Hiện trạng bảo quản và chất lượng cá ngừ đại dương của đội tàu câu tỉnh Khánh Hòa

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
HIỆN TRẠNG BẢO QUẢN VÀ CHẤT LƯỢNG CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG CỦA ĐỘI  
TÀU CÂU TỈNH KHÁNH HÒA  
STATUS OF PRESERVATION AND QUALITY OF TUNA IN KHANH HOA PROVINCE  
Nguyễn Trọng Lương1, Vũ Kế Nghiệp1, Nguyễn Thị Hồng Vân2  
1Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thuỷ sản, Trường Đại học Nha Trang  
2Học viên cao học ngành Quản lý Thuỷ sản 2020, Trường Đại học Nha Trang  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Trọng Lương (Email: [email protected])  
Ngày nhận bài: 03/02/2021; Ngày phản biện thông qua: 20/03/2021; Ngày duyệt đăng: 29/03/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu đã sử dụng khảo sát dữ liệu của 75 tàu câu và 10 cơ sở thu mua nhằm phân tích, đánh giá  
hiện trạng bảo quản và chất lượng sản phẩm của đội tàu câu cá ngừ đại dương tại Khánh Hoà trong năm 2020.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầm bảo quản cá ngừ sử dụng 2 loại vật liệu cách nhiệt là EPS và PU; độ dày  
lớp cách nhiệt của hầm bảo quản dao động từ 10 ÷ 25 cm và chủ yếu là từ 15 ÷< 20 cm; sản phẩm không đảm  
bảo chất lượng từ 19 ÷ 21% về cá thể và 20 ÷ 21% về khối lượng; công tác xử lý và bảo quản cá còn một số  
bất cập nên ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.  
Từ khóa: Sơ chế cá ngừ, bảo quản cá ngừ, chất lượng cá ngừ  
ABSTRACT  
Face to face interview was conducted to survey the 75 tuna fishing vessels and 10 tuna buyers in Khanh  
Hoa province in 2020. The results of this study showed that local fishers used tuna storages with two types of  
insulation materials, namely EPS and PU; the insulation thickness of the tuna storages ranged from 10 ÷ 25  
cm and mainly from 15 ÷ 20 cm; under quality standard products were accounted from 19 ÷ 21% in terms of  
individual fish and from 20 ÷ 21% in quantity; there were some inadequacies in the handling and preservation  
of fish, which affected the quality of the products.  
Key words: Tuna handling, tuna preservation, tuna quality  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Nghề câu tay kết hợp ánh sáng khai thác cá  
ngừ đại dương xuất hiện từ năm 2012 ở Việt  
Nam nói chung, Khánh Hòa nói riêng và đây  
cũng chính là thời điểm mà chất lượng sản phẩm  
sau thu hoạch được đánh giá là thấp nhất trong  
lịch sử của nghề câu cá ngừ ở nước ta. Từ năm  
2012 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu  
nhằm tìm nguyên nhân và đưa ra các giải pháp  
khắc phục tình trạng suy giảm chất lượng cá,  
bao gồm công nghệ khai thác, quy trình và công  
nghệ bảo quản cá sau thu hoạch [18]. Để cải  
thiện chất lượng cá ngừ cần triển khai đồng bộ  
về công nghệ khai thác, xử lý và bảo quản sản  
phẩm [13]. Trong khi công nghệ khai thác kết  
hợp sử dụng máy tạo xung làm tê liệt cá đã được  
ngư dân ứng dụng khá nhiều thì quy trình xử lý  
và công nghệ bảo quản sản phẩm chưa được chủ  
tàu quan tâm nên chất lượng cá ngừ cải thiện  
chưa đáng kể [12] nên hiệu quả kinh tế từ hoạt  
Câu cá ngừ đại dương là một trong những  
nghề chủ lực của ngành khai thác hải sản tỉnh  
Khánh Hoà và đội tàu câu tập trung chủ yếu  
tại thành phố Nha Trang với gần 230 chiếc [2].  
Thành phố Nha Trang có điều kiện thuận lợi  
cho việc neo đậu tàu thuyền, cung ứng nhu yếu  
phẩm cho hoạt động sản xuất, gần các công  
ty chế biến thuỷ sản và đặc biệt là có cảng cá  
Hòn Rớ đạt tiêu chuẩn cảng loại 1 để xác nhận  
nguyên liệu thuỷ sản từ khai thác [1].  
Nghề câu cá người đại dương Việt Nam nói  
chung và tỉnh Khánh Hoà nói riêng đánh bắt 2 đối  
tượng chính là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to  
[12]. Sản lượng khai thác khá cao nhưng không  
ổn định trong suốt thời kỳ 2016 ÷ 2020, trong đó  
năm 2016 đạt 3.472 tấn [3], năm 2017 đạt 3.150  
tấn [4], năm 2018 đạt 2.890 tấn [5], năm 2019 đạt  
2.650 tấn [6] và năm 2020 đạt 3.810 tấn [2].  
48 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
động khai thác chưa cao [11, 14].  
xa bờ của thành phố Nha Trang hoặc tàu cập  
cảng Hòn Rớ để tiêu thụ sản phẩm.  
- Số lượng mẫu điều tra (n) gồm 75 tàu câu  
được xác định trong tổng thể (N) theo công  
thức của Yamane (1967) [21]:  
Bài viết thể hiện kết quả nghiên cứu về hiện  
trạng bảo quản và chất lượng cá ngừ đại dương  
của đội tàu câu tỉnh Khánh Hòa. Kết quả nghiên  
cứu sẽ bổ sung thêm cơ sở khoa học giúp các  
nhà quản lý nghề cá, chính quyền địa phương,  
doanh nghiệp thu mua và ngư dân có cơ sở để  
thúc đẩy đầu tư, cải tiến quy trình và công nghệ  
bảo nhằm cải thiện chất lượng cá ngừ đáp ứng  
được nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.  
