Tối ưu hoá điều kiện lên men khô đậu nành và đánh giá hình thái học mô ruột khi sử dụng khô đậu nành để thay thế bột cá ở thức ăn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
TỐI ƯU HOÁ ĐIỀU KIỆN LÊN MEN KHÔ ĐẬU NÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ  
HÌNH THÁI HỌC MÔ RUỘT KHI SỬ DỤNG KHÔ ĐẬU NÀNH ĐỂ THAY  
THẾ BỘT CÁ Ở THỨC ĂN TÔM THẺ CHÂN TRẮNG  
(Litopenaeus vannamei)  
Nguyễn Thành Trung1*, Nguyễn Văn Nguyện1, Trần Văn Khanh1, Lê Hoàng1,  
Đinh Thị Mến1, Nguyễn Thị Thu Hiền1, Trần Thị Hồng Ngọc1,  
Lê Thị Ngọc Bích1, Võ Thị Cẩm Tiên1, Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu lên men bán rắn khô đậu nành bằng chủng vi khuẩn Bacillus subtilis B3, được phân lập  
từ hệ tiêu hoá của tôm, nhằm tạo ra sản phẩm lên men từ đậu nành giúp thay thế bột cá và đánh giá  
ảnh hưởng của sản phẩm khi sử dụng làm thức ăn cho tôm thẻ chân trắng. Thông số tối ưu quá trình  
lên men bán rắn trên sản phẩm khô đậu nành và khô đậu nành tách kháng dinh dưỡng với Bacillus  
subtilis B3 được xác định tại nhiệt độ 37oC, pH 6,5, độ ẩm 50%, độ dày nguyên liệu 4cm. Sản phẩm  
đậu nành sau khi lên men (FSBM) gia tăng protein thô 14% so với khô đậu nành(SBM) ban đầu và  
đậu nành tách kháng dinh dưỡng thủy phân (FSBMex) tăng protein thô 26% (so với SBM) hay 7,5%  
(so với đậu nành tách kháng dinh dưỡng - SBMex). Protein kháng dinh dưỡng trong đậu nành gồm  
conglycinin và glycinin đã được thủy phân, có thể do vi khuẩn Bacillus subtilis B3 tiết ra enzyme  
protease ngoại bào có hoạt tính mạnh. Nguyên liệu khô đậu nành lên men khi thay thế bột cá đến  
mức 40% cho thấy không có ảnh hưởng đến hình thái ruột về độ dài và khoảng cách tơ ruột so với  
thức ăn bột cá (FM), và ở nguyên liệu khô đậu nành tách kháng dinh dưỡng lên men khi thay thế  
đến mức 60% có hình thái tương tự thức ăn bột cá. Các ảnh hưởng của thức ăn chứa đậu nành lên  
men lên hình thái ruột có thể do đậu nành đã thủy phân được protein kháng dinh dưỡng trong đậu  
nành conglycinin và glycinin hoặc do trong thức ăn vẫn còn chứa probiotic từ sản phẩm đậu nành  
lên men.  
Từ khóa: khô đậu nành, kháng dinh dưỡng, lên men bán rắn, Bacillus subtilis, conglycinin, glycinin,  
hình thái ruột, điện di (SDS-PAGE), tôm thẻ chân trắng.  
I. GIỚI THIỆU  
Nguồn nguyên liệu bột cá chiếm tỉ lệ cao  
rất nhiều các nghiên cứu được tiến hành trong  
những năm qua nhằm thay thế protein bột cá  
bằng nguồn protein thực vật trong thức ăn cho  
cá (Akiyama, 1991; Watanabe và ctv., 1992;  
Hertrampf và Piedad-Pascual, 2000; Hardy,  
2003; Nguyen và ctv., 2009; NRC, 2011), tôm  
thẻ (Lim và Dominy, 1990; Shiu và ctv., 2015b)  
nhằm lựa chọn, xác định nguồn protein chất  
lượng cao, tỷ lệ các amino acid cân đối, đầy đủ  
acid béo thiết yếu, có khả năng dẫn dụ.  
trong khẩu phần thức ăn nuôi tôm và có ý nghĩa  
quan trọng đến chất lượng viên thức ăn. Bột cá  
được xem là nguyên liệu chính yếu cho chất  
lượng thức ăn nuôi tôm. Thực tế cho thấy giá  
bột cá tăng gấp 2,5 lần trong vòng 10 năm qua  
(2005-2015) (FAO, 2015), và được dự báo tiếp  
tục tăng cao trong những năm tiếp theo. Đã có  
1 Trung tâm công nghệ thức ăn và Sau thu hoạch thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.  
2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.  
* Email: [email protected]  
43  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Khô đậu nành là nguồn nguyên liệu protein ctv., 2013), sản phẩm Afcep (Gosen, Niigata,  
thực vật có giá trị, giá thành rẻ, có khả năng Nhật) được lên men từ B. subtilis. (Murashita và  
chủ động trong sản xuất. Đây là nguồn nguyên ctv., 2013), sản phẩm Soytide (CJ CheilJedang,  
liệu có hàm lượng protein cao, thành phần hóa Hàn quốc) lên men với vi khuẩn B. subtilis (Lim  
học của bột đậu nành khá ổn định. Hàm lượng và ctv., 2010; Azarm và Lee, 2014).  
protein thô phụ thuộc vào chất lượng của khô  
đậu nành và công nghệ xử lý (Hertrampf và  
Piedad-Pascual, 2000). Tuy nhiên, đậu nành  
chứa nhiều đặc điểm bất lợi do chứa các chất  
kháng dưỡng, không cân đối hay thiết hụt các  
acid amin, acid béo thiết yếu và kém dẫn dụ  
đối với động vật thủy sản nuôi (Francis và ctv.,  
2001).  
Đã có các nghiên cứu sử dụng đậu nành lên  
men trên nhiều đối tượng nuôi như trong thức ăn  
chăn nuôi động vật trên cạn (Hirabayashi và ctv.,  
1998; Feng và ctv., 2007), trên cá (Shimeno và  
ctv., 1993; Yamamoto và ctv., 2010; Yamamoto  
và ctv., 2012a; Rombenso và ctv., 2013; Azarm  
và Lee, 2014; Shiu và ctv., 2015a), trên cá lóc  
(Channa striata) có sử dụng khô đậu nành lên  
Khô đậu nành chứa các chất kháng dinh men không loại bỏ protein kháng dinh dưỡng  
dưỡng trong thức ăn ảnh hưởng đến các bệnh trong đậu nành khi thay thế 40% bột cá (Trần  
đường ruột và viêm ruột ở cá (Ingh và ctv., Thị Thanh Hiền và ctv., 2014), trên tôm thẻ chân  
1991; Olli và Krogdahl, 1995; Knudsen và ctv., trắng (Shiu và ctv., 2015b; Nguyen Van Nguyen  
2007; Knudsen và ctv., 2008; Matsunari và ctv., và ctv., 2018), kết quả cho thấy tăng trưởng tốt  
2010; Yamamoto và ctv., 2010; Nguyen và ctv., hơn so với kho đậu nành không lên men.  
2011; Chikwati và ctv., 2012; Yamamoto và ctv.,  
2012b; Krogdahl và ctv., 2015; Nguyen Thanh  
Trung và ctv., 2016a; Nguyen Thanh Trung và  
ctv., 2016b). Trong khi đó, các nghiên cứu ảnh  
hưởng của đậu nành trên tôm còn hạn chế.  
Mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy việc  
thay thế bột cá bằng khô đậu nành lên men cho  
một số đối tượng nuôi thủy sản và động vật trên  
cạn đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy  
nhiên chưa có nhiều các nghiên cứu và thông tin  
Để cải thiện các ảnh hưởng của các chất về vai trò của khô đậu nành lên men bán rắn đối  
kháng dinh dưỡng, các nghiên cứu về loại bỏ với tôm thẻ chân trắng.  
các chất kháng dinh dưỡng bằng công nghệ xử  
lý ép đùn (Gomes và ctv., 1995 ; Barrows và  
ctv., 2007). Xử lý khô đậu nành bằng dung môi  
và nhiệt tạo ra sản phẩm đậu nành protein đậm  
đặc loại bỏ không hoàn toàn các chất kháng  
dinh dưỡng như trypsin hay saponin (Murashita  
và ctv., 2013). Đậu nành lên men cải thiện giá trị  
dinh dưỡng và kháng dinh dưỡng của đậu nành  
như saponin hay protein kháng dinh dưỡng  
trong đậu nành gồm conglycinin và glycinin  
(Feng và ctv., 2007; Shiu và ctv., 2015b).  
Trong nghiên cứu này tiến hành xác định  
điều kiện tối ưu lên men khô đậu nành bằng  
phương pháp lên men bán rắn với chủng vi  
khuẩn Bacillus subtilis B3, một chế phẩm của  
vi sinh BioShrimp-RIA2, được phân lập từ hệ  
tiêu hóa của tôm có khả năng kháng bệnh, nhằm  
tạo ra sản phẩm protein đậu nành lên men có  
khả năng thay thế protein bột cá trong thức ăn  
cho tôm thẻ chân trắng, đồng thời xác định ảnh  
hưởng của khô đậu nành lên men đối với hình  
thái mô ruột tôm.  
Các công nghệ lên men đậu nành hiện nay  
chủ yếu là lên men bán rắn, công nghệ lên men  
này đơn giản, trang thiết bị đầu tư thấp, tiêu  
hao năng lượng thấp và dễ kiểm soát nhiễm  
bẩn do độ ẩm thấp. Các sản phẩm đậu nành sử  
dụng kỹ thuật lên men bán rắn như sản phẩm  
PepSoyGen lên men với hỗn hợp Bacillus  
subtilis và Aspergillus oryzae (Rombenso và  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
2.1 Nghiên cứu tối ưu hóa điều kiện lên  
men bán rắn trên khô đậu nành bằng chủng  
vi khuẩn Bacillus subtilis B3 và đánh giá chất  
lượng sản phẩm  
2.1.1. Vật liệu  
Nguyên liệu khô đậu nành (SBM): có nguồn  
gốc từ nhập ngoại được cung cấp từ nhà máy sản  
44  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
xuất thức ăn tại Bình Dương, đã được nghiền Bacillus subtilis B3: thu 10-20g mẫu ở mỗi thí  
nghiệm ở vị trí các góc và giữa khay để xác định  
mật độ vi sinh theo tiêu chuẩn BS EN 15784  
(2009).  
mịn qua rây 0,450 mm.  
Nguyên liệu khô đậu nành tách các chất  
kháng dinh dưỡng (SBMex) (Nguyen và ctv.,  
2011): Tách chiết kháng dinh dưỡng trong khô  
đậu nành được thực hiện tại Phòng thí nghiệm  
Dinh dưỡng – Trung tâm Công nghệ thức ăn  
và Sau thu hoạch Thủy sản, sử dụng cồn ở các  
Xác định nhiệt độ và thời gian lên men thích  
hợp trên 2 nguyên liệu SBM và SBMex.  
Nguyên liệu được điều chỉnh hàm lượng  
ẩm 40%, pH của khối nguyên liệu 6,5 và độ dày  
3cm. Nhiệt độ lên men được điều chỉnh tại 30oC  
(nhiệt độ phòng) và 37oC để đánh giá nhiệt độ  
lên men tối ưu. Mẫu được thu vào các thời điểm  
lên men 24, 48, 72 và 96 giờ.  
nồng độ 70, 80 và 90%, theo tỷ lệ 1:3 (wđậu nành  
/
vcồn), từ nồng độ thấp đến cao. Tại mỗi lần chiết,  
khô đậu nành được trộn lắc 2 giờ, sau đó để  
lắng cho tách lớp tại nhiệt độ phòng trong 24  
giờ. Các chất lơ lững được tách bỏ bằng cách  
gạn lọc, phần còn lại được tách chiết tiếp tục  
hai lần lặp lại như trên. Phần nguyên liệu bên  
dưới được sấy khô đến độ ẩm dưới 11%, sản  
phẩm này được gọi là khô đậu nành tách các  
Xác định pH lên men tối ưu  
Từ nhiệt độ lên men tối ưu được xác định  
từ thí nghiệm trên, khối nguyên liệu điều chỉnh  
hàm lượng ẩm ở 40% và độ dày 3cm, 3 mức pH  
6,0; 6,5 và 7,0 của nguyên liệu được điều chỉnh  
chất kháng dinh dưỡng (SBMex). Nguyên liệu để đánh giá lên men tối ưu. Mẫu được thu vào  
SBMex được lưu trữ trong tủ mát ở 4 oC đến khi  
các thời điểm lên men 24, 48, 72 và 96 giờ.  
lên men bán rắn.  
Xác định độ ẩm lên men tối ưu  
Chủng vi khuẩn Bacillus subtilis B3 có  
nguồn gốc từ đề tài “Hoàn thiện và sản xuất  
thử nghiệm chế phẩm vi sinh BioShrimp-RIA2  
Nguyên liệu được điều chỉnh ở các hàm  
lượng ẩm khác nhau từ 30%, 40% và 50 %. pH  
của khối nguyên liệu và nhiệt độ lên men được  
phòng bệnh do Vibrio spp. gây ra trên tôm điều chỉnh ở điều kiện tối ưu từ kết quả các thí  
nghiệm trên, độ dày lớp nguyên liệu 3cm. Mẫu  
được thu vào các thời điểm lên men 24, 48, 72  
và 96 giờ.  
nuôi” của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy  
sản II, vi sinh này được phân lập từ hệ tiêu  
hóa của tôm thẻ, và có khả năng sinh enzyme  
protease ngoại bào (Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh,  
2016), có điều kiện tăng sinh tối ưu ở 37oC và  
pH 6,5, được lưu trữ tại tủ đông sâu ở - 80oC  
cho tới khi sử dụng, được tăng sinh trong môi  
trường TSA.  
Xác định độ dày lên men thích hợp  
Vi khuẩn B. subtilis B3 được trộn đều với  
khoảng 6,0 - 12,0 kg nguyên liệu và được trải  
đều trong khay ở 02 độ dày khác nhau: 3 và 4  
cm, lên men bán rắn ở nhiệt độ, pH và độ ẩm  
đã được xác định từ các thí nghiệm trên. Mỗi  
nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Đo mật độ vi  
sinh sau 72 giờ lên men để xác định độ dày  
thích hợp.  
2.1.2. Tối ưu hoá điều kiện lên men bán  
rắn khô đậu nành bằng chủng vi sinh Bacillus  
subtilis B3  
Khô đậu nành được thanh trùng ở 121oC  
trong 20 phút trước khi đem lên men bán rắn.  
