Thực trạng môi trường và dịch bệnh tại vùng nuôi tôm trên cát ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ DỊCH BỆNH TẠI VÙNG NUÔI TÔM TRÊN  
CÁT Ở THẠCH HÀ, CẨM XUYÊN VÀ NGHI XUÂN, HÀ TĨNH  
ENVIRONMENTAL SITUATION AND DISEASE AT THE ON-SAND FARMING SHRIMP AREA  
IN THACH HA, CAM XUYEN AND NGHI XUAN, HA TINH  
Trương Thị Mỹ Hạnh1, Nguyễn Thị Nguyện1, Trương Thị Thành Vinh2,  
Nguyễn Thị Là1, Nguyễn Thị Minh Nguyệt1, Nguyễn Thị Hạnh1,  
Lê Thị Mây1, Chu Chí Thiết1, Nguyễn Hữu Nghĩa1  
1Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I  
2 Đại học Vinh  
Tác giả liên hệ: Chu Chi Thiết (Emai:[email protected])  
Ngày nhận bài: 24/07/2020; Ngày phản biện thông qua: 20/10/2020; Ngày duyệt đăng: 15/11/2020  
TÓM TẮT  
Điều tra được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng một số yếu tố thủy lý, thủy hóa trong nước ao  
và một số bệnh ở tôm tại vùng nuôi tôm trên cát thuộc 3 huyện Thạch Hà, Nghi Xuân và Cẩm Xuyên, Hà  
Tĩnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố thủy lý trong nước bao gồm nhiệt độ, độ mặn và tổng chất rắn lơ  
lửng tại vùng nuôi có giá trị thích hợp để nuôi tôm chân trắng. Bên cạnh đó hầu hết yếu tố thủy hóa trong  
nước (DO, pH, một số muối dinh dưỡng và oxy tiêu hao) cũng có giá trị nằm trong khoảng an toàn đối với  
tôm nuôi, ngoại trừ hàm lượng H2S cao dao động trong khoảng 0,25-0,43mg/L. Kết quả phân tích 3 bệnh  
chính phổ biến ở tôm thẻ chân trắng bao gồm bệnh do vi rút đốm trắng (WSSV), bệnh hoại tử gan tụy cấp  
(AHPND) và bệnh vi bào tử trùng (EHP) cho thấy: bệnh EHP bắt gặp nhiều nhất ở tôm chân trắng nuôi tại  
Nghi Xuân, Thạch Hà và Cẩm Xuyên ở cả 03 tháng nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 10, tiếp đến là bệnh  
AHPND xuất hiện vào tháng 9-10. Trong khi đó bệnh WSSV chỉ xuất hiện vào tháng 9 tại Nghi Xuân với tỷ  
lệ nhiễm thấp (5,5%).  
Từ khóa: tôm nuôi trên cát, môi trường, bệnh, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân  
ABSTRACT  
The study was conducted to assess the status of some physical, hydrological factors in shrimp ponds  
and some shrimp diseases on-sand farming area in 3 districts of Thach Ha, Nghi Xuan and Cam Xuyen, Ha  
Tinh. The results showed that the factors in the water including temperature, salinity and total suspended  
solids had the appropriate value for raising L. vannamei. Besides, most of the factors in water like DO, pH,  
some nutritious salts and oxygen consumedwere also within the safe range for farmed shrimp, except for  
high H2S content fluctuating in the range 0.25-0.43mg/L. For shrimp disease, the study focused on white  
spot syndrome virus (WSSV), acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) and bacterial spores,  
(EHP) and results showed that: EHP occurred most common in white-leg shrimp cultured in Nghi Xuan,  
Thach Ha and Cam Xuyen in three months studied from August to October, followed by AHPND disease  
which appeared in September to October. WSSV disease only appeared in September in Nghi Xuan with a  
low infection rate (5.5%).  
Key world: sand farming shrimp area, environment, diseases, Thach Ha, Cam Xuyen, Nghi Xuan  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
đó Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân là 3  
huyện thuộc Hà Tĩnh có diện tích hoạt động  
nuôi tôm trên cát phát triển lớn nhất của địa  
phương với diện tích tương ứng 370 ha, 320  
ha và 180 ha. Mô hình nuôi tôm trên cát tại  
mỗi huyện ban đầu đều mang lại hiệu quả  
Hiện nay, diện tích cát hoang hóa ven  
biển ở nhiều tỉnh được sử dụng nuôi tôm tạo  
nên mô hình nuôi tôm trên cát. Hà Tĩnh là  
một trong số 13 tỉnh miền Trung đã và đang  
phát triển mô hình nuôi tôm trên cát, trong  
36 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
kinh tế cao, đã và đang góp phần quan trọng  
vào đời sống kinh tế - xã hội, đem lại việc  
làm, thu nhập cho một bộ phận lớn người  
dân ven biển Hà Tĩnh. Tuy nhiên, để mô hình  
nuôi tôm trên cát phát triển bền vững cần có  
điều tra đánh giá thực trạng vùng nuôi hàng  
năm, nhằm sớm đưa ra các giải pháp kịp thời  
trong trường hợp cần thiết.  
