Ảnh hưởng của chất dẫn dụ và kết dính trong thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) trong giai đoạn con giống
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT DẪN DỤ VÀ KẾT DÍNH
TRONG THỨC ĂN ĐẾN TỈ LỆ SỐNG VÀ SINH TRƯỞNG
CỦA TÔM HÙM BÔNG (Panulirus ornatus)
TRONG GIAI ĐOẠN CON GIỐNG
Mai Duy Minh1, Vũ Thị Bích Duyên1, Trần Thị Bích Thủy1
TÓM TẮT
Bài báo này trình bày kết quả tỉ lệ sống (SR), tăng trưởng (DGR) và FCR nuôi tôm hùm bông Panulirus
ornatus từ puerulus lên kích cỡ 20 g/con bằng thức ăn được bổ sung các chất dẫn dụ và kết dính. Đối với
chất dẫn dụ, có bốn nghiệm thức gồm đối chứng (ĐC1); ĐC1 + 0,8% betaine (ĐB); ĐB + 0,8% glycine (ĐBG)
và ĐBG + 0,8% cao mực đen (ĐBGC). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần. Sau 174 ngày, chất dẫn dụ đã ảnh
hưởng đến SR nhưng không ảnh hưởng đến DGR hoặc FCR. SR của tôm ở ĐB là cao nhất tiếp đến là ở
ĐBG, ĐC và ĐBGC trong đó sai khác giữa ĐB và ĐBGC là có ý nghĩa (p < 0,05). Kết quả cho thấy cao mực
đen đã làm giảm SR. Đối với chất kết dính, có bốn nghiệm thức gồm đối chứng (ĐC2); ĐC2 + 1,46%
tảo (ĐT); ĐT + 1,46% nustic (ĐTN) và ĐTN + 1,46% gelatin (ĐTNG). Mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần.
Sau 172 ngày, chất bổ sung đã ảnh hưởng đến DGR và FCR nhưng không ảnh hưởng đến SR. DGR ở ĐT là
cao nhất, tiếp đến là ở ĐTN, ĐTNG và ĐC2 trong đó sai khác giữa ĐC2 và ĐT là có ý nghĩa (p < 0,05). FCR
ở ĐT là thấp nhất, tiếp đến là ĐC2 và ĐTNG và cao nhất là ở ĐTN trong đó sai khác giữa ĐTN và các
nghiệm thức còn lại là có ý nghĩa (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy bột tảo biển đã cải thiện DGR của
tôm, nustic làm tăng FCR trong khi đó gelatin làm giảm FCR. Kiến nghị sử dụng tảo biển, gelatin và betaine
làm thức ăn công nghiệp dạng viên nuôi tôm hùm bông giai đoạn puerulus.
Từ khóa: Dẫn dụ, kết dính, tôm hùm bông, tăng trưởng, tỷ lệ sống.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ3
dụng cho tôm hùm bông. Về chất kết dính, gluten
cho hiệu quả tốt hơn so với nutribind trong thức ăn
Tôm hùm bông Panulirus ornatus là đối tượng
viên nuôi tôm hùm bông (Lại Văn Hùng và ctv.,
nuôi trọng điểm ở Việt Nam bằng hình thức nuôi
2014). Các thành phần khác đang được dùng làm
lồng biển (Mai Duy Minh và ctv., 2016) và có xu
chất kết dính trong thức ăn thủy sản là agar, sodium
hướng phát triển nuôi trong bể tái sử dụng nước
alginate, gelatin, bột tảo (kelp meal), tinh bột
(RAS) do chúng có tiềm năng nuôi thâm canh
(Arguello-guevara & Molina‐Poveda, 2012) nhưng
(Philipp & Masuda, 2011). Hiệu quả nuôi trong RAS
chưa được kiểm chứng trong tôm hùm bông. Chất
phụ thuộc vào khả năng phát triển công thức thức ăn
dẫn dụ là thành phần giúp đối tượng nuôi nhận biết
phù hợp và quy trình sản xuất, bảo quản viên thức
nhanh thức ăn và ảnh hưởng tới mức độ tiêu thụ thức
ăn. Thức ăn nuôi tôm hùm bông đã được nghiên cứu
ăn của chúng trong khi đó chất kết dính là thành
và ứng dụng trong lồng biển (Lại Văn Hùng & Phạm
phần chi phối đặc điểm lý học (Rosas et al., 2008) và
Đức Hùng, 2010) và trong bể (Smith et al., 2005;
chất lượng sinh học của viên thức ăn (Pearce et al.,
Nguyễn Cơ Thạch và ctv., 2014; Mai Duy Minh và
2002). Theo William et al. (2007) thức ăn viên cho
ctv., 2019). Công thức thức ăn cho một đối tượng
vào bể thường được tôm hùm ăn trong 1-2 giờ rồi
nuôi gồm các thành phần dinh dưỡng, chức năng,
dừng lại thay vì ăn trong 10-12 giờ như đối với thức
chất dẫn dụ, chất kết dính và các phụ gia khác. Các
ăn vẹm tươi, do mức độ hấp dẫn và tính ổn định của
thành phần có tính dẫn dụ đã được nghiên cứu trên
viên thức ăn chưa cao. Vì vậy cần nghiên cứu, xác
tôm hùm Jasus edwardsii là glycine (Sheppard et al.,
định các chất dẫn dụ và kết dính phù hợp để phát
2002), glycine, taurine (Tolomei et al., 2003), betaine
triển thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm bông.