Sau khi thanh trùng để nguội đến nhiệt độ  
phòng và chuyển sang khay để lên men (60cm x  
2.1.3. Đánh giá chất lượng các nguyên  
liệu lên men bán rắn  
Phân tích giá trị dinh dưỡng trong các  
60cm x 5cm), dung dịch vi khuẩn sau khi hoạt nguyên liệu bao gồm: Hàm lượng ẩm (%) được  
xác định theo phương pháp TCVN 4326:2001,  
quang, mật độ khoảng 105 (cfu)/ml được thêm protein thô (%) theo TCVN 4328-1:2007, lipid  
hóa được đo mật độ trên đường chuẩn hấp thu  
vào nguyên liệu.  
thô (%) theo AOAC 920.39, tro (%) theo TCVN  
4327-2007, xơ (%) theo TCVN 4329:2007.  
Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn  
45  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Đánh giá khả năng thủy phân protein của vi 2015b). Các thức ăn có cùng hàm lượng protein  
khuẩn B. subtilis B3 trên khô đậu nành lên men và lipid. Thức ăn được phân tích hàm lượng  
bằng phương pháp điện di.  
protein thô, lipid thô, tro, xơ.  
Sử dụng phương pháp điện di SDS-  
Tổng cộng 2000 con tôm thẻ chân trắng  
polyacrylamide gel electrophoresis (PAGE) được chuẩn bị cho thích nghi với môi trường  
để nhận diện sự có mặt của protein kháng trong khoảng thời gian 10-15 ngày, sau đó tôm  
dinh dưỡng ở nhóm conglycinin gồm: α’- được lựa chọn ngẫu nhiên với trọng lượng từ  
conglycinin (72 kDa), α-conglycinin (68 kD) 2-3,5g. Thí nghiệm được thực hiện tại Cơ sở  
và β-conglycinin (52kDa), và ở nhóm glycinin thực nghiệm, khảo nghiệm thủy sản Gò Vấp,  
gồm acidic (37kDa) và basic (20Kda) (Teng và trên bể kính (100 lít), mật độ 15 con/ bể, 3 lần  
ctv., 2012) trên mẫu khô đậu nành (SBM) và lập lại trên mỗi nghiệm thức thức ăn, thời gian  
khô đậu nành lên men (FSBM) và khô đậu nành nuôi trong 8 tuần. Tôm cho ăn tại thời điểm 8:00  
tách kháng dinh dưỡng lên men (FSBMex). Lấy giờ, 12:00 giờ, 16:00 giờ và 20 giờ, cho ăn đến  
0,2g mẫu cho mỗi nguyên liệu đã được đồng no. Thức ăn dư được loại bỏ sau 1 giờ cho ăn,  
nhất trong đệm phosphorate (PBS) pH 7,3 sau sau đó sấy ở 80oC và ghi lại số lượng. Trong  
đó ly tâm tại 14,000 rpm trong 20 phút tại 4°C, thời gian nuôi, nước được thay thế 1/3 trong  
tách bỏ cặn. Phần dung dịch phía trên được lấy mỗi tuần.  
để xác định các phân đoạn protein. Dung dịch  
phía trên được pha loãng với đệm (0,125 M  
Tris-HCl (pH 6.8), 4% SDS, 20% glycerol và  
10% β-mercaptoethanol), sau đó chạy trên gel  
và nhuộm với Coomassie brilliant blue R-250  
trong 40% methanol và 10% acid acetic.  
Đánh giá mô học trên ruột của tôm  
Sau 8 tuần nuôi, tôm được nhịn cho ăn 24  
giờ trước khi thu mẫu. Mỗi nghiệm thức thu  
mẫu ngẫu nhiên 5 con tôm, được xác định trọng  
lượng thân, thu mẫu ruột và được cố định bằng  
dung dịch Davidson’s (30 mL 95% ethanol, 20  
mL 37% formaldehyde, 10 mL axit axetic băng  
và 30 mL nước cất). Cố định mẫu ít nhất 2 giờ,  
chuyển sang cồn 50%. Đặt bề mặt của mẫu  
2.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ đậu nành lên  
men từ chủng Bacillus subtilis B3 lên hình  
thái mô ruột tôm thẻ chân trắng  
Hình thái mô ruột tôm được đánh giá khi ruột đã xử lý vào đáy khuôn inox, sau đó rót  
cho ăn thức ăn chứa khô đậu nành sau khi lên parafin vào khuôn, đậy nắp cassette. Cắt khối  
men thay thế cho bột cá ở các hàm lượng khác paraffin có chứa mẫu bằng máy cắt Microtome,  
nhau trong công thức thức ăn.  
độ dày lát cắt từ 5-6 µm. Một cassett được cắt  
2 lát cách rời nhau và đính trên 1 lame. Dùng  
thuốc nhuộm Hematoxylin & Eosin để nhuộm  
mô ruột sau của tôm ở đốt số 5 và 6. Đọc kết  
quả trên kính hiển vi JVC (TK-C1380E). Chiều  
dài tơ ruột và khoảng cách các tơ ruột được xác  
định theo kết quả đo bằng thước đo trên trắc vi  
thị kính, sau đó nhân với hệ số 2,525 để chuyển  
đổi sang đơn vị (mm).  
Hai nhóm thức ăn dùng thí nghiệm gồm:  
Nguyên liệu khô đậu nành lên men tách kháng  
dinh dưỡng và không tách kháng dinh dưỡng,  
thay thế bột cá ở các hàm lượng 20, 40, 60,  
80 và 100%. Thức ăn đối chứng gồm: thức ăn  
hoàn toàn bột cá (FM), thức ăn chứa 40% SBM  
(SBM), thức ăn đối chứng sử dụng đậu nành lên  
men của Hàn Quốc (Bảng 1) (FSBM đối chứng)  
được thay thế bột cá ở mức 60% (Shiu và ctv.,  
46  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
47  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Tối ưu hoá điều kiện lên men bán  
3.1.1. Thành phần dinh dưỡng khô đậu  
nành sau khi tách kháng dinh dưỡng  
Nguyên liệu khô đậu nành sau khi tách rửa  
kháng dinh dưỡng bằng dung môi cồn, hàm lượng  
protein của nguyên liệu này tăng khoảng 16%  
protein so với khô đậu nành ban đầu (Bảng 2).  
rắn trên khô đậu nành bằng chủng vi khuẩn  
Bacillus subtilis B3 phân lập từ hệ tiêu hóa của  
tôm và đánh giá chất lượng sản phẩm  
Bảng 2. Giá trị dinh dưỡng khô đậu nành trước và sau khi tách kháng dinh dưỡng.  
Nguyên liệu  
Ẩm (%)  
12,21  
Protein (%)  
47,3  
Lipid (%)  
0,98  
Tro (%)  
6,34  
Khô đậu nành  
Khô đậu nành tách kháng dinh dưỡng  
12,14  
54,84  
0,71  
6,35  
(30oC) và 37oC, cố định các thông số độ ẩm 40%,  
pH 6,5 và độ dày nguyên liệu 30 cm Kết quả mật  
độ vi sinh vật trên nguyên liệu khô đậu nành đã  
lên men (FSBM) và nguyên liệu khô đậu nành  
tách kháng dinh dưỡng đã lên men (FSBMex)  
được đo sau khi lên men ở các thời điểm 24, 48,  
72 và 96 giờ được trình bày ở Hình 1.  
3.1.2. Tối ưu hoá điều kiện lên men bán  
rắn khô đậu nành  
Nhiệt độ (toC) và thời gian lên men thích  
hợp trên 2 nguyên liệu SBM và SBMex.  
Hai nguyên liệu SBM và SBMex được lên  
men bán rắn tại 2 nhiệt độ gồm nhiệt độ phòng  
Hình 1. Mật độ vi sinh vật trên 2 nguyên liệu FSBM và FSBMex tại 30oC và 37oC sau 96 giờ lên  
men ở pH 6,5.  
