Tác động của việc bổ sung chitin vào thức ăn lên khả năng kháng lại Vibrio parahaemolyticus của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeid vannamei)

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHITIN VÀO THỨC ĂN LÊN KHẢ  
NĂNG KHÁNG LẠI Vibrio parahaemolyticus CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG  
(Litopenaeid vannamei)  
EFFECTS OF DIETARY CHITIN SUPPLEMENTATION ON THE RESISTANCE OF WHITE  
LEG SHRIMP (Litopenaeid vannamei) TO Vibrio parahaemolyticus  
Trần Vĩ Hích, Nguyễn Công Minh, Nguyễn Thị Kim Cúc,  
Phạm Thị Đan Phượng, Trang Sĩ Trung,  
Trường Đại học Nha Trang  
Tác giả liên hệ: Trần Vĩ Hích (Email: [email protected])  
Ngày nhận bài: 05/10/2020; Ngày phản biện thông qua: 14/11/2020; Ngày duyệt đăng: 24/12/2020  
TÓM TẮT  
Đánh giá tác động của việc bổ sung chitin vào thức ăn đến khả năng kháng lại Vibrio parahaemolyticus  
của tôm thẻ chân trắng (khối lượng trung bình 2,34 ± 0,22g) được thực hiện với 6 nghiệm thức bổ sung chitin  
vào thức ăn ở các mức 0%; 0,1%; 1%; 2%; 4% và 8%. Mỗi nghiệm thức thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Sau 2  
tuần nuôi, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus được cho trực tiếp vào môi trường nuôi với nồng độ là 104,54cfu/  
mL. Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ chết tích lũy của tôm thẻ chân trắng ở nghiệm thức cho ăn thức ăn có bổ  
sung 1% và 2% chitin là 25% thấp hơn (P=0,002) so với tỉ lệ chết tích lũy của tôm ở nghiệm thức đối chứng.  
Tỉ lệ chết tích lũy của tôm thẻ ở các nghiệm thức còn lại so với đối chứng không có sự khác biệt (P>0,05).  
Từ khóa: Tôm thẻ chân trắng, cỡ hạt chitin, tế bào máu, hoạt tính thực bào  
ABSTRACT  
Evaluation of the protective of dietary chitin supplementation to Vibrio parahaemolyticus in white leg  
shrimp Litopenaeus vannamei was performed with 6 treatments. Shrimp (mean weight 1.74 ± 0.22g) were fed  
diets supplemented with chitin at concentrations of 0%, 0.1%, 1%, 2%, 4% and 8% in triplicate for 2 weeks.  
Shrimp in all treatments were challenged by adding V. parahaemolyticus at the dose of 104,54cfu/mL directly to  
the culture tank. The experimental results showed that the cumulative mortality of the white leg shrimp in the  
treatment fed with 1% and 2% chitin supplement were 25% lower (P = 0.002) than the cumulative mortality  
of shrimp in the control treatment. There was no difference in cumulative mortality of white shrimp in the  
remaining treatments compared with control treatment (P>0.05).  
Key words: Litopenaeus vannamei, chitin size, haemocyte, phagocytic activity.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
dụng nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng  
giải pháp này không bền bởi dư lượng kháng  
sinh trên tôm cũng như sự xuất hiện ngày ngày  
nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc. Một số giải  
pháp khác thay thế kháng sinh như sử dụng  
thảo dược như dịch chiết từ cây chó đẻ thân  
xanh, lá trầu không, lá và hạt sim… (Trần Vinh  
Phương và cộng sự, 2019; Đặng Thị Lụa và  
cộng sự, 2015), sử dụng probiotic hay các chất  
kích thích miễn dịch không đặc hiệu cũng đã  
được nghiên cứu và chứng minh là có hiệu quả.  