và glycine (Johnston, 2006) nhưng chưa được sử
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của
các chất dẫn dụ, chất kết dính trong thức ăn công
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III
Email: [email protected]
88
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
nghiệp dạng viên lên sinh trưởng, tỷ lệ sống của tôm
2.2. Tôm giống thí nghiệm
hùm bông giai đoạn puerulus đến 20 g/con.
Sử dụng tôm hùm bông giai đoạn puerulus có
sắc tố (P2), được khai thác từ vùng biển ven bờ Nha
Trang, Khánh Hòa. Tôm có khối lượng 0,29-0,32
g/con, được thuần dưỡng làm quen với thức ăn viên
trong tuần đầu. Các cá thể tôm trải qua lột xác, có
đầy đủ phần phụ, không biểu hiện bệnh sữa, đỏ thân,
đen bụng qua quan sát bằng mắt thường được sử
dụng làm thí nghiệm.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Hệ thống nuôi thí nghiệm
2.3. Thức ăn công nghiệp dạng viên
Thức ăn công nghiệp (hỗn hợp) dạng viên gồm 8
công thức khác nhau được xây dựng trên công thức
đã sử dụng cho tôm hùm bông giống (Mai Duy Minh
& Vũ Thị Bích Duyên, 2019) bổ sung thêm dầu hạt
lanh để cung cấp nguồn HUFA (Lê Anh Tuấn & Mai
Duy Minh, 2019) và các thành phần dẫn dụ (Bảng 1)
và kết dính (Bảng 2). Thức ăn được sản xuất theo
quy trình thủ công. Trong quá trình chế biến thức
ăn, nguyên liệu cá tươi (nếu có) được hấp chín,
nghiền tạo dịch lỏng trước khi phối trộn. Các nguyên
liệu khô được nghiền mịn trong máy nghiền búa và
được rây qua rây inox cỡ 0,5 mm trước khi phối trộn
theo tỉ lệ bằng thiết bị trộn Mixer 20QT theo thứ tự
các nguyên liệu khô, đến các thành phần vi dưỡng
chất, rồi mới đến dịch lỏng và nước. Sau khi trộn
đều, hỗn hợp được đùn qua bộ phận tạo sợi có lỗ đùn
Ø 4 mm. Sợi thức ăn sau đó được cho vào nồi hơi
nóng, hấp chín trong 10 phút sau đó chuyển sang
máy đùn tạo sợi cỡ Ø 1-1,5 mm. Sợi thức ăn được sấy
trong tủ sấy ở 55-60oC trong 80-90 phút. Sau khi sấy,
các sợi thức ăn được để nguội, xử lý để tạo viên có độ
dài 2-3 mm. Các viên thức ăn sau đó được rây để loại
bỏ phần vụn nát và được bảo quản trong bao ni lông,
sẵn sàng cho tôm ăn. Viên thức ăn được phân tích
xác định hàm lượng protein và lipid tại phòng thí
nghiệm thuộc Trường Đại học Nha Trang.
Hình 1. Sơ đồ RAS thí nghiệm ương tôm hùm bông
Thí nghiệm nuôi tôm hùm bông trong hệ thống
bể tuần hoàn nước (RAS) tại Trung tâm Quốc gia
giống hải sản miền Trung, thuộc Viện Nghiên cứu
Nuôi trồng thủy sản III trong thời gian từ tháng 1 đến
tháng 6 năm 2019. RAS gồm có bể nuôi tôm, bể lắng
chất thải hình tròn đường kính 8 m, bể lọc sinh học 3
ngăn kế tiếp có thể tích lọc 12 m3, bể chứa nước sau
xử lý thể tích 25 m3, thiết bị ổn nhiệt độ nước, máy
bơm, đèn cực tím, máy thổi khí. Trong các bể nuôi có
đặt khung lưới theo chiều thẳng đứng của cột nước
để tôm trú ẩn và sục khí cung cấp ô xy. RAS tương tự
như hệ thống đã được mô tả trong Mai Duy Minh &
Phạm Thị Hạnh (2018) và được minh họa như sơ đồ
hình 1. Nước biển tự nhiên vào những ngày nắng ấm,
được bơm vào bể chứa, xử lý bằng chlorine 20 ppm,
sục khí trong 3 đến 4 ngày. Trung hòa chlorine tồn
dư bằng natri thiosunfat vừa đủ, lọc qua bể lọc tinh,
trước khi cấp vào hệ thống nuôi. Trong RAS, nước từ
bể nuôi tôm chảy vào bể lắng, qua bể lọc sinh học,
sau đó sang bể chứa trước khi được bơm xuyên qua
đèn UV trở về các bể nuôi tôm.