Mật độ vi khuẩn đếm được ở nhiệt độ 30oC  
của cả hai nguyên liệu (FSBM và FSBMex)  
cho thấy thấp hơn so với ở 37oC. Đặc biệt,  
sau khi tách kháng dưỡng nguyên liệu SBMex  
lên men bán rắn có mật độ vi khuẩn phát triển  
mạnh hơn sau 96 giờ ở 37oC so với nguyên liệu  
SBM không tách kháng dưỡng. Từ kết quả trên,  
nhiệt độ 37oC là nhiệt độ thích hợp cho Bacillus  
subtilis B3 phát triển khi lên men bán rắn với cả  
hai nguyên liệu (SBM và SBMex). Hơn nữa, từ  
kết quả mật độ vi sinh cũng cho thấy thời gian  
lên men thích hợp trên 2 nguyên liệu SBM và  
SBMex vào khoảng 72 giờ.  
48  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
pH lên men tối ưu trên 2 nguyên liệu SBM được lên men bán rắn ở 3 pH khác nhau là 6,0;  
và SBMex  
6,5 và 7,0 với hai nguyên liệu (SBM và SBMex)  
tại độ ẩm 40% và độ dày 3cm, kết quả được thể  
hiện ở Hình 2 (a) và (b).  
Từ kết quả nhiệt độ (37oC) lên men bán rắn  
đã xác định từ thì nghiệm trước, thí nghiệm này  
Hình 2. Mật độ vi khuẩn ở các pH khác nhau trên nguyên liệu khô đậu nành lên men (a) và đậu  
nành đã tách kháng dinh dưỡng lên men (b) tại 37oC, độ ẩm 40% và độ dày 3cm.  
Từ kết quả ở hình trên, mặc dù thời gian lấy  
mẫu ở 2 thí nghiệm khác nhau, tuy nhiên trên mỗi  
Độ ẩm lên men tối ưu trên 2 nguyên liệu  
SBM và SBMex  
nguyên liệu đều cho thấy mật độ vi khuẩn đều phát  
Từ các thí nghiệm xác định nhiệt độ và pH  
triển mạnh ở pH 6,5 với khoảng thời gian lên men  
chọn được nhiệt độ là 37oC và pH 6,5 để lên  
từ 24 giờ đến 72 giờ và đạt mật độ trên 109 CFU/g  
men bán rắn với 2 nguyên liệu SBM và SBMex  
so với pH 6,0 hay 7,0. Tiếp tục lên men đến 96 giờ,  
ở các độ ẩm khác nhau 30%, 40% và 50%.  
các nguyên liệu cho thấy mật độ vi sinh vật tiếp  
tục duy trì ở mật độ cao trên 109 CFU/g.  
Hình 3. Mật độ vi khuẩn Bacillus subtilis B3 ở các độ ẩm khác nhau trên khô đậu nành lên men  
(a) và đậu nành đã trích kháng dinh dưỡng lên men (b).  
nành đã trích kháng dinh dưỡng lên men (hình  
3b), tại nghiệm thức độ ẩm 50% cho thấy từ 24  
đến 72 giờ lên men cũng có mật độ vi khuẩn cao  
hơn ở các độ ẩm còn lại (30% và 40%). Việc lên  
men tiếp tục đến 96 giờ cho thấy ở độ ẩm 50%  
Từ kết quả của khô đậu nành lên men (hình  
3a) sau khi lên men từ 48 giờ đến 72 giờ, nghiệm  
thức độ ẩm 50% có mật độ vi khuẩn cao hơn ở  
các độ ẩm còn lại (30% và 40%). Tương tự với  
thí nghiệm đánh giá độ ẩm của nguyên liệu đậu  
49  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
mật độ vi khuẩn vẫn cao hơn các độ ẩm còn lại  
Sau khi lên men bán rắn tại nhiệt độ 37oC, độ  
ở trên hai nguyên liệu, do đó, độ ẩm tối ưu để ẩm 50% và pH 6,5, các nguyên liệu khô đậu nành  
lên men bán rắn cho cả hai nguyên liệu (SBM và khô đậu nành tách kháng dinh dưỡng cho thấy  
và SBMex) đạt được ở độ ẩm 50%.  
gia tăng hàm lượng protein đáng kể. Ở nguyên  
liệu khô đậu nành lên men (FSBM), hàm lượng  
protein tăng hơn 14% (từ 46,75 lên 53,30%) so  
với nguyên liệu đậu nành ban đầu (SBM). Trong  
khi nguyên liệu khô đậu nành tách kháng dinh  
dưỡng (FSBMex) cho thấy cũng tăng đáng kể  
(26%) từ 54,84 lên 58,97% protein so với nguyên  
liệu đậu nành ban đầu (SBM). Việc tách kháng  
dinh dưỡng cũng làm tăng hàm lượng protein lên  
khoảng 8%. Việc lên men giữa hai nguyên liệu  
tách và không tách kháng dinh dưỡng cho thấy,  
ở nguyên liệu không tách kháng dinh dưỡng tăng  
hàm lượng protein lên 14% (FSBM so với SBM),  
tuy nhiên ở nguyên liệu đã tách kháng dinh  
dưỡng tăng hàm lượng protein ít hơn, khoảng  
7,5% (FSBMex so với SBMex). Hàm lượng lipid  
ở cả 2 nguyên liệu giảm hơn so với nguyên liệu  
ban đầu, khoảng 0,1% đối với nguyên liệu SBM  
và 0,2% đối với nguyên liệu SBMex.  
Mật độ vi sinh khi lên men bán rắn ở các độ  
dày khác nhau.  
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của độ dày  
của nguyên liệu đậu nành lên mật độ vi sinh vật  
khi lên men bán rắn ở độ ẩm 50%, 37oC và pH  
6,5 sau 72 giờ lên men. Kết quả cho thấy, ở độ  
dày của lớp nguyên liệu 4cm [log(cfu/g)=9,54]  
có mật độ vi khuẩn thấp hơn ở độ dày 3cm  
[log(cfu/g)=9,98], tuy nhiên mật độ vi khuẩn ở  
hai độ dày này không có sự khác biệt đáng kể so  
với độ dày 3cm (Hình 4).  
Kết quả đánh giá khả năng thủy phân  
protein bằng điện di của các sản phẩm khô đậu  
nành và đậu nành lên men  
Hình 4. Mật độ vi khuẩn khi lên men bán rắn  
nguyên liệu đậu nành ở độ dày 3cm và 4cm  
3.1.3 Giá trị dinh dưỡng của các nguyên  
liệu trước và sau lên men bán rắn  
Mẫu khô đậu nành và khô đậu nành tách  
kháng dinh dưỡng trước và sau khi lên men đã  
đánh giá chất lượng dinh dưỡng được trình bày  
trong Bảng 3.  
Bảng 3. Kết quả phân tích dinh dưỡng trên các  
nguyên liệu trước và sau khi lên men.  
Hình 5. Kết quả điện di protein chuẩn, khô  
đậu nành, khô đậu nành không tách (FSBM) và  
tách kháng dinh dưỡng (FSBMex) lên men.  
Nguyên  
liệu  
Ẩm Lipid Protein  
(%) (%) thô (%) (%)  
Tro  
SBM  
12,21 0,98  
8,18 0,88  
7,14 0,71  
46,75  
53,30  
6,34  
7,36  
Trong đó, (M): Protein chuẩn từ 100kDa đến  
3.4kDa, (SBM): Khô đậu nành, (FSBM): Khô  
đậu nành lên men, (FSBMex): Khô đậu nành tách  
kháng dinh dưỡng lên men. (β: β-conglycinin,  
(α): α- conglycinin, (α’): α’-conglycinin, (a)  
acidic glycinin và (b) basic glycinin).  
