Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chiên (Bagarius rutilus) nuôi lồng giai đoạn 70-500g tại hạ lưu sông Lô, tỉnh Phú Thọ

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY  
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Vol. 20, No. 3 (2020): 77-84  
Tập 20, Số 3 (2020): 77-84  
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.hvu.edu.vn  
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ ĐẾN TỶ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG  
CỦA CÁ CHIÊN (Bagarius rutilus) NUÔI LỒNG GIAI ĐOẠN 70-500g  
TẠI HẠ LƯU SÔNG LÔ, TỈNH PHÚ THỌ  
Triệu Anh Tuấn1*, Thái Thanh Bình2, Trần Anh Tuấn1, Cù Văn Đông1  
1Phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ  
2Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản, Bắc Ninh  
Ngày nhận bài: 14/9/2020; Ngày chỉnh sửa: 09/10/2020; Ngày duyệt đăng: 16/10/2020  
Tóm tắt  
ghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá chiên Bagarius  
rutilus (Ng & Kottelat, 2000) giai đoạn 70-500g nuôi lồng tại vùng hạ lưu sông Lô - Phú Thọ. Cá Chiên  
N
thí nghiệm có chiều dài ban đầu từ 22,0-23,0 cm/con và khối lượng từ 70-72 g/con được bố trí nuôi trong các  
lồng đặt trên sông, mỗi lồng có thể tích 9,0m3. Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức về mật độ, nghiệm  
thức 1 (NT1): Mật độ thả 12 con/m3, NT2: Mật độ thả 16 con/m3; NT3: Mật độ thả 20 con/m3, các thí nghiệm kéo  
dài trong thời gian 5 tháng. Kết quả thí nghiện cho thấy cá chiên sinh trưởng nhanh và đạt tỷ lệ sống cao nhất ở  
NT1, cá đạt khối lượng 542,68 g/con, chiều dài 35,42 cm/con và tỷ lệ sống 85,5%, ở NT3 cá sinh trưởng chậm,  
tỷ lệ sống thấp, đạt khối lượng 512,37 g/con và tỷ lệ sống đạt 68,5%. Cá chiên nuôi với mật độ cao tăng trưởng  
chậm hơn so với cá mật độ thấp, sự sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Từ kết quả thí nghiệm cho thấy mật  
độ nuôi từ 12-16 con/m3 là phù hợp với cá chiên thương phẩm giai đoạn 70 -500g nuôi lồng.  
Từ khóa: Cá chiên, mật độ, tăng trưởng, nuôi lồng.  
Ở tỉnh Phú Thọ, vài năm trở lại đây số  
lượng người nuôi cá chiên tăng cao, đặc biệt  
là người dân thuộc các huyện Đoan Hùng,  
Phù Ninh, Thanh Thủy, Thành phố Việt Trì...  
với hình thức nuôi chủ yếu là nuôi lồng đặt  
dưới sông. Diện tích mặt nước nuôi tại địa  
phương trung bình đạt từ 2.000-3.000m2,  
người nuôi chủ yếu dựa vào kinh nghiệm,  
sự hiểu biết và việc ứng dụng các giải pháp  
kỹ thuật vào thực tế điều kiện mô hình nuôi  
1. Đặt vấn đề  
Cá chiên (Bagarius rutilus Ng & Kottelat,  
2000) là một trong những loài cá nước ngọt  
bản địa, quý hiếm có giá trị dinh dưỡng, giá  
trị kinh tế cao [1], và được xếp vào nguy cấp  
bậc 2 [2]. Thịt cá chiên thơm ngon, giá thành  
cao nên loài cá này được nuôi ở nhiều nơi  
ở các tỉnh phía Bắc như Tuyên Quang, Hà  
Giang, Phú Thọ, Hòa Bình [3].  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Triệu Anh Tuấn và ctv.  
cá chiên của người dân còn rất nhiều hạn nâng cao sản lượng nuôi và nâng cao hiệu  
chế, chưa có quy trình kỹ thuật nuôi. Mật độ  
thả giống ngẫu nhiên, kích thước con giống  
không đồng đều, điều này đã ảnh hưởng  
không nhỏ đến năng suất và hiệu quả kinh tế.  
