Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) bố mẹ thế hệ thứ I tại Khánh Hòa

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
THỬ NGHIỆM NUÔI CÁ NGỰA ĐEN (Hippocampus kuda Bleeker, 1852)  
BỐ MẸ THẾ HỆ THỨ I TẠI KHÁNH HÒA  
NGUYỄN THỊ HẢI THANH (1), HUỲNH MINH SANG (2), LÊ THỊ KIỀU OANH (1)  
,
VÕ THỊ HÀ (1), NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN (1), HOÀNG NGỌC LÂM (1), GIÁP VĂN THỤ (3)  
,
1. MỞ ĐẦU  
Quy trình sản xuất giống cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) đã  
được nhiều tác giả trong nước và trên thế giới nghiên cứu và hoàn thiện. Trong đó,  
cá ngựa bố mẹ tham gia sinh sản chủ yếu có nguồn gốc từ đánh bắt tự nhiên, thu  
gom nuôi vỗ cho sinh sản [1, 2, 3, 4, 5].  
Là một trong những đối tượng trong danh sách các loài được đưa vào sách đỏ  
Việt Nam và thế giới do phải đối mặt với nhiều vấn đề trong bảo tồn biển bao gồm  
khai thác quá mức, đánh bắt ngẫu nhiên và mất môi trường sống. Cá ngựa thế hệ thứ  
I (F1) đã được một số tác giả trên thế giới thử nghiệm nuôi dưỡng, sinh sản trong  
điều kiện nhân tạo và thu được một số kết quả bước đầu. Thử nghiệm sinh sản nhân  
tạo 3 loài cá ngựa (H. fuscus, H. barbouri và H. kuda): thu cá đực ôm trứng từ tự  
nhiên và cho cá đẻ trong điều kiện nhân tạo, cá con được cho ăn bằng Artemia làm  
giàu trong 7 ngày đầu, sau đó bổ sung thêm Copepoda, và được thay dần bằng  
Mysida đông lạnh, tỷ lệ sống tối đa là 100%, tốc độ tăng trưởng chiều dài và khối  
lượng cao nhất ở H. kuda và thấp nhất ở H. barbouri. Tuy nhiên thời gian thành thục  
sinh dục và sinh sản nhanh nhất là H. fuscus F1 và chậm nhất là H. kuda. Thức ăn có  
ảnh hưởng đến phát triển buồng trứng và buồng sẹ của cá ngựa H. kuda bố mẹ (F1),  
sử dụng thức ăn Acetes spp tươi sống cho cá, thời gian phát dục của cá đực và cá cái  
sớm nhất lần lượt là 87,6±3,84 ngày và 89,2±3,71 ngày [6, 7, 8, 9, 10, 11, 12].  
Theo Công ước CITES, cá ngựa đen được đưa vào danh mục cấm xuất khẩu  
dưới mọi hình thức nếu không chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ. Cá ngựa con  
thế hệ thứ II (F2) phải có nguồn gốc từ cá bố mẹ thế hệ thứ I (F1) nuôi dưỡng, sinh  
sản trong điều kiện nhân tạo mới đủ điều kiện xuất khẩu [13, 14, 15, 16]. Cá xuất  
khẩu thường là cá có kích thước nhỏ, từ 4-6 cm (cá con) cho mục đích nuôi cảnh của  
các hộ gia đình hoặc các trung tâm bảo tồn sinh vật biển của các nước châu Âu, Mỹ.  
Cá ngựa có kích thước ≥ 9 cm (cá thương phẩm) là nhu cầu thu mua lớn của các  
nước châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia..) chủ yếu dùng làm dược liệu trong  
y học cổ truyền [5, 7, 9, 17].  
