Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRONG NUÔI TÔM SÚ VÀ TÔM
CHÂN TRẮNG Ở VIỆT NAM
Lê Hồng Phước1*, Nguyễn Diễm Thư1, Hứa Ngọc Phúc2, Phạm Thị Yến3
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam. Số hộ nuôi tôm được phỏng vấn ở cả 3 miền Bắc,
Trung và Nam lần lượt là 57, 60 và 90 nông hộ. Các thông tin trong phiếu điều tra chủ yếu liên
quan đến các loại kháng sinh sử dụng, liều lượng, tần suất sử dụng và hiệu quả phòng trị. Ở
miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong nuôi tôm như oxytetracycline,
Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline, ciprofloxacin,
florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), Cloxit (chloramphenicol), erythromycin và
trifamet (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin). Trong đó oxytetracycline, tetracycline
và enrofloxacin là 3 loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất. Tại miền Trung, có 71,2% nông hộ
cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại kháng sinh đang được người nuôi sử
dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, ciprofloxacin, doxycycline là ba loại kháng sinh
được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Trung. Tại miền Nam, có 68,9% nông hộ
cho biết có sử dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại kháng sinh đang được người nuôi sử
dụng trong phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline, doxycyline và enrofloxacin là ba loại kháng sinh
được sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Nam. Về hiệu quả sử dụng kháng sinh, có
20-50% hộ nuôi cho biết sử dụng kháng sinh có hiệu quả, 30% cho biết không có hiệu quả và 20%
không biết được hiệu quả mang lại khi sử dụng kháng sinh. Các loại kháng sinh nhạy đối với Vibrio
parahaemolyticus là gentamicin, flofenicol, oxytetracycline, doxycycline và tetracycline.
Từ khóa: AHPND, tôm, kháng sinh.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
khác. Sự bùng phát EMS đã làm giảm sản lượng
đáng kể của tôm thẻ chân trắng (khoảng 60%).
Năm 2013, ở Thái Lan, bệnh xuất hiện ở 2 tỉnh
phía đông vịnh Thái Lan. Bệnh được ghi nhận
và gây thiệt hại nặng trên cả tôm sú và tôm thẻ
chân trắng. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn
sau 15-40 ngày sau khi thả nuôi. Tôm bệnh có
dấu hiệu giảm ăn, khối gan tụy có nhiều biến
Từ năm 2010, trên tôm nuôi xuất hiện hội
chứng chết sớm (Early Mortality Syndrome-
EMS) hay còn gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp
tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease
- AHPND) được ghi nhận tại Trung Quốc,
Malaysia và Thái Lan. Ở Trung Quốc EMS
xuất hiện đầu tiên năm 2009 nhưng chưa được
người nuôi chú ý đến. Đến năm 2011 bệnh trở dạng bất thường như trương to và nhũn hoặc
nên trầm trọng hơn ở những trang trại nuôi trên
5 năm và gần biển (Panakorn, 2012). Các trang
trại nuôi tôm ở Hainan, Guangdong, Fujian
và Guangxi bị thiệt hại trong 6 tháng đầu năm
2011 với khoảng 80%. Ở Malaysia, bệnh xuất
hiện lần đầu vào giữa năm 2010 tại 2 bang
Pahang và Joho sau đó lan rộng sang các vùng
teo nhỏ, màu sắc nhợt nhạt, dấu hiệu khác cũng
được ghi nhận bao gồm mềm vỏ, sậm màu. Tỷ
lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong vài ngày
hoặc kéo dài hơn. Theo Lightner và ctv., (2013)
bệnh hoại tử gan tụy cấp tính do vi khuẩn Vibrio
parahaemolyticus gây ra.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh Thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
2 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản III
3 Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I
* E-mail: [email protected]
10
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hiện nay, thuốc và các loại kháng sinh được trồng thủy sản về tình hình sử dụng kháng sinh.