quả của quá trình nuôi thương phẩm, từ đó  
phát triển bền vững nghề nuôi cá chiên.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Hàng năm sản lượng cá chiên thương  
phẩm không đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu  
thụ của thị trường, do việc khai thác loài cá  
này bằng nhiều hình thức và do ô nhiễm môi  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Cá chiên được lựa chọn đạt các tiêu chí:  
kích thước đồng đều, khoẻ mạnh, không bị  
trường nước đang làm nguồn lợi loài cá này xây sát và dị tật được thu từ sông Lô, nuôi  
thuần hóa trước khi tiến hành thí nghiệm.  
giảm sút nghiêm trọng trong khi nhu cầu tiêu  
thụ ngày càng tăng cao [4]. Do vậy, cá chiên  
đang là đối tượng được quan tâm trong sản  
xuất giống và nuôi thương phẩm.  
Cá thí nghiệm có khối lượng dao động từ  
70-72 g/con, chiều dài thân từ 22-23 cm/con.  
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Hiện nay, nghề nuôi cá chiên đang phát  
triển ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang,  
Phú Thọ và Thanh Hóa [4]. Tuy nhiên, đây  
là loài cá dữ, bắt mồi chủ động và ăn động  
vật, chúng có thể ăn thịt lẫn nhau khi nuôi  
với mật độ không phù hợp. Do vậy vấn đề  
đặt ra cần phải nghiên cứu để xác định được  
mật độ nuôi phù hợp cho cá chiên giai đoạn  
nuôi thương phẩm là vấn đề rất cần thiết,  
trong kỹ thuật nuôi cá chiên thì mật độ thả  
có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống và khả năng  
sinh trưởng của cá. Việc xác định được mật  
độ nuôi phù hợp nhằm đảm bảo cho cá sinh  
trưởng tốt, rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ  
sống và nâng cao sản lượng nuôi. Từ những  
lý do trên nghiên cứu này thực hiện nhằm  
xác định được loại thức ăn phù hợp đối với  
cá chiên để từ đó phát triển bền vững nghề  
nuôi cá chiên.  
- Thời gian nghiên cứu: Từ 04/2019 đến  
8/2019.  
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được  
triển khai tại sông Lô, thuộc huyện Phù  
Ninh, Phú Thọ. Các thí nghiệm được triển  
khai trong các lồng (kích thước: 3 × 1,5  
× 2 m) đặt trên sông. Khung lồng sử dụng là  
ống thép mạ kẽm có đường kính 27 mm, lưới  
giăng được sử dụng là lưới dù, mắt lưới (2 ×  
2 mm) luôn được giữ căng bảo đảm diện tích  
thực và tăng khả năng thông thoáng với môi  
trường bên ngoài. Các lồng được bố trí đặt  
dưới sông nơi có độ sâu trung bình 8m, vật  
tốc dòng chảy đo được đạt trung bình 0,38 ±  
0,054 m/s.  
2.3. Bố trí thí nghiệm  
Thí nghiệm được bố trí với 3 nghiệm thức  
(NT) về mật độ gồm: NT1 mật độ 12 con/m3;  
NT2 mật độ 16 con/m3; NT3 mật độ 20 con/m3  
Mỗi nghiệm thức được nuôi trong các lồng,  
thể tích mỗi lồng 9,0 m3, được đặt trên sông,  
Chính vì vậy, nghiên cứu này thực hiện  
nhằm xác định được mật độ nuôi phù hợp đối  
với cá chiên để đảm bảo cho cá sinh trưởng  
tốt, rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ sống, mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Nguồn  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 20, Số 3 (2020): 77-84  
ADGL = (L2 - L1)/(t2 - t1)  
thức ăn là cá tạp (tép dầu), các nghiệm thức  
được bố trí cùng 1 điều kiện chăm sóc, khẩu  
phần cho ăn bằng 5-7% khối lượng thân cá/  
ngày, cho ăn 1 lần/ngày vào lúc 18h00 chiều.  
Thường xuyên kiểm tra môi trường nước  
trong các lồng nuôi.  
+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài đặc trưng  
của cá chiên (%/ngày):  
SGRL (%) = (lnL2 - ln L1)×100/(t2 - t1).  
