Giáo trình mô đun Nuôi cá và đặc sản nước ngọt (Phần 2) - Nghề: Nuôi trồng thủy sản

BÀI 5: NUÔI ĐẶC SẢN NƯỚC NGỌT  
Mã bài: MĐ17 - 05  
Giới thiệu:  
Nuôi đặc sản nước ngọt giới thiệu đến người học đặc điểm sinh học các đối  
tượng đặc sản nước ngọt phổ biến hiện nay, hình nuôi đặc sản đang được áp dụng phổ  
biến trong thực tiễn. Bài học có thời gian 12 giờ trong đó lý thuyết 5 giờ, thực hành 7  
giờ. Bài học này mang tính tích hợp giữa kiến thức và kỹ năng thực hành. Trong từng  
nội dung bài đều có các câu hỏi, bài tập tình huống để sinh viên áp dụng vào trong  
thực tế xản xuất.  
Mục tiêu:  
- Hiểu được đặc điểm sinh học của một số đối tượng đặc sản;  
- Nêu được yêu cầu kỹ thuật về điều kiện nơi nuôi, chất lượng giống; kỹ thuật  
thả giống và chăm sóc, quản lý một số đối tượng đặc sản;  
- Nhận biết được một số đối tượng đặc sản, chuẩn bị được nơi nuôi; chọn, thả  
giống và thu hoạch được các đối tượng nuôi.  
Nội dung chính  
1. Sản xuất giống và nuôi ba ba thương phẩm  
1.1. Đặc điểm sinh học  
1.1.1. Phân loại ba ba.  
- Ba ba là một loài động vật dưỡng mô thuộc có hệ thống phân loại như sau:  
Lớp bò sát Reptilia  
Bộ rùa Testudiata  
Họ ba ba Trionychidae  
Loài Trionyx sinensis (ba ba hoa)  
Trionyx steinachderi (ba ba gai)  
Trionyx catilagineus (cu đinh, phân bố ở miền Nam)  
- Ba ba hoa (ba ba trơn): phân bố tự nhiên trong các thủy vực nước ngọt ở đồng  
bằng sông Hồng. Đặc điểm nhận biết: ba ba trơn lúc nhỏ da bụng có màu đỏ, khi lớn  
lên màu đỏ nhạt dần, khi đạt cỡ 2kg chuyển sang màu trắng. Trên nền da bụng điểm  
khoảng trên dưới 10 chấm đen to và đậm, vị trí từng chấm tương đối cố định, các  
chấm đen này loang to nhưng nhạt dần khi ba ba lớn, khi đạt tới cỡ 2kg phải quan sát  
kỹ mới nhận thấy. Trên mai trơn nhẵn và có các đốm xen kẽ như hoa gấm.  
- Ba ba gai: phân bố tự nhiên trong các sông suối ở các tỉnh miền núi phía Bắc  
như: Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Đà  
Nẵng... da bụng có mà xám trắng, trên điểm nhiều chấm đen nhỏ, lúc nhỏ da bụng có  
màu xám đen, khi lớn chuyển sang màu xám trắng. Trên mai ba ba có các nốt sần như  
gai và đường gân nổi nên rất rõ ở chính giữa.  
- Ba ba miền nam: da bụng màu trắng không có chấm đen.  
1.1.2. Phân bố  
57  
- Trên thế giới ba ba phân bố tương đối rộng, từ Trung Quốc cho tới Xiberi, từ  
Triều Tiên cho tới Nhật Bản  
- Ở Việt Nam ba ba phân bố chủ yếu ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ, chỉ  
có một giống phân bố ở miền Nam.  
1.1.3. Hình thái cấu tạo  
- Ba ba có dạng hình ovan, mặt bụng phẳng, lưng hình vòng cung, trên lưng có  
mai. Trên mai có những đường vân tạo bởi gai. Mắt nhỏ ở trên đầu, mõm nhọn, đầu  
nhỏ có khả năng cơ động tốt phù hợp với việc bắt mồi. Hàm trên và dưới không có  
răng nhưng có những phiến sừng dùng để nghiền thức ăn. Chân có móng nhọn bằng  
sừng, giữa các móng chân có màng giúp cho việc bơi lội của ba ba.  
- Ba ba sống dưới nước nhưng thở bằng phổi, có hai lá phổi xốp nằm dọc hai  
bên cơ thể.  
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng  
- Ba ba là loài động vật biến nhiệt, nhiệt độ môi trường ảnh hưởng rất lớn tới  
đời sống của ba ba, chính vì đặc điểm này mà có thể thấy ba ba hầu như không tăng  
trọng vào mùa đông, ngược lại vào mùa hè tăng trọng rất nhanh (có thể tới 28 g/tháng)  
- Tốc độ tăng trưởng của ba ba phụ thuộc rất lớn vào cỡ vào giai đoạn phát  
triển, ba ba càng nhỏ tốc độ tăng trưởng càng nhanh. Tốc độ tăng trưởng còn phụ  
thuộc vào mật độ thả nuôi, mật độ càng dày tốc độ tăng trưởng càng chậm và ngược  
lại.  
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng  
- Ba ba ăn động vật là chủ yếu, tuy nhiên cũng có thể sử dụng thực vật làm thức  
ăn. Trong tự nhiên ba ba ăn ốc, hến, trai, tôm con..., trong ao nuôi ba ba có ăn hầu hết  
các loại thức ăn do con người cung cấp.  
- Ba ba là loài sống cả trên cạn và dưới nước, nhưng chỉ bắt mồi trong nước,  
không kiếm mồi trên bờ.  
- Ảnh hưởng của nhiệt độ tới tốc độ tiêu hoá thức ăn của ba ba (thấp dưới 12oC  
và trên 35oC ba ba bỏ ăn). Nhiệt độ thích hợp nhất cho ba ba bắt mồi 25 -30oC.  
- Khẩu phần ăn: vào những ngày nhiệt độ tăng cao thích hợp cho sự phát triển  
ba ba ăn nhiều 8 - 10%, những ngày trời rét lượng thức ăn chỉ 3 - 5% trọng lượng thân.  
- Thức ăn nuôi ba ba: Thức ăn ưa thích nhất của ba ba là cá mè trộn với các  
thành phần khác như ốc, giun băm nhỏ trộn đều. Ngoài ra cũng có thể sử dụng hỗn hợp  
thức ăn: bột cá 30%, bột ngũ cốc 70%  
1.1.6. Đặc điểm sinh sản  
- Ba ba là loài động vật phân tính đực, cái rõ rệt, thụ tinh trong, làm ổ và đẻ  
trứng trên cạn nhưng không ấp trứng, quá trình phát triển của ba ba con hoàn toàn dựa  
vào tự nhiên.  
- Ba ba cái có trọng lượng > 100 g đã bắt đầu xuất hiện trứng trong buồng  
trứng.  
58  
- Phân biệt đực cái, có thể tiến hành phân loại ngay trong quá trình nuôi dựa  
vào:  
+ Con đực thường có đuôi dài vượt thân.  
+ Thân con cái thường không có hình ovan như con đực.  
+ Mùa sinh sản ba ba cái có bề dày thân tăng so với ngoài mùa sinh sản.  
+ Khoảng cách giữa hai chân sau ba ba cái rộng hơn ba ba đực.  
+ Trong tự nhiên khi thành thục, kích thước ba ba đực bao giờ cũng lớn hơn ba  
ba cái.  
- Mùa sinh sản: kéo dài từ giữa tháng 3 tới đầu tháng 10 dương lịch.  
+ Trong mùa sinh sản, khi nhiệt độ nước trên 200C ba ba đã thành thục sinh dục  
có biểu hiện tìm kiếm nhau, dượt đuổi và giao phối.  
+ Hoạt động giao phối thường diễn ra vào ban đêm, có thể đúng vào thời gian  
đẻ trứng hoặc trước khi đẻ trứng.  
- Ba ba là động vật dưỡng mô thụ tinh trong, đặc biệt có khả năng lưu giữ tinh  
trùng tới sáu tháng. Khi trứng chín tự di chuyển ra khỏi buồng trứng và đi vào phần  
ống dẫn trứng, tại đây nếu gặp tinh trùng thì trứng sẽ thụ tinh.  
- Số lần tham gia sinh sản phụ thuộc vào trọng lượng con cái, chế độ và điều  
kiện dinh dưỡng. Điều này cần phải chú ý khi lựachọn ba ba bố mẹ.  
1.2. Sản xuất ba ba giống  
Đối tượng và phạm vi áp dụng:  
- Qui trình này qui định nội dung và những yêu cầu kỹ thuật chủ yếu để sản  
xuất ba ba giống đối với loài ba ba hoa (Trionyx sinensi).  
- Áp dụng cho các cơ sở nuôi ba ba có qui mô diện tích ao nuôi từ 50 - 300m2.  
- Có thể vận dụng qui trình này cho loài ba ba gai (T. steinachderi)  
1.2.1. Mùa vụ sản xuất  
- Các tỉnh phía Nam (Đà Nẵng trở vào): có thể sản xuất giống quanh năm.  
- Các tỉnh phía Bắc (Thừa Thiên Huế trở ra): sản xuất giống từ tháng 3 đến  
tháng 11.  
1.2.2. Nuôi vỗ ba ba bố mẹ  
* Điều kiện ao nuôi:  
- Vị trí, địa điểm: cần chọn nơi yên tĩnh, dễ bảo vệ, không bị cớm rợp và úng  
ngập, có điều kiện cấp, tiêu nước thuận lợi, không gây nhiễm bẩn và lây lan bệnh cho  
môi trường xung quanh.  