2.4. Thí nghiệm các chất dẫn dụ
Bảng 1. Công thức thức ăn thí nghiệm chất dẫn dụ
ĐB
(ĐC1 + betaine)
76,80
ĐBG
(ĐB + glycine)
76,80
ĐBGC
(ĐBG + cao mực)
76,80
Thành phần
ĐC1 (Đối chứng)
Bột cá (65 CP)
Cá tươi
68,15
11,85
4,44
8,89
1,48
1,48
0,74
Gluten
4,80
10,40
1,60
1,60
0,80
4,80
9,60
1,60
1,60
0,80
4,80
8,80
1,60
1,60
0,80
Bột mì
Dầu cá
Dầu đậu nành
Megabic®
89
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Bio-mos®
0,74
1,48
0,80
1,60
0,80
0,80
1,60
0,80
0,80
0,80
1,60
Growmix®shrimp
Betaine
0,80
Glycine
0,80
Cao mực đen
Dầu hạt lanh
Tổng cộng
Protein (%)
Lipid (%)
0,80
0,74
100,00
54,22
10,66
0,80
100,00
54,86
10,46
0,80
100,00
54,38
10,82
0,80
100,00
54,62
10,22
Thí nghiệm có 4 nghiệm thức gồm ĐC1, ĐB,
Thí nghiệm có 4 nghiệm thức gồm ĐC2, ĐT,
ĐBG và ĐBGC tương ứng với 4 loại thức ăn có thành ĐTN và ĐTNG tương ứng với 4 loại thức ăn có thành
phần nguyên liệu tương tự như nhau (Bảng 1) nhưng phần nguyên liệu tương tự như nhau (Bảng 2) nhưng
khác nhau về chất dẫn dụ bổ sung là betaine, glycine khác nhau về thành phần bổ sung làm chất kết dính
và cao mực đen. Ở mỗi nghiệm thức, nuôi tôm trong là bột tảo khô, nustic và gelatin. Cho mỗi nghiệm
bể có kích thước dài x rộng x cao: 1,6 m x 0,8 m x 0,8 thức, nuôi tôm trong bể có kích thước dài x rộng x
m với mật độ nuôi là 30 con/bể. Tổng số tôm dùng cao: 0,8 m x 0,6 m x 0,5 m ở mật độ 30 con/bể. Tổng
cho thí nghiệm là 4 nghiệm thức x 4 lần lặp lại x 30 số tôm dùng cho thí nghiệm là 4 nghiệm thức x 4 lần
con/bể = 480 con. Thời gian nuôi thí nghiệm là 174 lặp lại x 30 con/bể = 480 con. Thời gian nuôi thí
ngày.
nghiệm là 172 ngày.
2.5. Thí nghiệm chất kết dính
Bảng 2. Công thức thức ăn thí nghiệm chất kết dính
Đối chứng
ĐCTN
(ĐTN + gelatin)
67,15
Thành phần
ĐT (ĐC2 + tảo)
ĐTN (ĐT+ nustic)
(ĐC2)
67,15
11,68
4,38
Bột cá (65 CP)
Cá tươi
67,15
11,68
4,38
8,03
1,46
1,46
67,15
11,68
4,38
6,57
1,46
1,46
11,68
Gluten
4,38
Bột mì
9,49
5,11
Dầu cá
1,46
1,46
Dầu đậu nành
1,46
1,46
Megabic®
0,73
0,73
1,46
0,73
0,73
0,73
1,46
0,73
0,73
1,46
0,73
0,73
0,73
1,46
0,73
Bio-mos®
Growmix®shrimp
Cao mực đen
0,73
1,46
Tảo biển
1,46
1,46
1,46
1,46
Nustic
Gelatin
1,46
Dầu hạt lanh
Tổng cộng
Protein (%)
Lipid (%)
0,73
100,00
53,98
9,82
0,73
100,00
54,21
9,76
0,73
100,00
54,42
10,02
0,73
100,00
53,74
10,24
2.6. Chăm sóc quản lý
bể nuôi để điều chỉnh độ mặn; bổ sung các thành
Trong RAS, duy trì nhiệt độ nước 28-30oC nhờ phần: men BZT® có bản chất là Bacillus vào bể nuôi;
thiết bị ổn nhiệt. Các chỉ số môi trường trong bể lắng 100 ml chế phẩm vi sinh dòng Nitrobacter và
được duy trì như sau: pH = 7,6 - 8,0; DO = 4,8 - 5,6 Nitrosomonas vào bể lọc sinh học để duy trì TAN,
