Vi sinh vật tổng số và gây bệnh trong quy trình chế biến cá tra: Công đoạn phi lê và chỉnh hình

TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
TOTAL MESOPHILIC COUNTS AND THE PRESENCE  
OF PATHOGENS IN PANGASIUS HYPOPHTHALMUS PRODUCTION  
PROCESS: TRIMMING AND FILLETING  
Tong Thi Anh Ngoc*, Huynh Ngoc Thanh Tam, Nguyen Cong Ha  
Can Tho University  
ARTICLE INFO  
Received: 10/01/2021  
Revised: 10/3/2021  
Published: 06/4/2021  
ABSTRACT  
During the processing of frozen Pangasius hypophthalmus, the  
microbiota depends on source of raw materials and processing  
conditions, which impact significantly on quality of the final product.  
In particular, trimming and filleting are considered as risky steps. This  
study aimed to compare the microbial quality at trimming and filleting  
steps in four frozen Pangasius processing plants (VL, DT, AG and CT)  
located in Mekong Delta regions. Pangasius samples and environment  
samples i.e hands (gloves) and surfaces were assessed with generally  
microbiological parameters i.e total mesophilic counts-TMC and  
pathogenic microorganisms i.e Listeria monocytogenes, Vibrio  
cholerae and Salmonella spp. The results showed that TMC on  
trimming and filleting Pangasius in VL, DT, AG and CT plants were  
7.1 ±0.4 and 6.3 ± 0.8; 7.5 ± 0.7 and 6.9 ± 0.8; 6.7 ± 1.1 and 4.9 ± 0.9;  
and, 6.0 ± 0.4 and 5.5 ± 0.6 log CFU/g, respectively. Listeria  
monocytogenes, Vibrio cholerae and Salmonella spp. were sporadically  
present on the samples i.e fish, hands (gloves), and surfaces. Proper  
storage of semi-Pangasius products, good manufacturing practices,  
effective performances of safety management systems should be  
targetted in processing Pangasius fillets to inhibit cross contamination  
for ensuring quality and safety of the final products.  
KEYWORDS  
Pangasius fish  
Filleting  
Trimming  
Microbiotas  
Quality and safety  
VI SINH VẬT TỔNG SỐ VÀ GÂY BỆNH TRONG QUY TRÌNH CHẾ BIẾN  
CÁ TRA: CÔNG ĐOẠN PHI LÊ VÀ CHỈNH HÌNH  
Tống Thị Ánh Ngọc*, Huỳnh Ngọc Thanh Tâm, Nguyễn Công Hà  
Trường Đại học Cần Thơ  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 10/01/2021  
Ngày hoàn thiện: 10/3/2021  
Ngày đăng: 06/4/2021  
TÓM TẮT  
Trong quá trình chế biến cá Tra (Pangasius hypophthalmus) phi lê  
đông lạnh, hệ vi sinh vật bị ảnh hưởng bởi nguyên liệu và điều kiện  
chế biến, do đó có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Trong đó, phi  
lê và chỉnh hình được xem là hai công đoạn có nguy cơ cao. Nghiên  
cứu này nhằm so sánh chất lượng vi sinh vật tại công đoạn phi lê và  
chỉnh hình ở 04 nhà máy chế biến cá Tra (VL, DT, AG và CT) thuộc  
khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Mẫu cá và môi trường chế biến  
như tay (găng tay) công nhân và bề mặt tiếp xúc được đánh giá chất  
lượng vi sinh vật tổng số (TMC) và định tính sự hiện diện của các vi  
sinh vật gây bệnh như: Listeria monocytogenes, Vibrio cholerae và  
Salmonella spp. Kết quả cho thấy, mật số TMC trên cá chỉnh hình và  
phi lê ở 04 nhà máy VL, DT, AG và CT lần lượt là 7,1 ± 0,4 và 6,3 ±  
0,8; 7,5 ± 0,7 và 6,9 ± 0,8; 6,7 ± 1,1 và 4,9 ± 0,9; 6,0 ± 0,4 và 5,5 ± 0,6  
log CFU/g. Listeria monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella  
spp. hiện diện rải rác trên các mẫu cá, tay (găng tay) và dụng cụ chế  
biến. Vì vậy, nhà máy cần có phương pháp bảo quản cá bán thành  
phẩm tốt, thực hành sản xuất tốt nhất và triển khai hiệu quả hệ thống  
quản lý an toàn thực phẩm nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm chéo để  
đảm bảo chất lượng và an toàn của sản phẩm.  