Xuất phát từ nhận thức trên, nghiên cứu  
được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng một  
số yếu tố chính về môi trường nước, bệnh  
tôm. Kết quả là cơ sở khoa học để từ đó đề  
xuất giải pháp phù hợp, đảm bảo phát triển  
nghề nuôi tôm trên cát ở Hà Tĩnh theo hướng  
bền vững.  
(WSSV), bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND),  
bệnh ký sinh trùng EHP.  
Phân tích số liệu: Phân tích số liệu thống kê  
mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel 2010  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO  
LUẬN  
1. Môi trường trong vùng nuôi tôm trên cát  
tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân.  
1.1. Yếu tố thủy lý trong nước (nhiệt độ, độ  
mặn và tổng chất rắn lơ lửng)  
Nhiệt độ trung bình nước thay đổi theo  
thời gian từ tháng 8 đến tháng 10, tuy nhiên  
sự thay đổi này không lớn giữa các lần thu và  
vùng thu (Hình 1a). Nhiệt độ thích hợp nhất  
cho tôm chân trắng phát triển là từ 27-300C  
[31], nhiệt độ lớn hơn 33°C hay thấp hơn 25°C  
thì khả năng bắt mồi của tôm giảm 30-50%,  
tốc độ sinh trưởng chậm, hệ số chuyển đổi thức  
ăn cao và sức ăn sẽ giảm, tôm giảm hoạt động  
tạo điều kiện cho mầm bệnh tấn công [11] [31].  
Như vậy vào thời điểm nghiên cứu kết quả cho  
thấy nhiệt độ môi trường nước hoàn toàn phù  
hợp cho tôm thẻ chân trắng phát triển.  
II. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG  
PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thời gian thực hiện: tháng 8 đến tháng 10  
năm 2019, tần suất thu mẫu 2 tuần/lần  
Địa điểm thu mẫu: tại vùng nuôi tôm trên  
cát tập trung tại 3 huyện với tổng số 60 ao, cụ  
thể tại Thạch Hà (15 ao), Cẩm Xuyên (33 ao)  
và Nghi Xuân (12 ao). Tổng số mẫu thu phân  
tích là 360 cho mỗi thông số.  
Độ mặn trung bình có xu hướng giảm dần  
từ tháng 8 đến tháng 10, độ mặn thấp nhất vào  
tháng 10 (17-19‰), tiếp đến tháng 9 (17-22‰)  
và cao nhất vào tháng 8 (30-32‰) (Hình 1b).  
Trong thời gian này tại Bắc Trung Bộ (đặc biệt  
Nghệ An và Hà Tĩnh) thường xuyên xuất hiện  
các đợt mưa lớn kéo dài 3-5 ngày, vì vậy lượng  
mưa đã ảnh hưởng đến sự thay đổi của độ mặn.  
Tôm thẻ chân trắng có thể sống trong khoảng  
độ mặn dao động lớn từ 0-36‰, tối ưu ở 10-  
19‰ [20]. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ  
mặn ở các ao tôm đạt 17-32‰ là phù hợp cho  
tôm nuôi phát triển.  
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trung bình  
ở vùng nuôi tôm trên cát ở Cẩm Xuyên có  
xu hướng giảm dần từ tháng 8 đến tháng 10  
(120-59,5mg/L), trong khi đó Nghi Xuân và  
Thạch Hà có xu hướng cao ở tháng 8 (109-  
123mg/L), tiếp đến tháng 10 (75-105mg/L) và  
thấp nhất vào tháng 9 (69-81mg/L) (Hình 1c).  
Nhìn chung, với giá trị TSS đã ghi nhận được  
tại vùng nghiên cứu không lớn hơn so với kết  
quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và Võ  
Thành Toàn., 2008 [3]; Phạm Thị Tuyết Ngân  
Địa điểm phân tích mẫu: Phòng nghiên cứu  
môi trường, Trung tâm Quan trắc môi trường  
và bệnh thủy sản miền Bắc (CEDMA). Viện  
Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I.  