Vì vậy, việc gây nuôi đàn cá ngựa đen bố mẹ (F1) hứa hẹn nhiều triển vọng, là  
yêu cầu cấp thiết để khôi phục nguồn lợi cá ngựa và phát triển nghề nuôi trồng, xuất  
khẩu cá ngựa của Việt Nam. Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen bố mẹ (F1) tại Khánh  
Hòa là một trong những nội dung nhằm hoàn thiện đề tài “Thử nghiệm sinh sản  
nhân tạo cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) thế hệ thứ II tại Khánh  
Hòa” được triển khai tại Chi nhánh Ven Biển/Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga trong  
thời gian 2018 - 2019.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
15  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1. Thử nghiệm 1: Nuôi cá ngựa đen thế hệ (F1) từ cá giống thành cá  
thương phẩm bằng các hình thức nuôi khác nhau  
Đối tượng thử nghiệm: cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) được  
sinh sản nhân tạo từ nguồn bố mẹ (đánh bắt tự nhiên), nuôi tại trại giống Bãi Tiên  
đến khi đạt kích cỡ ≥ 60 mm. Thử nghiệm được thực hiện bằng 2 hình thức nuôi:  
Nuôi trong bể xi măng (kích cỡ 2 m x 2 m x 1,25 m) tại trại giống Bãi Tiên; nuôi  
trong lồng lưới (kích cỡ 5m x 5m x 1,2m) tại bè nuôi thủy sản thuộc xã Ninh Ích, thị  
xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Thời gian thực hiện từ tháng 9/2018 đến tháng  
12/2018 (~ 3 tháng).  
Chăm sóc, quản lý: Mật độ nuôi: 10 con/m3; Thức ăn là Mysida đông lạnh;  
Chế độ cho ăn 2 lần/ngày vào 8h và 14h; Định kỳ tắm cho cá 1 lần/tuần bằng  
formalin 15 ppm trong thời gian 15 phút nhằm loại bỏ ký sinh trùng ngoài da; vệ  
sinh bể/lồng lưới 1 tuần/lần. Đối với nuôi trong bể, định kỳ xi-phông 2 lần/ngày và  
thay nước 3 ngày/lần, lượng thay 20-30% [1, 2, 3, 17].  
Thu thập số liệu tăng trưởng khối lượng và chiều dài cá định kỳ 7 ngày/lần; tỷ  
lệ sống, tỷ lệ đực:cái của cá được tính vào cuối đợt thử nghiệm. Thử nghiệm được  
lặp lại 6 lần.  
2.2. Thử nghiệm 2: Nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá thương phẩm  
thành cá hậu bị  
Đối tượng thử nghiệm: cá ngựa đen thương phẩm được thu hoạch từ thử  
nghiệm 1 (mục 2.1). Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2018 đến tháng 2/2019 (~ 2  
tháng). Hình thức nuôi: dựa trên kết quả thực hiện của thử nghiệm 1. Ghép nuôi có  
chọn lọc các cá thể cá ngựa thương phẩm có kích thước ≥ 90 mm và ghép chéo theo  
nguyên tắc nhóm cá đực và cá cái có nguồn gốc sinh sản từ cá bố mẹ khác nhau  
nhằm tránh hiện tượng cận huyết, ảnh hưởng đến chất lượng con giống.  
Chăm sóc, quản lý: Mật độ nuôi: 10 con/m3. Thức ăn là Mysid đông lạnh và  
Artemia sinh khối (làm giàu bằng Super selco); Chế độ cho ăn 2 lần/ngày vào 8h và  
14h. Các chế độ chăm sóc khác tương tự giai đoạn nuôi cá thương phẩm [1, 2, 3].  
Thu thập số liệu tăng trưởng khối lượng, chiều dài cá và tỷ lệ sống cá vào cuối  
đợt thử nghiệm. Thử nghiệm được lặp lại 6 lần.  
2.3. Thử nghiệm 3: Nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá hậu bị thành  
cá bố mẹ  
Đối tượng thử nghiệm: cá ngựa đen hậu bị được thu hoạch từ kết quả thực hiện  
ở thử nghiệm 2 (mục 2.2). Thời gian thực hiện: từ tháng 2/2019 đến tháng 5/2019  
(~3 tháng).  
Hình thức nuôi: dựa trên kết quả thực hiện của thử nghiệm 1. Tuyển chọn từ  
đàn cá ngựa nuôi hậu bị các cá thể có tiêu chuẩn: kích thước ≥ 120 mm, tuyến sinh  
dục con cái đã phát triển, túi trứng con đực đã hình thành.  