sử dụng rất thường xuyên trong nuôi trồng thủy Kết quả điều tra tại 218 hộ nuôi thâm canh và bán
sản ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu về thâm canh tại 64/66 ấp của 12/12 xã phường/thị
vấn đề này vẫn còn rất hạn chế. Theo báo cáo trấn thuộc huyện Hòa Bình và Thành phố Bạc
của Mai Văn Tài và ctv., (2004), kháng sinh được Liêu cho thấy có 66,97% (146 cơ sở) hộ nuôi
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu thuộc sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi, chỉ có
nhóm oxytetracycline bao gồm: Oxytetracycline, 23,4% hộ không sử dụng kháng sinh trong quá
tetracycline và doxycycline. Trong đó, có khoảng trình nuôi, còn lại 9,63% hộ không biết là mình
32 loại kháng sinh được sử dụng trong các qui có sử dụng kháng sinh hay không. Trong số
trình nuôi tôm thịt, 39 loại được sử dụng trong những cơ sở sử dụng kháng sinh thì có 19,86%
sản xuất tôm giống, 14 loại được sử dụng trong hộ sử dụng thuốc kháng sinh trên người, 8,91%
ương nuôi các loại cá biển, 41 loại trong nuôi hộ nuôi sử dụng đồng thời cả nhân y và Thú
cá lồng nước ngọt và 67 loại trong nuôi cá ao y, 42,47% hộ không rõ là mình sử dụng thuốc
nước ngọt. Ngoài ra, theo nghiên cứu về sự tồn Thú y hay nhân y. Nếu loại bỏ các hộ sử dụng
dư của 4 loại kháng sinh trimethprim (TMP), kháng sinh nhưng không rõ nhân y hay Thú y
sulfamethoxazole (SMX), norfloxacin (NFXC) thì tỷ lệ hộ sử dụng thuốc nhân y là 34,52%, hộ
và oxolinic acid (OXLA) trong nước và trong dùng cả Thú y và nhân y là 15,48%, số hộ chỉ
bùn ở các ao nuôi tôm thuộc bốn khu vực khác dùng thuốc thú y là 50%. Một số cơ sở nuôi đã
nhau bao gồm Thái Bình, Nam Định, Cần Giờ sử dụng chloramphenicol 250mg, doxycycline
và Cà Mau cho thấy cả bốn loại kháng sinh này 100mg, tetracycline 500mg trong nhân y để
đều được phát hiện trong các ao nuôi tôm với điều trị bệnh. Trong 146 hộ sử dụng kháng sinh,
nồng độ cao nhất là TMP = 1,04 ppm, SMX = có 61,64% hộ sử dụng kháng sinh để phòng
2,39 ppm, NFXC = 6,06 ppm và OXLA = 2,5 bệnh, 14,38% hộ sử dụng cả phòng và trị, chỉ
ppm và trong bùn với nồng độ cao nhất là TMP có 23,97% hộ chỉ sử dụng kháng sinh khi tôm
= 734,61 ppm, SMX = 820,49 ppm, NFXC = có dấu biệu bị bệnh. Mục tiêu của nghiên cứu
2.615,96 ppm và OXLA = 426,31 ppm. Trong này nhằm xác định hiện trạng sử dụng thuốc
đó, không có sự khác biệt về sự hiện diện của kháng sinh trong điều trị bệnh hoại tử gan tụy
các loại kháng sinh này giữa các ao nuôi quảng cấp (AHPND) của các hộ nuôi tôm tại ba miền
canh cải tiến và quảng canh nhưng lại có sự khác Bắc, Trung, Nam qua điều tra nông hộ.
biệt khá lớn giữa các vùng nuôi tôm được khảo
sát. Đối với loại kháng sinh NFXC, nồng độ cao
nhất được ghi nhận trong các ao nuôi quảng canh
ở Nam Định và trong bùn ở các ao quảng canh
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng, phạm vi và quy mô điều tra
Điều tra trên mô hình nuôi tôm thâm canh
và bán thâm canh trên phạm vi 7 tỉnh trong cả
3 miền Bắc và Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long trên vùng thường
xảy ra dịch bệnh hoại tử gan tụy tôm nuôi.
ở Cần Giờ và Cà Mau (Le và Munekage, 2004).
Cũng theo thông tin từ nghiên cứu này, kháng
sinh và các loại hóa chất khác thường được sử
dụng trong tháng nuôi đầu tiên và được sử dụng
với hàm lượng cao khi tôm có triệu chứng bệnh.
Các loại kháng sinh thường ở dạng bột và được
trộn chung với thức ăn thương mại.
+ Miền Bắc và Bắc Trung bộ: 57 hộ nuôi
được điều tra tại Hải Phòng và Nghệ An, trong
đó Hải Phòng 23 hộ, Nghệ An 34 hộ, các hộ
nuôi này đều có quy mô nuôi thâm canh và bán
thâm canh.
Trong năm 2016, thực hiện chỉ đạo của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú
y đã chủ trì triển khai phòng, chống dịch bệnh
trên tôm (tại Sóc Trăng và Bạc Liêu) và trên cá
+ Nam Trung bộ: 60 hộ nuôi tôm tại hai
tra (tại Bến Tre, Đồng Tháp và An Giang) trong tỉnh Quảng Nam và Ninh Thuận, mỗi tỉnh 30 hộ
đó có nội dung khảo sát trực tiếp tại các hộ nuôi nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh.
11
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
+ ĐBSCL: 90 ao/phiếu điều tra trên 3 tỉnh vấn có thể hỏi thông tin về quản lý ao nuôi bằng
Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu
cách điện thoại để bổ sung vào phiếu điều tra.
2.2. Thông tin điều tra
2.4. Phương pháp kháng sinh đồ
Dựa vào phiếu điều tra theo biểu mẫu chuẩn
Thử nghiệm kháng sinh đồ trên V.
bị sẵn để thu thập các thông tin, số liệu liên quan parahaemolyticus được thực hiện theo phương
đến tình hình bệnh tôm và việc sử dụng kháng sinh pháp khuếch tán đĩa thạch (Ruangpan &
trong vụ nuôi của các hộ nuôi tôm. Điều tra được Tendencia, 2004). Trước hết, vi khuẩn được nuôi
tiến hành qua việc sử dụng phiếu điều tra soạn sẵn cấy tăng sinh trên môi trường thạch Tryptic soy
gồm đặc điểm ao nuôi và các kỹ thuật quản lý ao agar (TSA) khoảng 18-24 giờ. Sau đó khuẩn lạc
và dịch bệnh và việc sử dụng thuốc kháng sinh.
của vi khuẩn được hòa tan vào nước muối 2%
cho đến khi đạt nồng độ 108 CFU/ml bằng cách
so sánh độ đục với ống 0,5 McFarland. Dịch
vi khuẩn này được trải lên đĩa thạch Mueller-
Hinton Agar (MHA) với thể tích 1000 µl, để khô
tự nhiên rồi đặt các đĩa kháng sinh lên, ủ 18-24
giờ ở 30°C. Kết quả được xác định bằng cách
đo đường kính vòng vô khuẩn (mm), dựa theo
bảng chuẩn đường kính vòng vô khuẩn xác định
loại kháng sinh nhạy, kháng trung bình và kháng.