Trong đó: N: số lượng tàu câu tay cá ngừ kết  
hợp ánh sáng tại Khánh Hòa; n: số lượng tàu cần  
điều tra; e: sai số chuẩn cho phép. Theo hướng  
dẫn của FAO trong lĩnh vực thủy sản, độ tin cậy  
đảm bảo an toàn và phản ảnh đầy đủ tổng thể  
nghề cá được đề xuất áp dụng từ 90 ÷ 95% [19].  
Quá trình điều tra ngẫu nhiên đã thu thập  
được dữ liệu của 75 tàu câu, trong đó có 58 tàu  
có hầm bảo quản bằng vật liệu EPS (Expand  
Polystryrene) và 17 tàu bằng vật liệu PU  
(Polyurethane); với sản lượng là 4.618 cá thể  
cá ngừ (có khối lượng ≥ 30 kg/con) tương ứng  
với 165.975 kg.  
Ngoài ra, nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ  
các biểu ghi chép sản lượng và chất lượng cá  
ngừ của các doanh nghiệp thu mua cá ngừ tại  
cảng cá Hòn Rớ. Trong đó, 10 cơ sở thu mua đã  
được điều tra, với 24 lượt tàu câu bán sản phẩm  
có sản lượng gồm 1.051 cá thể (có khối lượng  
≥ 30 kg/con) và 38.620 kg cá ngừ đại dương.  
Chất lượng cá ngừ được sử dụng thông qua  
phiếu điều tra, biểu ghi chép kết quả đánh giá  
của các doanh nghiệp thu mua tại cảng cá.  
II. TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
1. Tài liệu nghiên cứu  
- Nhật ký khai thác được thiết kế phù hợp  
với nội dung nghiên cứu và gửi cho các thuyền  
trưởng để ghi chép các thông tin về sản lượng,  
mô tả quá trình xử lý và bảo quản cá ngừ.  
- Phiếu điều tra được sử dụng để thu thập  
thông tin về sản lượng, quy trình xử lý, công nghệ  
bảo quản cá ngừ; kết cấu hầm bảo quản; cách  
thức bảo quản cá; chất lượng cá ngừ tại cảng.  
- Biểu ghi chép sản lượng và chất lượng cá  
ngừ của các doanh nghiệp thu mua tại cảng cá  
Hòn Rớ, thành phố Nha Trang.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thu thập dữ liệu thứ cấp  
Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua các  
tài liệu, báo cáo của các cơ quan và các công  
trình đã nghiên cứu và công bố.  
2.2. Thu thập dữ liệu sơ cấp  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN  
Dữ liệu sơ cấp được thu thập vào năm 2020  
thông qua điều tra, phỏng vấn chủ tàu và thuyền  
trưởng tàu câu cá ngừ:  
1. Dụng cụ và công tác xử lý cá ngừ trên tàu câu  
1.1. Dụng cụ xử lý cá trên tàu câu  
- Các thông tin cần thu thập được thiết kế  
theo biểu mẫu. Trực tiếp điều tra, phỏng vấn  
chủ tàu và thuyền trưởng tàu câu về về sản  
lượng, quy trình xử lý, bảo quản, phương thức  
bảo quản, chất lượng cá ngừ do các doanh  
nghiệp đánh giá và công bố. Đồng thời, sử  
dụng nhật ký khai thác để thu thập thông tin về  
sản lượng, quá trình xử lý và bảo quản cá ngừ;  
phương thức và tần suất bổ sung đá, kiểm soát  
hầm bảo quản sản phẩm.  
Qua điều tra 75 tàu câu cá ngừ đại dương tại  
Khánh Hoà cho thấy, có 100% tàu câu cá ngừ  
đại dương sử dụng các dụng cụ như sau: tấm  
lót xử lý cá, dụng cụ làm choáng cá sau khi đưa  
lên tàu, dụng cụ phá não, dao mổ cá (lấy ruột  
và mang cá) và cưa cắt vây cá.  
- Tấm lót: Sử dụng tấm lót khi xử lý cá  
nhằm tránh trầy xước da cá hoặc tránh nhiễm  
bẩn từ sàn tàu. Tấm lót thường sử dụng bằng  
mút hoặc thảm nhựa.  
- Đối tượng tàu lựa chọn điều tra, khảo sát  
là nhóm tàu câu cá ngừ đại dương bằng nghề  
câu tay kết hợp ánh sáng, hoạt động khai thác  
- Dụng cụ làm choáng cá: Sau khi đưa cá  
lên tàu sử dụng vồ hoặc búa gỗ đánh vào sọ não  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 49  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
làm cá bị choáng nhằm tránh sự giãy giụa của  
cá, hạn chế tổn thất về chất lượng.  
để chặt vây cá.  
- Cưa: 100% tàu sử dụng cưa tay nhỏ có  
lưỡi bằng vật liệu inox để cắt các vây cá (vây  
lưng, vây ngực, vây hông và vây đuôi).  
Từ kết quả khảo sát trên cho thấy, các tàu  
câu Khánh Hoà sử dụng các dụng cụ xử lý cá  
giống với các tỉnh Phú Yên, Bình Định [10, 18]  
và chưa chú trọng đến việc trang bị dụng cụ  
phá huỷ tuỷ sống của cá và hệ thần kinh trong  
xương sống cá.  
1.2. Công tác xử lý cá ngừ trên tàu câu  
Kết quả điều tra cho thấy, 100% tàu câu  
cá ngừ đại dương tại Khánh Hòa sử dụng quy  
trình xử lý cá khá đơn giản và được thể hiện 6  
công đoạn như sơ đồ hình 1.  
- Dụng cụ phá hủy não: Vật nhọn làm bằng  
inox, có cán bằng gỗ hoặc inox được sử dụng  
để hủy não cá và hệ thần kinh trung ương, làm  
mất khả năng điều hòa thân nhiệt và làm giảm  
nhiệt độ thân cá sau khi đã bị làm choáng.  