16  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Chăm sóc, quản lý: Mật độ nuôi: 10 con/m3. Thức ăn là Mysid đông lạnh và  
Artemia sinh khối (làm giàu bằng Super selco); Chế độ cho ăn 2 lần/ ngày vào 8h và  
14h. Các chế độ chăm sóc khác tương tự giai đoạn nuôi cá thương phẩm [1, 2, 3].  
Thu thập số liệu tỷ lệ sống cá, tỷ lệ thành thục, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ cá bột sống sau 2  
ngày tuổi vào cuối đợt thử nghiệm. Thử nghiệm được lặp lại 6 lần.  
2.4. Phương pháp xử lý số liệu  
2.4.1. Các số liệu môi trường  
Các chỉ tiêu đo 2 ngày/lần vào 7h30 và 14h: Độ mặn được đo bằng khúc xạ kế  
ATOGO; Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế thủy ngân; pH được đo bằng máy đo pH  
Hana; Hàm lượng oxy hòa tan được đo bằng máy đo Oxy Hana.  
2.4.2. Cá thử nghiệm  
Đo chiều dài, cân khối lượng cá bằng thước kẹp điện tử Mitutoyo 500-173 (0-  
300 mm) có độ chính xác 0,01 mm và cân điện tử với độ chính xác 0,0001 g.  
- Các chỉ tiêu sinh trưởng  
+ Tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài:  
DLG (mm/ngày) = (L2 - L1)/(T2 - T1)  
+ Tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng:  
DWG (mg/ngày) = (W2 - W1)/(T2 - T1)  
L1 (mm), W1(mg): chiều dài toàn thân, khối lượng cá ở thời điểm T1;  
L2 (mm), W2(mg): chiều dài toàn thân, khối lượng cá ở thời điểm T2;  
T1: thời điểm kiểm tra đầu; T2: thời điểm kiểm tra sau.  
- Các chỉ tiêu sinh sản và tính toán dựa theo theo phương pháp của Phạm  
Thanh Liêm và Trần Đắc Định (2004) [18].  
+ Tỷ lệ cá đực ôm trứng (%) = số lượng cá đực ôm trứng x100 /số cá đực  
Số lượng cá đực ôm trứng được kiểm tra và thu định kỳ 1 tuần/lần cùng thời  
điểm tắm cá trong 3 tháng nuôi. Số lượng cá đực thành thục là tổng số cá đực ôm  
trứng phát hiện trong suốt thời gian nuôi từ cá hậu bị lên cá bố mẹ.  
+ Tỷ lệ đẻ (%) = số lượng cá đực đẻ/số cá đực thành thục.  
+ Sức sinh sản thực tế (con) = số cá con mới đẻ/cá đực.  
+ Số lượng cá mới đẻ (con): tổng số cá thu được khi cá vừa đẻ (24h).  
- Chỉ tiêu tỷ lệ sống: SR (%) = (Se/Si) x 100  
Se: số cá ở thời điểm T2 (con); Si: số cá ở thời điểm T1 (con).  
2.4.3. Xử lý số liệu  
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2010 và SPSS Station 24.0.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
17  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thử nghiệm 1: Nuôi cá ngựa đen thế hệ (F1) từ cá giống thành cá  
thương phẩm bằng các hình thức nuôi khác nhau  
3.1.1. Các yếu tố môi trường nuôi  
Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường nuôi là một trong những yếu tố quan  
trọng quyết định đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của đối tượng nuôi. Một số yếu tố  
thủy lý, thủy hóa trong môi trường nuôi cá ngựa thương phẩm bằng hình thức bể xi  
măng (Bãi Tiên) và bằng lồng treo (Ninh Ích), kết quả nghiên cứu của một số tác giả  
được thể hiện trong bảng 1.  