Kết quả ghi nhận kháng hay nhạy với kháng sinh
được xác định bằng đo đường vô khuẩn theo
phương pháp của CLSI (2014) (Bảng 1).
2.3. Phương pháp điều tra
Kết hợp với Chi cục Nuôi trồng Thủy sản
(hoặc Thú Y) để nắm tình hình và diện tích ao
nuôi, xác định vùng dịch bệnh hoại tử gan tụy
hay xảy ra, điều tra trực tiếp bằng cách phỏng
vấn người nuôi. Trên cơ sở số lượng ao và vùng
nuôi tôm đã xác định, điều tra viên được phân
công đến vùng nuôi để phỏng vấn trực tiếp chủ
cơ sở nuôi hoặc người đại diện trả lời phỏng
vấn để ghi vào phiếu điều tra. Điều tra được
thực hiện trên những ao nuôi thường xảy ra dịch
bệnh. Sau khi phỏng vấn lần đầu, người phỏng
Bảng 1. Giới hạn đường kính vùng ức chế các loại kháng sinh theo CLSI (2014)
Giới hạn đường kính vùng ức chế (mm)
STT
Tên kháng sinh
Ampicillin
Amoxicillin
Gentamicin
Kanamycin
Oxytetracycline
Tetracyline
Doxycycline
Ciprofloxacin
Bactrim
Norfloxacin
Florfenicol
Hàm lượng
Nhạy
Trung bình
Kháng
1
2
3
4
5
6
7
8
10 µg
10 µg
10 µg
30 µg
30 µg
30 µg
30 µg
5 µg
≥ 17
≥ 18
≥ 15
≥ 18
≥ 26
≥ 19
≥ 16
≥ 21
≥ 16
≥ 17
≥ 19
≥ 17
≥ 23
≥ 20
≥ 15
14-16
14-17
13-14
14-17
16-25
15-18
13-15
16-20
11-15
13-16
15-18
13-16
14-22
17-19
12-14
≤ 13
≤ 13
≤ 12
≤ 13
≤ 15
≤ 14
≤ 12
≤ 15
≤ 10
≤ 12
≤ 14
≤ 12
≤ 13
≤ 16
≤ 11
9
1,25/23,7 µg
10 µg
30 µg
30 µg
30 µg
5 µg
10
11
12
13
14
15
Neomycin
Erythromycin
Rifampicin (Rifampin)
Streptomycin
10 µg
Amoxicillin/Clavulanic
acid
16
20/10 µg
≥ 18
14-17
≤ 13
17
18
Cefotaxime
Ceftiofur
30 µg
30 µg
≥ 23
≥ 21
15-22
18-20
≤ 14
≤ 17
(Ghi chú: Ciprofloxacin tại thời điểm khảo sát chưa nằm trong danh mục cấm sử dụng)
12
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
2.5. Phương pháp phân tích số liệu
sulfadimidine)(2,1%),Cloxit(chloramphenicol)
(2,1%), erythromycin (1,0%) và trifamet
(sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin)
(1,0%) (Hình 1). Ba loại kháng sinh được sử
dụng nhiều nhất trong phòng trị bệnh tôm ở
miền Bắc và Bắc Trung bộ là oxytetracycline,
Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim) và
tetracycline. Kết quả này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Mai Văn Tài và ctv., (2004) với
oxytetracycline và doxycycline là 2 loại kháng
sinh được sử dụng chủ yếu trong nuôi trồng
thủy sản. Điều đáng lưu ý là enrofloxacin là
loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng
đang được sử dụng khá nhiều. Ciprofloxaxin
vẫn được hạn chế sử dụng tại thời điểm điều
tra năm 2015, đến tháng 6/2016 thì kháng sinh
này cũng bị Bộ NN & PTNT cấm sử dụng trong
nuôi trồng thủy sản. Về hiệu quả sử dụng kháng
sinh có 18,8% nông hộ đánh giá loại kháng sinh
họ đang sử dụng có hiệu quả, 81,3% nông hộ
đánh giá kháng sinh không hiệu quả.
Dữ liệu được nhập trên Excel 2010 và phân
tích thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 (SPSS
Inc., USA).
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
Tại miền Bắc và Bắc Trung bộ, nghiên
cứu đã thu thập thông tin từ 57 hộ nuôi trong
đó Hải Phòng 23 hộ (40,4%), Nghệ An 34 hộ
(59,6%). Có 56,1% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 31,25% sử dụng kháng
sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra
tại ao nuôi và 68,75% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh. Qua điều tra cho thấy có 11
loại kháng sinh đã được hộ nuôi sử dụng trong
nuôi tôm như oxytetracycline (33,0%), Osamet
(sulfadimethoxine + ormetoprim) (16,5%),
tetracycline (11,3%), enrofloxacin (9,3%),
doxycycline (8,2%), ciprofloxacin (8,2%),
florfenicol (7,2%), biosultrim (trimethoprim +
Hình 1. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại miền Bắc và Bắc Trung bộ
3.1.1. Tại Nghệ An
sinh được sử dụng là oxytetracycline (37,5%),
tetracycline (22,5%), enrofloxacin (12,5%),
doxycycline(10,0%),Osamet(sulfadimethoxine
+ ormetoprim) (5,0%), florfenicol (5,0%),
Biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine)
(2,5%), và chloramphenicol (5,0%) (Hình 2).