- Hình dạng ao: hình dạng ao tuỳ thuộc vào địa hình nơi xây dựng, nhưng tốt  
nhất nên có hình chữ nhật, để thuận tiện cho việc quản lí và thu hoạch.  
- Diện tích ao: diện tích ao nuôi phù hợp nhất 100- 200m2. Diện tích ao nuôi lớn  
nhất không nên quá 300 m2. Nếu là bể xây, diện tích từ 20- 50 m2. Một cơ sở nuôi với  
qui mô bình thường có 1- 3 ao, hoặc bể xây. Cơ sở nuôi với qui mô lớn, có số lượng  
ao, bể khoảng 3- 5.  
59  
- Độ sâu ao: ao hoặc bể nuôi thường có độ sâu 1,5- 2,0 m để đảm bảo giữ được  
mức nước thường xuyên 1,0- 1,5 m. Nơi đất trũng khó tiêu nước, đáy ao nên có độ sâu  
vừa phải để có thể tháo cạn được khi cần cải tạo, hoặc thu hoạch.  
- Chất đất và nền đáy ao:  
+ Ao được xây dựng trên nền đất thịt, hoặc thịt pha cát, hoặc thịt pha sét để đảm  
bảo có khả năng giữ được nước, đất không bị chua.  
+ Nền đáy ao phải có độ nghiêng về phía cống tiêu để có thể tháo cạn được  
nước dễ dàng.  
+ Ao nuôi tốt nhất là đảm bảo khoảng 20- 30% diện tích đáy được phủ một lớp  
bùn pha cát, hoặc cát mịn sạch dày 0,15- 0,20 m để tạo chỗ cho ba ba trú ẩn, nghỉ ngơi.  
- Nguồn nước:  
+ Nguồn nước để nuôi vỗ ba ba bố mẹ là nguồn nước ngọt như: nước sông,  
suối, hồ, kênh mương, giếng khoan, giếng đào... Vùng gần biển, độ mặn của nguồn  
nước để nuôi không được quá 8‰.  
- Môi trường nước phải đảm bảo thường xuyên sạch sẽ (có thể dùng cho sinh  
hoạt bình thường được). Độ pH khoảng 7- 8.  
- Bờ ao:  
Bờ ao cần được xây gạch đảm bảo chắc chắn, không bị lún, hoặc nứt vỡ để bảo  
vệ được ba ba trong ao. Nếu không có điều kiện xây, có thể đắp bờ đất, nhưng phải  
chắc chắn, không bị hang hốc và rò rỉ, cỏ mọc rậm rạp.  
Bờ ao xây, hoặc đắp đất phải cao hơn mặt nước 0,4- 0,5 m. Trên đỉnh bờ, cần  
xây gờ rộng 5- 10 cm nghiêng về phía lòng ao để ngăn không cho ba ba leo. Bờ ao  
phải có nền đất lưu không, được trồng cỏ hoặc rải sỏi để ba ba không đào được ổ đẻ.  
- Tạo chỗ cho ba ba nghỉ ngơi và phơi nắng:  
+ Chọn phía ao yên tĩnh, làm một trong các công trình phụ sau đây để tạo lối  
cho ba ba hoạt động lên xuống thuận lợi.  
+ Xây từ 1 đến 2 bậc thềm ở rìa ao.  
+ Đắp đáy ao cao, không để ngập nước, hoặc đắp ụ nổi trong ao.  
+ Thả bè tre, bè gỗ hoặc phên tre, phên nhựa trong ao.  
+ Thả bèo tây trong khung cố định ở một góc ao để ba ba có thể leo lên được  
- Bè nuôi ba ba con:  
+ Chọn một góc ao sạch, gần cống tiêu nước, đáy được lát nhẵn, hoặc đổ cát  
sạch làm chỗ cố định cho ba ba ăn. Ao nhỏ, có thể cho ba ba ăn tại một vị trí cố định.  
Ao lớn có thể cho ăn tại 2 -3 vị trí cố định.  
+ Những nơi có điều kiện, nên xây máng ăn cho ba ba. Máng ăn cần để ngập  
dưới nước khoảng 60 cm.  
+ Đặt phên ở rìa mép nước để ba ba leo lên ăn (chỉ áp dụng đối với ba ba đã  
được luyện thuần).  
- Cống và các công trình bảo vệ:  
60  
Mỗi ao tốt nhất cần có 2 cống cấp và tiêu nước riêng. Cống tiêu nước nên đặt ở  
vị trí thấp nhất của đáy ao để dễ tháo cạn khi thay nước và thu hoạch.  
- Cửa cống cấp và tiêu nước thường xuyên phải chắn lưới sắt để giữ ba ba trong  
ao.  
Nếu có điều kiện, nên xây tường hoặc làm hàng rào bao quanh khu vực nuôi, có  
chòi canh và chòi bảo vệ. Không dùng cây có gai, cây có chất độc làm rào dấp bảo vệ  
ao.  
- Tạo chỗ cố định cho ba ba đẻ trứng:  
+ Làm nhà đẻ, và bãi đẻ cho ba ba. Diện tích chỗ đẻ của ba ba khoảng 1 -6 m2  
(tuỳ thuộc vào số lượng ba ba mẹ nhiều hay ít). Cứ 1 m2, có thể trồng cây để có bóng  
mát trong những ngày nắng nóng.  
+ Đổ cát mịn và sạch dày khoảng 0,2 -0,3 m trên nền bãi đẻ. Mặt lớp cát cao  
hơn mặt nước ao khoảng 0,4 - 0,5 m, đảm bảo trứng không bị ngập nước khi có mưa to  
đột xuất.  
* Kỹ thuật nuôi vỗ:  
- Thời gian nuôi vỗ:  
+ Nuôi cho đẻ lần đầu, có thể nuôi vỗ ba ba bố mẹ từ tháng 9 năm trước đến  
tháng 3, tháng 4 năm sau.  
+ Nuôi cho đẻ từ lần thứ 2 trở đi, có thể nuôi vỗ ba ba bố mẹ quanh năm.  
- Tiêu chuẩn để chọn ba ba bố mẹ để nuôi vỗ:  
+ Khối lượng cá thể 0,8 - 1,5 kg (con lớn nhất không nên quá 3,0 kg).  
+ Tuổi cá thể từ 18 tháng đến 5 năm.  
+ Ba ba phải khoẻ mạnh, không có thương tật hoặc dị hình, không bị bệnh.  
- Tỷ lệ đực: cái nuôi vỗ và cho đẻ từ 1/2 đến 1/ 4 (1 con đực nuôi ghép với 2 - 4  
con cái), nhưng thường là 1/3.  
- Mật độ nuôi vỗ: 0,5 - 1,0 con/ m2 hoặc 0,5 - 1,0 kg/ m2 (cao nhất không được  
quá 2,0kg/m2). Cần chú ý trong một ao, chỉ nên nuôi ba ba cùng một cỡ để tránh tình  
trạng con lớn cắn con bé.  
- Chuẩn bị ao: Trước khi nuôi vỗ ba ba bố mẹ, ao phải được tháo cạn nước, tẩy  
dọn đáy sạch sẽ. Ao có nhiều bùn bẩn, phải được dọn sạch rồi dùng vôi bột để diệt hết  
mầm bệnh. sau đó, lấy nước sạch vào ao tới độ sâu 1,0 - 1,5 m.  
- Cho ăn:  
+ Loại thức ăn:  
Tốt nhất là sử dụng loại thức ăn gồm: cá, tôm, giun đất, nhộng tằm, thịt hến, ốc  
đồng, ốc sên, ếch, nhái và thịt các động vật rẻ tiền khác.  
Thức ăn khô nhạt chỉ sử dụng khi thiếu thức ăn tươi, thường là cá, tép khô...  
Nơi có điều kiện, có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp có hàm lượng protein 45%  
(hệ số thức ăn hỗn hợp từ 1,4 - 1,8). Loại thức ăn này thường chỉ được sử dụng để nuôi  
theo phương thức công nghiệp.  
61  
+ Lượng cho ăn và cách cho ăn:  
Lượng thức ăn tươi cho ăn hàng ngày bằng 3 - 8% khối lượng ba ba nuôi trong  
ao. Thức ăn phải đảm bảo sạch sẽ, không bị ươn thối. Cho ăn mỗi ngày 2 lần.  
Nếu sử dụng thức ăn khô nhạt, lượng thức ăn mỗi ngày bằng 1,5 - 2,0% khối  
lượng ba ba nuôi trong ao. Không được sử dụng thức ăn khô mặn cho ba ba ăn.  
Ba ba ăn khoẻ ở nhiệt độ 25 - 300C. ở nhiệt độ dưới 20oC và trên 32oC, ba ba  
thường kém ăn. Ba ba ngừng ăn ở nhiệt độ dưới 18oC và trên 34oC. Do đó trong quá  
trình nuôi phải chú ý theo dõi nhiệt độ, nhất là vào những tháng mùa hè và mùa đông.  
- Chăm sóc và quản lý:  
+ Kiểm tra ao:  
Hàng ngày phải kiểm tra theo dõi để phát hiện kịp thời các nơi bờ ao rò rỉ, ở  
cửa cống và các nơi ba ba có thể bò đi khỏi ao, các dấu vết khả nghi bị mất trộm ba ba.  