Phương pháp chọn hộ nuôi thu mẫu đại diện  
cho vùng nuôi: Chọn ngẫu nhiên  
Phương pháp thu mẫu: Các chỉ tiêu TAN  
(N-NH4+/N-NH3), TSS, N-NO2, N-NO3, H2S,  
BOD5, COD thu trong chai nhựa, mẫu được  
thu tại 3 vị trí theo đường chéo của ao. Tất cả  
các mẫu đều được ghi chú cẩn thận và được giữ  
lạnh (4-8ºC) trong suốt quá trình vận chuyển  
đến khi phân tích. Tại phòng thí nghiệm các  
thông số nêu trên được phân tích theo phương  
pháp chuẩn, đảm bảo hoạt động thử nghiệm và  
công nhận ISO/IEC 17025: 2017. Bên cạnh đó,  
chỉ tiêu, DO, pH, độ mặn, nhiệt độ được đo tại  
hiện trường.  
Mẫu tôm được cố định trong cồn với tỷ  
lệ mẫu:cồn = 1:10, mẫu được giữ ở nhiệt độ  
thường chuyển về phòng thí nghiệm phân tích.  
Kỹ thuật PCR được áp dụng phân tích 3 chỉ tiêu  
bệnh chính bao gồm: vi rút gây bệnh đốm trắng  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 37  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
và Trương Quốc Phú., 2010 [5] với TSS trong  
ao lần lượt đạt 746,6 và 171,7mg/l. TSS có giá  
trị cao và biến động có thể bị ảnh hưởng bởi  
các yếu tố: mật độ tảo, xác chết của tảo, thức  
ăn dư thừa bị thối rữa, phân thải của tôm nuôi,  
xác chết vi sinh vật, keo đất (huyền phù) có  
sẵn trong nguồn cấp, các vật chất bị rửa trôi từ  
xung quanh ao khi gặp mưa lớn.  
Hình 1: Giá trị trung bình và sai số chuẩn của thông số nhiệt độ (a), độ mặn (b) và tổng chất rắn lơ lửng -  
TSS (c) trong nước ao nuôi tôm trên cát từ tháng 8 đến tháng 10 tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà  
1.2. Yếu tố thủy hóa trong nước (DO, pH, H2S,  
một số muối dinh dưỡng và oxy tiêu hao)  
3,4-4,2mg/L [18], ở giai đoạn tôm nuôi thương  
phẩm DO lý tưởng là >5ppm và không vượt quá  
15ppm [30]. Oxy hòa tan đóng một vai trò quan  
trọng trong tăng trưởng của tôm thông qua ảnh  
hưởng trực tiếp đến tiêu thụ thức ăn và lột xác,  
DO thấp có thể gây ảnh hưởng đến quá trình  
oxy hóa các chất từ dạng oxy hóa đến dạng khử,  
gây hại trực tiếp cho tôm giảm khả năng trao đổi  
chất ở tôm đồng thời giảm sự tăng trưởng, lột  
xác và gây tử vong cho tôm [29].  
DO trung bình có giá trị khác nhau giữa các  
thời gian điều tra với DO trung bình thấp nhất  
đo được ở Thạch Hà vào tháng 8 (4,57mg/L)  
nhưng cao nhất vào tháng 10 (6,78mg/L) (Hình  
2a). Về cuối vụ nuôi, tôm lớn hơn nhu cầu oxy  
tăng vì vậy hoạt động kỹ thuật nhằm tăng oxy  
(quạt khí) được vận hành nhiều hơn, phù hợp  
với kết quả DO ở cuối vụ nuôi (tháng 10) cao  
hơn tháng đầu vụ nuôi (tháng 8). Tôm thẻ chân  
trắng ở giai đoạn nhỏ (postlarvae) phát triển và  
tăng trọng khối lượng tốt trong điều kiện DO đạt  
Giá trị pH trung bình trong ao nuôi tôm có sự  
dao động lớn nhất được ghi nhận ở Nghi Xuân  
với mức 0,5 đơn vị từ 7,3-7,8 trong khi đó 2 vùng  
38 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
nuôi tôm còn lại là Cẩm Xuyên và Thạch Hà có  
pH dao động thấp với mức 0,1 đơn vị từ 7,5-7,6  
(Hình 2b), đồng thời các giá trị dao động trong  
khoảng tối ưu. pH là một thông số quan trọng để  
kiểm soát sự tăng trưởng và sự sống của tôm, pH  
cũng ảnh hưởng đến các chất chuyển hóa và quá  
trình vật lý khác, pH ổn định cho thấy tảo và vi  
sinh vật trong ao nuôi có sự cân bằng tốt [29].  