Có 70,6% nông hộ sử dụng kháng sinh,
trong đó 16,7% sử dụng kháng sinh với mục
đích trị bệnh và 79,2% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh, 4,2% sử dụng kháng sinh
cho cả phòng và trị bệnh. Tám loại kháng
13
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hình 2. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Nghệ An
3.1.2. Tại Hải Phòng
loại kháng sinh như oxytetracycline (28,9%),
osamet (26,3%), ciprofloxacin (15,8%),
doxycycline (7,9%), florfenicol (5,3%),
enrofloxacin (5,3%), tetracycline (2,6%),
biosultrim (2,6%), erythromycin (2,6%) và
trifamet (2,6%) (Hình 3)
Có 34,8% nông hộ sử dụng kháng sinh,
trong đó 75,0% sử dụng kháng sinh với mục
đích trị bệnh và 25,0% ao nuôi sử dụng kháng
sinh để phòng bệnh. Có 10 loại kháng sinh
được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các
Hình 3. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Hải Phòng
3.2. Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong
nuôi tôm tại Nam Trung bộ
sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 10% ao
nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh. Hơn 10
loại kháng sinh được ghi nhận qua điều tra như
oxytetracycline (57,6%), ciprofloxacin (21,2%),
doxycycline (7,1%), osamet (sulfadimethoxine
+ ormetoprim) (5,1%), enrofloxacin (2,0%),
amoxicillin (2,0%), cefotaxime (1,0%), cotrim
Tại khu vực Nam Trung bộ đã thu thập
thông tin tại 60 ao nuôi tôm thương phẩm
(100% ao nuôi tôm thẻ) tại Quảng Nam và
Ninh Thuận. Có 71,2% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 90% sử dụng kháng
14
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
(Sulfamethoxazol và Trimethoprim) (1,0%), (57,6%), ciprofloxacin (21,2%), doxycycline
streptomycin (1,0%), cefotaxime (1,0%) và (7,1%). Cũng giống như ở khu vực Bắc và Bắc
kháng sinh không nhãn mác (1,0%) (Hình 4). Ba Trung bộ, mặc dù enrofloxacin và ciprofloxacin
loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong phòng là loại kháng sinh đã bị cấm sử dụng nhưng cũng
trị bệnh tôm tại Nam Trung bộ là oxytetracycline đang được sử dụng tại miền Trung.
Hình 4. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại NamTrung bộ
kháng sinh, trong đó 87,5% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng và trị bệnh và 12,5%
ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh.
Năm loại kháng sinh được ghi nhận qua điều
tra là oxytetracycline (64,7%), ciprofloxacin
(13,7%), doxycycline (13,7%), osamet (3,9%),
và enrofloxacin (3,9%) (Hình 5).
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh
giá của nông hộ có 47,6% đánh giá loại kháng
sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 52,4% nông
hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả.
3.2.1. Tại Quảng Nam
Có 86,2% nông hộ cho biết có sử dụng
Hình 5. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Quảng Nam
15
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
3.2.2. Tại Ninh Thuận
(50,0%), osamet (6,3%), amoxicillin (4,2%),
ciprofloxacin (29,2%), cefotaxime (2,1%),
cotrim (Sulfamethoxazol và Trimethoprim)
(2,1%), streptomycin (2,1%) và kháng sinh
không nhãn mác (2,1%) (Hình 6).
Có 56,7% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 11,7% ao cho biết sử dụng
kháng sinh với mục đích phòng và trị bệnh.
Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua điều
tra nông hộ tại Ninh Thuận là oxytetracycline
Hình 6. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Ninh Thuận
3.3. Hiện trạng sử dụng kháng sinh trong oxytetracycline, enrofloxacin, acid citric,
nuôi tôm tại ĐBSCL
vitamin E) (1,6%) và kháng sinh không nhãn
mác (3,2%) (Hình 7). Ba loại kháng sinh được
sử dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm là
oxytetracycline (31,7%), doxycyline (12,7%)
và enrofloxacin (7,9%). Qua kết quả điều tra
cho thấy có trên dưới 15 loại kháng sinh được
người nuôi tôm sử dụng tại khu vực ĐBSCL.
Điều này cũng tương thích với các kết quả
điều tra về số lượng và chủng loại kháng sinh
dùng trong nuôi tôm của Hùynh Thị Tú và
ctv., (2006). Theo nhóm tác giả này thì có đến
19 loại kháng sinh dùng trong nuôi tôm ở Bạc
Liêu và Sóc Trăng. Theo Tai (2012), có đến
28 loại thuốc Thú y thủy sản có chứa kháng
sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
ở Việt Nam.