- Dao xử lý cá: Trên tàu câu trang bị 2 loại,  
dao nhọn xả máu và dao cắt mang.  
+ Dao nhỏ: 100% tàu câu sử dụng dao Thái  
Lan, vật liệu inox để cắt mạch và xả máu cá  
nhằm hạ nhiệt độ thân cá.  
+ Dao lớn: 100% tàu sử dụng dao bằng vật  
liệu inox để cắt, loại bỏ mang và nội tạng. Loại  
dao này thường nhọn, bén và cứng, có thể dùng  
1. Làm choáng cá  
Hình 1. Quy trình xử lý cá ngừ đại dương trên tàu câu.  
Kỹ thuật xử lý cá theo quy trình ở hình 1 được  
mô tả tương ứng với từng công đoạn như sau:  
Công đoạn 1: Làm choáng cá  
nước biển lên thân cá nhằm hạn chế đông máu  
làm bầm thịt cá và giúp nhiệt độ thân cá giảm  
xuống nhanh.  
Sau khi cá được đưa lên boong tàu, một  
thuỷ thủ giữ cá ở tư thế đứng và thuỷ thủ còn  
lại dùng vồ gỗ đánh nhiều lần vào giữa đầu,  
ngay tại vị trí não sao cho cá chết lâm sàng  
(làm cá choáng). Trong giai đoạn này, cá chưa  
chết hoàn toàn mà mới choáng, nghĩa là hệ  
thống tuần hoàn và thần kinh vẫn hoạt động.  
Quá trình làm choáng cá phải thực hiện nhanh  
và chính xác vào vị trí não, nhằm tránh tình  
trạng cá giãy giụa làm trầy xước và giảm giá  
trị của cá.  
Công đoạn 4: Loại bỏ ruột, mang và vây cá  
- Để loại bỏ nội tạng và mang cá, thực hiện  
các công đoạn như sau:  
+ Đặt dao gần hậu môn và chích một nhát  
sâu 3cm và rộng 5cm.  
+ Dùng ngón tay kéo ruột cá và cắt phần  
ruột sát hậu môn.  
+ Lật nắp mang cá, cắt hai bên nắp mang ở  
phần phía trên đầu để lộ mang cá.  
+ Mở rộng nắp mang và dùng dao cắt phần  
cơ thịt giữa mang và xương.  
Công đoạn 2: Phá hủy não cá  
+ Cắt lớp màng phía dưới nắp mang gắn vào  
đầu cá và tiến hành cắt cả hai bên nắp mang.  
+ Dùng tay kéo toàn bộ mang và nội tạng  
ra ngoài.  
+ Dùng dao cắt lớp màng còn sót lại trong  
hốc mang ở đầu cá.  
- Để cắt bỏ các vây (vây hông, vây ngực,  
vây bụng và vây đuôi), ngư dân thường dùng  
cưa hoặc dao và thớt. Do vây cá khá cứng nên  
quá trình cắt cần được thực hiện cẩn thận nhằm  
hạn chế trầy xước da và dập cơ thịt.  
Sau khi cá bị choáng và nằm bất động,  
dùng dùi kim loại đâm thẳng vào não của cá và  
ngoáy để não bộ bị phá hủy hoàn toàn.  
Công đoạn 3: Xả máu  
Sau khi phá não, dùng dao cắt động mạch 2  
bên vây và ngay phía sau mang cá, đồng thời  
cắt phần đuôi để máu trong cơ thể cá được xả  
ra càng nhanh càng tốt. Trong quá trình này,  
cần cắt chính xác mạch máu để máu ra nhanh  
và giảm thiết diện vết cắt, đồng thời dội thêm  
50 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Như vậy, ngư dân Khánh Hoà đã quan tâm  
đến việc loại bỏ mang và ruột của cá nhằm  
loại bỏ các enzym trong nội tạng, các enzym  
này hoạt động mạnh sau khi cá chết, sẽ làm hư  
hỏng thịt ở phần bụng và sau đó lan ra toàn bộ  
thân cá [9, 20]. Mặt khác, loại bỏ mang và nội  
tạng sẽ loại bỏ phần lớn vi sinh vật trong cơ thể  
cá – là tác nhân làm cá nhanh bị hỏng [7].  
Công đoạn 5: Rửa sạch cá  
Sau khi loại bỏ nội tạng, mang và vây cá, sử  
dụng nước biển từ máy bơm để rửa cá. Việc rửa  
cá được thực hiện cẩn thận, vừa dội nước vừa  
dùng bàn chải mềm để làm sạch các vết máu  
còn dính trên cơ thể cá, đặc biệt là ở khoang  
bụng, hốc mang và đầu cá. Ngoài việc làm sạch  
cá, việc rửa cá còn có vai trò tiếp nước nhằm  
làm giảm nhiệt độ thân cá, giúp cho cơ thịt cá ở  
trạng thái tốt trước khi bảo quản.  
để trong cơ thể cá, đây là công đoạn giúp thân  
nhiệt giảm xuống nhanh. Khi máu còn đọng  
nhiều trong thịt sẽ làm gia tăng nhanh lượng  
vi sinh vật trong quá trình bảo quản. Ngoài ra,  
thân cá trở nên mềm mại hơn, khả năng truyền  
nhiệt sẽ nhanh hơn so với thân cá không được  
xả máu.  
- Ngư dân không thực hiện công đoạn ngâm  
hạ nhiệt trước khi bảo quản cá như khuyến  
nghị của các nhà nghiên cứu [9, 15, 16]. Công  
đoạn ngâm hạ nhiệt làm nhiệt độ thân cá giảm  
xuống nhanh sẽ hạn chế được sự phát triển các  
vi sinh vật và giảm các biển đổi hoá học xảy ra  
trong quá trình bảo quản và làm ảnh hưởng đến  
chất lượng cá ngừ [8].  