FSBM  
SBMex  
54,84  
58,97  
6,35  
6,65  
FSBMex 8,46 0,52  
50  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Kết quả điện di cho thấy, ở nguyên liệu kDa so với marker protein chuẩn và nguyên  
liệu SBM.  
khô đậu nành (SBM) đều chứa protein kháng  
dinh dưỡng trong đậu nành gồm 2 nhóm  
conglycinin (α’, α và β) và glycinin (acidic và  
basic). Trong khi đó, cả hai nguyên liệu đậu  
nành lên men (FSBM và FSBMex) cho thấy  
đã thủy phân được protein kháng dinh dưỡng  
và hầu hết có trọng lượng phân tử nhỏ hơn 30  
3.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ đậu nành lên men từ  
chủng Bacillus subtilis B3 trong thay thế bột  
cá lên hình thái mô ruột tôm  
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng  
của thức ăn tôm được thiết kế ở bảng 1 được thể  
hiện ở Bảng 4.  
Bảng 4. Kết quả thành phần dinh dưỡng của thức ăn tôm thẻ thí nghiệm.  
Lipid (%)  
6,39  
Ẩm (%)  
2,96  
4,85  
3,77  
5,79  
7,00  
4,83  
8,51  
6,74  
4,47  
5,75  
5,95  
7,42  
5,35  
Protein (%)  
41,84  
40,89  
41,38  
40,35  
39,28  
40,93  
40,53  
40,14  
40,94  
40,41  
39,72  
39,96  
41,40  
Tro (%)  
11,14  
10,38  
9,35  
Xơ (%)  
17,66  
10,79  
12,10  
8,49  
FM  
FSBM 20  
5,91  
FSBM 40  
5,87  
FSBM 60  
5,91  
8,44  
FSBM 80  
6,03  
7,07  
8,59  
FSBM 100  
FSBMEx 20  
FSBMEx 40  
FSBMEx 60  
FSBMEx 80  
FSBMEx 100  
FSBM đối chứng  
SBM  
6,25  
6,16  
6,84  
5,55  
9,87  
10,38  
18,20  
13,40  
16,58  
12,01  
10,45  
10,79  
5,93  
8,71  
5,86  
7,56  
5,49  
6,38  
6,37  
5,05  
6,27  
7,88  
6,87  
10,38  
Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng  
cho thấy các nghiệm thức thức ăn có hàm lượng  
protein và lipid không có khác biệt đáng kể ở  
các thức ăn.  
Đánh giá hình thái mô ruột của tôm  
Hình thái mô học của chiều dài và khoảng  
cách tơ ruột tôm được đo trên kính hiển vi soi  
nổi 40X.  
Hình 6. Hình thái mô ruột tôm ở kính hiển vi độ phóng đại 40X, (a) thức ăn bột cá (FM),(b) thức  
ăn đậu nành (SBM) và (c) thức ăn đậu nành lên men đối chứng (FSBM đối chứng)  
51  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Hình 7. Hình thái mô ruột tôm trên thức ăn đậu nành lên men.  
Hình 8. Hình thái mô ruột tôm trên thức ăn đậu nành kháng dinh dưỡng lên men.  
Ở nghiệm thức thức ăn bột cá (FM) (Hình tơ ruột ngắn khi tôm ăn thức ăn SBM và FSBM  
6a) cho thấy tơ ruột của thức ăn này có chiều đối chứng.  
cao dài nhất và khoảng cách các tơ ruột gần  
nhau. Khi so với hình thái tơ ruột ở thức ăn  
IV. THẢO LUẬN  
Kỹ thuật lên men bán rắn trên nguyên liệu  
SBM (hình 6b) và thức ăn FSBM đối chứng  
đậu nành đã có nhiều nghiên cứu, tùy theo chủng  
(Hình 6c) với thức ăn bột cá (FM) (Hình 6a),  
vi sinh vật mà được điều chỉnh ở nhiệt độ, pH  
hai thức ăn này có tơ ruột ngắn hơn và khoảng  
hay độ ẩm khác nhau để tạo được sản phẩm lên  
cách các sợi tơ ruột cách xa hơn. Ở thí nghiệm  
men tối ưu và giảm được các chất kháng dinh  
tôm ăn thức ăn đậu nành lên men (Hình 7), cho  
dưỡng. Kết quả nghiên cứu lên men bán rắn  
thấy tôm ăn thức ăn FSBM 20 (Hình 7a) và  
khô đậu nành và khô đậu nành tách kháng dinh  
dưỡng với chủng vi khuẩn Bacillus subtilis B3  
FSBM 40 (Hình 7b) có hình thái gần tương tự  
như ở thức ăn FM (Hình 6a). Ngược lại, ở thức  
ăn FSBM 60, FSBM 80 và FSBM 100 (Hình  
cho thấy đạt được thích hợp với các thông số  
gồm nhiệt độ 37oC, pH 6,5, độ ẩm 50%, độ dày  
7c, d và e) cho thấy có hình thái khoảng cách tơ  
nguyên liệu 4cm và thời gian đạt mật độ tối ưu  
ruột ngắn và khoảng cách tơ ruột cách xa nhau  
từ sau 48 giờ đến 72 giờ lên men. Ở sản phẩm  
như ở thức ăn SBM và FSBM đối chứng. Cũng  
đậu nành lên men bằng chủng vi khuẩn Bacillus  
subtilis B3 tăng hàm lượng protein lên 14% so  
với sản phẩm ban đầu (SBM), ở sản phẩm đậu  
tương tự, ở thí nghiệm tôm ăn thức ăn đậu nành  
tách dinh dưỡng lên men FSBMex 20, FSBMex  
40 và FSBMex 60 (Hình 8a, b và c) có hình thái  
nành tách kháng dinh dưỡng lên men (FSBMex)  
chiều cao dài và khoảng cách các tơ ruột gần  
tăng 26% so với nguyên liệu SBM và 7,5% so  
nhau tương tự như tôm ăn thức ăn chứa bột cá  
với nguyên liệu SBMex. Kết quả này cũng cho  
(FM), tuy nhiên ở thức ăn FSBMex 80 (Hình  
thấy tương tự với các nghiên cứu của một số  
tác giả trước đây (Kiers và ctv., 2000; Teng và  
8d) và FSBMex 100 (Hình 8e) cũng cho kết quả  
tương tự ở tơ ruột có khoảng cách lớn và độ dài  
52  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ctv., 2012; Murashita và ctv., 2013; Shiu và có thể do ruột tôm tăng diện tích bề mặt để hấp  
ctv., 2015b). Nghiên cứu lên men khô đậu bằng thu dinh dưỡng và các sản phẩm lên men đã loại  
Bacillus subtilis cho thấy đã cắt được mạch các bỏ được một phần các chất kháng dinh dưỡng.  