Nghiên cứu đã thu thập thông tin 90 hộ
nuôi tôm thương phẩm tại Cà Mau, Sóc Trăng
và Bạc Liêu. Có 68,9% nông hộ cho biết có sử
dụng kháng sinh, trong đó 62% sử dụng kháng
sinh với mục đích phòng trị bệnh và 38% ao
nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh. Hơn
15 loại kháng sinh được các nông hộ sử dụng
như oxytetracycline (31,7%), doxycycline
(Sylimax) (12,7%), enrofloxacin (7,9%),
ciprofloxacin (6,3%), flophenicol (6,3%),
gentamicin (6,3%), cortrim (4,8%), amoxicillin
(4,8%), erythomycin (3,2%), ampicillin (3,2%),
clarithromycin (1,6%), rovamycine (1,6%),
lincomycin (1,6%), tetracycline (1,6%),
cefotaxime (1,6%), HT 9000 (amoxicillin,
16
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hình 7. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại ĐBSCL
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh theo đánh sinh, trong đó 50% sử dụng kháng sinh với mục
giá của nông hộ, 51,4% nông hộ đánh giá loại đích trị bệnh và 50% ao nuôi sử dụng kháng
kháng sinh họ đang sử dụng có hiệu quả, 32,4% sinh để phòng bệnh. Năm loại kháng sinh
nông hộ đánh giá kháng sinh không hiệu quả và được ghi nhận qua điều tra nông hộ với các
16,2% nông hộ không rõ hoặc chưa rõ kháng loại kháng sinh như oxytetracycline (56,3%),
sinh đang sử dụng có hiệu quả hay không.
enrofloxacin (12,5%), cotrim (sulfamethoxazol
và trimethoprim) (12,5%), ampiciline (12,5%)
và amoxicillin (6,3%) (Hình 8).
3.3.1. Tại Sóc Trăng
54,5% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
Hình 8. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Sóc Trăng
3.3.2. Tại Cà Mau
điều tra nông hộ với các loại kháng sinh như
oxytetracycline (29,6%), flophenicol (14,8%),
gentamicin (14,8%), enrofloxacin (7,4%),
doxycyline (7,4%), ciprofloxacin (7,4%),
Erythomycine(7,4%), Cotrim(Sulfamethoxazol
và Trimethoprim) (3,7%) và kháng sinh không
nhãn mác (7,4%) (Hình 9).
88,9% nông hộ cho biết có sử dụng kháng
sinh, trong đó 70,0% sử dụng kháng sinh với
mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra tại ao nuôi
và 30% ao nuôi sử dụng kháng sinh để phòng
bệnh. Hơn 8 loại kháng sinh được ghi nhận qua
17
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Hình 9. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Cà Mau
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 41,7% sinh với mục đích trị bệnh đã và đang xảy ra
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử tại ao nuôi và 59,9% ao nuôi sử dụng kháng
dụng có hiệu quả, 37,5% nông hộ đánh giá sinh để phòng bệnh. 9 loại kháng sinh được
kháng sinh không hiệu quả và 20,8% nông hộ ghi nhận qua điều tra là doxycycline (33,3%),
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng oxytetracycline
(16,7%),
ciprofloxacin
có hiệu quả hay không.
(11,1%), amoxicillin (11,1%), clarithromycin
(5,6%), rovamycine (5,6%), lincomycin
(5,6%), tetracycline (5,6%) và cefotaxime
(5,6%) (Hình 10).
3.3.3. Tại Bạc Liêu
Có 73,3% nông hộ cho biết có sử dụng
kháng sinh, trong đó 40,1% sử dụng kháng
Hình 10. Tỷ lệ các loại kháng sinh sử dụng tại Bạc Liêu
18
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
và tiamulin. Oxytetracycline thuộc nhóm
Về hiệu quả sử dụng kháng sinh có 66,7%
nông hộ đánh giá loại kháng sinh họ đang sử
dụng có hiệu quả, 25,0% nông hộ đánh giá
kháng sinh không hiệu quả và 8,3% nông hộ
không rõ hoặc chưa rõ kháng sinh đang sử dụng
có hiệu quả hay không.
tetracycline được sử dụng rộng rãi để điều
trị các bệnh nhiễm khuẩn như Vibriosis và
Furunculosis (Capone và ctv., 1996; Prescott
và ctv., 2000; Reed và ctv., 2006). Thông tin
chính thức về việc sử dụng enrofloxacin trong
nuôi tôm chân trắng rất ít, tuy nhiên có nhiều
nghiên cứu về dược động học của kháng sinh
này trên tôm sú (Penaeus monodon), tôm he
Trung Quốc (Penaeus chinensis) (Intorre và
ctv., 2000; Tu và ctv., 2008; Wen và ctv., 2007;
Xu và ctv., 2006). Florfenicol là loại kháng sinh
có hiệu quả trong trị các bệnh do Pasteurella
piscicida, Aeromonas salmonicida, Vibrio
anguillarum và Edwardsiella tarda (Yanong
và Curtis, 2005).
Tình hình chung cho cả 3 miền Bắc và Bắc
Trung Bộ, Nam Trung bộ và ĐBSCL là hầu
hết các người nuôi đều có sử dụng kháng sinh
không được phép sử dụng (chủ yếu thuộc nhóm
Fluoroquinolone). Mặc dù kháng sinh thuộc
nhóm fluoroquinolone đã bị cấm sử dụng ở Mỹ
và Canada nhưng trước đây đã được báo cáo
sử dụng ở Trung Quốc, Thái Lan (Love và ctv.,
2011). Uddin và Kader (2006) điều tra tình
hình sử dụng kháng sinh ở các trại sản xuất
tôm giống ở Bangladesh năm 2002-2003
cho thấy chloramphenicol, erythromycin,
oxytetracycline và prefuran là các loại
kháng sinh có hiệu quả cao trong kiểm soát
các bệnh do vi khuẩn. Có 40% trại sản xuất
giống sử dụng chloramphenicol, 25% trại sử
dụng erythromycin, 20% sử dụng prefuran
và 15% trại sản xuất sử dụng oxytetracycline
để ngừa tôm bố mẹ nhiễm khuẩn sau khi cắt
mắt để cho đẻ. Ở Ấn Độ các loại kháng sinh
thông thường được sử dụng để phòng và trị
bệnh trong thủy sản gồm oxytetracycline.