+ Tốc độ tăng trưởng khối lượng tuyệt  
đối (g/ngày):  
Các chỉ tiêu về môi trường: Nhiệt độ được  
xác định bằng nhiệt kế bách phân, độ trong  
được đo bằng đĩa Secchi giá trị độ sâu được  
đọc 2 lần, lần 1 khi hạ từ từ xuống đến khi  
không nhìn thấy đĩa. Các chỉ tiêu pH, hàm  
lượng oxi hòa tan (DO) và TAN được xác  
định bằng các bột test kit Sera của Đức theo  
hướng dẫn của nhà sản xuất. Các yếu tố môi  
trường được đo 2 lần/ngày vào buổi sáng 8h  
và 16h, mỗi lần 2 mẫu. Vận tốc dòng chảy  
được xác định bằng khảng cách (S) điểm đầu  
và điểm cuối của lồng nuôi v=S/t (t- thời gian  
tính bằng giây).  
ADGW (g/ngày) = (W2 - W1)/(t2 - t1).  
+ Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá  
chiên (%/ngày):  
SGRW (%/ngày) = (lnW2 - lnW1)×100/  
(t2 - t1).  
Trong đó : L2, L1, W2, W1 là chiều dài và  
khối lượng tương ứng của cá chiên tại các  
thời gian t2, t1 (t1: thời gian ban đầu; t2: thời  
gian sau thí nghiệm).  
+ Hệ số phân đàn (Coeffi-cient Variation):  
CV = δ/Ẋ × 100(%): (δ: độ lệch chuẩn; Ẋ:  
giá trị trung bình).  
2.4. Một số chỉ tiêu theo dõi  
+ Tỷ lệ sống của cá chiên (%) .  
Cá chiên được thu mẫu định kỳ 1 tháng/  
lần, số lượng 30 con/nghiệm thức để kiểm  
tra tăng trưởng về khối lượng và kích thước.  
Kiểm tra tỷ lệ sống.  
SR (%) = (Số cá thu hoạch/Số cá thả ban  
đầu)×100 (%)  
Các chỉ số về sinh trưởng được đánh giá 1  
tháng 1 lần, mỗi lần thu ngẫu nhiên tối thiểu  
30 mẫu ở mỗi lồng, giá trị đại diện của mỗi  
chỉ tiêu là giá trị trung bình của 30 mẫu.  
Khối lượng của cá trong thí nghiệm được  
xác định vào thời điểm trước, trong quá trình  
thí nghiệm và sau khi kết thúc thí nghiệm.  
Kích thước chiều dài của cá được đo bằng  
thước kẹp panmer hiệu Mitutoyo của Nhật  
độ chính xác 0,01 mm. Khối lượng được xác  
định bằng cân phân tích có độ nhảy 0,01g.  
2.5. Xử lý số liệu  
Các số liệu về tỷ lệ sống, tăng trưởng  
theo ngày và đặc trưng được tính toán giá  
trị trung bình, độ lệch chuẩn và phân tích  
one-way ANOVA tìm sự khác biệt giữa các  
giá trị trung bình bằng so sánh LSD với phần  
mềm Excel. Các giá trị số liệu được xử lý  
thống kê với độ tin cậy 95% (α=0,05).  
Tính toán và xử lý số liệu tăng trưởng dựa  
theo Jara R. (1997)[6], Cao fujun (2009) [7].  
+ Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối  
(mm/ngày):  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Triệu Anh Tuấn và ctv.  
lồng giảm do lực cản của lưới vây quanh  
lồng nuôi. Vận tốc nước tương đối ổn định  
qua các tháng thí nghiệm.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Biến động một số yếu tố môi trường  
Các yếu tố môi trường sống có ảnh hưởng  
rất lớn tới sinh trưởng và phát triển của cá,  
đặc biệt là cá chiên, loài rất nhạy cảm với  
điều kiện môi trường. Kết quả theo dõi một  
số yếu tố môi trường trong các nghiệm thức  
thí nghiệm, nhiệt độ môi trường nước nằm  
trong khoảng 26,0-29,75oC, DO dao động  
5,8 - 5,95, pH ổn định (7,8). Hàm lượng các  
chất amoni hòa tan trong nước ổn định và đạt  
giá trị 0,32 mg/l.  