mg/l; TAN = 0,1 - 0,3 mg/l; NO2 -N = 0,04 - 0,06 mg/l; NO2; khoáng chất soda-mix và kiềm vào bể lắng để
độ mặn = 33-37‰; NO3 -N = 0,6 - 3,3 mg/l; độ kiềm duy trì độ kiềm. Hàng ngày theo dõi tình trạng sức
118 - 142 mg/l. Định kỳ 3 ngày dọn vệ sinh đáy bể khỏe của tôm, loại bỏ vỏ tôm lột, tôm yếu, bị bệnh và
nuôi; sau 7 - 10 ngày thay 50 - 70% nước mới cho các xác tôm chết. Định kỳ một tháng kiểm tra sức khỏe
90
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
của tôm, kết hợp phòng bệnh cho tôm như tắm oxy nuôi; d là thời gian thí nghiệm (ngày); n là số lượng
già 40 ppm trong 10 phút để phòng các bệnh do vi tôm hùm còn lại trong bể thí nghiệm; FI là tổng
khuẩn, kí sinh trùng. Duy trì tỉ lệ tuần hoàn nước lượng thức ăn cho tôm hùm ăn trong suốt đợt thí
hàng ngày ở mức 300 - 400% cho mỗi bể.
nghiệm. So sánh sự sai khác về DGR, SR và FCR
giữa các nghiệm thức bằng ANOVA 1 yếu tố trong
phần mềm Excel có mức ý nghĩa p < 0,05. Tỉ lệ sống
gồm bốn nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 4 giá trị.
Tôm hùm bông thí nghiệm được cho ăn 4
bữa/ngày vào 06h00, 11h00, 17h00 và 22h00 trong 3
tháng đầu và giảm còn 3 bữa/ngày vào 6h00, 14h00
và 20h00 trong các tháng sau. Trong mỗi bữa ăn cho
tôm ăn 2 lần, mỗi lần 50% tổng thức ăn của bữa ăn và
mỗi lần cho ăn cách nhau 30 phút. Lượng thức ăn
trong mỗi bữa tùy thuộc vào sức ăn của tôm và tổng
lượng thức ăn trong ngày được điều chỉnh sau mỗi
tuần.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của chất dẫn dụ lên sinh trưởng
của tôm hùm
Kết quả thu được về tỉ lệ sống và tăng trưởng
của tôm, FCR được trình bày trong bảng 3. Chất dẫn
dụ đã ảnh hưởng đến tỉ lệ sống nhưng không ảnh
hưởng đến tăng trưởng DGR hoặc FCR của tôm
hùm bông. Tỉ lệ sống của tôm ở nghiệm thức ĐB là
cao nhất (79,17 ± 3,19%) tiếp đến là ở ĐBG, ĐC và
thấp nhất là ở nghiệm thức có bổ sung cao mực
ĐBGC (73,33 ± 2,72%). Phân tích thống kê cho thấy
sai số giữa tỉ lệ sống ở ĐB và ĐBGC là có ý nghĩa (p
< 0,05). Các sai khác giữa các nghiệm thức khác
trong thí nghiệm này là không có ý nghĩa (p > 0,05).
Tốc độ tăng trưởng DGR của tôm hùm ở nghiệm
thức ĐB là cao nhất và giảm dần theo thứ tự ĐC1,
ĐBG và ĐBGC. Tuy vậy các sai khác là không có ý
nghĩa (p > 0,05). FCR trong các nghiệm thức dao
động trong khoảng 2,59 - 2,78 và sai khác là không
có ý nghĩa (p > 0,05).
2.7. Thu thập và phân tích số liệu
Khi kết thúc thí nghiệm xác định số lượng tôm,
tổng khối lượng tôm và tổng khối lượng thức ăn tôm
đã sử dụng trong mỗi bể nuôi. Các chỉ tiêu đánh giá
và tính toán như sau:
Tốc độ tăng trưởng: DGR (%/ngày)
Ln(We/Ws)x100/d;
=
Hệ số chuyển đổi thức ăn: FCR = FI/(We – Ws +
Wd);
Tỉ lệ sống của tôm: SR (%) = n/30*100.