Enrofloxacin, cephalexin, doxycycline (Mishra
và ctv., 2017). Ở Bangladesh, theo Chowdhury
và ctv., (2015) thì oxytetracycline là một trong
những kháng sinh có hiệu quả nhất trong kiểm
3.4. Tình hình kháng kháng sinh của
Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan
tụy cấp tính trên tôm nuôi nước lợ ở Việt Nam
Trong phạm vi của nghiên cứu này, kết
hợp với điều tra thu thập thông tin về tình hình
sử dụng kháng sinh trong tôm nuôi nước lợ ở
Việt Nam là việc thu mẫu tôm, nước và bùn
ao nuôi ở cả 3 vùng miền Bắc và Bắc Trung
bộ, nam Trung bộ và ĐBSCL. Tổng cộng số
mẫu thu được ở Bắc và Bắc Trung Bộ là 121
(101 mẫu tôm, 10 mẫu nước và 10 mẫu bùn),
ở nam Trung Bộ là 90 mẫu (30 mẫu nước, 30
mẫu bùn và 30 mẫu tôm), ở ĐBSCL là 90 mẫu
(30 mẫu tôm, 30 mẫu nước và 30 mẫu bùn).
Tất cả các mẫu thu được phân lập và định danh
soát bệnh thủy sản với 80-90% hiệu quả mang V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy
lại từ chữa trị.
cấp tính trên tôm bằng test kít API20E kết hợp
với phản ứng PCR theo quy trình của Han
và ctv., (2015). Kết quả thu được 2 chủng V.
parahaemolyticus ở Bắc và Bắc Trung bộ, 7
chủng ở Nam Trung bộ và 47 chủng ở ĐBSCL.
Kết quả kiểm tra kháng sinh đồ trên tất cả các
chủng vi khuẩn này đã tổng hợp được các loại
kháng sinh kháng hoặc nhạy ở 3 miền Bắc,
Trung và Nam (Bảng 2) làm cơ sở cho việc
cảnh báo cũng như chọn lựa đúng kháng sinh
trong trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính.
Các loại kháng sinh thường được sử dụng
trong nuôi trồng thủy sản để trị các bệnh
nhiễm khuẩn gồm oxytetracycline, florfenicol,
sarafloxacin và enrofloxacin (Roque và
ctv., 2001; Soto-Rodríguez và ctv., 2006).
Theo Holmström và ctv., (2003), các nhóm
kháng sinh thường được sử dụng trong thủy
sản bao gồm chlortetracycline, quinolones,
ciprofloxacin, norfloxacin, oxilinic acid,
perfloxacin,
sulfamethazine,
gentamicin
19
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Bảng 2. Danh mục các kháng sinh nhạy và kháng đối với Vibrio parahaemolyticus
Miền Bắc
Miền Trung
Miền Nam
Trung
gian
Trung
gian
Trung
gian
TT Kháng sinh
Nhạy
Kháng Nhạy
Kháng Nhạy
Kháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Ampicillin
X
X
X
Amoxicillin
Gentamicin
Kanamycin
Oxytetracycline
Tetracycline
Doxycycline
Ciprofloxacin
Bactrim
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
10 Norfloxacin
11 Florfenicol
12 Neomycin
13 Erythromycin
14 Rifampycin
15 Streptomycin
16 Cefotaxime
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Theo nghiên cứu của Costa và ctv., (2015), rifampicin,
spectinomycin,
streptomycin,
Vibrio kháng kháng sinh nhóm β-lactam và sulfamethoxazole-trimethoprim, tetracycline
tetracycline trong môi trường nuôi tôm. Ngoài và trimethoprim. Han và ctv., (2015) thử
ra, việc phát hiện yếu tố kháng kháng sinh yếu khả năng kháng kháng sinh của 8 chủng V.
tố trung gian plasmid cảnh báo cho khả năng parahaemolyticus trong đó có 2 chủng phân lập
chuyển theo truyền ngang của các gen kháng từ Mexico và 8 chủng từ Việt Nam. Kết quả cho
kháng sinh trong vi khuẩn. Theo nghiên cứu thấy 100% số chủng đề kháng với ampicillin,
của Lai và ctv., (2015), dựa trên nồng độ ức 100% nhạy với flofenicol và nalidixic acid. Các
chế tối thiểu (MIC) cho thấy cả hai chủng V. chủng ở Việt Nam nhạy cảm với tetracycline và
parahaemolyticus gây bệnh và không gây bệnh oxytetracycline trong khi các chủng ở Mexico
đã kháng nhiều thuốc kháng sinh.
đều kháng với 2 loại kháng sinh này.
Trong nghiên cứu của He và ctv., (2016),
nhóm tác giả này phân lập được 400 chủng V.
parahaemolyticus từ các mẫu tôm mua từ các
chợ ở Shanghai năm 2013-2014. Kết quả kiểm
tra tính kháng kháng sinh cho thấy tỷ lệ kháng
với các loại kháng sinh lần lượt là ampicillin
(99%), streptomycin (45,25%), rifampicin
(38,25%) và spectinomycin (25,5 %). Tất cả
các khuẩn lạc đều nhạy với chloramphenicol và
tetracycline, 35/400 chủng đều nhạy với tất cả
10 loại kháng sinh thử nghiệm gồm ampicillin,
chloramphenicol, gentamicin, kanamycin,
IV. KẾT LUẬN
- Tại miền Bắc, có 11 loại kháng sinh đang
được người nuôi sử dụng trong phòng trị bệnh
tôm. Oxytetracycline (33,0%), osamet (16,5%),
tetracycline (11,3%) là ba loại kháng sinh được sử
dụng nhiều trong phòng trị bệnh tôm tại miền Bắc.