Hydrogen sulfide (H2S) trung bình có giá trị  
biến động lớn nhất tại vùng nuôi Nghi Xuân  
(0,02-0,043 mg/L) so với Thạch Hà (0,03-  
0,032mg/L) và Cẩm Xuyên (0,025-0,034mg/L)  
(Hình 2c). Tôm thẻ chân trắng (P. vannamei)  
postlarvae có thể chịu đựng được khi giá trị  
H2S ở mức 0,008mg/L và tôm thương phẩm  
có thể chịu đựng được ở mức 0,019mg/L [28],  
như vậy có thể thấy tại cả 3 vùng nghiên cứu  
giá trị H2S trong nước nuôi tôm đều cao hơn  
0,019 mg/L vượt mức chịu đựng của tôm chân  
trắng, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm. Ảnh hưởng  
đầu tiên của H2S đến tôm nuôi là ngăn sự hấp  
thu oxy của tôm. Khi nồng độ H2S ở mức thấp,  
mức này ảnh hưởng làm tôm suy yếu, tôm bơi  
chậm chạp và khiến cho tôm dễ bị tổn thương  
với bất kỳ một tác động nhỏ nào khác ngay cả  
khi chỉ tiếp xúc trong một thời gian ngắn. Khi  
nồng độ H2S cao (4mg/L), tỉ lệ chết hàng loạt  
xảy ra ngay cả khi tiếp xúc trong một thời gian  
ngắn [21]. H2S cũng có thể gây phá hủy dần  
các mô bằng cách gây kích ứng các mô mềm  
trong mang, ruột, thành dạ dày và gan tụy. Khi  
nồng độ H2S nằm ngoài giới hạn cho phép sẽ  
gây sốc tôm, làm giảm khả năng đề kháng của  
tôm đối với các bệnh lây nhiễm [28].  
Hình 2: Giá trị trung bình và sai số chuẩn của thông số DO (a), pH (b) và H2S (c) trong nước ao nuôi  
tôm trên cát từ tháng 8 đến tháng 10 tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà  
Một số muối dinh dưỡng  
nitrite và nitrate ít độc hơn đối với tôm, NH3 có  
thể khuếch tán qua màng tế bào vật nuôi [14],  
làm tổn thương mô mang và làm giảm khả năng  
vận chuyển oxy trong máu [26]. Tuy nhiên tính  
độc của NH3 phụ thuộc vào pH, nhiệt độ và độ  
mặn [8]. Nồng độ NH3 đạt 0,7-3mg/L đã giết  
NH3 trung bình trong ao nuôi tôm tại vùng  
nghiên cứu có biến động giữa các tháng và cao  
nhất được ghi nhận ở tháng 9 (0,03-0,048mg/L)  
thấp nhất ở tháng 10 (0,01-0,03mg/L) (Hình  
3a). Trong nước amoniac là chất độc nhất so với  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 39  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
chết 50% tôm nuôi nước lợ và 0,05-0,15mg/L  
là giá trị an toàn đối với tôm nuôi [12] như vậy  
mặc dù NH3 ở vùng điều tra có biến động tuy  
nhiên các giá trị đo được đều nằm trong khoảng  
an toàn đối với tôm nuôi.  
giảm sự tăng trưởng của tôm nhưng không ảnh  
hưởng đến sự sống của chúng, nồng độ an toàn  
tôm chân trắng trong ao nuôi trương phẩm là <  
0,45 mg/L [19]. Như vậy nồng độ N-NO2- phân  
tích được ở vùng nuôi tôm trên cát tại Nghi Xuân,  
Cẩm xuyên và Thạch Hà có giá trị trong giới hạn  
an toàn cho tôm phát triển.  
Nồng độ N-NH4+ trung bình có trong ao nuôi  
dao động 0,4-0,89mg/L và phần lớn có xu hướng  
cao nhất vào tháng 9 (giữa vụ nuôi) (Hình 3b).  
Theo giới hạn quy định cho phép trong nuôi trồng  
thủy sản đối với chỉ tiêu N-NH4+ trong nước biển  
là <0,1mg/L [7]. Trong khí đó, một số nghiên  
khác đã chỉ ra giới hạn chịu đựng của tôm chân  
trắng là ≤ 1,22mg/L [15] hay một nhận định khác  
đưa ra giới hạn an toàn cho tôm tăng trưởng là  
< 2,44mg/L [24]. Như vậy giá trị N-NH4+ không  
ảnh hưởng đến tôm nuôi thuộc vùng nghiên cứu.  
