi cá giống. Cá hiện được nuôi đơn và nuôi trong sản xuất giống, đảm bảo vấn đề truy xuất
ghép dưới nhiều hình thức, tuy nhiên quy mô nguồn gốc, tạo con giống chủ đꢀng và chất
phát triển rất nhỏ, chỉ 41 hꢀ nuôi trên tổng diện lượng trong sản xuất dài hạn, giảm thiểu tác
tích 56 ha, sản lượng 208.44 tấn/năm là hoàn đꢀng xói mòn gen, suy thoái nguồn lợi do hoạt
toàn chưa tương xứng với tiềm năng.
đꢀng khai thác giống tự nhiên.
67
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Lin, L.T., 1985. My experience in artificial
TÀI LIỆU THAM KHẢO
propagation of milkfish - studies on natural
spawning of pond-reared broodstock, 185-
203. In: Lee, C.S., and Liao I.C. (eds.), 1985.
Reproduction and Culture of Milkfish. Oceanic
Institute and Tungkang Marine Laboratory, 226.
Lin, H.S., 1969. Some aspects of milkfish ecology.
Chinese-American Joint Commission for Rural
Reconstruction Fish. Ser. 7: 68 - 90.
Tài liệu tiếng Việt
Nguyễn Thanh Sơn, Đinh Văn Huy, Trần Đức Thạnh
và Nguyễn Hữu Cử, 2010. Phân loại các kiểu bờ
biển ở Việt Nam theo nguyên tắc nguồn gốc –
hình thành. Tuyển tập tài nguyên và môi trường
biển tập XV, Viện Tài nguyên và Môi trường
Biển – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
NXB KHTN&CN, 31 – 50.
Muhammad, A.L., Taane La, O., Lukman, Y.S.,
Muhammad, A.D., Abdul, G., Samsul, A.F.,
Hartina, B., Erhin, A., Yusuf, A., 2020. Technical
and economical analysis of milkfish farming
on the coastal area of Kendari Bay after
sedimentation. AACL Bioflux, 2020, 13 (1): 403
– 413.
Requintina, E.D., Mmochi, A.J. and Msuya,
F.E., 2006. A Guide to Milkfish Culture in
Tanzania. Sustainable Coastal Communities and
Ecosystems Program. Western Indian Ocean
Marine Science Association, Institute of Marine
Sciences, University of Hawaii, Hilo and the
Coastal Resources Center, University of Rhode
Island, 49.
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu, 2012. Báo cáo tổng hợp quy hoạch
hệ thống các khu bảo tồn vùng nước nꢀi địa tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2020. Uỷ ban Nhân
dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, 172 trang
Tài liệu tiếng Anh
Allan, G., Fielder, D. (eds), 2004. Mud crab
aquaculture in Australia and Southeast Asia.
ACIAR Working Paper No. 54. ACIAR,
Canberra, Australia. 70 pp
Bagarinao, T., 1994. Systematics, distribution,
genetics and life history of Milkfish, Chanos
chanos. Environmental Biology of Fishes, 39(1):
23 - 41.
Christina, L., Balasubramanian, C.P., Akshay, P.,
Tapas, G., 2019. Polyculture of Indian White
Shrimp (Penaeus indicus) with Milkfish
(Chanos chanos) and its Effect on Growth
Performances, Water Quality and Microbial
Load in Brackishwater Pond. Journal of Coastal
Research, 86 (sp1): 43
Roxas, A.T., Guliman, S. Di O., Perez, M.L. and
Ramirez, P.J.B., 2016. Gender And Poverty
Dimensions In A Value Chain Analysis Of
Milkfish In Region 10, Philippines. Asian Food
Security for the World. 3 – 7 August, 2016,
Thailand. 1-37p
Sari A. I., 2010. Report on the Aquaculture Industry
in Indonesia. Kiel, November 2010, 57p
Jaikumar,M.,Suresh,K.C.,Robin,R.S.,Karthikeyan,
P., and Nagarjuna, A., 2013. Milkfish Culture:
Alternative Revenue for Mandapam Fisherfolk,
Palk Bay, Southeast Coast of India. International
Journal of Fisheries and Aquaculture Sciences, 3
(1): 31 - 43.