Ngoài ra, mặc dù các tàu thực hiện công  
tác xử lý cá như hình 1 nhưng thời gian xử lý  
còn diễn ra khá chậm, thông thường từ 10 ÷ 20  
phút/con, có những trường hợp lên đến 30 phút.  
Điều này cho thấy tình trạng nhiệt độ thân cá  
duy trì ở mức cao trong khoảng thời gian dài sẽ  
ảnh hướng xấu đến chất lượng cá sau khai thác,  
trong khi các nhà khoa học khuyến nghị nên xử  
lý cá xong trong vòng 6 phút sẽ hạn chế được  
tình trạng biến đổi cơ thịt cá [15, 16].  
Công đoạn 6: Chuẩn bị bảo quản  
Sau khi làm sạch, dốc khô nước trong hốc  
mang và khoang bụng, sử dụng đá xay nhét đầy  
khoang bụng và hốc mang cá. Sau đó, sử dụng  
túi nilon hoặc vải bọc ngoài thân cá và chuyển  
qua công đoạn bảo quản.  
Phân tích quy trình xử lý cá ở hình 1 cho thấy:  
- Cá ngừ sau khi được thu lên tàu, ngư dân  
sử dụng vồ gỗ đập vào đầu choáng cá, sau đó  
tiến hành xả máu, lấy mang và nội tạng, cắt vây  
và đuôi cá, rửa sạch cá, bọc thân cá và đưa vào  
hầm bảo quản.  
- Ngư dân không thực hiện công đoạn phá  
huỷ tủy trong xương sống của cá nhằm phá huỷ  
hệ thần kinh để làm mất khả năng giãy giụa,  
điều hòa thân nhiệt và giảm nhiệt độ thân cá.  
Nhiệt độ cao làm cho giai đoạn co cứng của cơ  
thể diễn ra nhanh hơn và trong khoảng ngắn  
hơn, dẫn đến quá trình phát triển vi sinh vật  
và quá trình tự hoại của cơ thịt diễn ra nhanh  
chóng [20]. Qua đó, làm giảm chất lượng cá  
ngay tại thời điểm trước khi cá đưa vào hầm  
bảo quản. Bên cạnh đó, ngư dân chưa phá hủy  
hệ thần kinh nên các cơ thịt cá vẫn hoạt động  
mặc dù cá đã được xả máu. Sự giãy giụa của cá  
lúc này dù là rất yếu, song vẫn ảnh hưởng đến  
chất lượng của cá. Sự giãy giụa này làm nhiệt  
độ thân cá tăng cao hơn so với lúc bình thường.  
- Ngư dân chưa chú trọng việc xả máu triệt  
2. Hầm bảo quản và công tác bảo quản cá  
ngừ  
2.1. Hầm bảo quản cá ngừ trên tàu câu  
Ngoài công tác xử lý, hầm và kỹ thuật bảo  
quản cá đóng vai trò rất quan trọng trong việc  
giữ chất lượng cá từ khi khai thác đến lúc cập  
cảng để tiêu thụ. Đối với phương thức bảo  
quản cá bằng nước đá, để đảm bảo chất lượng  
cá đạt yêu cầu thì cần lượng nước đá đủ lớn  
và chất lượng hầm đủ tốt. Chất lượng hầm bảo  
quản thể hiện ở khả năng giữ nhiệt và độ kín  
nước xâm nhập từ lườn tàu, nghĩa là phải hạn  
chế mức độ tiêu hao đá nhằm duy trì nhiệt độ  
trong hầm và thân cá ở mức thấp trong khoảng  
thời gian dài. Khả năng giữ nhiệt của hầm phụ  
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng  
nhất là loại vật liệu và độ dày lớp cách nhiệt,  
tiếp đến là tần suất và thời gian mở nắp hầm để  
bổ sung cá, đá.  
Kết quả điều tra về vật liệu và độ dày lớp  
cách nhiệt hầm bảo quản sản phẩm của 75 tàu  
câu cá ngừ được thể hiện ở bảng 1.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 51  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Bảng 1. Thống kê độ dày và loại vật liệu cách nhiệt của hầm bảo quản cá ngừ.  
Vật liệu EPS  
Số tàu Tỷ lệ (%) Số tàu Tỷ lệ (%)  
Vật liệu PU  
Độ dày lớp  
Số tàu  
Tỷ lệ (%)  
cách nhiệt (cm)  
10 ÷< 15  
15 ÷< 20  
20 ÷< 25  
Tổng  
16  
50  
9
21,3  
66,7  
12,0  
100  
12  
37  
9
20,7  
63,8  
15,5  
4
13  
0
23,5  
76,5  
0,0  
75  
58  
100,0  
17  
100,0  
Từ bảng 1 cho thấy:  
đó vật liệu EPS chiếm 63,8% và PU chiếm  
76,5%. Có 21,3% số tàu có độ dày lớp cách  
nhiệt từ 10 ÷< 15 cm, trong đó vật liệu EPS  
chiếm 20,7% và PU chiếm 23,5%. Có 12,0%  
số tàu điều tra sử dụng lớp xốp dày từ 20 ÷<  
25 cm và tập trung ở nhóm tàu sử dụng vật liệu  
EPS. Điều này cũng thể hiện rằng, vật liệu PU  
có khả năng giữ nhiệt tốt nên ngư dân không  
làm lớp cách nhiệt với độ dày lớn nhằm tiết  
kiệm chi phí đầu tư [17].  
2.2. Công tác bảo quản cá ngừ trên tàu câu  
Kết quả điều tra cho thấy, 100% tàu câu bảo  
quản sản phẩm cá ngừ bằng nước đá và chưa  
có tàu cá nào sử dụng hệ thống cấp đông hoặc  
đá sệt. Quy trình bảo quản cá ngừ đại dương  
trên tàu cá ở Khánh Hòa gồm 3 công đoạn như  
sơ đồ hình 2.  