Nồng độ N-NO2- trung bình trong vùng  
nghiên cứu có xu hướng tăng dần về cuối vụ nuôi  
(0,07-0,29 mg/L), ngoại trừ vùng Nghi Xuân cho  
kết quả với xu hướng ngược lại (từ 0,41mg/L vào  
tháng 8 xuống 0,07mg/L vào tháng 10) (Hình  
3c). Nồng độ N-NO2- phổ biến tăng cao vào vào  
cuối vụ, và gây độc cho tôm. Khi phơi nhiễm tôm  
với nồng độ N-NO2- là 4 mg/L trong 2 ngày làm  
Nồng độ N-NO3- trung bình có giá trị khác  
nhau ở các lần thu mẫu, tháng 8 giao động  
29-30mg/L, tháng 9 giao động 15-17mg/L và  
tháng 10 giao động 12,5-13,3mg/L (Hình 3d).  
N-NO3- được tạo ra trong quá trình phân hủy  
chất hữu cơ, chính vì vậy hàm lượng N-NO3-  
thường tăng cao về cuối vụ nuôi. Tuy nhiên  
kết quả nghiên cứu này trái ngược do bởi hiện  
nay mô hình nuôi tôm trên cát tại địa phương  
phổ biến thay 15-30% nước hàng ngày. Theo  
nghiên cứu của David et al. (2011) [13] thì  
N-NO3- ở mức 35 - 220 mg/l không ảnh hưởng  
đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm.  
Tuy nhiên, ở mức cao hơn 220 mg/l thì những  
tỷ lệ này bị ảnh hưởng đáng kể, tôm giảm tăng  
trưởng, bỏ ăn, hạn chế trao đổi chất, suy giảm  
chức năng nội tiết và tỷ lệ chết tăng [13].  
Hình 3: Giá trị trung bình và sai số chuẩn của thông số NH3 (a), N-NH4+ (b), N-NO2- (c) và N-NO3- (d)  
trong nước ao nuôi tôm trên cát từ tháng 8 đến tháng 10 tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà  
40 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
Oxy tiêu hao  
Giá trị COD trung bình ở 3 vùng nghiên cứu  
đều có xu hướng giảm dần từ tháng 8 đến tháng  
10 tương ứng lần lượt dao động trong khoảng  
7,5-10mg/L và 3,7-4,9mg/L (Hình 4b). Nồng  
độ COD cao phản ánh mức độ ô nhiễm các  
hợp chất hữu cơ trong nước hoặc sự suy giảm  
của sức khỏe hệ sinh thái dưới nước. Theo  
quy định kỹ thuật quốc gia về ven biển chất  
lượng nước thì nồng độ COD < 3 mg/L mới  
đảm bảo hệ thủy sinh được an toàn [6]. Nồng  
độ COD trung bình trong nghiên cứu này dao  
động 3,7-10mg/L, thấp hơn nhiều so với kết  
quả nghiên cứu của Nguyen Van Trai (2008)  
[25] khi nghiên cứu khu vực nuôi tôm tại Cần  
Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị COD  
đạt 4,7-58,9 mg/L tại các khu vực khác nhau.  
Giá trị BOD5 trung bình trong ao nuôi tôm  
trên cát tại 3 điểm nghiên cứu Cẩm Xuyên,  
Nghi Xuân và Thạch Hà có xu hướng giảm  
theo thời gian về cuối vụ nuôi trong khoảng  
dao động 4,4-5,6mg/L vào tháng 8, tiếp đến  
3,4-3,7mg/L vào tháng 9 và thấp nhất 2,3-  
3,1mg/L vào tháng 10 (Hình 4a). Giá trị BOD5  
cho thấy mức độ ô nhiễm của môi trường nước,  
để bảo vệ hệ sinh thái ven biển BOD5 được  
đề xuất < 6mg/L [10], trong khi đó ở ao nuôi  
tôm BOD5 < 30mg/L được xác định an toàn  
cho tôm nuôi [9]. Trong nghiên cứu này BOD5  
tại các vùng nuôi tôm đều đạt <6mg/L vì vậy  
không ảnh hưởng đến tôm nuôi cũng như hệ  
sinh thái ven biển.  
Hình 4: Giá trị trung bình và sai số chuẩn của thông số BOD5 (a) và COD (b) trong nước ao nuôi tôm  
trên cát từ tháng 8 đến tháng 10 tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà  
2. Bệnh ở tôm nuôi trong vùng nuôi tôm trên  
cát tại Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân.  