Theo dõi và xử lý kịp thời các động vật vào khu vực nuôi gây hại cho ba ba  
như: chó, mèo, chuột, rắn, rái cá...  
+ Thay nước cho ao:  
Thay nước để giữ môi trường ao luôn sạch sẽ. Về mùa hè đối với những bể  
hoặc ao nuôi diện tích nhỏ, mật độ nuôi dày, mỗi ngày phải thay 20 - 50% lượng nước  
trong ao.  
Khoảng 15 ngày, thay toàn bộ nước trong ao một lần và làm vệ sinh đáy ao. Khi  
cấp, phải cho nước chảy nhẹ nhàng để ba ba không sợ hãi mà bỏ đi, ao rộng, nước sâu,  
nuôi với mật độ thưa thì không cần phải thay nước thường xuyên cho ao nuôi.  
Mùa đông (khu vực phía Bắc), mỗi tháng chỉ cần thay nước 1 lần. Vào những  
ngày rét đậm nếu có điều kiện nên tháo bớt nước lạnh, bổ sung nước ấm vào ao, hoặc  
bể nuôi.  
+ Vệ sinh ao:  
Hàng ngày phải vớt bỏ thức ăn thừa trong ao đảm bảo cho môi trường luôn  
thường xuyên sạch, không gây ra dịch bệnh cho ba ba.  
Đầu mùa đông (khu vực phía Bắc), nếu ao nuôi với mật độ dày, phải tháo cạn  
toàn bộ nước và làm vệ sinh lớp bùn cát ở đáy ao. Sau đó, dùng vôi bột để khử trùng  
đáy ao. Nếu lớp bùn cát ở đáy ao bị nhiễm bẩn nhiều thì phải thay toàn bộ.  
+ Chống nóng và chống rét cho ba ba:  
Chống nóng: Khi nhiệt độ nước ao lên tới trên 300C, cần có biện pháp chống  
nóng cho ba ba bằng cách làm giàn che, trồng cây tạo bóng mát, thả nhiều bèo trên mặt  
nước, tăng cường thay nước mới, giữ mức nước sâu cho ao.  
Chống rét (khu vực phía Bắc): mùa đông, cần phải che chắn cho ao, hoặc bể  
nuôi để tránh được gió mùa đông bắc.  
+ Phát hiện bệnh:  
Thường xuyên theo dõi để nắm chắc hiện trạng ba ba nuôi trong ao, hoặc trong  
bể. Khi phát hiện có ba ba bị bệnh, phải bắt nuôi riêng những cá thể để xác định rõ căn  
62  
bệnh, có biện pháp chữa trị kịp thời và xử lý phòng bệnh cho tất cả số ba ba còn lại  
trong ao.  
* Phòng trị bệnh cho ba ba:  
Ba ba giống mua về phải có chất lượng tốt; khi đánh bắt, vận chuyển ba ba  
không để ba ba bị tổn thương, xây xát; tắm cho ba ba giống trước khi thả vào ao, bể  
nuôi bằng dung dịch thuốc tím nồng độ 3 - 5 ppm trong thời gian từ 20- 30 phút.  
1) Bệnh đỏ cổ: Là một trong những bệnh thường gặp nhất trong nuôi ba ba.  
Triệu chứng: Hoạt động chậm chạp, thỉnh thoảng nổi lên mặt nước, thường bò lên bờ  
bờ cỏ, đất bùn, không muốn ăn, cổ bị xung huyết sưng lên có màu đỏ, bụng cũng xung  
huyết có màu đỏ và có những khoảng loét đỏ... Gan, tỳ phù thũng, mồm mũi chảy  
máu, 2 mắt mờ nhìn không rõ.  
Bệnh này rất nguy hiểm, truyền nhiễm rất nhanh, nguyên nhân do vi rút và nấm.  
Trị bệnh: dùng Oxytetracylin, trộn vào thức ăn, mỗi kg trộn 0,1-0,2 mg thuốc, cho ăn  
liên tục 10 ngày; dùng thuốc (dạng tiêm) tiêm vào bụng, mỗi kg ba ba tiêm trên 10 vạn  
đơn vị. Khi phát hiện có bệnh, không nên lấy nước có mùi amôniắc (NH3) cho vào ao  
nuôi, để phòng bệnh càng nặng hơn. Cách ly ba ba bệnh. Dùng vôi tẩy ao, thay nước  
mới sạch (trước khi thực hiện, bắt hết ba ba ra khỏi ao. Lấy gan, từ ba ba bị bệnh điều  
chế vắc xin tiêm cho ba ba lành để phòng bệnh.  
2) Đối với bệnh nấm thuỷ mi, bệnh kí sinh đơn bào: bắt ba ba thả vào chậu, tắm  
bằng Xanh malachite với liều lượng 2 - 4 ppm trong 1 - 2 giờ (lượng thuốc tắm trong  
chậu chỉ ngập lưng để ba ba thở hít không khí bình thường, tránh để thuốc ngấm vào  
đường tiêu hoá sẽ gây nhiễm độc cho ba ba) hoặc rắc trực tiếp xuống ao nuôi với liều  
lượng 0,05 - 0,1 ppm.  
2) Bệnh viêm loét do vi khuẩn:  
- Tắm cho ba ba bị nhiễm bệnh bằng các loại thuốc kháng sinh như:  
Chloramphenicol, Tetracyline, Furazolidone với liều 20- 50 ppm, trong thời gian 6- 12  
giờ một ngày. Tiến hành tắm cho ba ba trong 3- 5 ngày.  
- Trong trường hợp vết loét nặng, có kén, phải cậy vẩy và lấy hết kén. Sau đó  
lau sạch miệng vết thương, rắc thuốc kháng sinh và bôi thuốc mỡ bên ngoài.  
- Phải nhốt ba ba trên cạn càng lâu càng tốt (có thể tới 2- 3 ngày liên tục, tuỳ  
theo sức khoẻ của ba ba) nhưng cần luôn giữ độ ẩm và yên tĩnh cho ba ba.  
+ Kiểm tra sinh trưởng:  
Hàng năm vào đầu mùa đông và đầu vụ sinh sản, cần tiến hành kiểm tra ba ba  
trong ao để đánh giá tình hình sinh trưởng, phát dục của ba ba để có biện pháp xử lý  
kịp thời (nếu nuôi vỗ với mật độ thưa, hàng ngày đã theo dõi nắm chắc tình hình ba ba  
nuôi trong ao, thì có thể không cần đánh bắt kiểm tra).  
+ Theo dõi ba ba đẻ:  
Đến mùa ba ba sinh sản, phải đảm bảo giữ yên tĩnh cho khu vực ba ba đẻ và  
ngăn không cho ba ba đi đẻ ở nơi khác.  
Nếu nuôi vỗ tốt, đúng kỹ thuật thì ba ba bố mẹ sẽ béo khoẻ, đẻ trứng sớm, đạt  
tỷ lệ đẻ trứng cao, trứng to và đều. Mỗi con mẹ có thể đẻ 3 -5 lứa mỗi vụ. Mỗi lứa có  
63  
thể thu được 12 -14 trứng/ 1kg ba ba cái. Tỷ lệ trứng thụ tinh có thể đạt 80% vào đầu  
vụ và trên 90% vào chính vụ.  
* Vận chuyển ba ba bố mẹ:  
- Phương thức vận chuyển: ba ba giống, ba ba thịt hoặc ba ba bố mẹ, chỉ được  
phép vận chuyển khô (không vận chuyển ba ba trong nước như đối với cá hoặc tôm...).  
- Dụng cụ vận chuyển: Dụng cụ vận chuyển khô ba ba gồm có xô, chậu, sọt tre,  
khay nhựa, hộp xốp, thùng kim loại... Không nên sử dụng các loại bao để vận chuyển  
ba ba, nhất là khi vận chuyển với cự ly xa.  
- Các yêu cầu kỹ thuật khi vận chuyển:  
+ Khi vận chuyển với cự ly xa không được cho ba ba ăn trước đó nửa ngày.  
+ Trên đường vận chuyển, phải luôn luôn giữ cho ba ba không bị khô bằng cách  
lót rong cỏ tươi, bèo tươi (hoặc rễ bèo tươi) hoặc rơm ẩm để giữ độ ẩm thích hợp. Có  
thể vận chuyển ba ba ở trong cát ẩm.  
+ Thùng vận chuyển ba ba có kích thước 18 x 60 x 20cm, có thể chứa khoảng  
10- 12 kg ba ba cỡ lớn hoặc 80- 100 con ba ba giống cỡ 100- 150 g/ con.  
+ Chỉ xếp không quá 2 lớp ba ba cỡ lớn, tốt nhất cho mỗi con vào túi vải mềm,  
có lỗ thông hơi để cho ba ba thở và hạn chế được ba ba cắn nhau trên đường vận  
chuyển.  
+ Trên đường vận chuyển, phải thường xuyên duy trì nhiệt độ phù hợp cho ba  
ba (về mùa hè, không để nhiệt độ vượt quá 320C ). Vận chuyển ba ba trong điều kiện  
nhiệt độ quá cao, ba ba dễ bị yếu, tỷ lệ sống đạt thấp.  
+ Trong những ngày nắng nóng, nếu vận chuyển bằng đường bộ phải bắt đầu  
vào sáng sớm hoặc nửa đêm. Nếu vận chuyển bằng máy bay, thì cần có hợp đồng gửi  
và nhận hàng nhanh chóng, không kéo dài thời gian chờ ở sân bay.  