Chitin là một polysacarit tự nhiên được tìm  
thấy nhiều ở vỏ động vật giáp xác, côn trùng  
và nấm. Nó được biết đến như là một chất kích  
Bệnh hoại tử gan tụy cấp (Acute  
hepatopancreatic necrosis syndrome -AHPNS)  
là một trong những bệnh nguy hiểm thường  
gặp ở tôm he nuôi. Bệnh lần đầu tiên xuất  
hiện ở Việt Nam vào năm 2010 với tên gọi  
Hội chứng chết sớm (Đặng Thị Hoàng Oanh  
và Nguyễn Thanh Phương, 2012). Tác nhân  
gây bệnh được xác định là chủng vi khuẩn  
Vibrio parahaemolyticus có mang gen độc  
tố PirA và PigB ở plasmid (Lai và cộng sự,  
2015; Theethakaew và cộng sự, 2017). Việc sử  
dụng kháng sinh trong điều trị bệnh AHPNS  
là một trong những giải pháp thường được sử  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 45  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
thích miễn dịch (immunostimulants) làm tăng  
khả năng đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu  
và tỉ lệ sống của động vật thủy sản (Maqsood  
và cộng sự, 2011). Hiệu quả của việc sử dụng  
chitin trong việc làm tăng tốc độ sinh trưởng  
và tỉ lệ sống ở giáp xác đã được chứng minh  
ở tôm sú Penaeus monodon (Niu và cộng sự  
2013; Shiau và Yu 1998), Tôm thẻ chân trắng  
Litopenaeus vannamei (Wang và Chen 2005),  
tôm càng nhỏ Procambarus clarkii (Zhu và  
cộng sự 2010).  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh  
giá tác động của việc bổ sung chitin vào thức  
ăn lên khả năng kháng lại bệnh hoại tử gan tụy  
cấp do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây  
ra ở tôm thẻ chân trắng.  
nghiên cứu này. Chủng V.para NT13 được nuôi  
cấy trên môi trường TSA (Tryptic soy agar bổ  
sung 1,5% NaCl) ở nhiệt độ 28ºC trong 24h  
trước khi chuyển sang môi trường TSB (tryptic  
soy broth bổ sung 1,5% NaCl) nuôi ở nhiệt độ  
tương tự trong 24h.  
2.3 Xác định liều vi khuẩn gây chết 30% quần  
đàn tôm thẻ (LD30)  
Thí nghiệm được tiến hành với 6 nghiệm  
thức. Mỗi nghiệm thức gồm 3 bể chứa 50L  
nước biển và bố trí 20 tôm thẻ chân trắng/bể.  
Các điều kiện môi trường nuôi được duy trì  
tương tự nội dung 2.1. Lần lượt cho vi khuẩn  
đã nuôi cấy ở môi trường TSB vào các nghiệm  
thức với mật độ vi khuẩn cuối cùng trong bể  
nuôi từ nghiệm thức 1 đến nghiệm thức 6 lần  
lượt là 0, 104, 5×104, 105, 5×105 và 106 cfu/ml.  
Theo dõi và ghi nhận số lượng tôm chết cho  
đến khi tôm dừng chết liên tục 5 ngày. Tất cả  
các tôm chết trong quá trình thí nghiệm đều  
được phân lập vi khuẩn trên môi trường TCBS  
để xác định sự có mặt của vi khuẩn V. para  
NT13. Sử dụng hàm probit trong phần mềm  
SPSS statistics 22 để xác định LD30.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1 Chuẩn bị tôm  
Tôm thẻ chân trắng postlarvae 15 (PL15) với  
số lượng là 1500 con được đưa về nuôi dưỡng  
trong bể 2000L cho đến khi khối lượng trung  
bình đạt 1,61 ± 0,21g. Tôm được bố trí vào 6  
nghiệm thức, mỗi nghiệm thức gồm 3 bể nuôi có  
thể tích 250L chứa 200L nước biển với mật độ  
là 100 con /bể. Ở nghiệm thức đối chứng, tôm  
được cho ăn bằng thức ăn V992 (protein 40%,  
lipid 6-8%, tro 16%, Xơ 4%, độ ẩm 11%) của  
công ty Uni president trong khi ở các nghiệm  
thức NT0,1%, NT1%, NT2%, NT4% và NT8%,  
thức ăn V992 cho tôm ăn có bổ sung chitin với  
hàm lượng lần lượt là 0,1; 1; 2; 4 và 8% chitin  
bằng cách xác đưa lượng chitin cần thiết vào dầu  
mực và trộn đều vào thức ăn, để khô trong 20  
phút ở nơi ẩm mát. Trong quá trình thuần dưỡng,  
tôm được nuôi ở độ mặn 28-30ppt, pH: 8-8.1,  
oxy hòa tan (DO): >5mg/L, nhiệt độ: 28-29oC.  
