Một số ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá điêu hồng Oreochromis sp. giai đoạn cá hương đến cá giống nuôi ở tỉnh Thừa Thiên Huế

MỘT SỐ KÝ SINH TRÙNG NGOẠI KÝ SINH  
TRÊN CÁ ĐIÊU HỒNG Oreochromis sp. GIAI ĐOẠN CÁ HƯƠNG  
ĐẾN CÁ GIỐNG NUÔI Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
HOÀNG LÊ THÙY LAN*, NGUYỄN TÝ  
Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
*Email: [email protected]du.vn  
Tóm tắt: Kết quả phân tích 312 mẫu cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá  
giống đã xác định được 4 loài ký sinh trùng ngoại ký sinh thuộc 4 giống, 4 họ, 3  
bộ, 3 lớp đó là: Trichodina siluri, Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. và Ergasilus  
sp. Trichodina siluri ký sinh trên cả 3 cơ quan da, mang và vây, riêng loài này  
nhiễm trên mang với tỷ lệ cao nhất 60,9%. Các loài Apiosoma sp.,  
Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp. ký sinh với tỷ lệ và cường độ nhiễm tương  
ứng 17,63% với 1,1 trùng/tt, 52,24% với 3,4 trùng/lamen và 15,38 với 4,4  
trùng/cơ thể. Các loài này chỉ nhiễm trên mang cá điêu hồng ương giống với tỷ  
lệ nhiễm của Cichlidogyrus sp. cao, hai loài còn lại có mức độ nhiễm thấp.  
Từ khóa: Cá điêu hồng, Ký sinh trùng ngoại ký sinh, Oreochromis sp.  
1. MỞ ĐẦU  
Cá điêu hồng còn được gọi là cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) được xem là đối tượng chủ  
lực nằm trong danh mục mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2015-2020 (theo Quyết định  
332/QĐ - TT ngày 3/3/2011). Nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi trong lồng nước ngọt  
cũng như tăng thu nhập cho người dân, từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, năm  
2014 Trung tâm Khuyến nông lâm ngư Thừa Thiên Huế đã thực hiện mô hình nuôi  
thâm canh cá điêu hồng bằng lồng ở 2 điểm Thủy Tân - Hương Thủy và Quảng Phú -  
Quảng Điền với quy mô 120 m3/ 4 hộ, mật độ thả 100 con/m2. Ngoài ra, ở một số hồ  
chứa thủy lợi, thủy điện cũng đã và đang nuôi thꢀ nghiệm cá điêu hồng bằng lồng bꢁ  
với qui mô lớn như hồ Khe Ngang ở xã Hương Hồ huyện Hương Trà, Khe Lời ở xã  
Thủy Phù huyện Hương Thủy,… một số nuôi trên các lồng bꢁ trên sông Bồ (xã Quảng  
Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Nhꢂn chung, nuôi cá trong lồng có tiềm  
năng phát triển, thị trường tiêu thụ cá điêu hồng ꢃn định, tăng thu nhập và có hiệu quả  
kinh tế. Nguồn cá giống được người dân nhập từ các địa phương khác, trước khi thả  
nuôi cá đã được ương nuôi trong hồ từ giai đoạn cá hương lên cá giống hoặc từ cá giống  
cấp 1 lên cá giống cấp 2. Tuy nhiên, bệnh cá luôn là mối quan tâm lớn trong giai đoạn  
này, trong đó ký sinh trùng là một trong những tác nhân phꢃ biến nhất gây bệnh cá.  