Điềutratậptrung3bệnhchínhphổbiếnởtôm  
thẻ chân trắng bao gồm bệnh do vi rút đốm trắng  
(WSSV), bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND)  
và bệnh vi bào tử trùng (EHP). Kết qủa điều tra  
cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh EHP trung bình bắt  
gặp phổ biến tại Nghi Xuân, Thạch Hà và Cẩm  
Xuyên ở hầu hết các tháng trong vụ nuôi, tiếp  
đến bệnh AHPND, trong khi đó bệnh WSSV chỉ  
xuất hiện vào giữa vụ nuôi tại Nghi Xuân với tỷ  
lệ nhiễm thấp (5,5%) (Hình 5).  
24,1%) và đầu vụ nuôi không có tôm nhiễm  
AHPND. Trong khi đó theo FAO., 2016 thì  
bệnh AHPND thường xảy ra ở giai đoạn đầu  
nuôi thương phẩm từ hơn 20-45 ngày tuổi (tức  
tháng 1 và 2 của vụ nuôi).  
Tôm nhiễm EHP ở tôm tại vùng nghiên cứu  
cũng cho thấy diễn biến phức tạp của bệnh,  
đồng thời kết quả cho thấy EHP nhiễm ở các  
giai đoạn nuôi từ mới thả tôm (tháng 8) đến cuối  
vụ nuôi (tháng 10), đặc biệt cao nhất vào đầu  
vụ ở vùng nuôi tôm Cẩm Xuyên. Đối với bệnh  
EHP, nghiên cứu gần đây nhất của của Lê Hồng  
Phước và ctv., 2019 [2] cũng cho thấy, tỷ lệ tôm  
nuôi nhiễm EHP khá cao, trung bình 41% ở 3  
tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu. Bệnh EHP  
Tôm nhiễm bệnh AHPND ở 3 vùng điều  
tra với cùng xu hướng cao nhất vào cuối vụ  
nuôi (43,9-90%), tiếp đến giữa vụ nuôi (5,5-  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 41  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
không gây ra tỷ lệ chết cao trên tôm nhưng ảnh  
hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng của  
tôm, điều này đã gây thiệt hại nặng nề cho kinh  
tế nghề nuôi tôm nước lợ, thậm chí thiệt hại hơn  
so với bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) [23]  
và tương đương với những đợt bùng phát bệnh  
đốm trắng do vi rút (WSSV) gây ra [17]. Những  
thiệt hại kinh tế do bệnh EHP gây ra đã được ghi  
nhận và EHP hiện nay được coi là một mối đe  
dọa nghiêm trọng đối với nuôi tôm nước lợ [27],  
với những vùng nuôi bị thiệt hại do bệnh gây ra  
ước tính 48.717 tấn tôm [22].  
WSSV xuất hiện tại Việt Nam lần đầu tiên  
vào năm 1993 [4]. Đến nay bệnh vẫn diễn ra  
song chưa có biện pháp phòng, kiểm soát bệnh  
hiệu quả. Sau hơn 20 năm xuất hiện, WSSV  
đã lan rộng ảnh hưởng với 25 tỉnh thành tại  
275 xã thuộc 82 huyện vào năm 2016 [1].  
Năm 2019 kết quả WSSV thu được âm tính  
tại 2 vùng Thạch Hà và Cẩm Xuyên, duy chỉ  
có 1 vùng nuôi tôm thuộc Nghi Xuân nhiễm  
với tỷ lệ thấp 5,5% vào giữa vụ nuôi, đây là  
tín hiệu tốt trong quá trình quản lý kiểm soát  
bệnh WSSV tại địa phương.  
Hình 5: Tỷ lệ nhiễm trung bình của WSSV, AHPND, EHP ở tôm thẻ chân trắng nuôi trên cát tại  
Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà trong vụ nuôi thứ 2 của năm 2019  
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Vụ nuôi thứ 2 năm 2019, bệnh EHP bắt gặp  
phổ biến ở tôm chân trắng nuôi tại Nghi Xuân,  
Thạch Hà và Cẩm Xuyên ở cả đầu, giữa và  
cuối của vụ nuôi, tiếp đến là bệnh AHPND chỉ  
xuất hiện vào giữa và cuối vụ nuôi tại 3 vùng  
nuôi. Trong khi đó, bệnh WSSV chỉ xuất hiện  
vào giữa vụ nuôi tại Nghi Xuân với tỷ lệ nhiễm  
thấp (5,5%).  