Các giá trị này đều nằm trong giới hạn  
cho phép nuôi cá nước ngọt và thích hợp cho  
sự sinh trưởng và phát triển của cá chiên [8].  
3.2. Tỷ lệ sống của cá chiên ở các mật độ  
khác nhau  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ  
nuôi có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá  
chiên nuôi lồng (Bảng 1). Tỷ lệ sống trung  
bình của cá ở cá nghiệm thức thí nghiệm  
dao động từ 68,5 - 85,5%, các nghiệm thức  
đều có sự sai khác thống kê (p < 0,05). Tỷ  
lệ sống cao nhất ở NT1 (85,5%), tiếp đến là  
NT2 (76,2%) và thấp nhất ở NT3 tỷ lệ sống  
đạt 68,5% (Hình 1).  
Vận tốc dòng chảy phía ngoài lồng dao  
động trong khoảng 0,38 ± 0,054 m/s và vận  
tốc này giảm ở phía trong lồng nuôi, vận tốc  
trung bình khoảng phía trong lồng nuôi dao  
động 0,30 ± 0,015 m/s; vận tốc phía trong  
Hình 1. Tỷ lệ sống của cá chiên ở 3 nghiệm thức mật độ  
Tỷ lệ sống của cá chiên ở NT1 trong thức ăn là cá tạp đạt 64,7% [9], Lê Minh Hải  
nghiên cứu này cao hơn so với các kết quả (2012) nuôi thương phẩm cá chiên trong ao  
nghiên cứu trước đây. Trong nghiên cứu của đất đạt 58,6% [10], so với một số đối tượng  
Hồ Sĩ Hiệp (2015) khi nuôi cá chiên thương cá da trơn khác cũng cho kết quả cao hơn  
phẩm ở cùng giai đoạn khi sử dụng nguồn như ở cá ngạnh 68,67 - 80,2% [11].  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 20, Số 3 (2020): 77-84  
2.3. Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng  
của cá chiên giai đoạn 70-500g nuôi lồng  
lô thí nghiệm. Trong quá trình nuôi cá chiên  
có sự tăng trưởng khác nhau ở các nghiệm  
thức thí nghiệm. Sau 150 ngày nuôi, tốc độ  
tăng trưởng về khối lượng của cá chiên được  
mô tả ở Hình 2, mật độ thả 12 con/m3 cho kết  
quả cao nhất (542,68 g/con), tiếp đến là mật  
độ thả 16 con/m3 (529,02 g/con) và thấp nhất  
là mật độ thả 20 con/m3 (512,37 g/con), giữa  
các nghiệm thức sự sai có ý nghĩa thống kê  
(p > 0,05).  
2.3.1. Tăng trưởng khối lượng của cá chiên  
Kết quả theo dõi tăng trưởng khối lượng  
của cá chiên trong các nghiệm thức được  
trình bày trong Bảng 1.  
Khối lượng cá đưa vào thí nghiệm dao  
động từ 71,15 - 71,25 g/con, sự sai khác  
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa các  
Bảng 1. Sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá chiên khi thí nghiệm ở các mật độ khác nhau  
Nghiệm thức mật độ  
Chỉ tiêu  
NT1  
NT2  
NT3  
Khối lượng ban đầu (g)  
Khối lượng cuối (g)  
ADGW (g/ngày)  
SGRW (%/ngày)  
Chiều dài ban đầu (cm)  
Chiều dài cuối (g)  
ADGL (cm/ngày)  
SGRL (%/ngày)  
CVW  
71,25 ± 0,30  
542,68a ± 2,95  
3,14a ± 0,021  
1,35a ± 0,001  
22,15 ± 0,20  
35,42a ± 1,39  
0,088a ± 0,025  
0,313a ± 0,003  
0,54  
71,15 ± 0,20  
529,02b ± 3,33  
3,05b ± 0,020  
1,33b ± 0,001  
22,20 ± 0,15  
34,29b ± 1,37  
0,080b ± 0,025  
0,289b ± 0,001  
0,62  
71,20 ± 0,25  
512,37c ± 4,16  
2,94c ± 0,025  
1,31c ± 0,001  
22,15 ± 0,15  
33,82c ± 1,45  
0,078 ± 0,032  
0,282c ± 0,002  
0,81  
CVL  
3,92  
4,00  
4,28  
Tỷ lệ sống (%)  
85,5 ± 0,68  
76,2 ± 0,60  
68,5 ± 0,67  
Ghi chú: Số liệu biểu diễn ở dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái giống nhau trong cùng một hàng thì  
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).  