Bệnh ký sinh trùng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá, có thể gây chết hàng loạt cho  
cá ương nuôi, gây thiệt hại cho người dân. Việc nghiên cứu một số loài ký sinh trùng  
(KST) ngoại ký sinh trên cơ thể cá nuôi và mức độ nhiễm của chúng có ý nghĩa trong  
việc góp phần nâng cao tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng cho cá trong giai đoạn ương  
nuôi và đề xuất các biện pháp chăm sóc và quản lý tốt sức khỏe của đàn cá nuôi. Trong  
khuôn khꢃ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã xác định sự xuất hiện một số KST ngoại  
ký sinh trên các cơ quan da, mang, vây cá điêu hồng và mức độ cảm nhiễm của chúng.  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
ISSN 1859-1612, Số 03(55)/2020: tr.115-122  
Ngày nhận bài: 02/11/2020; Hoàn thành phản biện: 26/11/2020; Ngày nhận đăng: 30/11/2020  
116  
HOÀNG THỊ THÙY LAN, NGUYỄN TÝ  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
312 mẫu cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá giống được thu trong các hồ, ao ở tỉnh  
Thừa Thiên Huế để xác định một số giống loài KST ngoại ký sinh trên cá và mức độ  
cảm nhiễm của những loài này.  
Mẫu được kiểm tra, nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu KST của Viện sĩ V.A.  
Dogiel và bꢃ sung nghiên cứu của Hà Ký, Bùi Quang Tề (2007). Mẫu cá sau khi thu  
được đo chiều dài (mm) và cân khối lượng (g), sau đó kiểm tra KST ngoại ký sinh trên  
các cơ quan (da, mang và vây) của cá.  
Quan sát bằng mắt thường dưới kính hiển vi soi nꢃi toàn bộ cơ thể bên ngoài của cá, cạo  
nhớt và kiểm tra các vây, da, nắp mang, cung mang, lá mang dưới kính hiển vi quang  
học nhằm phát hiện KST. Những mẫu KST được cố định, làm tiêu bản, bảo quản và tiến  
hành phân loại và nhận dạng.  
Sꢀ dụng một số tài liệu để phân loại KST: Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam của Hà  
Ký và Bùi Quang Tề (2007) [6]; Chẩn đoán và phòng trị bệnh, trúng độc ở cá của FAO  
(1991) [4]; Ký sinh trùng đơn bào của Lom và Dyková (1992) [7]; Phân lớp Digenea,  
Trematoda trên động vật có xương của Yamaguti S. (1958) [9]. Phân ngành Crustacae  
trong quyển Đa dạng sinh học động vật của Zhang Z.-Q.(ed.) (2011) [10].  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thành phần giống, loài ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá điêu hồng  
Kết quả khảo sát KST trên 312 mẫu cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá giống,  
chúng tôi đã xác định được 4 loài KST ngoại ký sinh thuộc 4 giống, 4 họ, 3 bộ, 3 lớp đó  
là: Trichodina siluri, Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp.. Vị trí phân loại  
các giống, loài KST ngoại ký sinh trên cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá giống  
được thể hiện qua bảng 1. Các kết quả nghiên cứu khác cũng ghi nhận sự bắt gặp các  
loài này trên cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) và một số loài cá khác. Năm 1989,  
Arthur, J.R. và cs đã báo cáo trong nghiên cứu có sự xuất hiện Trichodina siluri Lom,  
1970 trên da cá rô phi (Oreochromis niloticus) ở Philipin [1]. Trần Thị Bưởi và cs  
(2014) trong nghiên cứu đã tꢂm thấy Trichodina siluri ký sinh trên da và mang cá rô phi  
vằn (Oreochromis niloticus) giai đoạn giống nuôi tại Hà Nội [8]. Ngoài ra, Trichodina  
siluri Lom, 1970 cũng được ghi nhận ký sinh trên mang và da của các loài Helostoma  
temminckii, Oxyeleotris marmorata và Pangasius hypophthalmus [2]. Bùi Quang Tề  
(2008) cũng cho biết sự xuất hiện của loài Ergasilus sp. thường ký sinh trên nhiều loài  
cá biển và cá nước lợ. Ông cho biết ở Việt Nam, quanh năm đều có Ergasilus sp. ký  
sinh trên cá trong các thủy vực và lưu hành mạnh vào mùa xuân hꢁ [3].  