Bảng 1. Một số yếu tố môi trường nuôi  
Hình thức Nhiệt độ Độ mặn  
nuôi  
pH  
Oxy hòa  
tan (mg/L)  
Tác giả  
(oC)  
26-30  
24-31  
27  
(ppt)  
32-34  
30-35  
30  
Nuôi bể  
7,8-8,2  
7,6-8,4  
4,8-6,1 Kết quả thử nghiệm 1  
4,1-5,0 Kết quả thử nghiệm 1  
Nuôi lồng  
Nuôi bể  
>5,0  
Trương Sĩ Kỳ, 1994 [17]  
Nuôi bể  
26-29  
26-28  
30-34  
32-34  
8,0-8,6  
8,0-8,4  
4,4-5,1 Ignatius B., 2003 [6]  
Hồ Thị Hoa, 2006 [2]  
Nuôi lồng  
So sánh 2 hình thức nuôi thử nghiệm, các yếu tố môi trường trong bể nuôi ít  
biến động, ổn định trong khoảng hẹp, đặc biệt là hàm lượng oxy hòa tan cao hơn so  
với nuôi lồng do sục khí trực tiếp vào bể nuôi, tạo điều kiện tốt hơn cho tăng trưởng  
của cá ngựa.  
So với các nghiên cứu của một số tác giả (bảng 1), thì điều kiện môi trường  
nuôi của thử nghiệm tương đồng với các công bố và phù hợp để nuôi cá ngựa đen.  
3.1.2. Các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống  
Sau thời gian nuôi thử nghiệm cá ngựa đen bằng 2 hình thức nuôi, tốc độ tăng  
trưởng chiều dài và khối lượng của cá được thể hiện qua bảng 2:  
Bảng 2. Tăng trưởng chiều dài, khối lượng của cá ngựa đen  
Hình thức nuôi  
Nuôi bể  
L0(mm)  
62,5±0,84a  
61,9±0,92a  
LTP(mm)  
W0(mg)  
WTP(mg)  
102,9±3,59a 691,9±30,88a 2.014,2±247,61a  
106,5±2,84a 681,8±21,68a 2.151,7±79,68a  
Nuôi lồng  
Ghi chú: L0 là chiều dài cá thả thử nghiệm; LTP là chiều dài cá sau 14 tuần  
nuôi; W0 là khối lượng cá thả thử nghiệm; WTP là khối lượng cá sau 14 tuần nuôi;  
Các số liệu trong bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Số liệu cùng cột có các  
chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
Chiều dài và khối lượng cá thả ở hình thức nuôi bể là 62,5±0,84 mm,  
102,9±3,59 mg; và sau 14 tuần nuôi là 691,9±30,88 mm, 2014,2±247,61 mg.  
18  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Chiều dài và khối lượng cá thả ở hình thức nuôi lồng là 61,9±0,92 mm,  
106,5±2,84 mg; và sau 14 tuần nuôi là 681,8±21,68 mm, 2151,7±79,68 mg.  
So sánh chiều dài và khối lượng cá khi thả, sau 14 tuần nuôi ở hai hình thức  
nuôi đều cho kết quả là sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).  
Kết quả phân tích tỷ lệ sống, chỉ tiêu tăng tăng trưởng chiều dài và khối lượng  
cá nuôi thử nghiệm thể hiện ở bảng 3.  
Bảng 3. Chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa đen  
Hình thức  
nuôi  
DLGTP  
(mm/ngày)  
DWGTP  
(mg/ngày)  
SRTP  
(%)  
Tác giả  
Nuôi bể  
0,41±0,02a  
0,46±0,02a  
0,62  
13,5±0,69a  
15,0±1,08a  
83,0±3,52b Kết quả thử nghiệm 1  
76,6±2,73a Kết quả thử nghiệm 1  
60,3-77,5 Hồ Thị Hoa, 2006 [2]  
Nuôi lồng  
Nuôi lồng  
Ghi chú: DLGTP là tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài cá thương phẩm;  
DWGTP là tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng cá thương phẩm; SRTP là tỷ lệ  
sống cá thương phẩm. Các số liệu trong bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn.  
Số liệu cùng cột có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P<0,05).  