Trong đó: Ws và We lần lượt là khối lượng trung
bình của tôm (g) khi bắt đầu và kết thúc thí nghiệm;
Wd là tổng khối lượng tôm chết bị loại ra khỏi bể
Bảng 3. Tăng trưởng, tỉ lệ sống và FCR nuôi tôm hùm bông bằng thức ăn có chất dẫn dụ khác nhau
ĐC1
ĐB
ĐBG
ĐBGC
Thông số
(Đối chứng)
0,29 ± 0,01
19,80 ± 0,85
2,44 ± 0,03
75,00 ± 4,30ab
2,70 ± 0,22
(ĐC1 + betaine)
0,29 ± 0,01
(ĐB + glycine) (ĐBG + cao mực)
Ws (g/con)
0,28 ± 0,01
19,42 ± 1,12
2,44 ± 0,03
78,33 ± 4,30ab
2,78 ± 0,29
0,29 ± 0,01
18,33 ± 1,48
2,39 ± 0,05
73,33 ± 2,72b
2,59 ± 0,23
Wg (g/con)
DGR (%/ngày)
SR (%)
19,85 ± 1,35
2,44 ± 0,04
79,17 ± 3,19a
2,69 ± 0,22
FCR
Chữ mũ khác nhau (a, b) chỉ sai số có ý nghĩa (p < 0,05)
Xem xét vai trò của betaine, mặc dù sai khác về DGR và FCR giữa nghiệm thức không có và có
SR và DGR giữa các nghiệm thức là không có ý nghĩa glycine (ĐB và ĐBG) tương tự như nhau cho thấy
nhưng nghiệm thức được bổ sung 0,8% betaine đã có không có ảnh hưởng của glycine khi bổ sung chúng
SR và DGR cao hơn so với đối chứng. Trong một vào thức ăn mặc dù trong nghiên cứu trước đây,
nghiên cứu trước đây, bổ sung betaine và glycine glycine ở mức 1,5% đã gia tăng tính hấp dẫn của thức
hàm lượng 1,5% đã hấp dẫn ấu trùng tôm hùm hơn so ăn với ấu trùng tôm hùm (Johnston, 2006). Điều này
với taurine (Johnston, 2006) và betaine cũng cho kết cho thấy vai trò chất dẫn dụ phụ thuộc vào từng loài
quả tốt khi bổ sung vào thức ăn tôm sú ở hàm lượng tôm hùm nghiên cứu. Cao mực đang được dùng rộng
0,5% (Penaflorida & Virtenen, 1996). Các dẫn liệu cho rãi để gia tăng tính hấp dẫn của thức ăn thủy sản.
thấy bổ sung betaine vào thức ăn có khả năng cải Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tỉ lệ sống của tôm ở
tiến sinh trưởng của tôm hùm bông. Các chỉ tiêu SR, nghiệm thức không có cao mực (ĐBG) cao hơn có ý
91
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
nghĩa, DGR cao hơn không có ý nghĩa so với ở sung bột tảo ĐT là cao nhất, tiếp đến là các nghiệm
nghiệm thức có bổ sung 0,8% cao mực (ĐBGC). Kết thức bổ sung tảo và nustic (ĐTN) và bổ sung tảo,
quả nghiên cứu cho thấy bổ sung cao mực ở hàm nustic và gelatin (ĐTNG) và thấp nhất là nghiệm
lượng 0,8% đã hạn chế sinh trưởng của tôm hùm thức không có thành phần bổ sung (ĐC2). Sai khác
bông. Từ kết quả thu được trong thí nghiệm này đề về hai chỉ tiêu này giữa nghiệm thức đối chứng ĐC2
nghị sử dụng betaine nhưng không sử dụng cao mực và bổ sung tảo ĐT là có ý nghĩa (p < 0,05) còn các sai
bổ sung vào thức ăn của tôm hùm bông.
khác giữa các nghiệm thức còn lại là không có ý
nghĩa (p > 0,05). Tỉ lệ sống SR (%) của tôm trong bốn
nghiệm thức dao động trong khoảng 70,83 - 74,17%
và sai khác là không có ý nghĩa (p > 0,05). FCR ở
nghiệm thức ĐT là thấp nhất (2,55), tiếp đến là các
nghiệm thức ĐC2 và ĐTNG và cao nhất là ở nghiệm
thức ĐTN (2,79). Sai khác về FCR giữa nghiệm thức
ĐTN và các nghiệm thức còn lại là có ý nghĩa (p <
0,05) còn các sai khác giữa các nghiệm thức còn lại là
không có ý nghĩa (p > 0,05).