Tôm được cho ăn 4 lần/ngày với lượng thức ăn  
khoảng 10% khối lượng thân. Hàng ngày các  
thức ăn thừa và vỏ tôm lột được si phon ra khỏi  
bể và thay nước 60%.  
2.4 Nghiên cứu tác động của chitin lên  
khả năng kháng lại vi khuẩn Vibrio  
parahaemolyticus của tôm thẻ chân trắng.  
Sau khi cho tôm ăn thức ăn có bổ sung chitin  
như đã trình bày ở phần 2.1 được 2 tuần, thu  
20 tôm ở mỗi bể nuôi chuyển sang bể chứa 50L  
nước biển. Duy trì các điều kiện môi trường  
nuôi tương tự nội dung 2.1. Cho vào môi trường  
nuôi vi khuẩn V. parahaemolyticus với liều gây  
chết khoảng 30% quần đàn tôm nuôi (liều LD30  
của vi khuẩn đối với tôm nuôi cần được xác  
định ở mục 2.3). Quan sát hoạt động của tôm  
hàng ngày và thu lấy các tôm chết để kiểm tra  
sự có mặt của vi khuẩn V. parahaemolitycus. Thí  
nghiệm kết thúc khi sau 5 ngày mà không có  
tôm chết ở bất kỳ nghiệm thức nào.  
2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu  
Các số liệu thu thập từ thí nghiệm được xử  
lý thống kê dựa trên phần mềm SPSS statistics  
22. Sử dụng hàm probit để xác định liều gây  
chết 30% của vi khuẩn đối với tôm thẻ. Tỉ lệ  
chết tích lũy ở các nghiệm thức được so sánh  
dựa trên việc phân tích phương sai một yếu tố  
2.2 Chuẩn bị vi khuẩn  
Chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus  
(V.para NT13) lưu giữ tại Trung tâm Nghiên  
cứu giống và dịch bệnh, trường Đại học Nha  
Trang được phân lập từ tôm thẻ chân trắng  
nuôi tại Ninh Thuận có biểu hiện đặc trưng  
của hội chứng gan tụy cấp được sử dụng trong  
46 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
(one way anova) bằng phép thử Tukey HSD  
với độ tin cậy 95%.  
Tất cả tôm chết đều thể hiện dấu hiệu đặc  
trưng của bệnh hoại tử gan tụy cấp như đường  
ruột không chứa thức ăn, dạ dày trống rỗng và  
gan nhợt nhạt, teo và nhão (Hình 3.2).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Kết quả xác định liều gây chết 30% quần  
đàn tôm thẻ chân trắng  
Kết quả phân lập vi khuẩn từ khối gan tụy  
cho thấy sự có mặt của V. parahaemolyticus ở  
tất cả những tôm chết. Từ ngày thứ 6 đến ngày  
thứ 10 của thí nghiệm, không xảy ra hiện tượng  
tôm chết ở bất kì đơn vị thí nghiệm nào. Kết  
quả phân tích sự tương quan giữa nồng độ vi  
khuẩn gây bệnh và tỉ lệ chết của tôm thẻ chân  
trắng ở các nghiệm thức thí nghiệm dựa trên  
hàm probit trong phần mềm SPSS cho thấy liều  
gây chết 30% quần đàn tôm thẻ chân trắng của  
vi khuẩn V. parahaemolyticus tương ứng nồng  
độ 104,54cfu/mL (Hình 3.3).  
Kết quả theo dõi tác hại của vi khuẩn V.  
parahaemolyticus đối với tôm thẻ chân trắng  
cho thấy vi khuẩn này có độc tính khá cao.  
Khi công cường độc vi khuẩn vào tôm thẻ  
bằng phương pháp ngâm với nồng độ 105 –  
106 cfu/mL, tôm có hiện tượng bỏ ăn và chết  
sau 8 – 12h. Ở các nghiệm thức cảm nhiểm  
vi khuẩn với liều nhẹ hơn (104cfu/mL), hiện  
tượng tôm chết được quan sát thấy sau 1-2  
ngày (Hình 3.1).  
Hình 3.1 Tỉ lệ chết tích lũy của tôm thẻ chân trắng sau khi cảm nhiễm V. parahaemolyticus  
với các nồng độ khác nhau.  