protein kháng dinh dưỡng như conglycinin và Nghiên cứu của nhóm (Daniels và ctv., 2010)  
glycinin thành những đoạn phân tử nhỏ hơn sau khi cho tôm hùm (Homarus gammarus L.) ăn  
48 giờ lên men (Kiers và ctv., 2000). Kết quả thức bổ sung Bacillus spp. có mật độ và độ dài  
nghiên cứu cho thấy sản phẩm sau khi lên men tơ ruột cao hơn thức ăn đối chứng. Các nghiên  
kết hợp Bacillus subtilis và A. oryzae tăng hàm cứu của (Daniels và ctv., 2010; Zhang và ctv.,  
lượng protein lên 8,37%. Sản phẩm khô đậu 2012) cho rằng tế bào biểu mô ruột của tôm thẻ  
nành lên men PepSoyGen sử dụng kỹ thuật lên chân trắng có diện tích bề mặt hấp thụ lớn, gia  
men bán rắn với hỗn hợp chủng vi sinh Bacillus tăng chiều cao và mật độ tế bào ruột để tăng khả  
subtilis và Aspergillus oryzae, sau khi lên men năng hấp thụ chất dinh dưỡng. Khi thử nghiệm  
tăng lên khoảng 52% protein (Rombenso và ctv., thức ăn đậu nành (Barnes và ctv., 2012; Barnes  
2013). Nghiên cứu của (Shiu và ctv., 2015b) khi và ctv., 2014) lên men với nấm mốc Aspergillus  
lên men khô đậu nành bằng chủng vi khuẩn spp. và vi khuẩn Bacillus spp. thay thế mức 50%  
Bacillus subtilis cho thấy điều kiện lên men tốt làm thức ăn cho cá hồi (Oncorhynchus mykiss),  
nhất ở độ ẩm 50%, nhiệt độ 40oC sau 72 giờ lên cho rằng có thể thức ăn đã loại được kháng dinh  
men, sau khi lên men tăng 19% protein so với dưỡng hoặc trong thức ăn vẫn còn chứa Bacillus  
nguyên liệu ban đầu và giảm protein kháng dinh spp. ở dạng probiotic là nguyên nhân hình thái  
dưỡng.  
ruột không bị ảnh hưởng. Trong khi đó, theo  
nhóm tác giả nghiên cứu (Zheng và ctv., 2017),  
tôm thẻ chân trắng có hình thái của tơ ruột tôm  
ăn thức ăn bổ sung vi khuẩn Lactobacillus  
plantarum dài và mật độ cao hơn so với tôm  
ăn thức ăn không bổ sung. Tuy nhiên, ở thức ăn  
chứa cao hơn 40% FSBM và 60% FSBMex có  
tơ ruột ngắn và mật độ thấp, có thể trong đậu  
nành sau lên men vẫn còn chứa hợp chất gây  
ảnh hưởng lên lên hình thái ruột.  
Sản phẩm đậu nành lên men của nghiên  
cứu này, sau khi lên men đo protein kháng  
dinh dưỡng bằng phương pháp điện di SDS-  
PAGE cho thấy khối lượng phân tử protein nhỏ  
hơn 30 kDa và loại bỏ được hầu hết các chất  
kháng dinh dưỡng như conglycinin và glycinin.  
Kết quả tương tự cũng được thấy ở các chủng  
Bacillus subtilis được phân lập từ natto (Teng và  
ctv., 2012; Shiu và ctv., 2015b). Việc thủy phân  
mạch protein của đậu nành thành các peptide  
Việc sử dụng vi khuẩn Bacillus subtilis B3  
có mạch phân tử nhỏ hơn có thể do đặc tính tiết được phân lập từ hệ tiêu hóa của tôm thẻ chân  
enzyme protease ngoại bào mạnh của chủng vi trắng để lên men các nguyên liệu từ khô đậu  
sinh Bacillus subtilis B3 khi lên men bán rắn, nành đã giúp xác định được qui trình lên men  
kết quả này phù hợp với đặc tính sinh enzyme bán rắn và nâng cao được hàm lượng protein  
ngoại bào đã được khảo sát từ nghiên cứu trước so với sản phẩm ban đầu. Ngoài ra, quá trình  
đây bởi nhóm tác (Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, lên men sản phẩm đậu nành này cũng thủy phân  
2016).  
được protein kháng dinh dưỡng trong đậu nành  
gồm nhóm conglycinin và glycinin. Đặc biệt,  
kết quả ở nguyên liệu tách kháng dinh dưỡng  
bằng dung môi cồn cho thấy mật độ vi sinh  
tăng sinh cao hơn với nguyên liệu khô đậu nành  
không tách kháng dinh dưỡng ở cùng điều kiện  
lên men, điều này có thể do chất kháng dinh  
dưỡng cản trở việc lên men đối với vi khuẩn  
Bacillus subtilis B3.  
Hình thái mô ruột được đánh giá thông qua  
độ dài của tơ ruột và khoảng cách giữa các tơ  
ruột, đây là kết quả bước đầu cho nghiên cứu  
này. Tôm ăn thức ăn đậu nành lên men (FSBM)  
đến mức 40% và thức ăn đậu nành lên men có  
tách kháng dinh dưỡng (FSBMex) ở mức 60%  
có hình thái tơ ruột tương tự như ở tôm ăn thức  
ăn bột cá (FM), chiều dài và mật độ tơ ruột cao  
53  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
đề: Thủy sản - Tạp chí Khoa học Trường Đại học  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
Cần Thơ. 1, 310-318.  
5.1. Kết luận  
NRC, 2011. Nutrient Requirements of Fish and  
Shrimp. The National Academies Press,  
Washington, DC.  
Hàm lượng protein trong nguyên liệu sau  
khi tách chất kháng khuẩn tăng 17% protein so  
với nguyên liệu đầu.  
Akiyama, D.M., 1991. The use of soy products and  
other plant protein supplements in aquaculture  
feeds. American Soybean Association.  
Chất lượng đậu nành lên men đã được cải  
thiện về khía cạnh dinh dưỡng khi sản phẩm  
tăng hơn 14% protein thô so với nguyên liệu  
đậu nành ban đầu.  
Azarm, H.M., Lee, S.-M., 2014. Effects of partial  
substitution of dietary fish meal by fermented  
soybean meal on growth performance, amino  
acid and biochemical parameters of juvenile  
black sea bream Acanthopagrus schlegeli.  
Aquaculture Research. 45, 994-1003.  
Sản phẩm đậu nành tách kháng dinh dưỡng  
sau khi lên men bán rắn bằng chủng Bacillus  
subtilis B3 tăng hàm lượng protein thô hơn 26%  
so với đậu nành ban đầu.  
Các protein kháng dinh dưỡng conglycinin  
và glycinin trong đậu nành hầu hết đã được thủy  
phân trong quá trình lên men.  
Barnes, M.E., Brown, M.L., Bruce, T., Sindelar,  
S., Neiger, R., 2014. Rainbow Trout Rearing  
Performance, Intestinal Morphology, and  
Immune Response after Long-term Feeding of  
High Levels of Fermented Soybean Meal. North  
American Journal of Aquaculture. 76, 333-345.  
Thiết lập được các thông số tối ưu cho việc  
lên men đậu nành và đậu nành tách kháng dinh  
dưỡng.  
Kết quả ảnh hưởng về hình thái mô của ruột  
tôm có thể do sản phẩm đậu nành lên men đã cải  
thiện dinh dưỡng tốt, lại bỏ hầu hết chất kháng  
dinh dưỡng hoặc/và sản phẩm chứa vi khuẩn  
Bacillus subtilis B3 ở dạng probiotic giúp tôm  
ăn thức ăn ở dưới mức 40% FSBM và 60%  
FSBMex có tơ ruột dài và mật độ cao.  
Barnes, M.E., Brown, M.L., Rosentrater, K.A.,  
Sewell, J.R., 2012. An initial investigation  
replacing fish meal with a commercial fermented  
soybean meal product in the diets of juvenile  
rainbow trout. Open Journal of Animal Sciences.  
02, 234-243.  
Barrows, F.T., Stone, D.A.J., Hardy, R.W., 2007.  