3.2. Ảnh hưởng của chất kết dính lên sinh
trưởng của tôm hùm
Kết quả nuôi tôm hùm bông giai đoạn puerulus
bằng 4 loại thức ăn có bổ sung các thành phần kết
dính khác nhau được trình bày trong bảng 4. Các
thành phần bổ sung đã ảnh hưởng đến tăng trưởng
về khối lượng của tôm và FCR nhưng không ảnh
hưởng đến tỉ lệ sống của chúng. Chỉ số tăng trọng
Wg (g/con) và DGR (%/ngày) ở nghiệm thức bổ
Bảng 4. Tăng trưởng của tôm hùm bông Puerulus nuôi bằng 4 loại thức ăn có thành phần kết dính bổ sung
khác nhau
ĐTN
ĐTNG
(ĐTN + gelatin)
0,29 ± 0,01
22,42 ± 1,64ab
2,54 ± 0,05ab
70,83 ± 7,39
2,58 ± 0,07a
Thông số
ĐC2 (đối chứng)
ĐT (ĐC2 + tảo)
(ĐT + nustic)
Ws (g)
Wg (g/con)
DGR (%/ngày)
SR (%)
0,29 ± 0,01
19,48 ± 2,02a
2,45 ± 0,07a
74,17 ± 5,69
2,56 ± 0,14a
0,29 ± 0,01
23,15 ± 2,01b
2,55 ± 0,05b
73,33 ± 6,09
2,55 ± 0,11a
0,29 ±0,01
22,19 ± 1,72ab
2,53 ± 0,05ab
74,17 ± 3,19
2,79 ± 0,16b
FCR (g:g)
Chữ mũ (a, b) khác nhau trong một hàng chỉ sai khác có ý nghĩa (p < 0,05).
Kết quả so sánh giữa nghiệm thức đối chứng và như alginate, agar hoặc bột tảo là các nguyên liệu có
có bổ sung tảo cho thấy không có sai khác về tỉ lệ khả năng kết dính và được dùng nhiều trong thức ăn
sống của tôm và FCR nhưng có sự sai khác về tăng thủy sản (Arguello-guevara et al., 2012).
trưởng khối lượng tôm. Điều này cho thấy bột tảo
So sánh kết quả giữa các nghiệm thức lần lượt
biển có vai trò như một thành phần dinh dưỡng giúp
được bổ sung tảo, nustic và gelatin trong bảng 4 cho
cải thiện tăng trưởng của tôm hùm như đã được nhận
thấy việc bổ sung nustic hoặc gelatin đã không đem
định trước đó. Rong biển thường được tìm thấy trong
đến sự khác biệt về tỉ lệ sống hoặc tăng trưởng của
dạ dày tôm hùm (Cox & Johnston, 2003; Goes &
tôm. Tuy vậy ở nghiệm thức bổ sung nustic (ĐTN)
Lins-Oliveira, 2009) ngay cả ở môi trường sinh thái
có FCR ở mức 2,79 là cao nhất và cao hơn so với ở
hiếm rong khẳng định đây là nguồn thức ăn thiết yếu
các nghiệm thức còn lại và sai khác này là có ý nghĩa.
để cung cấp nguồn dinh dưỡng quan trọng (Elner &
Trong khi đó FCR ở nghiệm thức bổ sung thêm
Campell, 1987). Rong biển và vi tảo biển chính là
gelatin (ĐTNG) là 2,58 đã giảm đi so với ở ĐTN và
nguồn thay thế cho protein động vật đắt tiền trong
sai khác là có ý nghĩa. Như vậy nustic đã làm giảm
tạo thức ăn nuôi tôm hùm khi đánh giá so sánh tốc
tính bền, ổn định của viên thức ăn của tôm hùm
độ tăng trưởng (Syslo & Hugh, 1981) và vai trò của
trong khi đó gelatin có xu hướng ngược lại thể hiện
chúng được nhận định là cung cấp nguồn can xi cho
qua khác biệt về FCR. Gelatin đã được nghiên cứu sử
tôm hùm (Joll & Phillip, 1984). Tuy vậy kết quả trong
dụng trong thức ăn bán ẩm của tôm hùm (Castel &
bảng 4 đã không cho thấy vai trò của bột vi tảo biển
Budson, 1974) và hiệu quả kết dính thức ăn tôm càng
như một chất kết dính để giúp tăng tính ổn định viên
xanh của gelatin là tương tự như agar nhưng thấp
thức ăn trong nước qua đó giảm thiểu FCR. Trong
hơn so với carageanan hoặc CMC (Ruscoe et al.,
khi đó các thành phần có nguồn gốc từ rong, tảo biển
92
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
2005). Các dẫn liệu này cho thấy gelatin có tiềm năng tôm hùm bông (P. ornatus) nuôi thương phẩm trong
sử dụng làm chất kết dính trong thức ăn tôm hùm.
bể. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
1(9): 116-123.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6. Mai Duy Minh & Vũ Thị Bích Duyên, 2019.
Ảnh hưởng của thức ăn có hàm lượng protein khác
nhau đến tôm hùm bông (P. ornatus) giai đoạn con
giống. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
17: 62-68.