+ Thời gian vận chuyển ba ba càng ngắn càng tốt. Mùa hè, thời gian vận chuyển  
ba ba giống không được quá 2 ngày, với ba ba thương phẩm không được quá 3 ngày.  
Mùa đông (khu vực phía Bắc), đối với ba ba lớn có thể cho phép thời gian vận chuyển  
kéo dài tới 5 -6 ngày.  
Nếu đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật trên, tỷ lệ sống của ba ba sau khi vận  
chuyển có thể đạt 95 -100%.  
1.2.3. Thu trứng và ấp trứng ba ba:  
* Cách thu và lựa chọn trứng ấp:  
+ Thu trứng:  
Trong mùa ba ba sinh sản, hàng ngày cần kiểm tra khu vực ba ba đẻ, tìm dấu  
vết ổ đẻ để thu trứng. Ba ba thường đẻ vào ban đêm, việc thu trứng tiến hành vào buổi  
sáng hôm sau.  
Khi bới ổ thu trứng, cần phải nhẹ nhàng tránh làm dập vỡ trứng. Nhặt từng quả,  
xếp trứng vào chậu rồi chuyển vào nơi ấp.  
+ Chọn trứng đã thụ tinh và trứng tốt để ấp:  
64  
Trứng đã thụ tinh có màu sáng và có vòng trắng (túi hơi) ở trên, màu phớt hồng  
ở dưới.  
Trứng không thụ tinh, vòng trắng không rõ, vỏ trứng màu không bình thường.  
Trứng tốt là loại trứng to. Trứng của ba ba mẹ cỡ 1,0- 1,5 kg/ con, thường có  
đường kính 21- 23 mm, khối lượng 5- 7 g.  
Trứng xấu thường nhỏ, không tròn. Trứng của ba ba mẹ cỡ 0,5- 0,7 kg/ con,  
thường có đường kính 17- 19mm, khối lượng 3- 4g. Nếu đem ấp, tỷ lệ nở thường thấp,  
ba ba con nở ra bé và nuôi chậm lớn.  
* Phương pháp ấp trứng ba ba:  
+ Dụng cụ ấp:  
Ấp bằng khay nhôm, hoặc khay nhựa: kích thước khay lớn hay nhỏ tuỳ thuộc  
lượng trứng cho ấp nhiều hay ít. Số lượng trứng ấp một khay từ vài chục đến khoảng  
200 trứng.  
Ấp bằng chậu nhôm: thường dùng 2 loại là chậu lớn có đường kính 70 - 80cm,  
chậu nhỏ đường kính 30 - 40cm. Đáy chậu đục nhiều lỗ thủng để có thể róc nước  
được. Một chậu nhôm lớn có thể ấp từ 250 - 300 trứng ba ba.  
Ấp bằng bể: diện tích - 1,0m2, cao 15 - 20cm, trong bể chứa lớp cát ẩm dày 10-  
15cm để vùi trứng ấp. Đáy bể có lỗ thoát nước để tránh đọng nước trong bể ấp. Mỗi bể  
có thể ấp được hàng nghìn trứng ba ba.  
+ Phương pháp tiến hành:  
Dùng cát để ấp trứng ba ba là phổ biến nhất. Khi ấp, đổ lớp cát mịn, ẩm và tơi  
xốp dày khoảng 10- 15cm vào dụng cụ ấp.  
Xếp trứng vào mặt phẳng lớp cát, mỗi quả cách nhau 2cm. Cứ mỗi lớp trứng,  
phủ một lớp cát dày 3- 5cm.  
Chú ý: Khi xếp trứng phải xếp đầu có túi hơi hướng lên trên. Không được lắc  
hoặc đảo trứng trong quá trình ấp.  
Trứng đẻ cùng ngày hoặc cách nhau vài ngày, có thể ấp cùng một lần, trong  
cùng một dụng cụ ấp.  
Khay, chậu, bể ấp trứng phải có mái che. Nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian ấp  
trứng phải ổn định. Trong thời gian ấp trứng, nếu thấy cát khô phải phun nước để giữ  
độ ẩm.  
Trứng ấp ở nhiệt độ 30- 32oC sau 40- 45 ngày sẽ nở. Nếu nhiệt độ ấp 24- 34oC  
thì sau 55- 60 ngày trứng mới nở. Không được để nhiệt độ xuống dưới 20oC hoặc cao  
trên 30oC trong thời gian ấp trứng.  
Theo dõi nếu thấy trứng sắp nở, phải để một khay với một lớp nước mỏng vào  
giữa dụng cụ ấp để ba ba con mới nở có thể tự bò vào. Có thể nhặt trứng vào khay  
hoặc chậu nước, sau đó cho nước chảy từ từ để kích thích ba ba nở nhanh và đồng loạt.  
Nếu trứng tốt cho ấp đúng kỹ thuật, tỷ lệ trứng nở có thể đạt 90 -100%.  
Trong quá trình ấp, phải có biện pháp ngăn chặn một số động vật địch hại như:  
rắn, chuột, kiến... có thể ăn trứng và ba ba con.  
- Vận chuyển trứng ba ba:  
65  
Áp dụng biện pháp vận chuyển trứng ba ba mới đẻ hoặc trứng ba ba đang ấp dở  
về ấp ở cơ sở nuôi ba ba thịt, sẽ giảm được chi phí về con giống, kỹ thuật vận chuyển  
trứng lại đơn giản hơn vận chuyển ba ba giống. Tỷ lệ của trứng sau khi vận chuyển có  
thể đạt 90 -100%.  
Cách xếp trứng để vận chuyển, giống như cách xếp trứng khi ấp trứng qui định  
ở trên.  
1.2.4. Ương nuôi ba ba giống  
* Ương ba ba giai đoạn 15 ngày tuổi:  
- Có thể tiến hành ương ba ba trong bể nhỏ hoặc trong chậu với diện tích 1-  
4m2, mực nước trong thiết bị ương 20 - 25cm. Nước ương yêu cầu trong sạch, thả bèo  
vào 1 góc của thiết bị ương (trong quá trình sinh trưởng ba ba con ưu sống bám trên  
các thân bèo).  
- Thiết bị ương được đặt ở nơi thoáng mát không có ánh sáng chiếu trực tiếp,  
mỗi ngày thay nước cho ba ba 2 lần.  
- Mật độ thả 30 - 60con/m2  
- Cho ăn: mỗi ngày cho ba ba con ăn 3 lần (sáng, trưa, chiều), thức ăn là lòng  
đỏ trứng gà hòa nước té, các loại động vật phù du, giun đỏ, artemia, cá bột hoặc tôm  
tép xay nhuyễn.  
* Ương ba ba giai đoạn 15 ngày tuổi đến 6 tháng tuổi:  
- Dụng cụ ương: trong ao hoặc trong bể có kích thước 10 - 100m2, mực nước  
0,8 - 1m, đáy đổ cát dày 10 - 20cm, mặt ao thẻ bèo kín 1/3 diện tích.  
- Mật độ thả: 20 - 30con/m2.  
- Cho ăn: giun, giòi, nhộng tằm, cá, thịt động vật băm nhỏ. Thức ăn được cho  
cố định vào giàn cho ăn đặt cách mặt nước 10 - 20cm (tập tính sống của ba ba trong  
giai đoạn này là sống nổi ưu bám bèo). Thời gian cho ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và  
chiều.  
- Thay nước: 2 lần/tuần, luôn giữ nước sạch cho ao ương ba ba.  
- Kết quả ương: sau 6 tháng nuôi ba ba có thể đạt kích cỡ 30- 60g/ con  
* Ương ba ba giống cỡ 100g:  
- Chọn ao nuôi có diện tích rộng, mực nước sâu 1 - 1,2m.  
- Mật độ thả 10 - 15con/m2, cách thức cho ăn và chăm sóc như ở giai đoạn đầu,  
thức ăn được thả vào giàn cho ăn ở sát đáy ao, cũng có thể tập cho ba ba ăn ở trên bờ.  
Thức ăn ở gian đoạn này là các loại tôm cá tạp xay, ốc, hến băm nhỏ...  
Bảng 17.05.01: Các giai đoạn ương nuôi ba ba giống  
Yếu tố kỹ thuật  
Mức và yêu cầu đạt được  
Giai đoạn II  
Giai đoạn I  
Giai đoạn III  
1. Cỡ giống ương (g/con) Cỡ 4 -7 khi mới nở Cỡ 15 -25 ương Cỡ 50 -80 ương thành  
ương thành cỡ 15 -25 thành cỡ 50 -80 cỡ 100 -150  
25 -30 50 -60 60 -90  
2. Thời gian ương (ngày)  
3. Diện tích (m2)  
66  
-Bể ương  
-Ao ương  
4.Độ sâu ao, bể (m)  
1 -10  
10 -30  
30 - 50  
60 -100  
0,8 -1,2  
0,2 -0,4  
0,4 -0,8  
5. Tạo chỗ nghỉ cho ba Thả bèo phủ 2/3 diện Rải lớp cát mịn dày Rải lớp cát mịn dày 8 -  
ba  
tích mặt nước  
5 -7 cm ở đáy bể  
10 cm ở đáy bể  
6. Mật độ ương (con/m2)  
- Trung bình  
- Cao nhất  
30 -40  
50 -60  
15 - 20  
25 -30  
7 - 10  
10 - 15  
7. Thức ăn  
-Thức ăn tươi  
- Trùng chỉ, giun quế, - Giun, nhộng, cá, - TA như giai đoạn II;  
thịt cá nạc  
-Chưa dùng  
tép... băm nhỏ  
- ít dùng  
2 -3  
cỡ TA lớn hơn.  