The effects of extrusion conditions on the  
nutritional value of soybean meal for rainbow  
trout (Oncorhynchus mykiss). Aquaculture. 265,  
244-252.  
5.2. Đề xuất  
Tiếp tục nuôi đánh giá tiêu hóa và tăng trưởng  
của tôm để xem xét hiệu quả của sản phẩm.  
Cần có các nghiên cứu tiếp theo để xem xét  
về cơ chế ảnh hưởng đậu nành lên men lên hình  
thái mô học của tôm thẻ chân trắng.  
BS EN 15784, 2009. Animal feeding stuffs. Isolation  
and enumeration of presumptive.  
Chikwati, E.M.,Venold, F.F., Penn, M.H., Rohloff, J.,  
Refstie, S., Guttvik, A., Hillestad, M., Krogdahl,  
A., 2012. Interaction of soyasaponins with plant  
ingredients in diets for Atlantic salmon, Salmo  
salar L. The British journal of nutrition. 107,  
1570-1590.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Thị Ngọc Tĩnh, 2016. Đề tài: Hoàn thiện và  
sản xuất thử nghiệm chế phẩm vi sinh BioShrimp-  
RIA2 phòng bệnh do Vibrio spp. gây ra trên tôm  
nuôi. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II-  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  
Daniels, C.L., Merrifield, D.L., Boothroyd, D.P.,  
Davies, S.J., Factor, J.R., Arnold, K.E., 2010.  
Effect of dietary Bacillus spp. and mannan  
oligosaccharides (MOS) on European lobster  
(Homarus gammarus L.) larvae growth  
performance, gut morphology and gut  
Trần Thị Thanh Hiền, Trần Lê Cẩm Tú, Nguyễn  
Vĩnh Tiến, Nguyễn Bảo Trung, Trần Minh Phú,  
Phạm Minh Đức, Bengston David, 2014. Thay  
thế bột cá bằng một số nguồn bột đậu nành trong  
thức ăn cho cá lóc (Channa striata). Số chuyên  
54  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
microbiota. Aquaculture. 304, 49-57.  
Knudsen, D., Jutfelt, F., Sundh, H., Sundell, K.,  
Koppe, W., Frokiaer, H., 2008. Dietary soya  
saponins increase gut permeability and play  
a key role in the onset of soyabean-induced  
enteritis in Atlantic salmon ( Salmo salar L.).  
The British journal of nutrition. 100, 120-129.  
FAO, 2015. OECD/Food and Agriculture  
Organization of the United Nations (2015).  
OECD-FAO Agricultural Outlook 2015. OECD  
Publishing, Paris.  
Feng, J., Liu, X., Xu, Z.R., Lu, Y.P., Liu, Y.Y., 2007.  
The effect of Aspergillus oryzae fermented  
soybean meal on growth performance,  
digestibility of dietary components and activities  
of intestinal enzymes in weaned piglets. Animal  
Feed Science and Technology. 134, 295-303.  
Knudsen, D., Urán, P., Arnous, A., Koppe, W.,  
Frøkiær, H., 2007. Saponin-Containing  
Subfractions of Soybean Molasses Induce  
Enteritis in the Distal Intestine of Atlantic  
Salmon. J. Agric. Food Chem. 55, 2261-2267.  
Krogdahl, A., Gajardo, K., Kortner, T.M., Penn, M.,  
Gu, M., Berge, G.M., Bakke, A.M., 2015. Soya  
Saponins Induce Enteritis in Atlantic Salmon  
(Salmo salar L.). Journal of agricultural and  
food chemistry. 63, 3887-3902.  
Francis, G., Makkar, H.P.S., Becker, K., 2001.  
Antinutritional factors present in plant-derived  
alternate fish feed ingredients and their effects in  
fish. Aquaculture. 199, 197-227.  
Gomes, E.F., Rema, P., Kaushik, S.J., 1995  
Replacement of fish meal by plant proteins  
in the diet of rainbow trout (Oncorhynchus  
mykiss) : digestibility and growth performance.  
Aquaculture 130 177-186.  
Lim, C., Dominy, W., 1990. Evaluation of soybean  
meal as a replacement for marine animal  
protein in diets for shrimp (Penaeus vannamei).  
Aquaculture. 87, 53-56.  
Lim, S.-J., Kim, S.-S., Pham, M.A., Song, J.-W.,  
Cha, J.-H., Kim, J.-D., Kim, J.-U., Lee, K.-  
J., 2010. Effects of Fermented Cottonseed and  
Soybean Meal with Phytase Supplementation on  
Gossypol Degradation, Phosphorus Availability,  
and Growth Performance of Olive Flounder  
(Paralichthys olivaceus). Fish Aqua Sci. 13,  
284-293.  
Hardy, R.W., 2003. Use of Soybean Meals in Diets  
of Salmon and Trout. Technical factsheet written  
in conjunction with United Soybean Board and  
soymeal. org/FactSheets/SalmonidTechReview.  
pdf (accessed February 28, 2013).  
Hertrampf, J.W., Piedad-Pascual, F., 2000.  
Handbook on ingredients for aquaculture feeds,  
Kluwer Academic Publishers,.  
Matsunari, H., Iwashita, Y., Suzuki, N., Saito,  
T., Akimoto, A., Okamatsu, K., Sugita, T.,  
Yamamoto, T., 2010. Influence of fermented  
soybean meal-based diet on the biliary bile status  
and intestinal and liver morphology of rainbow  
trout Oncorhynchus mykiss. Aquaculture Sci. 58,  
243-252.  
Hirabayashi, M., Matsui, T., Yano, H., 1998.  
Fermentation of Soybean Meal with Aspergilus  
usamii Improves Zinc Availability in Rats.  
Biological Trace Element Research. 61, 227-  
233.  
Ingh, T.S.G.A.M.v.d., Krogdahl, Å., Olli, J.J.,  
Hendriks, H.G.C.J.M., Koninkx, J.G.J.F.,  
1991. Effects of soybean-containing diets on  
the proximal and distal intestine in Atlantic  
salmon (Salmo salar): a morphological study.  
Aquaculture. 94, 297-305.  
Murashita, K., Akimoto, A., Iwashita, Y., Amano,  
S., Suzuki, N., Matsunari, H., Furuita, H.,  
Sugita, T., Yamamoto, T., 2013. Effects of  
biotechnologically processed soybean meals  
in a nonfishmeal diet on growth performance,  
bile acid status, and morphological condition  
of the distal intestine and liver of rainbow trout  
Oncorhynchus mykiss. Fisheries Science. 79,  
447-457.  
Kiers, J.L., laeken, A.E.A.V., Rombouts, F.M., Nout,  
M.J.R., 2000. In vitro digestibility of Bacillus  
fermented soya bean. International Journal of  
Food Microbiology. 60, 163-169.  
Nguyen, H.P., Khaoian, P., Furutani, T., Nagano,  
55  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
J., Fukada, H., Masumoto, T., 2011. Effects of  
Shiu, Y.-L., Hsieh, S.-L., Guei, W.-C., Tsai, Y.-  
T., Chiu, C.-H., Liu, C.-H., 2015a. Using  
Bacillus subtilis E20-fermented soybean meal  
as replacement for fish meal in the diet of  
orange-spotted grouper (Epinephelus coioides,  
Hamilton). Aquaculture Research. 46, 1403-  
1416.  
alcohol extract from soybean meal on pancreatic  
digestive enzyme and bile acid secretion in  
yellowtail Seriola quinqueradiata Aquaculture  
Science. 59, 465-472.  