- Miền Trung có 71,2% nông hộ có sử
dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 10 loại
kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong
phòng trị bệnh tôm. Oxytetracycline (57,6%),
20
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Chowdhury, A.A., Uddin, MdS, Vaumi, S. and Asif,
ciprofloxacin (21,2%), doxycycline (7,1%) là
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong
phòng trị bệnh tôm tại miền Trung.
A.A., 2015. Aqua drugs and 37. chemicals used
in aquaculture of Zakigonj upazilla, Sylhet. Asian
Journal of Medical and Biological Research 1:
336-349.
- Tại miền Nam có 68,9% nông hộ sử
dụng kháng sinh trong vụ nuôi với hơn 15 loại
kháng sinh đang được người nuôi sử dụng trong
phòng trị bệnh tôm. oxytetracycline (31,7%),
doxycylin (12,7%) và enrofloxacin (7,9%) là
ba loại kháng sinh được sử dụng nhiều trong
phòng trị bệnh tôm tại miền Nam. Trong đó,
enrofloxacin là loại kháng sinh đã bị cấm sử
dụng tại thời điểm điều tra năm 2015.
Clinical and Laboratory Standards Institute, 2014.
Performance standards for antimicrobial
susceptibility testing, 24th informational
supplement. Approved standard M100-S24.
Clinical and Laboratory Standards Institute,
Wayne, PA, 226 pp.
Costa, R.A., Araújo, R.L., Souza, O.V., and Silva,
R.H., 2015. Antibiotic-Resistant Vibrios in
Farmed Shrimp. Biomed Research International:
505914.
- Trong số các loại kháng sinh được
phép hoặc hạn chế sử dụng thì Vibrio
parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp
tính nhạy với các loại kháng sinh gentamicin,
florfenicol, oxytetracycline, doxycycline và
tetracycline.
He, Y., Jin, L., Sun, F., Hu, Q. and Chen, L., 2016.
Antibiotic and heavy-metal resistance of Vibrio
parahaemolyticus isolated from fresh shrimps
in Shanghai fish markets. China Environmental
Science and Pollution Research 23:15033–
15040.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Holmström, K., Gräslund, S., Wahlström, A.,
Poungshompoo, S., Bengtsson, B. E., & Kautsky,
N., 2003. Antibiotic use in shrimp farming and
implications for environmental impacts and
human health. International journal of food
science & technology 38(3): 255-266.
Cục Thú Y, 2016. Báo cáo tham luận tại Hội nghị
Phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ tôm nước
lợ do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tổ
chức tại tỉnh Bạc Liêu ngày 14/09/2016.
Intorre, L., Cecchini, S. and Bertini, S., 2000.
Pharmacokinetics of enrofloxacin in the seabass
(Dicentrarchus labrax). Aquaculture 182: 49–59.
Mai Văn Tài, 2004. Đánh giá hiện trạng các loại
thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong
nuôi trồng thủy sản nhằm đề xuất các giải pháp
quản lý. Báo cáo tổng kết đề tài. Hà Nội, Viện
Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn.
Lai, H. C., Ng, T. H., Ando, M., Lee, C. T., Chen,
I. T., Chuang, J. C. and Takeyama, H., 2015.
Pathogenesis of acute hepatopancreatic necrosis
disease (AHPND) in shrimp. Fish & shellfish
immunology 47(2): 1006-1014.
Huỳnh Thị Tú, Nguyễn Thanh Phương, Frédéric
Silvestre, Caroline Douny, Châu Tài Tảo, Guy
Maghuin-Rogister và Patrick Kestemont, 2006.
Khảo sát tình hình sử dụng thuốc-hóa chất trong
nuôi tôm và sự tồn lưu của enrofloxacin và
furazolidone trong tôm sú (Penaeus monodon).
Tạp chí Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học
Cần Thơ: 70-78.
Le, T. X. and Munekage, Y., 2004. Residues of
selected antibiotics in water and mud from
shrimp ponds in mangrove areas in Viet Nam.
Marine pollution bulletin, 49(11-12:, 922-929.
Lightner, D.V., Redman, C.R., Pantoja, B.L., Noble,
L.M., Nunan, Loc Tran, 2013. Documentation
of an Emerging Disease (Early Mortality
Syndrome) in SE Asia & Mexico. OIE Reference
Laboratory for Shrimp Diseases, Department of
Veterinary Science & Microbiology, School of
Animal and Comparative Biomedical Sciences.
Tài liệu tiếng Anh
Capone, D. G., Weston, D. P., Miller, V. and
Shoemaker, C., 1996. Antibacterial residues in
marine sediments and invertebrates following
chemotherapy in aquaculture. Aquaculture
145(1-4): 55-75.
Love, D.C., Rodman, S., Neff, R.A., Nachman,
K.E., 2011. Veterinary drug residues in seafood
21
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
inspected by the European Union, United
States, Canada, and Japan from 2000 to 2009.
Environmental Science and Technology 45 (17):
7232–7240.
Tai, M.V., 2012. Use of veterinary medicines
in Vietnamese aquaculture: current status.