Kết luận:  
Trong vụ nuôi thứ 2 năm 2019 (từ tháng 8  
đến hết tháng 10), yếu tố thủy lý trong nước  
bao gồm nhiệt độ, độ mặn và tổng chất rắn  
lơ lửng tại vùng nuôi tôm trên cát tại Cẩm  
Xuyên, Nghi Xuân và Thạch Hà có giá trị nằm  
trong khoảng thích hợp cho nuôi tôm chân  
trắng. Bên cạnh đó hầu hết yếu tố thủy hóa  
trong nước (DO, pH, một số muối dinh dưỡng  
và oxy tiêu hao) cũng có giá trị nằm trong  
khoảng an toàn đối với tôm nuôi, ngoại trừ  
hàm lượng H2S cao dao động trong khoảng  
0,25-0,43mg/L.  
Kiến nghị:  
Tiếp tục thực hiện điều tra nghiên cứu đánh  
giá thực trạng môi trường và dịch bệnh vùng  
nuôi tôm trên cát tại Cẩm Xuyên, Nghi Xuân,  
Thạch Hà hàng năm. Đồng thời mở rộng thực  
hiện điều tra ở các huyện khác thuộc tĩnh Hà  
Tĩnh có hoạt động nuôi tôm trên cát.  
42 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
1. Cục Thú y (2016). Công tác Thú Y năm 2016 và Kế hoạch công tác Thú Y năm 2017. Báo cáo chuyên đề.  
tr. 1–14.  
2. Lê Hồng Phước; Đặng Ngọc Thùy; Thới Ngọc Bảo; Nguyễn Thanh Trúc; Trần Minh Thiện; Trương Hồng  
Việt; Đoàn Văn Cường. (2019). Báo cáo tổng kết nhiệm vụ: Đánh giá một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh  
vi bào tử trùng (EHP) trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại một số tỉnh trọng điểm Đồng Bằng Sông Cửu  
Long và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường, hạn chế phát sinh bệnh trong thời gian tới;  
3. Nguyễn Thanh Long, Võ Thành Toàn. Đánh giá mức độ tích lũy đạm, lân trong mô hình nuôi tôm sú  
(Penaeus monodon) thâm canh. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ 2008 (1): 44-52.  
4. Nguyễn Văn Hảo (2004). Một số bệnh thường gặp trên tôm Sú, Các Phương Pháp Chẩn Đoán và Phòng Trị.  
Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. 1-225.  
5. Phạm Thị Tuyết Ngân và Trương Quốc Phú. 2010. Biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm sú  
(Penaeus monodon) thâm canh tại Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học (15a) 179-188,  
6. QCVN 10:2008/BTNMT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ  
7. QCVN 10-MT:2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển.  
Tài liệu tiếng Anh  
8. Bower C.E. & Bidwell J.P. (1978) Ionization of ammonium in seawater: effects of temperature, pH and  
salinity. Journal of the Fisheries Research Board of Canada 35, 1012–1016  
9. Boyd, C.E., and Gautier.D. 2000. “Effluent Composition & Water Quality StandardsNo Title.” Implementing  
GAA’s Responsible Aquaculture Program.  
10. Boyd, C.E., and B.W. Green. 2002. “Coastal Water Quality Monitoring in Shrimp Farming Areas, an  
Example from Honduras. Consortium Program on Shrimp Farming and the Environment. Word Bank, NACA,  
WWF, FAO.  
11. Chanratchakool, P., 1995. White patch disease of black tiger shrimp (Penaeus monodon). AAHRI  
Newsletter. 4, 3  
12. Claude E. Boyd (2018). Ammonia nitrogen dynamics in aquaculture. Global Aquaculture Alliance. https://  
13. David D. K, Stephen A. S, George J. F (2011). High nitrate levels toxic to shrimp. Global Aquaculture  
14. Emerson, Kenneth, Rosemarie C. Russo, Richard E. Lund, and Robert V. Thurston. 1975. “Aqueous  
Ammonia Equilibrium Calculations: Effect of PH and Temperature.” Journal of the Fisheries Research Board  
of Canada.  
15. Espericueta M. G, Martha H, Federico P(2000). Effects ofAmmonia on Mortality and Feeding of Postlarvae  
Shrimp Litopenaeus vannamei. Bulletin of Environmental Contamination and Toxicology 65(1):98-103  
16. FAO (2016). Second International Technical Seminar/Workshop on Acute hepatopancreatic necrosis  
disease (AHPND): there is a way forward” under the auspices of the FAO Technical Cooperation Programme  
TCP/INT/3502 and TCP/INDaT/3501 that was held in Bangkok, Thailand from 23–25 June. p: 73.  