So sánh chỉ tiêu tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài và khối lượng của  
các nghiệm thức thử nghiệm với nhau cho kết quả là sự khác biệt không có ý nghĩa  
thống kê (P>0,05).  
So sánh chỉ tiêu tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài và khối lượng của  
các nghiệm thức thử nghiệm với kết quả nghiên cứu đã công bố của Hồ Thị Hoa,  
2006 (bảng 3), cá thử nghiệm có tăng trưởng chậm hơn. Sự khác biệt do nhiều  
nguyên nhân như thiết kế thử nghiệm, điều kiện môi trường nuôi...  
Tỷ lệ sống của cá nuôi bằng hình thức nuôi trên bể xi măng (đạt 83,0%), cao  
hơn so với nuôi bằng lồng trên biển (76,7%), sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
Hình thức nuôi lồng trên biển chịu ảnh hưởng của biến động các yếu tố môi trường  
lớn nên có thể dẫn đến giảm tỷ lệ sống của cá.  
Hình 1. Cá ngựa đen nuôi thương phẩm (a: bể xi măng; b: lồng treo)  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
19  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.2. Thử nghiệm 2: Nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá thương phẩm  
thành cá hậu bị  
3.2.1. Các yếu tố môi trường nuôi  
Một số yếu tố thủy lý, thủy hóa trong môi trường nuôi cá ngựa thử nghiệm, và  
kết quả nghiên cứu của một số tác giả được thể hiện trong bảng 4.  
Bảng 4. Một số yếu tố môi trường nuôi  
Hình thức Nhiệt độ Độ mặn  
nuôi  
pH  
Oxy hòa  
tan (mg/L)  
Tác giả  
(oC)  
(ppt)  
33-34  
30-32  
30-34  
Nuôi bể  
Nuôi bể  
Nuôi bể  
25-30  
23-28  
26-29  
7,8-8,2  
7,0-8,0  
8,0-8,6  
4,8-6,0  
Kết quả thử nghiệm 2  
Trương Sĩ Kỳ, 1994 [17]  
Ignatius B., 2003 [6]  
4,4-5,1  
So với các nghiên cứu của một số tác giả (bảng 4) thì điều kiện môi trường  
nuôi của thử nghiệm tương đồng với các công bố và phù hợp để nuôi cá ngựa đen.  
Hình 2. Cá ngựa đen (H. kuda Bleeker, 1852) F1 giai đoạn hậu bị  
3.2.2. Các chỉ tiêu tăng trưởng và tỷ lệ sống  
Chiều dài và khối lượng cá thả nuôi thử nghiệm là 104,7±3,61 mm,  
2083±189,5 mg; sau 8 tuần nuôi là 120,2 ± 1,51 mm, 3.680±104,6 mg.  
Kết quả phân tích tỷ lệ sống, chỉ tiêu tăng tăng trưởng chiều dài và khối lượng  
cá nuôi thử nghiệm thể hiện ở bảng 5.  
Bảng 5. Các chỉ tiêu tăng trưởng của cá ngựa đen  
Hình thức  
nuôi  
DLGHB  
(mm/ngày)  
DWGHB  
(mg/ngày)  
27,8±2,23  
13,5±0,69  
SRHB  
(%)  
87,9±2,27  
83,0±3,52  
Tác giả  
Nuôi bể  
Nuôi bể  
0,29±0,02  
0,41±0,02  
Kết quả thử nghiệm 2  
Kết quả thử nghiệm 1  
20  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Ghi chú: DLGHB là tăng trưởng bình quân ngày về chiều dài cá hậu bị;  
DWGHB là tăng trưởng bình quân ngày về khối lượng cá hậu bị; SRHB là tỷ lệ sống  
cá hậu bị.  
Từ số liệu trong bảng 5 nhận thấy, tăng trưởng chiều dài giai đoạn cá thương  
phẩm (0,41 mm/ngày) nhanh hơn giai đoạn cá hậu bị (0,29 mm/ngày). Ngược lại,  
tăng trưởng khối lượng giai đoạn cá thương phẩm (13,5 mg/ngày) chậm hơn giai  
đoạn cá hậu bị (31,1 mg/ngày). Tích lũy năng lượng được ưu tiên cho sinh sản ở giai  
đoạn hậu bị được đề cập ở nhiều nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá và cũng là một  
nguyên nhân cơ bản trong thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá ngựa đen F1.  