- Hầu hết các tàu sử dụng vật liệu EPS làm  
vách cách nhiệt với gần 77,3% số tàu điều tra  
và có 22,7% số tàu sử dụng vật liệu PU. So với  
kết quả điều tra năm 2013 [18] thì số tàu sử  
dụng vật liệu PU để làm hầm bảo quản tăng lên  
đáng kể, từ 3,0 % (năm 2012) [18] lên 18,3%  
(năm 2017) [14] và lên đến 22,7% vào năm  
2020. Điều này cũng thể hiện rằng, ngư dân đã  
quan tâm đến việc đầu tư xây dựng hầm bảo  
quản nhằm cải thiện chất lượng cá ngừ cũng  
như tiết kiệm mức tiêu hao đá trong quá trình  
sản xuất trên biển.  
- Độ dày lớp cách nhiệt của hầm bảo quản  
dao động từ 10 ÷ 25 cm. Ngư dân chủ yếu làm  
hầm bảo quản có độ dày lớp cách nhiệt từ 15  
÷< 20 cm, chiếm 66,7% số tàu điều tra, trong  
Hình 2. Quy trình bảo quản cá ngừ đại dương trên tàu câu tay.  
Kỹ thuật bảo quản cá theo quy trình ở hình  
2 được mô tả tương ứng với từng công đoạn  
như sau:  
Công đoạn 1: Chuẩn bị hầm và nước đá  
Trong khoảng thời gian các thuyền viên làm  
nhiệm vụ xử lý cá, các thuyền viên khác thực  
hiện công tác chuẩn bị hầm bảo quản và đá để  
bảo quản cá.  
- Chuẩn bị hầm bảo quản: Hầm được vệ  
sinh sạch sẽ bằng nước biển và sử dụng đá  
nguyên cây để lót đáy hầm, 100% tàu sử dụng  
phương án dựng cây đá sao cho độ dày lớp đá  
dưới cùng đảm bảo từ 25 ÷ 30 cm. Các cây đá  
được sắp xếp sát nhau và sử dụng đá xay chèn  
kín các kẽ hở giữa các cây đá và giữa đá với  
thành hầm. Tiếp đến, phủ 01 lớp đá xay phía  
trên đá cây có độ dày từ 5 ÷ 10 cm nhằm tạo bề  
mặt êm cho cá và tăng độ dẫn nhiệt giữa đá và  
cá. Mục đích của việc sử dụng đá nguyên cây  
lót ở đáy hầm nhằm làm giảm mức độ tan chảy  
của đá và giữ nhiệt tốt cho hầm bảo quản.  
- Chuẩn bị đá xay: Chuyển đá cây từ hầm  
lên và đưa vào máy để xay nhuyễn bằng máy  
xay chuyên dụng được trang bị trên tàu. Sau  
khi xay xong, đá được chuyển xuống hầm để  
bảo quản cá. Tuỳ thuộc vào sản lượng cá câu  
được để ước lượng mức đá cần xay.  
Công đoạn 2: Xếp cá vào hầm bảo quản  
Sau khi bọc túi nilon hoặc vải, cá được  
chuyển xuống hầm để bảo quản. Để đảm bảo  
cá không bị va đập vào miệng hầm, ngư dân sử  
dụng dây thừng để tời cá, 01 đầu dây buộc vào  
đuôi cá và đầu còn lại luồn qua ròng rọc treo ở  
đà dọc tàu để giữ và tời cá xuống hầm. Trong  
quá trình chuyển cá xuống hầm, có 4 thuyền  
viên tham gia, 2 thuyền viên ở trên boong nâng  
52 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
và hạ cá xuống hầm, 2 thuyền viên ở trong hầm  
đỡ và xếp cá vào vị trí bảo quản.  
đó, chưa khuyến khích được ngư dân chú trọng  
đến việc cải thiện chất lượng cá ngừ.  
Thông thường, cá được bảo quản ngay sau  
khi xử lý. Tuy nhiên, trong trường hợp cá cắn  
câu nhiều, các thủy thủ tập trung vào việc bắt cá  
lên tàu và khi đó cá không được xử lý hoặc xử  
lý xong nhưng chưa tiến hành bảo quản mà để  
trên mặt boong trong khoảng thời gian khá dài.  
Các doanh nghiệp thu mua cá ngừ tại cảng  
thường phân loại chất lượng sản phẩm thành  
2 mức là “Đạt” – chất lượng tốt (loại A, B và  
C) và “Dạt” – chất lượng không đạt yêu cầu  
(loại D). Đối với nhóm sản phẩm được đánh  
giá và xếp loại Đạt có giá cao hơn, dao động từ  
100.000 ÷ 125.000 đồng/kg và ngược lại, loại  
Dạt có giá thấp hơn, từ 35.000 ÷ 50.000 đồng/  
kg tuỳ thuộc vào giá thị trường ở từng chuyến  
biển. Trong quá trình bảo quản, muốn nâng  
chất lượng cá từ loại C lên B hoặc A thì ngư  
dân phải cải thiện quy trình xử lý và bảo quản,  
nghĩa là phải tăng chi phí sản xuất trong khi giá  
bán cá giữa loại A, B và C không thay đổi. Do  
Phương thức sắp xếp cá vào hầm bảo quản  
được thực hiện như sau:  
- Sau khi rải đá nguyên cây xuống đáy hầm,  
rải tiếp lớp đá xay dày khoảng 5 ÷ 10 cm nhằm  
tạo độ êm cho cá khi sắp xếp trên bề mặt lớp đá.  
- Khi cá được thả xuống hầm, xếp cá nằm  
theo chiều dọc của hầm bảo quản (hướng ngang  
tàu) với tư thế bụng cá ở dưới và lưng cá ở trên  
thể hiện ở hình 3.  