- ít dùng  
1 -2  
-Thức ăn công nghiệp  
8. Số lần cho ăn 1 ngày  
9. Lượng thức ăn tươi (%  
TL thân/ ngày)  
3 -5  
12 -15  
8 -12  
6 -8  
10. Tỷ lệ sống (%)  
90 -100  
90 -100  
90 -100  
* Thu hoạch ba ba giống:  
- Dùng rổ, vợt để vớt ba ba dưới 1 tháng tuổi.  
- Tháo cạn nước ao hoặc bể, dùng tay mò bắt từng con đối với ba ba từ 2 tháng  
tuổi trở lên. Khi bắt ba ba, cần phải thao tác nhẹ nhàng, tránh làm ba ba bị tổn thương.  
1.3. Nuôi ba ba thương phẩm  
1.3.1. Xây dựng và chuẩn bị ao nuôi: tương tự với nuôi ba ba bố mẹ  
1.3.2. Chọn và thả ba ba giống  
* Chọn mua ba ba giống  
- Thời điểm mua: nên mua giống vào thời điểm cuối xuân, đầu hạ vì thời điểm  
này giá ba ba giống tương đối hạ.  
- Khi mua ba ba giống nên chú ý tới nguồn gốc con giống, nếu là giống thu gom  
từ tự nhiên không mua những con bị cắn câu, hoặc đánh bắt bằng điện (tỷ lệ hao hụt  
cao và chậm lớn). Nên mua ở những hộ gia đình chuyên sản xuất giống ba ba để ương  
nuôi (theo kinh nghiệm những người nuôi thì ba ba gai lớn nhanh hơn ba ba trơn; tránh  
mua nhầm phải nẹp suối vì nuôi không lớn).  
- Kích cỡ giống: 0,1 - 0,2kg/con, với cỡ giống này ba ba lớn nhanh và ít hao  
hụt. Trường hợp mua giống cỡ nhỏ (20 - 50g/con) nên thả nuôi tiếp thành cỡ ba ba  
0,1kg rồi mới thả nuôi thịt.  
- Cách chọn ba ba giống: màu sắc đẹp, mình dầy, cỡ đồng đều không xây xát,  
không có dấu hiệu bệnh tật. Khi thả xuống ba ba bò nhanh, cổ rụt hết vào mai, khi bị  
lật ngửa sẽ tự lật sấp xuống và bò tìm chỗ trốn. Chỉ nên thả cùng một cỡ giống ba ba.  
- Vận chuyển giống: rải một lớp bèo tây xuống dưới thiết bị vận chuyển, sau đó  
xếp ba ba giống lên trên sau đó lại phủ một lớp bèo tây để giữ ẩm và tránh để ba ba  
cắn nhau  
* Mật độ nuôi  
67  
- Điều kiện bình thường cỡ ba ba giống 0,1- 0,2kg/con, thả với mật độ 10- 15  
con/m2  
- Cỡ ba ba giống trên 0,2kg/con, thả với mật độ 5- 7 con/m2  
- Với những hộ nuôi ít vốn hoặc chưa có điều kiện con giống có thể thả với mật  
độ 1- 2con/m2, sau đó trong quá trình nuôi tăng dần mật độ.  
1.3.3. Chăm sóc, quản lý  
* Cho ăn:  
- Loại thức ăn: chủ yếu có nguồn gốc từ động vật như tôm, cá tạm, ốc, hến,  
cũng có thể nuôi giun làm thức ăn cho ba ba. Ngoài ra cũng có thể dùng các loại phế  
phẩm lò mổ, xác động vật chết làm thức ăn cho ba ba.  
- Thức ăn nhân công: có thể tập cho ba ba thói quen sử dụng thức ăn nhân công  
chế biến với các nguyên liệu như: tôm cá tạp, bột cá, phế phẩm từ các xưởng chế biến  
thủy sản, bột cám gạo, cám ngô, vitamin, khoáng… cách thức chế biến thức ăn: dùng  
tôm cá tạp phối trộn với khoảng 10 - 15% bột cám ngô, gạo, ngoài ra bổ sung 1%  
vitamin và khoáng vào thức ăn.  
- Phương pháp cho ăn: ngày cho ăn 1- 2 lần vào buổi sáng sớm và chiều tối,  
lượng thức ăn 3- 6% trọng lượng thân. Chú ý theo dõi sức ăn của ba ba để điều chỉnh  
lượng thức ăn cho phù hợp.  
Khi cho ăn, thức ăn được rải vào sàn cho ăn treo cách mặt nước khoảng 20-  
25cm. Cũng có thể chọn một góc sạch rải cát làm chỗ cho ba ba ăn. Ngoài ra có thể tập  
cho ba ba thói quen sử dụng thức ăn trên cạn.  
Bảng 17.05.02: Lượng thức ăn phụ thuộc vào nhiệt độ nước  
Nhiệt độ (0C) Lượng thức ăn (% TL thân)  
30  
10  
7 – 8  
4 – 5  
25 – 29  
20 – 25  
<20  
Ba ba ăn rất ít  
Ba ba ngừng ăn  
<15  
- Hệ số thức ăn: 16 - 18, tốc độ tăng trưởng của ba ba ở các tỉnh phía Bắc tập  
trung vào thời điểm từ tháng 4 - 11 dương lịch, vì vậy phải cung cấp đủ lượng thức ăn  
cho ba ba.  
- Tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi ba ba bằng cách thả nuôi ốc vặn  
trong ao nuôi ba ba.  
* Chăm sóc:  
- Quản lý không cho ba ba vượt thoát ra khỏi ao, nhất là vào mùa vụ sinh sản và  
những thời điểm yếu tố môi trường thay đổi  
- Chú ý trông coi ba ba tránh mất trộm trong quá trình nuôi  
- Thay nước cho ao nuôi định kì 5 ngày/lần, mỗi lần thay 25 - 30% lượng nước  
trong ao. Khi thay nước nhớ để dòng chảy nhẹ và ngập trong nước tránh làm ba ba sợ  
hãi bỏ ăn  
68  
- Hạn chế đi lại làm việc trong khu vực nuôi ba ba  
* Phòng trị bệnh cho ba ba: tương tự trong nuôi ba ba bố mẹ  
1.3.4. Thu hoạch và vận chuyển  
- Thời điểm thu hoạch: nên chú ý vào nhu cầu thực tế của thị trường, và tính  
toán lợi ích của người nuôi.  
- Trọng lượng ba ba thu hoạch: 0,6 - 1kg/con  
- Mùa vụ thu hoạch: tháng 11đến tháng 1 năm sau  
- Phương pháp thu hoạch: thường tiến hành thu bằng tay sau khi tháo cạn nước.  
Chú ý không nên thu tỉa quá nhiều lần trong chu kì nuôi để tránh ảnh hưởng đến những  
con ba ba khác còn lại trong ao.  
- Vận chuyển: Với quãng đường ngắn có thể cho ba ba vào bao tải thưa, chở  
bằng xe đạp, xé máy. Nếu vận chuyển quãng đường dài dùng sọt, thùng gỗ thoáng có  
lót bèo giữ ẩm để vận chuyển (thùng chia làm nhiều ô, mỗi ô chỉ chứa một con, tránh  
để ba ba cắn nhau trong quá trình vận chuyển)  
2. Sản xuất giống và nuôi lươn thương phẩm  
2.1. Đặc điểm sinh học  
2.1.1. Phân bố  
Lươn là một loài cá hình rắn, sống trong nước ngọt, gặp ở Ấn Độ, quần đảo Mã  
Lai, Đông Dương, nam Trung Quốc và Nhật Bản... miền Bắc Việt Nam có một loài  
lươn duy nhất là Fluta albus (Zview). (Nhân dân ta thường phân biệt 2 loài: lươn mận  
và lươn vàng. Lươn mận to con, mình có lấm chấm hoa, thường sống ở hồ, ao sâu.  
Lươn vàng nhỏ con, thân màu vàng sẫm, thường sống ở chỗ nông hơn lươn mận).  
Lươn có thân hình thon, dài hình ống, da trơn, xương sọ rắn... nên dễ chui rúc  
trong bùn... thậm chí ở cả những nơi nước bùn thối bẩn, hầu như thiếu ôxy, chúng vẫn  
sinh sống được.  
2.1.2. Tập tính ăn  
Lươn nhỏ ăn phù du động vật trong nước. Mắt lươn bé, kém phát triển, ít có tác  
dụng. Thuỳ khứu giác phát triển mạnh, khiến lươn đánh hơi tìm mồi trong bùn, nước  
được dễ dàng. Lươn bắt mồi bằng hai cách: bắt mồi thụ động, lươn nhô đầu lên miệng  
hang, chờ mồi sa vào miệng rồi đớp lấy. Bắt mồi chủ động: lươn rúc vào bùn tìm bắt  
động vật nhỏ: giun nước, ấu trùng côn trùng, tôm, tép, cá con, ốc, hến, cua ...  
Lươn còn ăn các chất hữu cơ trong bùn, phân chuồng, các phế thải lò mổ, thức  
ăn thừa của người, xác các động vật chết: gà, lợn, chó, chuột, tôm, cá thối ... Ngoài ra,  
còn tìm thấy trong ruột của lươn có một số chất lạ như: mùn, đất sét, lá lúa, mảnh rạ...  