3.3. Thử nghiệm 3: Nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá hậu bị  
thành cá bố mẹ  
3.3.1. Các yếu tố môi trường nuôi  
Một số yếu tố thủy lý, thủy hóa trong môi trường nuôi cá ngựa thử nghiệm, và  
kết quả nghiên cứu của một số tác giả được thể hiện trong bảng 6.  
Bảng 6. Một số yếu tố môi trường nuôi  
Hình  
thức nuôi  
Nhiệt độ Độ mặn  
pH  
Oxy hòa tan  
(mg/L)  
Tác giả  
(oC)  
27-30  
26-29  
(ppt)  
33-34  
30-34  
Nuôi bể  
Nuôi bể  
7,6-8,3  
8,0-8,6  
5,2-6,0  
4,4-5,1  
Kết quả thử nghiệm 3  
Ignatius B., 2003 [6]  
Từ số liệu trong bảng 6 nhận thấy, điều kiện môi trường nuôi của thử nghiệm khá  
tương đồng với công bố của Ignatius B., 2003 [6] và phù hợp để nuôi cá ngựa đen.  
3.3.2. Các chỉ tiêu sinh sản và tỷ lệ sống  
Kết quả sau 3 tháng nuôi, Tỷ lệ đực:cái là 1:1,1 (P<0,05); Tỷ lệ sống cá bố mẹ:  
81,1±1,36%; Tỷ lệ cá đực ôm trứng: 70,6±11,82%; Tỷ lệ đẻ: 71,1±10,08; Sức sinh  
sản của cá đực: 262 ± 85 cá con; Tỷ lệ sống cá con 2 ngày tuổi: 79,5±11,8%.  
Hình 3. Cá ngựa đen F1 thành thục (a: buồng trứng con cái; b: túi tinh con đực)  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
21  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Ignatius B. (2003) đã đưa ra kết quả nghiên cứu nuôi cá ngựa con F1 đến  
thành thục ở kích cỡ: W: 2900-3200 mg, L: 90-105 mm; Tỷ lệ đực cái: 1:0,9. Xuất  
hiện túi trứng ở con đực có kích cỡ khoảng 63 mm (sau 138 ngày tuổi). Kích cỡ túi  
chứa trứng thể hiện được các giai đoạn phát triển phôi. Sức sinh sản của cá đực  
khoảng 300 cá con kích cỡ: W: 100 mg, L: 9,0 mm. Tăng trưởng chiều dài của cá  
sau 4 tháng nuôi đầu tiên đạt 25,5 mm, 40,5 mm, 52,5 mm và 63,0 mm. Tỷ lệ sống  
sau 176 ngày nuôi đạt 46,7% [6]. Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá ngựa  
Hippocampus trimaculatus trong điều kiện thí nghiệm cho thấy, cá F1 có tỷ lệ  
đực:cái là 1:1,2 (P<0,05); cá đực thành thục sớm hơn so với cá cái lần lượt là 95  
ngày và 115 ngày nuôi (P<0,05) [19].  
Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy triển vọng về tạo nguồn giống cá ngựa  
đen trong điều kiện nuôi nhân tạo. Theo đó, có thể nuôi dưỡng, sinh sản đàn cá ngựa  
đen bố mẹ F1 trong điều kiện nhân tạo để sinh sản đàn cá con F2, đáp ứng con giống  
cho nuôi thương phẩm.  