Khi bổ sung vào thức ăn viên nuôi tôm hùm
bông puerulus ở mức 0,8%, cao mực đã làm giảm tỉ lệ
sống, betaine đã gia tăng tỉ lệ sống nhưng chưa rõ
ràng còn glycine không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của
tôm. Ba thành phần đều không ảnh hưởng đến tăng
trưởng của tôm hoặc FCR.
7. Mai Duy Minh, Nguyễn Đức Cự, Lê Anh
Tuấn, Vũ Thị Bích Duyên, Trần Thị Bích Thủy, Mai
Duy Hảo, Nguyễn Minh Hường, Nguyễn Hoàng
Uyên và Nguyễn Thị Thúy Thủy, 2019. Nghiên cứu
công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm
bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn.
Báo cáo tổng kết. Đề tài cấp Bộ. Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn. 110 trang.
Khi bổ sung vào thức ăn viên nuôi tôm hùm
bông puerulus ở mức 1,46%, bột tảo biển đã cải thiện
tăng trưởng của tôm, nustic làm tăng FCR trong khi
gelatin làm giảm FCR nhưng không ảnh hưởng đến tỉ
lệ sống của tôm.
Kiến nghị sử dụng tảo biển, gelatin và betaine
trong thức ăn công nghiệp dạng viên nuôi tôm hùm
bông giai đoạn puerulus đến 20 g/con.
8. Nguyễn Cơ Thạch và ctv, 2013. Nghiên cứu
xây dựng quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bông
(Panulirus ornatus) trong hệ thống bể đạt năng suất
5 kg/m2. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ. Bộ Nông
nghiệp và PTNT.
LỜI CẢM ƠN
Bài báo này sử dụng các số liệu của đề tài:
“Nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp ương nuôi
tôm hùm (Panulirus ornatus) giai đoạn ấu trùng
puerulus đến con giống 20 g/con”. Tác giả xin gửi lời
cảm ơn tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã cấp kinh
phí và tạo điều kiện để hoàn thiện bài báo này.
9. Argüello‐Guevara W. & C. Molina‐Poveda,
2012. Effect of binder type and concentration on
prepared feed stability, feed ingestion and
digestibility of Litopenaeus vannamei broodstock
diets. Aquaculture nutrition, 19 (4): 515 -522.
10. Castel J. D. & S. D. Budson, 1974. Lobster
nutrition: the effect on Homarus americatus of
dietary protein level. J. fish Re. board Canada, 31:
1363-1370.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lại Văn Hùng & Phạm Đức Hùng, 2010. Ảnh
hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn
công nghiệp đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm
hùm bông (P. ornatus) giai đoạn nuôi thương phẩm.
Tạp chí Khoa học – Công nghệ thủy sản số 3: 3-10.
2. Lại Văn Hùng và ctv, 2014. Hoàn thiện công
nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm
bông (P. ornatus) và tôm hùm xanh (P. homarus).
Mã số dự án: KC.06.DA05/11-15. Báo cáo tổng kết dự
án. Bộ Khoa học và Công nghệ.
11. Cox, S. L. & Johnston, D. J., 2003. Feeding
biology of spiny lobster larvae and implications for
culture. Rev. Fish. Sci., 11, 89–106.
12. Elner R. W. & A. Campbell, 1987. Natural
diets of lobster Homarus americanus from barren
ground and macroalgal habitats off southwestern
Nova Scotia, Canada. INE Ecology - Progress Series.
Mar. Ecol. Prog. Ser. 37: 131-140.
3. Lê Anh Tuấn & Mai Duy Minh, 2019. Nhu
cầu lipid và HUFA của tôm hùm bông giống. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Thủy sản - Đại học Nha
Trang.
13. Goes CA. A & Lins-Oliveira, JE, 2009.
Natural diet of the spiny lobster, P. echinatus Smith,
1869 (Crustacea: Decapoda: Palinuridae), from São
Pedro and São Paulo Archipelago, Brazil Góes,. Braz.
J. Biol., 69(1): 143-148.
4. Mai Duy Minh, Phạm Trường Giang, Lê Văn
Chí, Tống Phước Hoàng Sơn, Nguyễn Việt Nam,
2016. Quy hoạch phát triển nuôi tôm hùm miền
Trung. Báo cáo tư vấn. Tổng cục Thủy sản. 120
trang. Truy cập online.
14. Joll, L. M & Phillips, B. F. (1984). Natural
diet and growth of juvenile western rock lobsters P.
cygnus George. J. exp. mar. Biol. Ecol. 75: 145-169.
15. Johnston, M. D., 2006. Feeding and digestion
in the Phyllosoma larvae of Ornate spiny lobster, P.
ornatus (Fabricius) and the implications for their
5. Mai Duy Minh & Phạm Thị Hạnh, 2018. Ảnh
hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của
93
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
culture. PhD thesis, the University of Western moisture content on pellet stability of research diet
Australia.