Tốc độ tăng trưởng tương đối theo khối đến NT3 (2,94 g/ngày), sự khác biệt có nghĩa  
lượng của cá đối với các công thức mật độ thống kê (p > 0,05). Tăng trưởng khối lượng  
được ghi nhận thấp nhất ở NT3 (1,31%/ngày) bình quân ngày của NT1 trong nghiên cứu  
và cao nhất ở NT1 (1,35 %/ngày) (p > 0,05). này (3,14 g/ngày) tương đương với kết quả  
Kết quả trong nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Chung (2017)  
kết quả trong nghiên cứu của Võ Văn Bình [12], cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn  
và cs (2014) ở cùng mật độ khi sử dụng thức Bình và ctv (2014). Nguyên nhân của sự  
ăn là tép dầu có hàm lượng protein 40% cho khác biệt này có thể do cá chiên là loài cá  
nuôi cá chiên nuôi lồng với thời gian nuôi dữ, ăn thịt do đó khi nuôi cá với mật độ cao  
5 tháng. Xét tốc độ tăng trưởng khối lượng trong quá trình nuôi có sự phân đàn mạnh  
bình quân ngày của các nghiệm thức trong ảnh hưởng tới sự tăng trưởng về khối lượng  
thí nghiệm giảm dần từ NT1 (3,14 g/ngày) của cá chiên trong các nghiệm thức.  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Triệu Anh Tuấn và ctv.  
Hệ số phân đàn CVW về khối lượng của mật độ thấp cá phát triển đồng đều, ít cạnh  
cá cao nhất ở TN3 khi nuôi với mật độ 20 tranh nên hệ số phân đàn thấp theo kết quả tại  
con/m3 và giảm xuống qua NT2 và NT1 khi Hình 2. Như vậy mật độ nuôi đã ảnh hưởng  
nuôi với các mật độ thấp hơn theo kết quả tại phần nào đến tốc độ sinh trưởng của cá chiên  
Bảng 1. Có thể thấy cá chiên được nuôi với nuôi lồng trong thí nghiệm này.  
Hình 2. Tăng trưởng về trọng lượng của cá chiên ở 3 nghiệm thức thí nghiệm  
2.3.2. Tăng trưởng chiều dài của cá chiên ngày; 0,282 %/ngày). Điều này có thể lý giải  
do cá chiên là loài cá dữ, thiên về ăn động  
Kết quả nghiên cứu trong thí nghiệm này  
vật nên khi nuôi cá với mật độ cao sẽ dẫn tới  
cho thấy mật độ nuôi đã ảnh hưởng phần nào  
phân đàn mạnh đã làm ảnh hưởng tới sinh  
đến tăng trưởng chiều dài của cá chiên nuôi  
trưởng của cá. Khi nuôi với mật độ thưa, hệ  
lồng giai đoạn từ 70-500g. Tăng trưởng chiều  
số phân đàn thấp, cá sinh trưởng đồng đều.  
dài của cá chiên được mô tả trong Bảng 1. Ở  
Các giá trị sinh trưởng của cá chiên trong thí  
NT1 đạt giá trị cao nhất là 35,42 cm/con, tiếp  
nghiệm này cao hơn so với kết quả nghiên  
đến là NT2 (34,29 cm/ngày) và thấp nhất ở  
cứu của Lê Minh Hải (2012) khi nuôi trong  
NT3 đạt giá trị 33,82 cm/con. Sự khác biệt  
ao đất [10]. Kết quả hoàn toàn phù hợp với  
giữa các nghiệm thức có ý nghĩa thống kê  
tăng trưởng của một số loài cá da trơn đã  
(p > 0,05) Hình 3.  
được nghiên cứu trước đó như cá ngạnh [11].  