4. KẾT LUẬN  
1. Điều kiện môi trường thích hợp để nuôi cá ngựa đen thế hệ (F1) từ cá giống  
thành cá thương phẩm: Nhiệt độ: 26-30oC; độ mặn: 33-34 ppt; pH: 7,8-8,2; oxy hòa  
tan: 4,8-6,1 mg/L. Tăng trưởng về chiều dài và khối lượng cá ở 2 hình thức nuôi  
trong bể xi măng và lồng trên biển không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(P>0,05). Tỷ lệ sống của cá nuôi bằng hình thức nuôi trong bể xi măng (83%), cao  
hơn so với nuôi lồng trên biển (76,67%), sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
2. Điều kiện môi trường thích hợp để nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá  
thương phẩm thành cá hậu bị: Nhiệt độ: 25-30oC; độ mặn: 33-34 ppt; pH: 7,8-8,2;  
oxy hòa tan: 4,8-6,1 mg/L. Chiều dài và khối lượng cá thả nuôi là 104,7±3,61 mm,  
2083±189,5 mg; sau 8 tuần nuôi là 120,2±1,51 mm, 3680±104,6 mg.  
3. Điều kiện môi trường thích hợp để nuôi cá ngựa đen thế hệ thứ I (F1) từ cá  
hậu bị thành cá bố mẹ: Nhiệt độ: 27-30oC; độ mặn: 33-34 ppt; pH: 7,6-8,3; oxy hòa  
tan: 5,2-6,0 mg/L. Sau 3 tháng nuôi, tỷ lệ đực:cái là 1:1,1 (P<0,05); Tỷ lệ sống cá bố  
mẹ: 81,1±1,36%; Tỷ lệ cá đực ôm trứng: 70,6±11,82%; Tỷ lệ đẻ: 71,1±10,08%; Sức  
sinh sản của cá đực: 262±85 cá con; Tỷ lệ sống cá con 2 ngày tuổi: 79,5±11,8%.  
4. Có thể nuôi dưỡng, sinh sản đàn cá ngựa đen bố mẹ F1 trong điều kiện nhân  
tạo để sinh sản đàn cá con F2, đáp ứng con giống cho nuôi thương phẩm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Lê Văn Hiệp, Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá  
ngựa đen (Hippocampus kuda), Báo cáo đề tài cấp Sở KHCN tỉnh Quảng  
Nam, 2017.  
2.  
Hồ Thị Hoa, Thử nghiệm nuôi lồng cá ngựa đen (Hippocampus kuda) tại vịnh  
Nha Trang - Khánh Hòa, Tuyển tập Nghiên cứu biển, 2006, số 15.  
22  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.  
Trương Sỹ Kỳ, Hoàng Đức Lư, Ngô Đăng Nghĩa, Đặng Thúy Bình và Bùi  
Văn Khánh, Cải tiến quy trình sản xuất giống cá Ngựa đen (Hippocampus  
kuda) ở vùng biển Khánh Hòa, Tuyển tập nghiên cứu biển, 2006, 15:248-253.  
4.  
5.  
Job S. D., H. H. Do, J. J. Meeuwig & H. J. Hall, 2002. Culturing theoceanic  
seahorse, Hippocampus kuda. Aquaculture, 214:333-341  
Vincent, A. C. J., Reproductive ecology of seahorses. Ph D thesis, University  
of Cambridge, 1990, p.101.  
6.  
7.  
8.  
Ignatius B. và I. Jagadis, Growth and reproduction of tropical seahorse  
Hippocampus kuda in captivity, Indian Journal of Fisheries, 2003, 50(3):369-  
372.  
Lin, Q., Lu, J.Y., Gao, Y.L., Shen, L., Cai, J., Luo, J.N., 2006. The effect of  
temperature on gonad, embryonic development and survival rate of juvenile  
seahorses, Hippocampus kuda Bleeker. Aquaculture 254:701-713.  
Lin, Q., Gao, Y.L., Sheng, J.Q., Chen, Q.X., Zhang, B., Lu, J., 2007. The  
effects of food and the sum of effective temperature on the embryonic  
development of the seahorse, Hippocampus kuda Bleeker. Aquaculture,  
262:481-492  
9.  
Lipton, A.P., Thangaraj M., Sreerekha S.R., Captive breeding and nursery  
rearing of the Indian seahorse, Hippocampus kuda (Teleostei: Syngnathidae).  
Asian Fish. Sci., 2006, 19:423-428.  