Lươn là loài ăn tạp, thiên về động vật có chất tanh là chủ yếu, còn thực vật  
chúng ăn rất ít và không lựa chọn khắt khe như một số động vật khác.  
Cường độ bắt mồi của lươn mạnh nhất vào tháng 5 - 7, vào mùa sinh sản lươn  
gần như ngừng ăn hoàn toàn. Vào mùa sinh sản một số lươn chưa thành thục vẫn tiến  
hành bắt mồi  
2.1.3. Tập tính sinh sống  
69  
Lươn là loài động vật biến nhiệt, thân nhiệt thay đổi theo nhiệt độ môi trường  
xung quanh. Giới hạn nhiệt độ của lươn 15 – 30oC, thích hợp nhất 24 – 28oC. Dưới  
10oC lươn chui rúi xuống đáy bùn sống nhờ vào nguồn dinh dưỡng dự trữ, khi nhiệt độ  
trên 32oC lươn giảm ăn.  
Do đời sống chui rúc ở bùn, giúp cho lươn chống chịu với môi trường bất lợi.  
Dù khó khăn tới đâu, nếu đất còn giữ độ ẩm thì lươn vẫn sống (lươn thở nhờ khoang  
họng miệng và ruột). Ban ngày lươn ẩn nấp trong hang, thỉnh thoảng nhô đầu lên để  
thở, lươn hoạt động mạnh vào ban đêm. Tuỳ theo chất đất, hang lươn có thể sâu tới  
1m. Nếu bùn nhão, thì lươn chui rúc tự do, không đào hang. Hang lươn có 3 ngách:  
- Một ngách phụ thường thẳng với góc bờ ruộng hoặc ao để không khí vào hang  
cho lươn thở. Ngách này thường có sẵn trong tự nhiên, thông qua các vết nứt của bờ.  
- Ngách thứ 2 nằm dưới bùn và thông lên ngách trên. Đây là ngách chính của tổ  
đẻ.  
- Ngách thứ 3 là ngách từ trên bờ vòng xuống tạo ra chữ U. Ngoài ra, tổ đẻ của  
lươn có thể có thêm một ngách phụ thông ra bờ ruộng.  
Nếu trong ao nuôi lươn có hang hốc, dòng chảy vào thì toàn bộ lươn sẽ bỏ đi,  
đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thất bại của nghề nuôi lươn. Vì vậy  
một trong những vấn đề quan trong khi nuôi lươn là đề phòng lươn bỏ đi.  
2.1.4. Sinh trưởng  
Nhìn chung, từ khi nở đến khi lớn trong vòng một năm, lươn nặng 200g. Lươn  
ở miền Bắc lớn tối đa nặng khoảng 500g (loại này thường ở ao hồ sâu ít người đánh  
bắt). Lươn ở miền Nam có cỡ lớn hơn, trọng lượng tối đa đạt 1.050 g/con. Lươn béo  
nhất vào tháng 8 - 10. Tháng 2 - 4 mùa sinh sản, lươn ít ra khỏi hang nên gầy. Khi đủ  
thức ăn thì lươn béo múp, ngắn con. Thiếu thức ăn, môi trường sống không tốt, lươn  
chỉ dài ra mà không lớn. Trung bình chiều dài của lươn 1 tuổi cộng là 24,59 cm; 2 tuổi  
cộng là 38,95 cm và 3 tuổi cộng là 55,05 cm. Thời gian hình thành vòng tuổi của lươn  
vào sau mùa đẻ (cuối mùa xuân). Lươn lúc đầu, luôn luôn là lươn cái. Sau khi đẻ lươn  
cái biến dần thành lươn đực. Càng về sau đuôi lươn càng dài ra. Vì vậy, lươn đực đuôi  
dài hơn lươn cái.  
Qua giải phẫu, ta thấy năm đầu: tỷ lệ lươn cái là chủ yếu. Tới năm thứ hai lươn  
đực, cái xấp xỉ nhau. Tới năm thứ ba lươn đực chiếm đa số. Căn cứ vào số liệu thống  
kê:  
- Cỡ lươn có chiều dài 26cm, đều là lươn cái.  
- Cỡ lươn có chiều dài trên 26 cm đến 54 cm, có thể là cái, đực hoặc là lưỡng  
tính.  
- Cỡ lươn có chiều dài trên 54 cm đều là lươn đực.  
2.1.5. Sinh sản  
Lươn thuộc loài có hiện tượng lưỡng tính. Sự chuyển đổi giới tính của từng cá  
thể (lươn cái sau khi đẻ, biến thành lươn đực) tới nay vẫn chưa có lời giải thích tin cậy.  
Theo Liêm (1963) qua nhiều thí nghiệm ông cho rằng: "Do ảnh hưởng của thời kỳ  
thiếu thức ăn của lươn sau mùa sinh sản. Khi xem xét số lươn có độ dài từ 36 -37cm ta  
thấy có một số lươn ở thời kỳ lưỡng tính: trong tuyến sinh dục của chúng có cả tuyến  
tinh sào (ở con đực) và trứng (ở con cái) xen lẫn nhau. Càng về sau, trứng càng tiêu  
70  
giảm và tinh sào càng lớn hơn. Tới một giai đoạn nào đó, chúng biến hoàn toàn thành  
lươn đực.  
Mùa hoa gạo là mùa lươn ở phía Bắc đẻ (tháng 2 - 5 âm lịch). Ở phía Nam lươn  
đẻ muộn hơn (từ tháng 4 - 5). Tuy nhiên, đến tháng 8 - 9 và cả tháng 11 rải rác vẫn bắt  
gặp lươn cái mang trứng. Lươn đẻ 1 lần trong năm. Lươn 1 tuổi cộng (200 g/ con) có  
khoảng vài trăm trứng. Lươn 2 - 3 tuổi (400 - 500 g/con) số trứng nhiều hơn (khoảng  
500 trứng). Trứng lươn tròn màu trắng hoặc vàng, to hơn trứng cá chép một chút và  
thuộc loại trứng rời.  
Lươn thường tìm những bờ ruộng, bờ ao, ven các mương, máng có đất sét pha  
thịt làm nơi đẻ. Đôi khi chúng chọn mô đất cao nhô lên giữa ruộng để sinh sản. Trước  
mùa đẻ, lươn đực có nhiệm vụ làm tổ. Nó dùng đuôi để khoét hang cao hơn mặt nước  
khoảng 5 - 10 cm, toàn bộ khu vực tổ thường có 3 ngăn, (như mô tả ở phần 1.4). Trước  
lúc lươn cái bắt đầu đẻ, lươn đực chui vào phun đầy bọt vào tổ đẻ. Sau đó, đến lượt  
lươn cái vào và đẻ trứng lên đám bọt đó. Lúc đầu đám bọt có màu trắng. Khi trứng sắp  
nở đám bọt đó ngả thành màu vàng. Người bắt lươn thường xem đám bọt trào ra ở các  
lỗ ven bờ là một biểu hiện của tổ lươn.  
Giống như nhiều loài động vật khác, vào mùa đẻ lươn rất dữ. Khi có vật lạ thò  
vào ổ đẻ, nó cắn ngay. Thậm chí mới đẻ mà nghe thấy tiếng động mạnh là nó nuốt cả  
trứng của nó vào ổ bụng. Lươn đẻ rộ vào lúc nhiệt độ 25 – 26oC, nhất là sau những  
trận mưa rào. Nó đẻ vào lúc sáng sớm. Lúc này, lươn đực làm nhiệm vụ canh gác cho  
tổ đẻ. Chúng gác gần 1 tháng trời, tới khi con lươn con nở và bơi ra ngoài hang, lươn  
đực mới đi nơi khác.  
Lươn mới nở có một bọc noãn hoàng lớn ở bụng. Đó là nguồn thức ăn nuôi  
dưỡng chúng trong những ngày đầu. Tám ngày sau, chúng phát triển hoàn toàn: vây  
ngực tiêu biến dần, để cuối cùng chỉ là một điểm chấm, bọc noãn hoàng bé đi và thu  
hẹp lại thành một dải nhỏ nằm dưới bụng lươn. Khoảng 2 - 3 ngày tiếp theo, noãn  
hoàng tiêu biến hết. Trên thân lươn xuất hiện nhiều sắc tố đen. Lúc này lươn bơi khoẻ  
hơn, thân dài dáng dấp của một chú lươn thực thụ. Toàn bộ quá trình đào hang, chuẩn  
bị tổ đẻ (7 - 8 ngày), ấp trứng (7 - 10 ngày), trứng nở và biến thái thành lươn con  
(khoảng 10 ngày) ... hết gần một tháng. Khi đã rời khỏi hang ra ngoài, lươn con tự đi  
kiếm ăn được.  
2.2. Nuôi lươn thương phẩm  
2.2.1. Giới thiệu chung  
Lươn tên khoa học là Fluta albus (Zview), thuộc họ Flutidae, thịt lươn ngon, bổ  
và được coi là món ăn cao cấp: cháo lươn, miến lươn, chả lươn, lươn sào, om, rim ...  
lượng đạm trong thịt lươn có tới 18,37%. Trong y học người ta nói thịt lươn bổ máu,  
có tác dụng an thần (chữa bệnh khó ngủ). Máu lươn có thể chữa được bệnh cảm cúm.  
Các nhà sinh học còn coi lươn là đối tượng nghiên cứu thú vị, vì ở nó có quá trình biến  
cơ thể cái thành cơ thể đực, một hiện tượng hiếm có.  