- Cá được xếp vào hầm theo thứ tự từ hai  
bên mạn vào giữa tàu và hết lớp dưới đến lớp  
trên. Tùy thuộc vào kích thước vỏ tàu, hầm bảo  
quản và kích thước cá mà mỗi hầm có thể sắp  
xếp từ 3 ÷ 4 lớp cá.  
Các thao tác của quá trình bảo quản được  
thực hiện cẩn thận, không giẫm đạp lên cá,  
không để cá cọ xát vào miệng hoặc thành hầm.  
Tuy nhiên, nhiều tàu không trở đầu và đuôi  
giữa các lớp cá với nhau nên khoảng cách giữa  
các cá thể cá không đều và nhiều vị trí thiếu đá  
Hình 3. Sắp xếp cá vào hầm bảo quản.  
dẫn đến nhiệt độ hầm không đồng đều.  
Công đoạn 3: Phủ và xăm đá  
- Độ dày của đá giữa lớp cá và vách hầm từ  
10 ÷ 20 cm và tùy thuộc vào kích thước của cá  
bảo quản. Trong đó, có 100% số tàu điều tra rải  
01 lớp đá xay xung quanh vách hầm với độ dày  
tối thiểu 10cm, nếu không đáp ứng điều kiện  
này thì di chuyển cá đến vị trí khác để bảo quản.  
- Độ dày lớp đá giữa 2 lớp cá (theo chiều  
đứng hầm) dao động từ 25 ÷ 30 cm.  
- Độ dày lớp đá trên cùng, tiếp giáp với nắp  
hầm tùy thuộc vào kích cỡ lớp cá và dao động  
20 ÷ 30cm. Lớp đá này được bổ sung theo định  
kỳ 1 ÷ 2 ngày/ lần tuỳ thuộc vào khả năng giữ  
nhiệt của hầm. Nếu hầm cũ, khả năng giữ nhiệt  
kém và mức tiêu hao đá lớn thì tần suất bổ sung  
đá lớn hơn và ngược lại. Mỗi lần bổ sung đá,  
phải mở nắp hầm từ 20 ÷ 30 phút để phủ và  
xăm kín đá nhằm bổ sung lượng đá đã tiêu hao.  
Sau khi xếp cá vào vị trí mong muốn, sử  
dụng đá xay phủ quanh thân cá và dùng dùi gỗ  
xăm đá (hình 4) sao cho càng chặt càng tốt. Kết  
quả điều tra cho thấy, tàu câu cá ngừ đại dương  
tại Khánh Hòa sử dụng đá bảo quản cá như sau:  
- Độ dày lớp đá xen kẽ giữa 2 thân cá (trong  
cùng 1 lớp) cá dao động từ 10 ÷ 20 cm và phụ  
thuộc vào kích thước của cá. Để đảm bảo nhiệt  
độ quanh thân cá thấp và ổn định nhằm duy trì  
chất lượng cá tốt thì lượng đá phủ quanh thân  
cá cần phải đạt 25 cm [15]. Tuy nhiên, nhiều  
tàu xăm lớp đá mỏng nên nhiệt độ thân cá sẽ  
duy trì ở mức cao trong khoảng thời gian dài  
và ảnh hưởng đến chất lượng cá trong quá trình  
bảo quản.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 53  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Đây cũng chính là thời gian mà hầm mất nhiệt  
lớn, nghĩa là tần suất bổ sung đá càng nhiều  
thì càng làm tăng mức tiêu hao đá và làm giảm  
chất lượng sản phẩm.  
Hình 4. Phủ và xăm đá kín xung quanh thân cá.  
Phân tích quy trình bảo quản cá ngừ ở hình  
2 cho thấy:  
- Ngư dân đã tuân thủ các bước và kỹ thuật  
bảo quản cá như quy trình mà các nhà nghiên  
cứu Phạm Ngọc Hoè [15] và Phan Đăng Liêm  
[16] đã đề xuất.  
hưởng đến chất lượng cá sau quá trình bảo quản.  
Như vậy, để quá trình bảo quản giữ được  
chất lượng cá ngừ tốt nhất, cần quan tâm đến  
thời gian xử lý cá sao cho nhanh nhất và cần  
phải hạ nhiệt độ thân cá xuống thấp trước khi  
đưa vào bảo quản lạnh.  
- Điều đáng quan tâm là nhiệt độ thân cá còn  
cao và đưa vào hầm bảo quản bằng nước đá sẽ  
làm cho lớp đá quanh cá tan chảy nhanh, tạo  
thành 01 khoảng trống giữa cá và đá. Khi đó, cá  
không còn tiếp xúc trực tiếp với đá nên sự truyền  
nhiệt diễn ra chậm hơn và để nhiệt độ tâm thân  
cá giảm xuống bằng nhiệt độ nước đá thì cần một  
khoảng thời gian tương đối dài. Do đó, sẽ ảnh  
3. Thực trạng chất lượng cá ngừ đại dương  
Kết quả điều tra 75 chủ tàu và thuyền trưởng  
với 4.618 cá thể cá ngừ tương ứng với 165.975  
kg cho thấy, các doanh nghiệp thu mua tại cảng  
cá phân loại chất lượng cá ngừ theo phương  
pháp đánh giá cảm quan và chia thành 2 nhóm  
là “Đạt” và “Dạt”- nghĩa là không đạt yêu cầu  
về chất lượng, thể hiện ở bảng 2.  
Bảng 2. Thống kê kết quả điều tra chất lượng cá ngừ đại dương.  