10. Rachel J., 2002. Yellow or Spotted Seahorse, Hippocampus kuda. Syngnathid  
Husbandry in Public Aquariums 2005 Manual, tr.76-78.  
11. Teeramaethee J., P. Poonpium, T. Noiraksar và J. Pratoomyot, Seahorse,  
Hippocampus kuda larvae rearing by Artemia sp. fed with three kinds of  
phytoplankton, Warasan Kan Pramong, 2001.  
12. Thangaraj M., A. P. Lipton and A. C. C. Victor, Onset of sexual maturity in  
captivereared endangered Indian seahorse, Hippocampus kuda. CURRENT  
SCIENCE, VOL. 91, NO. 12, 25 DECEMBER 2006  
13. Cites, https://Cites.Org/Sites/Default/Files/Document/E-Res-10-16-R11_0.Pdf.,  
2011.  
14. Cites, https://Cites.Org/Sites/Default/Files/Document/E-Res-12-08-R17.Pdf.,  
2012.  
16. Koldewey H., K. Martin-Smith, A global review of seahorse aquaculture,  
Aquaculture, Volume 302, Issues 3-4, 23 April 2010, Pages 131-152  
17. Trương Sĩ Kỳ, Đoàn Thị Kim Loan, Đặc điểm sinh sản của cá ngựa đen  
(Hippocampus kuda) sống ở vùng cửa sông Cửa Bé, Tuyển tập nghiên cứu  
biển, 1994, 4:111-120.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
23  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
18. Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, Phương pháp nghiên cứu sinh học cá,  
19. Murugan A., Dhanya S., Sreepada R., Rajagopal S., Balasubramanian T.,  
Breeding and mass-scale rearing of three spotted seahorse, Hippocampus  
trimaculatus Leach under captive conditions, Aquaculture, 2009, 290:87-96.  
SUMMARY  
TRIAL FOR CULTURE BROODSTOCK OF BLACK SEAHORSES  
(Hippocampus kuda Bleeker, 1852) THE 1nd GENERATION  
IN KHANH HOA PROVINCE  
Trial for culture broodstock of Black seeahorses (Hippocampus kuda Bleeker,  
1852) the 1st generation (F1) in Khanh hoa province since September, 2018 to May,  
2019 located in the experiment stations of Coastal Branch, Vietnam - Russian  
Tropical Center. The trial culture Black seahorse (F1) from seed to grow-outt fish by  
2 method: cement tank and floating cage in sea. Result: The growth of fish is same  
in 2 method (P>0.05), but the survival rate in cement tank (83.0%) is higher than in  
floating cage (76.7%). The 2nd trial: culture Black seahorse (F1) from grow out to  
mature fish, result: The size of fish start trial W: 2083±189.5 mg, L: 104.7±3.61 mm,  
after 2 months culture, harvest fish with size W: 3680±104.6 mg, L: 120.2±1.51 mm.  
The 3rd trial: culture Black seahorse (F1) from mature fish to brood stock. Sex ratio  
male:female =1:1,1 (P>0.05). The survival rate of brood stock 81.1±1.36%; The rate  
male have embryo in pouch 70.6±11.82%; Spawning rate 71.1±10.08%; Spawning  
capacity of male 262±85 fry. Survival rate of fry 2 day after spawn 79.5±11.8%.  
Keywords: Black seahorses, hippocampus kuda, generation, culture, cá ngựa  
đen, thế hệ, nuôi nhân tạo.  
Nhận bài ngày 08 tháng 6 năm 2020  
Phản biện xong ngày 29 tháng 6 năm 2020  
Hoàn thiện ngày 16 tháng 11 năm 2020  
(1) Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
(2) Viện Hải Dương học, Viện HLKH&CN Việt Nam  
(3) Đại học Nha Trang  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 21, 12-2020  
pdf 10 trang yennguyen 10360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thử nghiệm nuôi cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) bố mẹ thế hệ thứ I tại Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthu_nghiem_nuoi_ca_ngua_den_hippocampus_kuda_bleeker_1852_bo.pdf