Trong quá trꢂnh nghiên cứu, sán lá đơn chủ Cichlidogyrus sp. cũng được tꢂm thấy trên  
mang của cá điêu hồng ương nuôi, loài này ký sinh với cường độ nhiễm trung bꢂnh 3,3  
trùng/lamen. E Yusni and N Rambe, 2019 đã miêu tả Cichlidogyrus sp. ký sinh trên  
mang cá và Trichodina sp. thuộc giống Trichodina, họ Trichodinidae ký sinh trên vây,  
đầu và da cá trong nghiên cứu KST ngoại ký sinh trên cá rô phi giống (Oreochromis  
niloticus) trong các ao nuôi thủy sản [4].  
MỘT SỐ KÝ SINH TRÙNG NGOẠI KÝ SINH TRÊN CÁ ĐIÊU HỒNG...  
117  
Bảng 1. Vị trí phân loại các giống, loài KST ngoại ký sinh  
trên cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá giống  
Loài  
Giống  
Họ  
Bộ  
Lớp  
Trichodina  
Ehrenberg, 1830 Claus, 1851  
Trichodinidae  
Trichodina siluri  
Peritrichida  
F.Stein,1859  
Peritricha  
Stein,1859  
Apiosoma  
Blanchard,1885  
Epistylididae  
Kahl,1933  
Apiosoma sp.  
Monogenea  
(Van  
Beneden,  
1858)  
Bychowsky,  
1935.  
Ancyrocephalid Dactylogyridea  
Cichlidogyrus  
Paperna, 1960  
Cichlidogyrus sp.  
ae Bychowsky,  
1937  
Bychowsky,  
1937  
Ergassilidae von Cyclopoida  
Ergasilus von  
Nordmann, 1832  
Maxillopoda  
Dahl, 1956  
Ergasilus sp.  
Nordmann,  
1832  
Burmeister,  
1834  
Hình 1. Trichodina siluri, Lom, 1970 - mẫu nhuộm AgNO3 2%  
A
B
Hình 2. Apiosoma sp. ký sinh trên mang cá điêu hồng  
(A- mẫu tươi; B- mẫu nhuộm AgNO3 2%)  
118  
HOÀNG THỊ THÙY LAN, NGUYỄN TÝ  
A
B
C
Hình 3. Cichlidogyrus sp.  
(A- mẫu tươi; B,C- móc bám)  
A
B
Hình 4. Ergasilus sp.  
(A- mẫu tươi; B- mẫu được tách hai túi trứng)  
3.2. Mức độ nhiễm KST ngoại ký sinh trên cá điêu hồng giai đoạn cá hương đến cá  
giống  
Mẫu cá được thu từ các ao, hồ ương nuôi cá hương đến cá giống ở tỉnh Thừa Thiên Huế  
với số lượng 312 mẫu có kích thước trung bꢂnh 5,4 mm và khối lượng trung bꢂnh 2,5  
g/con. Sau khi cạo nhớt, cắt vây và mang soi dưới kính hiển vi để kiểm tra ký sinh trùng  
chúng tôi xác định được tỷ lệ nhiễm KST ngoại ký sinh trên cá với tỷ lệ 68,91%. Nhìn  
chung, tỷ lệ nhiễm KST ngoại ký sinh trên đối tượng cá điêu hồng ương nuôi từ cá  
hương đến cá giống là khá cao.  
3.2.1.Tỷ lệ nhiễm KST ngoại ký sinh trên từng cơ quan cá điêu hồng giai đoạn cá  
hương đến cá giống  
Các cơ quan kiểm tra ký sinh trùng ngoại ký sinh bao gồm da, mang và vây, các cơ  
quan đều bị nhiễm với tỷ lệ khác nhau. Mang là cơ quan bị nhiễm KST ngoại ký sinh  
cao nhất với 67,31%, tiếp đến là vây với 22,76% và thấp nhất là da 17,31%. Cơ quan  
mang cá là nơi bị nhiễm nhiều đối tượng nhất bao gồm các loài Trichodina siluri,  
Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp. Da và vây chỉ bị nhiễm 1 đối tượng  
KST.  