Hình 3.2 Tôm thẻ chân trắng bị hoại tử gan tụy cấp (bên trên) so sánh với tôm bình thường (bên dưới).  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 47  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
3.2 Kết quả nghiên cứu tác động của chitin  
lên khả năng kháng lại vi khuẩn Vibrio  
parahaemolyticus của tôm thẻ chân trắng.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi cảm  
nhiễm vi khuẩn V. parahaemolyticus vào  
tôm thí nghiệm, hầu hết tôm ở các nghiệm  
thức đều có dấu hiệu giảm hoặc bỏ ăn ở  
ngày thứ 2. Hiện tượng tôm chết đều xảy  
ra ở tất cả các nghiệm thức từ ngày thứ 3  
(Hình 3.4).  
Hình 3.3 Tương quan giữa nồng độ vi khuẩn V. parahaemolyticus  
và tỉ lệ chết tích lũy của các nhóm tôm thí nghiệm.  
Các tôm chết cũng biểu hiện dấu hiệu bệnh  
cho ăn thức ăn có bổ sung 0,1% chitin không  
được thể hiện rõ so với đối chứng (P=0,413).  
Nhưng khi nâng lượng chitin bổ sung vào thức  
ăn lên 1% và 2%, sức đề kháng của tôm thẻ  
chống lại V. parahaemolyticus tăng lên rõ rệt  
lý như đã trình bày ở nội dung 3.1. Tuy nhiên,  
có sự khác biệt về tỉ lệ tôm chết tích lũy giữa  
các nghiệm thức (P<0,05). Sự khác biệt về tỉ lệ  
chết do V. parahaemolyticus gây ra ở tôm được  
Hình 3.4 Tỉ lệ chết tích lũy của tôm he chân trắng ở  
các nghiệm thức cho ăn thức ăn bổ sung chitin với các nồng độ khác nhau.  
(P=0,002). Tỉ lệ tôm chết tích lũy ở 2 nghiệm  
của tôm thẻ chân trắng chống lại vi khuẩn V.  
parahaemolyticus lại giảm đi và không có sự  
khác biệt so với tôm thẻ đối chứng.  
thức này giảm còn 25% so với đối chứng là  
38,33%. Thế nhưng khi lượng chitin bổ sung  
vào thức ăn được nâng từ 4 – 8%, sức đề kháng  
Tác động của chitin lên sinh trưởng, phát  
48 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
triển và sức đề kháng của giáp xác đã được  
công bố bởi một số khoa học (Fox, 1993; Niu  
và cộng sự 2013; Wang và Chen 2005; Zhu và  
cộng sự, 2010). Nghiên cứu của Zhu và cộng  
sự (2010) cho thấy việc bổ sung chitin vào thức  
ăn cho tôm càng nhỏ Procambarus clarkii với  
lượng 0,5% sẽ nâng cao sức đề kháng của tôm  
kháng lại virus gây bệnh đốm trắng. Shiau và  
Yu (1998) đã thực hiện thí nghiệm bổ sung  
chitin vào thức ăn cho tôm sú với các hàm  
lượng 2%, 5% và 10% và chỉ ra rằng việc bổ  
sung 5% chitin vào thức ăn giúp cho tôm sú  
tăng trưởng nhanh nhất. Nghiên cứu của Wang  
và Chen (2005) cũng đã chứng minh hiệu quả  
của chitin trong việc nâng cao sức đề kháng  
của tôm thẻ chân trắng chống lại vi khuẩn  
Vibrio alginolyticus. Tuy nhiên, nghiên cứu  
của Fox (1993) được thực hiện với 4 mức bổ  
sung chitin vào thức ăn 4%, 8%, 12% và 16%  
cho thấy chitin không ảnh hưởng gì đến tăng  
trưởng và tỉ lệ sống của tôm sú. Nghiên cứu  
của Niu và các cộng sự (2013) lại chỉ ra rằng  
bổ sung chitin vào thức ăn ở mức 0,4% là phù  
hợp nhất cho tôm sú.  
Trong nghiên cứu này, những kết quả thu  
thập được đã chỉ ra mức bổ sung chitin vào  
thức ăn cho tôm thẻ chân trắng phù hợp nhất  
là 1-2%. Điều này có thể được lý giải như sau:  
chitin khi vào hệ thống tiêu hóa của tôm thẻ có  
thể được biến đổi thành những dẫn xuất khác  
nhau và tác động khác nhau lên sức đề kháng  
của tôm thẻ. Tuy nhiên, với những gì đã được  
công bố, chitin là một immunostimulant, vì thế  
sự khác nhau về thời gian sử dụng chitin có thể  
là nguyên nhân gây ra sự khác biệt về kết quả  
nghiên cứu như đã nêu trên.  