Tốc độ tăng trưởng chiều dài tuyệt đối và  
Như vậy mật độ nuôi cá trong nghiên cứu  
chiều dài đặc trưng của cá chiên có sự khác  
này đã ảnh hưởng phần nào tới sinh trưởng  
biệt giữa các nghiệm thức thí nghiệm, tăng  
của cá chiên nuôi lồng giai đoạn 70-500g tại  
trưởng lớn nhất ở NT1 (0,088 cm/ngày; 0,313  
vùng hạ lưu sông Lô. Kết quả được biểu diễn  
%/ngày), tiếp đến là NT2 (0,080 cm/ngày;  
cụ thể như Hình 3.  
0,289 %/ngày) và thấp nhất ở NT3 (0,078 cm/  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 20, Số 3 (2020): 77-84  
Hình 3. Tăng trưởng về kích thước chiều dài của cá chiên ở 3 nghiệm thức thí nghiệm  
[3] Mai Đình Yên (1978). Định loại cá nước ngọt  
các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa  
học và Kỹ thuật, Hà Nội.  
4. Kết luận  
Cá chiên giai đoạn đầu nuôi thương phẩm có  
thể thả nuôi với mật độ nuôi từ 12-16 con/m3, sử  
dụng thức ăn là cá tạp, tốc độ sinh trưởng của  
cá đạt 0,289-0,313 %/ngày. Khối lượng cá đạt  
529,02 - 542,68 g/con và chiều dài đạt 34,29 -  
35,42 cm/con đồng thời cho tỷ lệ sống cao nhất  
đạt từ 68,2 - 85,5% trong 5 tháng nuôi.  
[4] Phạm Báu (2000). Điều tra nghiên cứu hiện  
trạng và biện pháp bảo vệ, phục hồi một số loài  
cá hoang dã quí hiếm có nguy cơ tuyệt chủng  
trên hệ thống sông Hồng: Cá Anh vũ Semilabeo  
notabilis (Peters, 1880); Cá Bỗng Spinibarbus  
denticulatus (Oshima,1926); Cá Lăng chấm  
Hemibagrus guttatus (Lacépède, 1803); Cá  
Chiên Bagarius yarrelli (Sykes, 1841). Báo cáo  
kết quả đề tài cấp Nhà nước. Viện Nghiên cứu  
Nuôi trồng Thủy sản 1.  
Cần tiếp tục có những nghiên cứu về  
mật độ ở giai đoạn từ 500g trở lên cũng như  
phòng trị bệnh, các giải pháp kỹ thuật và thị  
trường nhằm nâng cao hiệu quả nuôi thương  
phẩm cá chiên trong điều kiện nhân tạo từ đó  
có khuyến cáo tới người nuôi.  
[5] Võ Văn Bình (2014). Nghiên cứu nuôi cá chiên  
trong ao nước chảy và trên lồng trên sông. Báo  
cáo kết quả đề tài cấp Nhà nước. Viện Nghiên  
cứu Nuôi trồng Thủy sản 1.  
[6] Jara R., Pazos A. J., Abad M., Garcia-Martin L.  
O. & Sanchez J. L. (1997). Growth of clam seed  
(Ruditapes decussatus) reared in the wastewater  
effluent from a fish farm in Galicia (N. W.  
Spain). Aquaculture, 158, 247-262.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Ngô Trọng Lư & Thái Bá Hồ (2001). Kỹ thuật  
nuôi thủy đặc sản nước ngọt: Tập 1. Nhà xuất  
bản Nông nghiệp, Hà Nội.  
[7] Cao F., Liu Z. & Luo Z.J. (2009). Effects of sea  
water temperature and salinity on the growth and  
survival of juvenile Meretrix meretrix Linnaeus.  
Journal of Applied Ecology, 20(10), 2545-2550.  
[2] Bộ Khoa học & Công nghệ (2000). Sách Đỏ  
Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật,  
Hà Nội.  
83  
pdf 7 trang yennguyen 12420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá chiên (Bagarius rutilus) nuôi lồng giai đoạn 70-500g tại hạ lưu sông Lô, tỉnh Phú Thọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_mat_do_den_ty_le_song_va_sinh_truong_cua_ca_ch.pdf