MỘT SỐ KÝ SINH TRÙNG NGOẠI KÝ SINH TRÊN CÁ ĐIÊU HỒNG...  
119  
80.00  
67,31  
70.00  
60.00  
50.00  
40.00  
30.00  
22,76  
Vây  
17,31  
Da  
20.00  
10.00  
0.00  
Mang  
Cơ quan  
Hình 5. Tỷ lệ nhiễm KST ngoại ký sinh bắt gặp trên các cơ quan cá  
3.2.2. Tỷ lệ nhiễm các loài KST ngoại ký sinh  
100.00  
90.00  
80.00  
70.00  
60.00  
50.00  
40.00  
30.00  
20.00  
10.00  
0.00  
64,42  
52,24  
17,63  
15,38  
KST  
Hình 6. Tỷ lệ nhiễm từng loài KST ngoại ký sinh bắt gặp trên cá điêu hồng  
Trong số 4 loài KST bắt gặp có 2 loài thuộc nhóm KST đơn bào, đó là Trichodina siluri  
và Apiosama sp., 2 loài thuộc KST đa bào bao gồm Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp.,  
loài Trichodina siluri có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 64,42%, tiếp theo là loài  
Cichlidogyrus sp. với 52,24%, và Apiosoma sp. với 17,63%. Loài Ergasilus sp. có tỷ lệ  
nhiễm thấp nhất (15,38%). Nhꢂn chung, 2 loài Trichodina siluri và Cichlidogyrus sp.  
đều có tỷ lệ nhiễm trên cá điêu hồng giai đoạn cá hương lên cá giống tương đối cao.  
120  
HOÀNG THỊ THÙY LAN, NGUYỄN TÝ  
3.2.3. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm các loài KSTngoại ký sinh trên các cơ quan cá  
điêu hồng  
Bảng 2. Mức độ nhiễm KST ngoại ký sinh trên cơ thể cá điêu hồng  
Tỷ lệ  
nhiễm  
(%)  
Cơ quan  
ký sinh  
Cường độ  
nhiễm  
STT  
Tên KST  
Ghi chú  
Lớp Oligohymenophorea de Puytorac et al., 1974  
17,31  
60,90  
22,76  
17,63  
2,8 ± 3,2  
2,2 ± 2,8  
4,5 ± 3,6  
1,1 ± 0,5  
Da  
Trùng/tt  
1
2
Trichodina siluri  
Mang  
Trùng/tt  
Vây  
Mang  
Trùng/tt  
Trùng/tt  
Apiosoma sp.  
Lớp Monogenea (Van Beneden, 1858) Bychowsky, 1935  
2
Cichlidogyrus sp.  
Lớp Maxillopoda Dahl, 1956  
Ergasilus sp.  
Mang  
52,24  
3,4 ± 1,2  
Trùng/lamen  
3
Mang  
15,38  
4,4 ± 2,6  
Trùng/cơ thể  
Tỷ lệ nhiễm từng loài KST ngoại ký sinh trên các cơ quan mang, da và vây tương ứng  
với cường độ nhiễm (CĐN) của mỗi loài thể hiện cụ thể qua bảng 2. Trichodina siluri  
đều tꢂm thấy trên cả ba cơ quan, trong đó mang chiếm tỷ lệ cao nhất (60,90%), nhưng  
lại có cường độ nhiễm thấp nhất (2,2 trùng/tt). Trong quá trꢂnh nghiên cứu loài  
Trichodina siluri được ghi nhận tꢂm thấy trên vây với tỷ lệ nhiễm thấp (22,76%) nhưng  
có cường độ nhiễm cao hơn với 4,5 trùng/tt. Bùi Quang Tề (2008) trong nghiên cứu cho  
biết loài Trichodina siluri ký sinh trên một số loài cá với mức độ nhiễm khác nhau,  
trong đó ghi nhận cá rôhu có tỷ lệ nhiễm trên da 78,37% với 2-11 trùng/tt, trên mang  
với 83,78%; cá mùi bị nhiễm KST ở da với tỷ lệ 37,50% và 1-5 trùng/tt. Kết quả nghiên  
cứu của chúng tôi khá tương đồng với nghiên cứu của Bùi Quang Tề (2008).  