4. KẾT LUẬN  
Việc bổ sung 1-2% chitin vào thức ăn cho  
tôm sú trong 2 tuần có tác dụng làm tăng khả  
năng kháng bệnh hoại tử gan tụy cấp do Vibrio  
parahaemolyticus gây ra ở tôm sú.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi đề tài  
nghiên cứu khoa học trường Đại học Nha Trang  
(mã số: TR2019-13-17) và Công ty TNHH sản  
xuất thương mại xuất nhập khẩu Đông Dương.  
Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ quý báu đó.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
1. Đặng Thị Lụa, Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Hải Hà, Trương Thị Mỹ Hạnh và Phan Thị Vân, 2015. Tác dụng  
diệt khuẩn in vitro của dịch chiết lá trầu không (Piper betle L.) và dịch chiết lá ổi (Psidium guajava) đối với vi  
khuẩn gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm nuôi nước lợ. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tập  
11, 92 – 97.  
2. Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương, 2012. Các bệnh nguy hiểm trên tôm nuôi ở Đồng bằng  
song Cửu Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 106 – 118.  
3. Trần Vinh Phương, Hoàng Thị Ngọc Hân, Đặng Thanh Long, Phạm Thị Hải Yến và Nguyễn Quang Linh,  
2019. Hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết từ cây chó đẻ thân xanh (Phyllanthus amarus) đối với vi khuẩn  
vibrio parahaemolyticus và vibrio sp. gây bệnh hoại tử gan tụy cấp trên tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei).  
Tạp chí Khoa học đại học Huế: Khoa học tự nhiên tập 128. 99-106.  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 49  
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản  
Số 4/2020  
Tiếng Anh  
4. Fox CJ, 1993. The effect of dietary chitin on the growth, survival and chitinase levels in the digestive of  
juvenile (Penaeus monodon). Aquaculture 109, 39–49  
5. Lai HC, Ng TH, Ando M, Lee CT, Chen IT, Chuang JC, Mavichak R, Chang SH, Yeh MD, Chiang YA,  
Takeyama H, Hamaguchi H, Lo CF, Aoki T and Wang HC, 2015. Pathogenesis of acute hepatopancreatic  
necrosis disease (AHPND) in shrimp. Fish and Shellfish Immunology. 47(2). 1006 – 1014  
6. Maqsood S, Singh P, Samoon MH and Munir K, 2011. Emerging role of immunostimulants in combating the  
disease outbreak in aquaculture. International aquatic research 3. 147 – 163.  
7. Niu J, Lin H, Jiang S, Chen X, Wu K, Liu Y, Wang, Tian L, 2013. Comparison of effect of chitin, chitosan,  
chitosan oligosaccharide and N-acetyl-D-glucosamine on growth performance, antioxidant defenses and  
oxidative stress status of Penaeus monodon. Aquaculture 372–375,1-8  
8. Shiau SY, YuYP, 1998. Chitin but not chitosan supplementation enhance the growth of grass shrimp, Penaeus  
monodon. Journal of Nutrition 128, 908–912.  
9. Theethakaew C, Nakamura S, Motooka D, Matsuda S, Kodama T, Chonsin K, Suthienkul O and Iida T,  
2017. Plasmid dynamics in Vibrio parahaemolyticus strains related to shrimp acute Hepatopancreatic necrosis  
syndrome (AHPNS). Infection, Genetics and Evolution. 51: 211-218  
10. Wang SH, Chen JC, 2005. The protective effect of chitin and chitosan against Vibrio alginolyticus in white  
shrimp Litopenaeus vannamei. Fish and Shellfish Immunology 19, 191–204.  
11. Zhu F, Quan H, Du H and Xu Z, 2010. The Effect of dietary chitosan and chitin supplementation on the  
survival and immune reactivity of crayfish, Procambarus clarkia. Journal of the world aquaculture society. Vol  
41 284-290.  
50 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG  
pdf 6 trang yennguyen 21540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của việc bổ sung chitin vào thức ăn lên khả năng kháng lại Vibrio parahaemolyticus của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeid vannamei)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_viec_bo_sung_chitin_vao_thuc_an_len_kha_nang_kh.pdf