Số lượng (con)  
Phân loại  
Khối lượng (kg)  
Tỷ lệ (%)  
Sản lượng (con) Tỷ lệ (%) Sản lượng (kg)  
Dạt  
Đạt  
Tổng  
869  
3.749  
4.618  
18,8  
81,2  
100,0  
34.760  
131.215  
165.975  
20,9  
79,1  
100,0  
Từ bảng 2 cho thấy, trung bình cá có chất  
lượng không đạt tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ khá  
cao, với 18,8% về số lượng cá thể và 20,9%  
về khối lượng. Trong đó, Loại Dạt bao gồm cả  
các cá thể có khối lượng trên 30 kg nhưng có  
chất lượng kém hoặc bị trầy xước hoặc cơ thể  
không nguyên vẹn.  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, gần 90%  
ngư dân cho rằng việc đánh giá chất lượng  
cá tại cảng chưa đảm bảo tính minh bạch do  
không có có đơn vị độc lập (bên thứ 3) có năng  
lực để giám sát trong khi giá cá phụ thuộc vào  
chất lượng sản phẩm. Mặc dù vậy, bên bán và  
bên mua cũng tìm được điểm chung là “thuận  
mua” và “vừa bán”. Tuy nhiên, đây là hệ luỵ và  
nguyên nhân chính làm giảm nhu cầu, nguyện  
vọng của ngư dân trong việc cải thiện quy  
trình, công nghệ bảo quản nhằm nâng cao chất  
lượng sản phẩm sau khai thác.  
Kết quả khảo sát 10 cơ sở thu mua với 24  
lượt tàu, 1.051 cá thể và 38.620 kg cá ngừ đại  
dương tại cảng cá Hòn Rớ được thể hiện ở bảng  
3. Các doanh nghiệp thu mua xác định chất  
lượng cá ngừ theo phương pháp đánh giá cảm  
quan và phân nhóm ra các mức gồm: A, B, C  
và D. Trong đó, nhóm sản phẩm được xếp loại  
A, B và C là các cá thể có chất lượng đảm bảo  
với mức giá cao hơn so với nhóm D – nhóm  
sản phẩm được xem là phế phẩm nên có mức  
giá 35 ÷ 50% so với các nhóm còn lại.  
54 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
Bảng 3. Thống kê kết quả đánh giá chất lượng cá ngừ đại dương.  
Phân loại Số lượng cá thể (con) Tỷ lệ(%) Khối lượng (kg) Tỷ lệ (%)  
A
B
C
D
Tổng  
0
257  
578  
216  
1.051  
0,0  
24,5  
55,0  
20,6  
100,0  
0
9.522  
0,0  
24,8  
54,2  
21,0  
100  
20.973  
8.125  
38.620  
Từ bảng 3 cho thấy, tại cảng cá Hòn Rớ  
cá ngừ chỉ được xếp vào 3 loại, B, C và D,  
không có cá thể nào đạt loại A. Trong đó,  
nhóm C chiếm tỷ lệ cao nhất cả về số lượng  
cá thể và khối lượng cá ngừ, lần lượt là là  
55,0% và 54,2%; tiếp đến là nhóm B tương  
ứng là 24,5% về cá thể và 24,8% về khối  
lượng và nhóm D có tỷ lệ thấp nhất, tương  
ứng là 20,6% về cá thể và 21,0% về khối  
lượng.  
So với kết quả điều tra từ các chủ tàu  
hoặc thuyền trưởng với kết quả đánh giá của  
các doanh nghiệp cho thấy tỷ lệ cá ngừ có  
chất lượng kém (tương ứng với mức D hoặc  
Dạt) chiếm tỷ lệ gần giống nhau khoảng từ  
19 ÷ 21% về cá thể và 20 ÷ 21% về khối  
lượng.  
cá Chuẩn bị bảo quản (nhồi đá vào bụng,  
hốc mang và bọc cá bằng túi nilon hoặc vải).  
- Ngư dân chỉ sử dụng duy nhất phương  
pháp bảo quản lạnh cá ngừ bằng nước đá.  
Quy trình bảo quản gồm 3 công đoạn, được  
thực hiện theo tuần tự như sau: Chuẩn bị  
hầm và đá Xếp cá vào hầm Phủ và  
xăm đá.  
- Công tác xử lý và bảo quản cá còn một  
số bất cập như: Ngư dân chưa phá hủy hệ  
thần kinh nên các cơ thịt cá vẫn hoạt động  
mặc dù cá đã được xả máu; chưa chú trọng  
việc xả máu triệt để trong cơ thể cá; thời  
gian xử lý cá kéo dài; không thực hiện công  
đoạn ngâm hạ nhiệt trước khi xếp cá vào  
hầm bảo quản.  
- Chất lượng cá ngừ sau quá trình bảo  
quản chưa cao, tỷ lệ hao hụt (không đảm  
bảo chất lượng) từ 189 ÷ 21% về cá thể và  
20 ÷ 21% về khối lượng, điều đáng quan  
tâm là không có cá đạt chất lượng loại A.  
- Ngư dân cũng cho rằng, việc đánh giá  
chất lượng cá ngừ hiện nay chưa khách quan  
và cần có đơn vị thứ 3 đứng ra để kiểm định.  
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
1. Kết luận  
- Ngư dân hoạt động khai thác cá ngừ  
đại dương tại Khánh Hòa sử dụng các dụng  
cụ xử lý cá giống với các tỉnh Phú Yên và  
Bình Định, gồm: Tấm thảm lót sàn, vồ làm  
choáng cá, dùi phá huỷ não, dao xả máu và  
cắt bỏ mang, nội tạng, cưa cắt vây cá.  
- Hầm bảo quản cá ngừ sử dụng 2 loại vật  
liệu cách nhiệt là EPS và PU. Trong đó, vật  
liệu EPS được sử dụng phổ biến, với 77,3%  
và 22,7% số tàu còn lại sử dụng vật liệu PU.  