Lươn cũng như loài cá khác, trước khai thác tự nhiên, sau dựa vào kinh nghiệm  
của những người đi bắt lươn, lưu giữ chúng trong những bể hẹp, cho ăn vỗ béo chúng  
trước khi đem bán... Từ đó, nhân dân lao động đã sáng tạo ra nghề nuôi lươn.  
Hiện nay, trong phong trào làm kinh tế VAC nghề nuôi lươn gia đình đang  
được chú ý. Nghiên cứu lươn để khai thác chúng ngoài thiên nhiên một cách hợp lý,  
71  
cũng như đóng góp thêm cơ sở khoa học cho nghề nuôi lươn trong gia đình, là một  
việc làm cần được quan tâm khuyến khích.  
2.2.2. Điều kiện nuôi lươn  
- Gần nguồn nước, có thể lấy nước và thoát nước chủ động.  
- Nơi đất thấp, có độ ẩm cao, không bị ngập lụt, nắng hạn.  
- ít bị ánh nắng chiếu trực tiếp, có bóng râm mát.  
- Gần chuồng trâu, bò, lợn, hố phân, hố rác ...  
2.2.3. Kỹ thuật nuôi lươn  
* Địa điểm nuôi lươn  
Có hai cách: lợi dụng ao, bể cũ hoặc xây bể mới.  
Sử dụng bể cũ, ao, ruộng sẵn để nuôi lươn:  
- Loại bể nổi: là bể cạn, trước kia dùng chứa nước, nay không dùng hoặc bị hư  
hỏng...thì sửa lại để nuôi lươn. Đục một lỗ thoát nước ở sát đáy. Cách miệng bể 30 cm  
đục lỗ thứ hai (có lưới sắt mắt nhỏ chắn lại). Trong bể có đổ đất bùn, đất sét và nước.  
- Loại bể chìm: thường là những bể sẵn có, như bể tôi vôi, bể phân...nếu dùng  
thì phải dọn kỹ và phải để một thời gian cho hết mùi vôi rồi hãy nuôi. Phải đục lỗ tháo  
nước, đổ đất, nước... giống như loại bể trên.  
- Ao nuôi: các loại ao tù, cớm không bị khô cạn, không bị ngập lụt, nhưng  
không nuôi được cá thì sửa lại để nuôi lươn và thả bèo. Bờ ao cần được dọn bằng  
phẳng, gần như thẳng đứng. Xung quanh ao là đất cao hoặc bờ to chắc. Mức nước sâu  
0,5 - 0,6 m. Một góc ao, đổ một lớp đất bùn sét cao cách mặt nước 0,30 m. Mức nước  
trong ao luôn thấp hơn mặt bờ ao tối thiểu là 0,8 m.  
- Nuôi ở ruộng. Ruộng nuôi lươn cần có địa thế sau: xung quanh ruộng đều là  
đất trồng màu cao. Ruộng không có nguồn nước hoặc nhiều mương rãnh thông đi các  
nơi. Ruộng nhiều bùn sâu, cớm rợp, xung quanh có luỹ tre hoặc bờ cao bao bọc.  
Ruộng gần nhà hoặc ngay trong vườn để dễ quản lý. Ruộng không bị nắng hạn, ngập  
lụt.  
Xây chỗ nuôi mới:  
- Xây bể nửa nổi, nửa chìm: Xây bể to, nhỏ tuỳ theo điều kiện thực tế,diện tích  
khoảng 10 - 20 m2. Nên xây ô để khi thu hoạch lươn thuận lợi. Trong bể cũng có bùn,  
sét và nước. Có lỗ thoát nước và đường dẫn nước vào ...  
- Xây bể nuôi đơn giản: tương tự như tận dụng bể cũ.  
- Bể nuôi bằng đất sét: đáy bể đổ một lớp gạch, ngói vụn dày 15 cm nện kỹ.  
Cách làm như bể nuôi đơn giản.  
* Cách nuôi  
Lươn đực - cái rất khó phân biệt. Trong thực tế nuôi lươn, không cần phân biệt  
đực cái. Sau khi thả nuôi lươn vẫn sinh đẻ nhiều lươn con.  
Thời gian thả:  
72  
- Nuôi lươn thịt: thả giống từ tháng 4 - 5 trở đi. Có thể thả 2 loại: lươn to  
100g/con và lươn nhỏ bằng xe điếu. Tháng 6 - 7 thu hoạch loại lươn to, còn loại nhỏ  
thu vào cuối năm.  
- Nuôi lươn đẻ: thả giống từ tháng 12 âm lịch, cỡ lươn từ 200g/con trở lên  
(chiều dài từ 50 - 60 cm). Từ tháng 12 đến tháng 2 cho lươn ăn nhiều giun. Vỗ béo  
lươn để đủ sức phát dục (từ tháng 2 trở đi lươn bắt đầu sinh sản).  
Chọn lươn giống:  
- Lươn khai thác tự nhiên: Vào tháng 4 - 10 dùng ống, trúm, lỗng bẫy để bắt  
lươn ở ruộng lúa, mương rãnh… lươn bắt bằng phương pháp này không bị thương,  
khỏe mạnh, tỷ lệ sống cao.  
- Mua lươn ở chợ: Chọn lươn khỏe mạnh không bị thương, không có lưỡi câu vì  
những lươn này dễ bệnh, không ăn và có thể chết khi thả.  
- Chọn lươn qua hình thái ngoài  
+ Loại 1: thân có màu vàng, chấm đen lớn, loại này nuôi nhanh lớn  
+ Loại 2: thân có màu vàng xanh, loại này sinh trưởng trung bình  
+ Loại 3: thân màu xám tro, chậm lớn  
Mật độ thả:  
Tuỳ thuộc vào nguồn thức ăn, cỡ lươn, điều kiện nơi nuôi mà mật độ thả có  
khác nhau. Với cỡ lươn bằng xe điếu nếu:  
- Bể lớn, bùn sâu, nguồn nước thay đổi dễ dàng... thả 60 - 80 con/ m2.  
- Bể nhỏ, bùn nông, nguồn nước khó thay... thả 40 con/ m2.  
- Ao hồ thả 30 con/m2; Ruộng thả 5 con/ m2.  
Cho lươn ăn:  
- Lươn đi ăn vào ban đêm, thường cho lươn ăn vào khoảng 18 - 19 giờ hàng  
ngày, trước khi cho ăn loại bỏ thức ăn thừa tránh gây ô nhiễm.  
- Thức ăn là xác bã thực vật, cần thái nhỏ, ốc cũng phải đập dập rải đều cho  
lươn ăn.  
- Lượng thức ăn trung bình: 5- 7% trọng lượng thân/ngày. Tránh cho lươn ăn  
thừa làm lươn bội thực và chết.  
Chú ý: Trong giai đoạn lươn giống lên thuần hóa không để lươn ăn một loại thức ăn về  
sau lươn sẽ kén ăn. Cách thức thuần hóa: những ngày đầu khi mới thả không cho lươn  
ăn, sau đó cho lươn ăn từ từ từng loại thức ăn khác nhau để tạo tính ăn hỗn hợp cho  
lươn.  
- Gây thức ăn cho lươn  
+ Gây giun có 2 cách:  
Thứ nhất, gây tại bể nuôi lươn nửa nổi, nửa chìm: trên mặt lớp đất sét đổ một  
lớp đát mùn dày 15 cm, rộng 50 cm (xung quanh là thành bể). Dùng rạ mục độn vào  
giữa. Không để nước trong bể ngập đến lớp đất mùn, giun sẽ chết. Đất mùn cần chọn  
nơi có nhiều phân giun, gạt lớp đất có phân giun ở trên, lấy lớp đất ở dưới để đổ vào  
73  
bể. Sau đó, bắt giun to thả vào cho chúng sinh đẻ. Thỉnh thoảng tưới nước vo gạo lên  
mùn.  
Thứ hai, gây giun ở hố riêng: hố đào ở trong vườn hoặc gần nơi rửa bát, vo gạo,  
rộng hẹp tuỳ ý, sâu độ khoảng 0,3 m. Nện đất xung quanh thành và đáy hố. Bắt giun  
thả vào thỉnh thoảng tưới nước vo gạo lên trên. Không cho nước tràn vào ngập hố.  
Giun ưa đất chua (pH = 6 - 6,5). Khoảng 1 - 2 tháng cho thêm mùn, hữu cơ, phân  
chuồng và lá xanh vào hố làm thức ăn cho giun.  
+ Bắt ốc bươu, tôm tép ... thả vào bể nuôi lươn. ốc mẹ sinh ra ốc con, lươn ăn  
ốc con.  
Quản lý  
- Thực hiện thay nước định kỳ: Đối với bể nhỏ, sau 6 - 7 ngày, thay nước một  
lần. Bể lớn: sau 15 ngày, thay 1/ 3 nước.  
Đảm bảo môi trường nước trong sạch trong quá trình nuôi: Vào mùa nóng nên  
tăng cường thay nước để ổn định nhiệt độ, vào những ngày mưa phải tháo nước kịp  
thời tránh làm lươn bỏ trốn khỏi bể nuôi.  
-Thay bùn: bể nhỏ: 6 tháng thay một lần; bể lớn: 12 tháng thay 1 lần. Thay bùn  
vào tháng 6 và tháng 12. Thời gian từ tháng 2 - 5 chỉ thay nước, mà không thay bùn  
(mùa sinh sản của lươn).  