Trần Thị Bưởi và cs (2014) trong nghiên cứu cũng đã xác định Trichodina siluri ký sinh  
trên da và mang cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) giai đoạn giống nuôi tại Hà Nội  
với tỷ lệ nhiễm trên da và mang tương ứng là 76,5% và 36,5%, CĐN 4,65 trùng/tt và  
1,5 trùng/tt. So sánh với nghiên cứu trên, kết quả nghiên của chúng tôi có sự khác biệt ở  
tỷ lệ nhiễm trên da và mang, có thêm cơ quan vây cũng bị nhiễm loài Trichodina siluri.  
Điều này có thể là do vị trí địa lý và môi trường sống của cá điêu hồng Oreochromis sp  
ương giống. Tuy nhiên, CĐN loài này trên da và mang trong nghiên cứu cũng thấp và  
tương đồng với kết quả của nghiên cứu trên. Apiosoma sp. chỉ bắt gặp trên mang cá với  
tỷ lệ nhiễm thấp 17,63% và CĐN 1,1 trùng/tt. Cá bị nhiễm trùng bánh xe Trichodina  
siluri và trùng loa kèn Apiosoma sp. với cường độ cao làm mang cá tiết nhiều dịch  
nhờn, cản trở quá trꢂnh hô hấp của cá, dẫn đến cá thiếu oxy nꢃi đầu lên mặt nước.  
Sán lá đơn chủ Cichlidogyrus sp. chỉ tꢂm thấy trên mang với tỷ lệ tương đối cao 52,24%  
và cường độ cảm nhiễm 3,4 trùng/lamen. Tương tự, Ergasilus sp. cũng ghi nhận ký sinh  
trên mang với tỷ lệ thấp 15,38% và cường độ nhiễm 4,4 trùng/cơ thể. Sán lá đơn chủ  
MỘT SỐ KÝ SINH TRÙNG NGOẠI KÝ SINH TRÊN CÁ ĐIÊU HỒNG...  
121  
Cichlidogyrus sp. khi ký sinh với cường độ nhiều làm các phiến mang tiết nhiều dịch  
nhờn, mang bị bám bẩn, là cơ hội để vi khuẩn tấn công và gây bệnh  
Theo Bùi Quang Tề (2008), lúc ký sinh sán lá Cichlidogyrus sp. dùng móc của đĩa bám  
sau bám vào tꢃ chức tuyến đầu tiết ra men hialuronidaza phá hoại tế bào tꢃ chức mang  
làm cho mang tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp cá. Tꢃ chức mang bị viêm  
loét tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây bệnh [3].  
Đối với Ergasilus, khi ký sinh chúng dùng đôi râu thứ 2 và cơ quan miệng phá hoại tꢃ  
chức mang, làm ảnh hưởng đến hô hấp bꢂnh thường của cá, cá có cảm giác ngứa ngáy,  
ngạt thở, gây vết loét các tꢃ chức mang tạo điều kiện cho vi trùng, nấm, KST khác xâm  
nhập ký sinh làm cho bệnh nặng hơn. Khi cá nhiễm Ergasilus nặng có thể có thể làm cá  
chết [3].  
4. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu đã xác định được 4 loài KST ngoại ký sinh thuộc 4 giống, 4 họ, 3 bộ, 3 lớp  
đó là: Trichodina siluri, Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp. Loài  
Trichodina siluri ký sinh trên cả 3 cơ quan da, mang và vây của cá, riêng nhiễm trên  
mang với tỷ lệ cao nhất, trong khi vây có tỷ lệ nhiễm thấp nhưng cường độ cảm nhiễm  
cao. Cichlidogyrus sp., Ergasilus sp. và Apiosoma sp. chỉ tꢂm thấy trên mang với tỷ lệ  
nhiễm của sán lá Cichlidogyrus sp. tương đối cao, hai loài còn lại có tỷ lệ nhiễm thấp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Arthur, J.R. và Bondad-Reantaso (1989). Trichodinids (Protozoa Ciliophora:  
Peritrichida) of Nile Tilaphi (Oreochromis niloticus) in the Philippins, Asian Fisheries  
Science 3: 27-44.  
[2] Arthur, J.R.; Te, B.Q. (2006). Checklist of the parasites of fishes of Viet Nam, FAO  
Fisheries Technical Paper, No. 369/2, Rome, FAO.133p.  
[3] Bùi Quang Tề (2008). Phần 3 - Bệnh ký sinh trùng ở động vật thủy sản, Bệnh học thủy  
sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,  
220-407.  
[4] E Yusni and N Rambe (2019). Identification of ectoparasites in Fry Tilapia  
(Oreochromis niloticus) in Aquaculture Pond, IOP Conf. Ser.: Earth Environ. Sci. 260  
012110.  
[5] FAO Fisheries and Aquaculture Department (1991). 2.1.4. Parasitic Diseases,  
Diagnostics, prevention and therapy of fish diseases and intoxications, Manual for  
International Training Course on Fresh-Water Fish Diseases and Intoxications:  
Diagnostics, Prophylaxis and Therapy.  
[6] Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007). Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, NXB Khoa học  
và Kỹ thuật, Hà Nội.  
[7] Lom J., Dyková I. (1992). Protozoan parasites of Fishes, Developments in Aquaculture  
and Fisheries Science, 26, Elsevier, Amsterdam.  
[8] Trần Thị Bưởi, Bùi Quang Tề, Trần Thị Lê Trang (2014). Nghiên cứu thành phần loài  
trùng bánh xe và thꢀ nghiệm biện pháp trị bệnh trên cá rô phi văn (Oreochromis niloticus)  
giai đoạn giống nuôi tại Hà Nội, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản, Số 4.  
122  
HOÀNG THỊ THÙY LAN, NGUYỄN TÝ  
[9] Yamaguti S. (1958). The digenetic Trematodes of vertebrates, Systema Helminthum,  
Vol. 1, Interscience Publ., New York.  
[10] Zhang Z.-Q.(ed.) (2011). Animal biodiversity: An outline of higher-level classification  
and survey of taxonomic richness, Zootaxa 3148, Magnolia Press.  
Title: SOME ECTOPARASITES OF FRY RED TILAPIA Oreochromis sp. CULTURED IN  
THUA THIEN HUE PROVINCE  
Abstract: Analyzing 312 fry red tilapia samples detected 4 ectoparasites: Trichodina siluri,  
Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. and Ergasilus sp. Trichodina siluri parasitized in all three  
organs tested, including skin, gill and fin; especially, infected gills were the organ presented the  
greatest rate with 60,9%. In this study, the prevalence and intensity of Apiosoma sp.,  
Cichlidogyrus sp. và Ergasilus sp. were recorded 17,63% with 1,1, 52,24% with 3,4 and  
15,38% with 4,4, respectively. It noted that Apiosoma sp., Cichlidogyrus sp. and Ergasilus sp.  
were only found out in gills infected with high rate while others appeared with low rate.  
Keywords: Ectoparasites, red tilapia, Oreochromis sp.  
pdf 8 trang yennguyen 17100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số ký sinh trùng ngoại ký sinh trên cá điêu hồng Oreochromis sp. giai đoạn cá hương đến cá giống nuôi ở tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_ky_sinh_trung_ngoai_ky_sinh_tren_ca_dieu_hong_oreochr.pdf