Nguyen Thanh Trung, Matsumoto, Y., Masumoto,  
T., 2016a. Effect of soybean meal diet on  
color and morphology of distal intestine of  
juvenile yellowtail (Seriola quinqueradiata).  
International Fisheries Symposium - Can Tho  
University publishing house.  
Shiu, Y.-L., Wong, S.-L., Guei, W.-C., Shin, Y.-C.,  
Liu, C.-H., 2015b. Increase in the plant protein  
ratio in the diet of white shrimp, Litopenaeus  
vannamei (Boone), using Bacillus subtilis E20-  
fermented soybean meal as a replacement.  
Aquaculture Research. 46, 382-394.  
Nguyen Thanh Trung, Nguyen, N.V., Matsumoto,  
Y., Masumoto, T., 2016b. Effect of selected anti-  
nutrient componentsof soybean meal on intestine  
color and morphology of yellowtail (Seriola  
quinqueradiata). The 8th Regional Aquafeed  
Forum- Feed and Feeding Management for  
Better Aquaculture - Nong Lam University,  
Vietnam 8, p.28.  
Teng, D., Gao, M., Yang, Y., Liu, B., Tian, Z., Wang,  
J., 2012. Bio-modification of soybean meal with  
Bacillus subtilis or Aspergillus oryzae. Biocatalysis  
and Agricultural Biotechnology. 1, 32-38.  
Watanabe, T., Viyakarn, V., Kimura, H., Ogawa,  
K., Okamoto, N., Iso, N., 1992. Utilization of  
Soybean Meal as a Protein Source in a Newly  
Developed Soft-dry Pellet forYellowtail. Nippon  
Suisan Gakkaishi. 58, 1761-1773.  
Nguyen, T.N., Davis, D.A., Saoud, P., 2009.  
Evaluation of Alternative Protein Sources to  
Replace Fish Meal in Practical Diets for Juvenile  
Tilapia, Oreochromis spp. Journal of The World  
Aquaculture Society. 40, 113-121.  
Yamamoto, T., Iwashita,Y., Matsunari, H., Sugita, T.,  
Furuita, H., Akimoto, A., Okamatsu, K., Suzuki,  
N., 2010. Influence of fermentation conditions  
for soybean meal in a non-fish meal diet on the  
growth performance and physiological condition  
of rainbow trout Oncorhynchus mykiss.  
Aquaculture. 309, 173-180.  
Nguyen Van Nguyen, Hoang, L., Van Khanh, T.,  
Duy Hai, P., Hung, L.T., 2018. Utilization of  
fermented soybean meal for fishmeal substitution  
in diets of Pacific white shrimp (Litopenaeus  
vannamei). Aquaculture Nutrition. 24, 1092-  
1100.  
Yamamoto, T., Matsunari, H., Sugita, T., Furuita, H.,  
Masumoto, T., Iwashita, Y., Amano, S., Suzuki,  
N., 2012a. Optimization of the supplemental  
essential amino acids to a fish meal-free diet  
based on fermented soybean meal for rainbow  
trout Oncorhynchus mykiss. Fisheries Science.  
78, 359-366.  
Olli, J.J., Krogdahl, Å., 1995. Alcohol soluble  
components of soybeans seem to reduce fat  
digestibility in fish-meal-based diets for Atlantic  
salmon, Salmo salar L. Aquaculture Research.  
26, 831-835.  
Rombenso, A., Crouse, C., Trushenski, J., 2013.  
Comparison of Traditional and Fermented  
Soybean Meals as Alternatives to Fish Meal in  
Hybrid Striped Bass Feeds. North American  
Journal of Aquaculture. 75, 197-204.  
Yamamoto, T., Murashita, K., Matsunari, H., Sugita,  
T., Furuita, H., Iwashita, Y., Amano, S., Suzuki,  
N., 2012b. Influence of dietary soy protein  
and peptide products on bile acid status and  
distal intestinal morphology of rainbow trout  
Oncorhynchus mykiss. Fisheries Science. 78,  
1273-1283.  
Shimeno, S., Mima, T., Yamamoto, O., Ando, Y.,  
1993. Effects of Fermented Defatted Soybean  
Meal in Diet on the Growth, Feed Conversion,  
and Body Composition of Juvenile Yellowtail.  
Nippon Suisan Gakkaishi 59 1883-1888.  
Zhang, J., Liu, Y., Tian, L., Yang, H., Liang,  
G., Xu, D., 2012. Effects of dietary mannan  
56  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
oligosaccharide on growth performance, gut  
Zheng, X., Duan, Y., Dong, H., Zhang, J., 2017.  
Effects of Dietary Lactobacillus plantarum on  
Growth Performance, Digestive Enzymes and  
Gut Morphology of Litopenaeus vannamei.  
Probiotics Antimicrob Proteins.  
morphology and stress tolerance of juvenile  
Pacific white shrimp, Litopenaeus vannamei.  
Fish & shellfish immunology. 33, 1027-1032.  
57  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
OPTIMIZING FERMENTATION CONDITIONS FOR SOYBEAN MEAL  
AND THE CHANGES IN INTESTINE MORPHOLOGY AS SOYBEAN  
MEAL IS SUBSTITUTED FOR FISH MEAL IN WHITE LEG SHRIMP  
(Litopenaeus vannamei) DIET  
Nguyen Thanh Trung1*, Nguyen Van Nguyen1, Tran Van Khanh1, Le Hoang1,  
Dinh Thi Men1, Nguyen Thi Thu Hien1, Tran Thi Hong Ngoc1, Le Thi Ngoc Bich1,  
Vo Thi Cam Tien1, Nguyen Thi Ngoc Tinh2  
ABSTRACT  
This experiment was conducted to optimize the solid-state fermentation conditions of soybean meal  
(SBM) and alcohol extracted anti-nutrient soybean meal (SBMex) by Bacillus subtilis B3, which  
was isolated from white leg shrimp digestive tract. The optimum fermentation parameters found  
for SBM and SBMex ingredients were as follows: 37oC, pH 6,5, moisture 50%, material layer  
4cm. Under these conditions, bacterial density reached higher 109 cell per gram after 48 hours  
of fermentation. Bacillus subtilis B3 may have high proteolytic activity in hydrolyzing antigenic  
protein in soybean, such as conglycinin and glycinin. The morphological observation of intestines  
at fish meal (FM) replacement rates of 40% FSBM and 60% FSBMex in shrimp diet showed  
similar enterocytes height and enterocytes density under light micrographs conditions. The effect  
on intestine morphology may be due to the fermented products contain probiotic bacteria which  
were able to hydrolyze antigenic proteins in soybean meal.  
Keywords: white leg shrimp, soybean meal, anti-nutrition factors, solid-state fermentation, Bacillus subtilis,  
antigenic protein in soybean, intestine morphology.  
Người phản biện: TS. La Xuân Thảo  
Ngày nhận bài: 15/6/2018  
Ngày thông qua phản biện: 30/6/2018  
Ngày duyệt đăng: 10/7/2018  
1 Research Center for Aqua-Feed Nutrition and Fishery Post-Harvest Technology, Research Institute for Aquaculture No.2  
2 Research Institute for Aquaculture No.2  
* Email:ng.ttrung@yahoo.com  
58  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 11 - THÁNG 7/2018  
pdf 16 trang yennguyen 17420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tối ưu hoá điều kiện lên men khô đậu nành và đánh giá hình thái học mô ruột khi sử dụng khô đậu nành để thay thế bột cá ở thức ăn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftoi_uu_hoa_dieu_kien_len_men_kho_dau_nanh_va_danh_gia_hinh_t.pdf