- Đề phòng địch hại: Người nuôi lươn cần đề phòng các loại ếch, nhái nhảy vào  
hố ăn hại trứng và lươn con. Không nên nuôi ếch, cua, cá chuối, trê, rô... trong bể  
lươn.  
- Làm giàn che mát, hạn chế ánh sáng ở bể nuôi lươn, lươn là loài ưa chui rúc vì  
vậy trong quá trình nuôi cần hạn chế ánh sáng trực tiếp, vì vậy cần trồng các gian cây  
trên bể nuôi hoặc có biện pháp che chắn để hạn chế ánh sáng.  
- Lươn trú đông: Khi nhiệt độ môi trường nước giảm xuống cỡ 10 - 12oC lươn  
ngừng ăn và rúc xuống bùn ngủ đông. Lúc này nên tiến hành bắt lươn đạt kích cỡ  
thương phẩm, đối với lươn qua đông tiến hành tháo cạn nước ao (để mức nước sâm  
sấp), dùng cỏ khô, rơm phủ lên toàn bộ mặt ao để giữ ấm cho lươn. Với những nơi  
nhiệt độ môi trường cao có thể tiến hành tăng mực nước để ổn định nhiệt độ cho lươn  
trú đông.  
Một số bệnh thường gặp:  
- Bệnh số nóng:  
+ Biểu hiện: Lươn xáo động nhiều trong bể, quấn vào nhau và tiết dịch nhày,  
đầu lươn sưng phù, bệnh có thể gây chết hàng loạt. Bệnh thường gặp khi nuôi với mật  
độ quá cao  
+ Điều trị: Giảm ngay mật độ nuôi, thay nước, thả vài con cá trê để ăn thức ăn  
thừa và khuấy động tránh lươn quấn vào nhau. Khi bệnh phát triển dùng sulfat đồng  
0,07ppm phun trực tiếp vào bể nuôi.  
- Bệnh lở loét:  
+ Biểu hiện: trên mình lươn xuất hiện nhiều vết tròn hay bầu dục. Da bị lở loét  
(còn gọi bệnh đóng dấu), bệnh nặng đuôi bị rụng, bơi lội khó khăn. Bệnh thường xuất  
74  
hiện vào mùa hè tháng 5 - 9. Nguyên nhân là do ký sinh trùng, vi khuẩn bám trên các  
vết trầy xước gây ra.  
+ Điều trị: Trước khi nuôi cần sát trùng cho bể bằng vôi, vào mùa lươn hay mắc  
bệnh phun Steptomicine trực tiếp vào bể với liều lượng 250.000UI/m3.  
Cứ 50kg lươn dùng 0,5g Sunphamit trộn vào thức ăn cho lươn ăn mỗi ngày 1  
lần, mỗi đợt điều trị 5 - 7ngày. Dùng thuốc tím bôi trực tiếp vào vết loét.  
- Bệnh nấm thủy my:  
+ Biểu hiện: Do nấm mốc kí sinh trên mình, trứng lươn tạo thành đám trắng  
như bông, bệnh thường xuất hiện nhiều vào mùa xuân, thu.  
+ Điều trị: Trước khi thả lươn dùng nước vôi vệ sinh bể, tắm cho lươn giống  
bằng nước muối 3 - 5o/oo, trong 3 - 5phút.  
- Bệnh đỉa bám  
+ Biểu hiện: đỉa bám trên đầu lươn hút máu làm lươn bị suy yếu, tạo điều kiện  
các sinh vật cơ hội như vi khuẩn, nấm mốc ký sinh gây bệnh.  
+ Điều trị: Dùng Sulfat đồng nồng độ 2,5g/ 25 lít nước tắm cho lươn trong 5 -  
10 phút.  
* Thu hoạch: Thời gian tiến hành thu hoạch lươn thường là vào khoảng trung  
tuần tháng 10 - 11 âm lịch, hoặc khi thấy nhiệt độ môi trường nước giảm xuống 10 -  
15oC, lươn ngừng ăn, ngừng sinh trưởng, lươn trong giai đoạn này ít hoạt động dễ  
đánh bắt và dễ vận chuyển.  
Phương pháp thu hoạch  
- Bể nhỏ: dùng rổ thưa xúc.  
- Bể to: dùng ống trúm để bắt lươn, câu, đánh lưới…  
- Bể nuôi có hố thu hoạch: Bỏ lươn đói 2 ngày trước khi thu hoạch. Đến tối thứ  
2, tháo 1/3 nước trong bể, dùng mồi giun cắt đoạn gói trong vải xô, bỏ vào hố thu  
hoạch. Đổ nước vào hố, và mở nút lỗ tràn. Nước chảy vào bể lớn mang theo mùi tanh  
của giun. Lươn sẽ tìm đến chui hết vào hố thu hoạch (tháo nút đáy của hố tràn, nước  
chảy hết còn trơ lại lươn).  
- Thời gian thu vào 7 giờ tối. Thu lươn to (200 g/con), lươn nhỏ để nuôi tiếp và  
thả bù đủ số lượng đã bắt.  
* Lịch nuôi lươn (âm lịch):  
Bảng 17.05.03: lịch thời vụ nuôi lươn  
Tháng  
Mùa vụ  
Thu hoạch  
Việc làm  
Thu lươn thịt, chọn lươn giống. Rửa bể,  
thay bùn, xây chỗ nuôi mới.  
11 -12  
Thả lươn giống; nuôi vỗ béo lươn; gây thức  
ăn nuôi lươn.  
Để yên tĩnh; bịt chặt; không xáo trộn bùn;  
không thu hoạch.  
12 -1 -2 Lươn phát dục, chuẩn bị đẻ  
2 - 3 - 4 Mùa lươn đẻ  
Thu hoạch nuôi dưỡng lươn Cho lươn ăn nhiều lần; vỗ béo; thả bổ sung  
con lươn. Thay bùn; san hoặc bán bớt lươn con;  
5 -6 - 7  
75  
bắt lươn con ngoài tự nhiên.  
Cho ăn nhiều, thu tỉa thả bù.  
8 - 9 -10 Vỗ béo  
Phương hướng nuôi lươn:  
Kết quả nuôi lươn cho thấy: lươn sống dai, sức đề kháng cao, dễ nuôi, lớn  
nhanh, ít tốn kém, không cần nhiều diện tích, có lãi nhanh. Chủ động giống dễ dàng, vì  
lươn đẻ được trong bể nuôi. Nhân dân thích ăn lươn, cần có nhiều lươn để xuất khẩu.  
Từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, gia đình tập thể nào cũng  
có thể nuôi lươn được. Tuỳ theo điều kiện từng nơi, chọn qui mô nuôi cho phù hợp.  
Sau gặt chiêm, lươn con xuất hiện nhiều ở ruộng lúa, nên vận động nhân dân bắt lươn  
con về nuôi.  
* Nuôi tạm và vận chuyển lươn sống  
Nuôi tạm:  
Trong điều kiện nhiệt độ bình thường 23 – 30oC có thể nuôi lươn tạm trong các  
dụng cụ chứa nhỏ như chum, vại, xô… với tỷ lệ lươn và nước là 1/1. Trong quá trình  
nuôi tạm cứ 2 - 3h khuấn đảo nước 1 lần, sau 6 - 8h thay nước một lần.  
VD: một vật chứa được 100lít nước có thể nuôi tạm 35 - 40kg lươn và lượng tương tự  
nước.  
Trong bể ximăng diện tích < 20m2, mực nước 0,8m có thể nuôi tạm lươn với  
mật độ 20kg/m2, mỗi ngày thay nước một lần. Trong bể thả một ít cá trê để chúng  
khuấn động tránh lươn cuốn vào nhau.  
Chú ý: Trong quá trình nuôi tạm cần đậy cẩn thận để lươn không bò trốn mất, thời  
gian nuôi tạm không quá 2 ngày.  
Vận chuyển:  
- Vận chuyển khô:  
Dụng cụ vận chuyển là thùng gỗ, thúng sơn, bao tải… đáy dụng cụ vận chuyển  
lót cỏ, rong, bèo… để giữ ẩm cho lươn trong quá trình vận chuyển.  
Trong quá trình vận chuyển cứ 3 - 4h tưới ẩm cho dụng cụ vận chuyển 1 lần.  
Vận chuyển bằng phương pháp này áp dụng với quãng đường ngắn thời gian vận  
chuyển không quá 2 ngày, tỷ lệ sống đạt 90%.  
Chú ý: Không vận chuyển lươn quá dày để chúng đè lên nhau gây chết. Trong  
quá trình vận chuyển luôn giữ da lươn ẩm, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.  
- Vận chuyển nước:  
Dụng cụ vận chuyển là thùng nước, lồ, khoang thuyền đảm bảo chứa nước tốt.  
Tỷ lệ lươn so với nước trong vận chuyển 1/1  
Trong quá trình vận chuyển thường xuyên theo dõi họat động của lươn, tránh  
lươn cuốn vào nhau gây chết, không thay nước trong khi vận chuyển. thời gian vận  
chuyển 3 - 4 tuần, tỷ lệ sống đạt 90%.  
- Vận chuyển bằng túi nylon có bơm ôxy:  
76  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 49 trang yennguyen 20343 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Nuôi cá và đặc sản nước ngọt (Phần 2) - Nghề: Nuôi trồng thủy sản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_nuoi_ca_va_dac_san_nuoc_ngot_phan_2_nghe_n.pdf