In: Bondad-Reantaso, M.G., Arthur, J.R.,
Subasinghe, R.P., (Eds.), Improving Biosecurity
Through Prudent and Responsible Use
of Veterinary Medicines in Aquatic Food
Production, pp. 91–98.
Mishra, S.S., Das, R., Das, B.K., Choudhary, P.,
Rathod, R., 2017. Status of Aqua-medicines,
Drugs and Chemicals Use in India: A Survey
Report. Journal of Aquaculture and Fisheries 1:
1-15.
Tu, T.H., Silvestre, F., Bernard, A., Douny, C.,
Phuong, T.N., Tao, T.C., Maghuin-Rogiste,
G., and Kestemont, P., 2008. Oxidative stress
response of black tiger shrimp (Penaeus
monodon) to enrofloxacin and to culture system.
Aquaculture. 285: 244-248.
Panakorn, S., 2012. Opinion article: more on early
mortality syndrome in shrimp. Aqua Culture
Asia Pacific. 8 (1): 8-10.
Prescott J.F., Baggot J.D., Walter D.R., 2000.
Tetracyclines and Glycylcyclines. Antimicrobial
Teraphy in Veterinary Medicine (Giguére,
S.; Prescott, J.F.; Baggot, J.D.; Walker, R.D.;
Dowling, P.M. (Ed)), 231.
Uddin, S.A. and Kader, M.A., 2006. The Use of
Antibiotic in Shrimp Hatcheries in Bangladesh.
Journal of Fisheries and Aquatic Science 1: 64-67.
Wen, F., Shuai, Z., Kai, Z. and Si-cheng. L., 2007.
Pharmacokinetics and tissue distribution of
enrofloxacin and its metabolite ciprofloxacin
in Scylla serrata following oral gavage at two
salinities. Aquaculture 272: 180–187.
Reed L.A., Siewicki T.C., Shah A.C., 2006. The
biopharmaceutics and oral bioavailability of two
forms of oxytetracycline to the white shrimp,
Litopenaeus setiferus. Aquaculture 258: 223-245.
Xu, W., Xiaobin, Z., Xinting, W., Liping, D.
and Gan, Z., 2006. Residues of enrofloxacin.
furazolidone and their metabolites in Nile tilapia
(Oreochromis niloticus). Aquaculture 254: 1–8.
Roque, A., Molina-Aja, A., Bolan-Mejia, C. and
Gomez-Gil, B., 2001. In vitro susceptibility to
15 antibiotics of vibrios isolated from penaeid
shrimps in Northwestern Mexico. International
Journal of Antimicrobial Agents 17: 383-387.
Yanong,P.R.andCurtis,W.E.,2005.Pharmacokinetic
studies of Florfenicol in Koi Carp and threespot
gourami Trichogaster trichopterus after oral
and intramuscular treatment. Journal of Aquatic
Health 17: 129-137.
Soto-Rodríguez, S.A., Simoes, N., Roque, A.,
and Gómez Gil, B., 2006. Pathogenicity and
colonization of Litopenaeus vannamei larvae by
luminescent vibrios. Aquaculture 258: 109-15.
22
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
CURRENT STATUS OF ANTIBIOTIC USAGE IN BLACK TIGER
SHRIMP AND WHITE LEG SHRIMP FARMING IN VIETNAM
Le Hong Phuoc1*, Nguyen Diem Thu2, Hua Ngoc Phuc2, Pham Thi Yen3
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the current status of antibiotic usage in farming of black
tiger shrimp and white-leg shrimp in Vietnam. Number of shrimp farmers interviewed in the
Northern, Central and Southern Vietnam were 57, 60 and 90, respectively. The information in the
questionnaire was mainly related to the antibiotics used, the dosage, the usage frequency and the
treatment effectiveness. In the North, 11 types of antibiotics were used in shrimp farming such as
oxytetracycline, Osamet (sulfadimethoxine + ormetoprim), tetracycline, enrofloxacin, doxycycline,
ciprofloxacin, florfenicol, biosultrim (trimethoprim + sulfadimidine), chloroform (chloramphenicol)
erythromycin and trifamate (sulfamethoxazole + trimethoprim + rifamycin). Oxytetracycline,
tetracycline and enrofloxacin were the most commonly used antibiotics in this region. In the Central
region, 71.2% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with more than
ten types of antibiotics being used in treating of shrimp diseases. Oxytetracycline, ciprofloxacin
and doxycycline were the most commonly used antibiotics in treating shrimp diseases in the central
region. In the South, 68.9% of shrimp farmers reported of using antibiotics in the shrimp crop with
more than 15 antibiotics being used in shrimp disease treatment. Oxytetracycline, doxycyline and
enrofloxacin were the three antibiotics commonly used in preventing and treating of shrimp diseases.
In relation to the effectiveness of antibiotics, 20-50% of households confirmed the effectiveness of
antibiotics, 30% reported no effect and 20% could not give the answer. Vibrio parahaemolyticus
causing AHPND disease was sensitive to gentamicin, florfenicol, oxytetracycline, doxycycline, and
tetracycline.
Keywords: AHPND, shrimp, antibiotic
Người phản biện: TS. Lý Thị Thanh Loan
Ngày nhận bài: 12/6/2018
Ngày thông qua phản biện: 29/6/2018
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemics, Research Institute for Aquaculture No.2.
2 Research Institute for Aquaculture No.3
3 Research Institute for Aquaculture No.1
* Email: [email protected]
23
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm sú và tôm chân trắng ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_hinh_su_dung_khang_sinh_trong_nuoi_tom_su_va_tom_chan_t.pdf