17. Flegel, T.W., 2001. The shrimp response to viral pathogens. In: Browdy, C.L., Jory, D.E. (Eds.), The  
New Wave, Proceedings of the Special Session on Sustainable Shrimp Culture, Aquaculture 2001. World  
Aquaculture Society, Baton Rouge, LA, pp. 254–278.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 43  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
18. Jagadish N.M and Danya B. R (2015). Growth of cultured Litopenaeus vannamei (Boone, 1931) of  
Brackish water culture system in rainy season with artificial diet. European Journal of Experimental Biology,  
2015, 5(4):24-27.  
19. Gross, Amit, ShaiAbutbul, and Dina Zilberg. 2004. “Acute and Chronic Effects of Nitrite on White Shrimp,  
Litopenaeus Vannamei, Cultured in Low-Salinity Brackish Water.” Journal of the World Aquaculture Society.  
20. Hernández R., Mónica, L. Fernando Bückle R., Elena Palacios, and Benjamín Barón S. 2006. “Preferential  
Behavior of White Shrimp Litopenaeus Vannamei (Boone 1931) by Progressive Temperature-Salinity  
Simultaneous Interaction.” Journal of Thermal Biology.  
21. Kungvankij, P., and T.E. Chua. 1986. “SHRIMP CULTURE: POND DESIGN, OPERATION AND  
MANAGEMENTNo Title.” Aquaculture Department, Southeast Asian Fisheries Development Center 2: 345.  
22. Kalaimani, N., Ravisankar, T., Chakravarthy, N., Raja, S., Santiago, T.C. and Ponniah,A.G. 2013. Economic  
Losses due to Disease Incidences in Shrimp Farms of India. Fish. Techn. 50: 80-86  
23. [23]. Kummari, S., V. Haridas, D., Handique, S., Peter, S., Rakesh, C. G., Sneha, K. G., … Pillai, D.  
(2018). Incidence of Hepatopancreatic Microsporidiasis, by Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) in Penaeus  
vannamei Culture in Nellore District, Andhra Pradesh, India and the Role of Management in its Prevention and  
Transmission. International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences.  
24. Lin Y C and Chen Jiann-Chu. (2001). Acute toxicity of ammonia on Litopenaeus vannamei Boone juveniles  
at different salinity levels. Journal of Experimental Marine Biology and Ecology 259(1):109-119  
25. Nguyen Van Trai, 2008. The influences of shrimp farming and fishing practices on natural fish conservation  
in Can Gio, Ho Chi Minh City, Vietnam. Ph.D. Thesis, University of Newcastle  
26. Racotta, Ilie S., and Roberto Hernández-Herrera. 2000. “Metabolic Responses of the White Shrimp,  
Penaeus Vannamei, to Ambient Ammonia.” Comparative Biochemistry and Physiology - A Molecular and  
Integrative Physiology.  
27. Raveendra, M., Suresh, G., Nehru, E., Pamanna, D., Venkatesh, D., Yugandhar Kumar, M., Neeraja, T.  
(2018). Effect of Microsporidian Parasite Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) on Pond Profitability in Farmed  
Pacific White Leg Shrimp Litopenaeus vannamei. International Journal of Current Microbiology and Applied  
28. Soraphat Panakorn. 2016. H2S Toxicity–The Silent Killer. AQUA CULTURE Asia Pacific (Editor/  
Publisher, Zuridah Merican, email [email protected]). Volume 12, Number 2, Page 14, March/April  
2016.  
29. Venkateswarlu, V, PV Seshaiah, P Arun, and PC Behra. 2019. “A Study on Water Quality Parameters in  
Shrimp L. Vannamei Semi-Intensive Grow out Culture Farms in Coastal Districts of Andhra Pradesh, India.”  
International Journal of Fisheries and Aquatic Studies 4(4): 394–99.  
30. Whetstone, J.M., G.D. Treece, C. L.B and A.D. Stokes, 2002. Opportunities and Constrains in Marine  
Shrimp Farming. Southern Regional Aquaculture Center (SRAC) publication No. 2600 USDA.  
31. Wyban, J, W a Walsh, and D M Godin. 1995. “Temperature Effects on Growth, Feeding Rate and Feed  
Conversion of the Pacific White Shrimp (Penaeus Vannamei).” Aquaculture 138(95): 267–79. http://www.  
sciencedirect.com/science/article/pii/0044848695000321.  
44 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
pdf 9 trang yennguyen 12120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng môi trường và dịch bệnh tại vùng nuôi tôm trên cát ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Nghi Xuân, Hà Tĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_moi_truong_va_dich_benh_tai_vung_nuoi_tom_tren_ca.pdf