- Độ dày lớp cách nhiệt của hầm bảo  
quản dao động từ 10 ÷ 25 cm. Trong đó, chủ  
yếu dày từ 15 ÷< 20 cm, với 66,7%; tiếp đến  
là từ 10 ÷< 15 cm, với 21,3% và có 12,0%  
số tàu sử dụng lớp cách nhiệt dày từ 20 ÷<  
25 cm.  
2. Khuyến nghị  
Để cải thiện chất lượng cá ngừ và nâng  
cao giá trị kinh tế, ngư dân cần tuân thủ ng-  
hiêm ngặt quy trình, kỹ thuật xử lý và bảo  
quản cá ngừ theo yêu cầu của doanh nghiệp  
thu mua hoặc các nhà khoa học đã đề xuất.  
Bên cạnh đó, cần cải tạo hầm bảo quản nhằm  
nâng cao khả năng giữ nhiệt, làm giảm mức  
tiêu hao đá trong quá trình bảo quản và qua  
đó cải thiện được chất lượng cá.  
Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệu  
quả của công tác bảo quản và đưa ra các giải  
pháp phù hợp với thực tiễn nghề câu nhằm  
nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trên  
tàu câu tại Khánh Hòa.  
- Quy trình xử lý cá trên tàu câu gồm 6  
công đoạn, được thực hiện theo tuần tự như  
sau: Làm choáng cá Phá hủy não Xả  
máu Bỏ ruột, mang và vây Rửa sạch  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 55  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 1/2021  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
1. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2019), Quyết định số 988/QĐ-BNN-TCTS ngày 26/3/2019 ban  
hành quy định về việc công bố danh sách cảng cá chỉ định để xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác.  
2. Chi cục Thuỷ sản tỉnh Khánh Hoà (2020), Báo cáo năng lực khai thác và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy  
sản năm 2020.  
3. Cục thống kê tỉnh Khánh Hoà (2017), Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà năm 2016.  
4. Cục thống kê tỉnh Khánh Hoà (2018), Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà năm 2017.  
5. Cục thống kê tỉnh Khánh Hoà (2019), Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà năm 2018.  
6. Cục thống kê tỉnh Khánh Hoà (2020), Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà năm 2019.  
7. Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (1999), Bảo quản và chế biến cá ngừ làm Sashimi. Sổ tay  
kỹ thuật, NXB Nông nghiệp.  
8. Nguyễn Anh Tuấn (2013), Sự biển đối chất lượng của cá ngừ đại dương trong quá trình khai thác, xử lý và  
bảo quản trên tàu câu tay kết hợp ánh sáng. Báo cáo chuyên đề, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh  
Bình Định.  
9. Nguyễn Long (2006), Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở  
vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ. Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản.  
10. Nguyễn Trọng Lương, Nguyễn Quốc Khánh và CS (2015), Nghiên cứu sự tác động của ngư cụ, phương  
pháp khai thác và nguồn sáng đến đối tượng cá ngừ đại dương trong vùng đánh bắt. Báo cáo chuyên đề, Sở  
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định.  
11. Nguyễn Trọng Lương, Phạm Thị Thanh Thủy và Vũ Kế Nghiệp (2020), "Đánh giá hiệu quả khai thác của  
đội tàu câu cá ngừ đại dương tỉnh Khánh Hòa", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, (10), pp. 126-133.  
12. Nguyễn Trọng Lương và Vũ Kế Nghiệp (2019), "Hiện trạng khai thác cá ngừ đại dương trên tàu câu tay  
kết hợp ánh sáng tại Khánh Hòa", Tạp chí Khoa học - Công nghệ thuỷ sản, (4), pp. 49-56.  
13. Nguyễn Trọng Lương, Vũ Kế Nghiệp và CS (2020), Công nghệ khai thác cá ngừ đại dương (công nghệ câu  
cá ngừ và công nghệ bảo quản cá ngừ). Báo cáo tổng kết đề tài, Trường Đại học Nha Trang.  
14. Nguyễn Trọng Lương, Vũ Kế Nghiệp và Phạm Thị Thanh Thủy (2021), "So sánh hiệu quả sản xuất của đội  
tàu khai thác cá ngừ đại dương tại Khánh Hoà", Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (283), pp. 121-130.  
15. Phạm Ngọc Hòe (2005), Kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch, chế biến cá ngừ trên tàu và tại nhà máy, dịch  
vụ hậu cần phục vụ cho đội tàu khai thác cá ngừ tại Trường Sa, NXB Nông nghiệp.  
16. Phan Đăng Liêm, Lê Văn Bộ, Phạm Văn Tuyển và CS (2016), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao  
chất lượng cá ngừ đại dương trên tàu câu tay. Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Nghiên cứu Hải sản.  
17. Trần Đức Phú, Phan Xuân Quang và CS (2017), Đánh giá hiệu quả sử dụng hầm bảo quản sản phẩm trên  
tàu cá bằng vật liệu Polyurethane (PU) ở tỉnh Sóc Trăng. Báo cáo tổng kết dự án, Viện Khoa học và Công nghệ  
khai thác thuỷ sản, Trường Đại học Nha Trang.  
18. Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác thủy sản (2013), Điều tra thực trạng bảo quản sau thu hoạch sản  
phẩm khai thác của đội tàu câu vàng cá ngừ đại dương và đề xuất giải pháp. Báo cáo chuyên đề, Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn.  
Tiếng Anh  
19. Constantine S. (2002), Sample - Based fishery surveys - A technical handbook. FAO, Rome, 132pp.  
20. George M. H. (1989), Fish processing subtainability and new opportunities, Wiley blackwell.  
21. Yamane T. (1967), Statistics: An Introductory Analysis. 2nd Ed., New York: Harper and Row.  
56 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
pdf 9 trang yennguyen 20201 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng bảo quản và chất lượng cá ngừ đại dương của đội tàu câu tỉnh Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_bao_quan_va_chat_luong_ca_ngu_dai_duong_cua_doi_t.pdf