16. Pearce, C. M., Daggett, T. L. & Robinson, S.
for freshwater crayfish. Aquaculture Nutrition
11(2):87 – 93.
M. C., 2002. Effect of binder type and concentration
on prepared feed stability and gonad yield and
quality of the green sea urchin, Strongylocentrotus
droebachiensis. Aquaculture, 205(3–4): 301–323.
17. Peñaflorida, V. D. & Virtanen, E., 1996.
Growth, survival and feed conversion of juvenile
shrimp (Penaeus monodon) fed a betaine/amino
acid additive. The Israeli Journal of Aquaculture-
Bamidgeh, 48(1), 3-9.
21. Sheppard, J. K., Bruce, M. P., Jeffs, A. G.,
2002. Optimal feed pellet size for culturing juvenile
spiny lobster Jasus edwardsii (Hutton, 1875) in New
Zealand. Aquac. Res. 33, 913–916.
22. Smith, D. M., Williams, K. C., Irvin, S. J.,
2005. Response of the tropical spiny lobster
Panulirus ornatus to protein content of pelleted feed
and to a diet of mussel flesh. Aquac. Nutr. 11, 209–
217.
18. Phillips, B., Matsuda, H., 2011. A Global
Review of Spiny Lobster Aquaculture. Recent
Advances and New Species in Aquaculture. Vol. 1.
pp. 22–84.
23. Syslo, M,, Hughes, J. T. (1981). Vegetable
matter in lobster (Homarus americanus) diets
(Decapoda, Astacidae). Crustaceana 41: 10-13.
24. Tolomei, A., Crear B. & Johnston, 2003. Diet
immersion time: Effects on growth, survival and
feeding behaviour of juvenile southern rock lobsters
Jasus edwardsii. Aquaculture, 219: 303-316.
19. Rosas, C., Tut, J., Baeza, J., Sanchez, A.,
Sosa, V., Pascual, C., Arena, L., Domingues, P &
Cuzon, G., 2008. Effect of type of binder on growth,
digestibility, and energetic balance of Octopus maya.
Aquaculture, 275(1–4): 291–297.
25. Williams
K.
C.,
2007.
Nutritional
requirements and feeds development for post-larval
spiny lobster: A review. Aquaculture, 263: 1–14.
20. Ruscoe, I. M., Clive Jones, P. L. JONES,
Peter Caley, 2005. The effects of various binders and
EFFECT OF ATTRACTANTS AND BINDERS IN FORMULATED FEED ON SURVIVAL AND GROWTH
OF SPINY LOBSTER PUERULII Panulirus ornatus
Mai Duy Minh1, Vu Thi Bich Duyen1, Tran Thi Bich Thuy1
1Research Institute for Aquaculture No3
Email: minhmaid[email protected]
Summary
This paper represents the results in growth rate (DGR), survival rate (SR) and feed conversion rate (FCR)
of Panulirus ornatus lobster puerulus to juveniles at average size of 20 g fed with formulated feeds
suplemented by different attractants and binders. For attractants, four treatments were a control (DC1);
DC1 + 0.8% betaine (DB); DB + 0.8% glycine (DBG) and DBG + 0.8% black cuttlefish glue (DBGC). Each
treatment had four replicates. After 174 days, the atractants affected SR but did not affect DGR nor FCR. SR
of lobsters was highest in DB followed by in DBG, DC and DBGC and the difference between DB and
DBGC was statistically significant (p < 0.05). The results indicate that black cuttlefish glue decreased SR,
betaine increased SR unclearly. For binders, four treatments were a control (DC2); DC2 + 1.46% microalgae
powder (DT); DT + 1.46% nustic (DTN) and DTN + 1.46% gelatin (DTNG). Each treatment had four
replicates. After 172 days, the suplements affected DGR and FCR but did not affect SR. DGR was highest in
DT folowed by in DTN, DTNG and DC2 and the difference between DC2 and DT was statistically
significant (p < 0.05). FCR was lowest in DT followed by in DC2 and DTNG and DTN and the difference
between DTN and the other treatments was statistically significant (p < 0.05). The results indicate that
microalgae powder improved SR, nustic increased FCR while gelatin decreased FCR. It is suggested to use
microalgae powder, gelatin and betaine in formulated feed for lobster puerulii.
Keywords: Attractants, binder, growth, lobsters, Panulirus.
Người phản biện: TS. Thái Thanh Bình
Ngày nhận bài: 13/4/2020
Ngày thông qua phản biện: 14/5/2020
Ngày duyệt đăng: 21/5/2020
94
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của chất dẫn dụ và kết dính trong thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) trong giai đoạn con giống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
anh_huong_cua_chat_dan_du_va_ket_dinh_trong_thuc_an_den_ti_l.pdf