Johannes, R.E., 1978. Reproductive strategies of
coastal marine fishes in the tropics. Env. Biol.
Fish, 3: 65 - 84.
Kumagai, S., 1990. Reproduction and early life
history of milkfish Chanos chanos in the
waters around Panay Island, Philippines. Ph.D.
Dissertation, Kyushu University, 189.
Kuronuma, K., and Yamashita, M., 1962. Milkfish
fry in the eastern coast of Vietnam. J. Oceanogr.
Soc. Japan 20th Anniv., 247 - 251.
Srivastava, A., Singh, A.P., Gaurey, N., Singh, A.,
Gariya, H.S., 2016. A review article on random
method of vegetation sampling and analysis of
various quantitative characters of medicinal
plants of rewa region. IJARIIE, 2 (2), 201
Yang, M.H., and Han, I., 2015. Domestic and
International Market Expansion for Milkfish
Sales. FFTC Agricultural Policy Articles,
27/03/2015. Fisheries Agency, Council of
Agriculture
Villaluz, A.C., Villaver, W.R., and Salde, R.J.,
1982. Milkfish fry and fingerling industry
of the Philippines: Methods and practices.
Technical Report No. 9, SEAFDEC Aquaculture
Department. 84 p.
Liao, I.C., 1971. Notes on some adult milkfish from
the coast of southern Taiwan. Aquaculture, 1 (3):
1 - 8.
68
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
CURRENT FISHING STATUS AND DEVELOPMENT OF MILKFISH
(CHANOS CHANOS) CULTURE IN THE SOUTH EAST COASTAL OF
VIETNAM
Nguyen Thi My Dung1, Nguyen Phu Hoa2*, Nguyen Van Trai2
ABSTRACT
Information about Milkfish culturing and fishing in Vietnam currently are rare, and thus master
planning for resource management and development of this species farming. This study to assess
the current status of the capture and Milkfish farming in South East coastal provinces of Vietnam.
This study was surveyed from Binh Dinh province to Ba Ria – Vung Tau city during January 2017
- June 2018. Using methods of interview survey, field survey and secondary data collection. Results
indicated that, a small number of farmers (41 households) was raising that species in about 56 ha,
with estimated production of 208.44 tons. Stocking density was 0.5 – 1 fish/ha in variable farming
forms including mono culture and integrated culture with Black tiger shrimp (Penaeus monodon)
and Green Crab (Carcinus maenas). Survival rate range from 80 to 90%, the average yield of mono
culture pond is 8 tons/ha/9 months, and polyculture pond is 300 kg/ha/6 months. The fish would
feed on natural food such as algae and detritus, or were feed with home-made feed that use the by-
products from seafood processing and pellet for other species such as stripped catfish. Milkfish was
believed to adapt well to different pond conditions, such as shrimp ponds, abandoned salt pans, earth
ponds plain or plastic sheet covered ponds, and in fresh water, brackish or saline water. Currently,
Milkfish spawn only in three mainly areas, that is De Ghi lagoon (Binh Dinh province), Nha Phu
lagoon (Khanh Hoa province) and Ca Na bay (Ninh Thuan province). Famer are experienced in
exploiting and farming of this species. The results show that the South East coastal of Vietnam has
the advantage of seed resources, but the farming scale is still small. Therefore, it is necessary to
have long-term solutions for developing Milkfish farming in term of the farming area expanding
and more professional industry.
Keywords: Milkfish, fishing, farmed production, South East coastal of Vietnam.
Người phản biện: TS. Trần Thế Mưu
Ngày nhận bài: 03/7/2020
Người phản biện: TS. Phan Thanh Lâm
Ngày nhận bài: 03/7/2020
Ngày thông qua phản biện: 23/7/2020
Ngày duyệt đăng: 25/8/2020
Ngày thông qua phản biện: 26/7/2020
Ngày duyệt đăng: 25/8/2020
1 Baria-Vungtau college of education.
2 University of Agriculture and Forestry, Ho Chi Minh City
* Email: [email protected]
69
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 17 - THÁNG 9/2020
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng khai thác và phát triển nuôi cá măng sữa (Chanos chanos) ở vùng biển Đông Nam Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hien_trang_khai_thac_va_phat_trien_nuoi_ca_mang_sua_chanos_c.pdf