TỪ KHÓA  
Cá Tra  
Phi lê  
Chỉnh hình  
Hệ vi sinh vật  
Chất lượng và an toàn  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
64  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
1. Giới thiệu  
Cá Tra (Pangasius hypophthalmus) có giá trị thương phẩm cao, được nuôi và phát triển chủ  
yếu ở 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, bao gồm: An Giang, Đồng Tháp, Tiền  
Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, và hai tỉnh  
Tây Ninh và Quảng Nam với tổng diện tích canh tác lên đến 6600 ha và dự kiến sẽ tăng lên tới  
7600 - 7800 ha vào năm 2020. Trong đó, các tỉnh Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp là những  
vùng nuôi cá Tra lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm hơn 75% tổng sản lượng cả nước;  
ngành cá Tra đã có thể tự kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu theo hướng sản xuất bền vững theo  
chuỗi [1]. Cá Tra phi lê đông lạnh là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của ngành  
thủy sản Việt Nam và đã xuất khẩu đến hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới,  
trong đó phải kể đến các thị trường lớn như Mỹ, EU và Trung Quốc [2]-[3]; trong những thập  
niên tới, ngành thủy sản dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng cả về sản lượng và giá trị. Các hệ thống  
quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm (như: HACCP, BRC, ISO 22000…) đã được áp dụng tại  
hầu hết các doanh nghiệp chế biến cá Tra phi lê đông lạnh, tuy nhiên, nguy cơ mất an toàn vệ  
sinh thực phẩm của sản phẩm tương đối cao do việc thực hiện và áp dụng các hệ thống này chưa  
hiệu quả và còn nhiều bất cập [4]-[6]. Bên cạnh đó, trong quy trình chế biến cá Tra thì phi lê và  
chỉnh hình là hai công đoạn có nguy cơ cao gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Nếu tại công  
đoạn phi lê có nguy cơ cao bởi khả năng lớn làm vỡ nội tạng cá do thao tác nhanh, thì công đoạn  
chỉnh hình có thời gian chế biến dài và hoàn toàn thủ công, nhiệt độ nếu không đảm bảo cũng có  
thể là nguyên nhân dẫn đến mất an toàn vệ sinh [4]. Thêm vào đó, các bề mặt tiếp xúc (như tay  
công nhân, các dụng cụ chế biến) cũng như nước rửa có thể là nguồn lây nhiễm vi sinh vật cho cá  
nếu không được kiểm soát tốt [5]-[6]. Mặt khác, từ 2010 đến 2019 đã có 40 lần sản phẩm cá Tra  
Việt Nam dương tính với Listeria monocytogenes hoặc nhiễm Enterobacteriaceae, Escherichia  
coli với lượng cao [7]; điều này làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp bên cạnh thiệt hại về  
kinh tế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng vệ sinh tại hai công đoạn: phi  
lê và chỉnh hình ở 04 nhà máy chế biến cá Tra phi lê đông lạnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long  
(Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang và Cần Thơ). Nội dung nghiên cứu được thực hiện thông qua  
đánh giá chất lượng vi sinh vật tổng số và định tính vi sinh vật gây bệnh (Listeria  
monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella spp.) trên mẫu cá và môi trường chế biến; từ đó  
nghiên cứu cung cấp thêm các thông tin hữu ích, cũng như khuyến cáo và đề xuất phù hợp để góp  
phần kiểm soát và cải thiện chất lượng trong quá trình sản xuất.  
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Mẫu cá, nước cắt tiết và bề mặt tiếp xúc - tay (găng tay) công nhân và mẫu dụng cụ chế biến  
(dao, thớt, rổ, mặt bàn chế biến…) được lấy tại công đoạn phi lê và chỉnh hình ở 04 nhà máy chế  
biến cá Tra: Vĩnh Long - VL (năng suất 100 tấn nguyên liệu/ngày, các tiêu chuẩn đảm bảo an  
toàn vệ sinh thực phẩm áp dụng: HACCP và HALAL; thị trường xuất khẩu chính: Trung Quốc,  
Malaysia và Indonesia), Đồng Tháp - DT (100 tấn nguyên liệu/ngày, các tiêu chuẩn đảm bảo an  
toàn vệ sinh thực phẩm áp dụng: ISO, HACCP, BRC, IFS và GLOBAL GAP; thị trường xuất  
khẩu chính: Châu Âu, Mỹ, Úc và các nước Châu Á), An Giang - AG (250 tấn nguyên liệu/ngày,  
các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm áp dụng: BRC, IFS, HACCP, HALAL và  
ASC; thị trường xuất khẩu chính: Nam Mỹ, Mexico, Châu Âu, Trung Đông, Trung Quốc-Hồng  
Kông và thị trường Châu Á) và Cần Thơ - CT (35 tấn nguyên liệu/ngày, các tiêu chuẩn đảm an  
toàn vệ sinh thực phẩm áp dụng: HACCP, BRC và IFS; thị trường xuất khẩu chính: Anh, Hy  
Lạp, Ai Cập, Trung Đông, Thái Lan).  
65  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
2.2. Phương pháp lấy mẫu  
Các mẫu như đã đề cập được lấy theo nguyên tắc của Jacxsens et al. [8]. Cụ thể, mẫu được  
tiến hành lấy tại 03 thời điểm xác định trong ngày sản xuất (8, 11 và 14 giờ) và được lấy trong 03  
ngày khác nhau của quá trình sản xuất. Đối với mẫu cá, 1-2 miếng phi lê được lấy bằng cách sử  
dụng nhíp vô trùng và cho vào túi vô trùng (Stomacher bags, Pháp sản xuất). Mẫu bề mặt tiếp  
xúc được lấy bằng cách sử dụng tăm bông làm ẩm đã được vô trùng, quét đều theo chiều ngang,  
dọc và chéo trên bề mặt cần lấy mẫu với diện tích tiếp xúc là 50 cm2, sau đó đặt lại tăm bông vào  
ống chứa đúng loại dung dịch cần phân tích vi sinh vật: Maximum Recovery Diluent cho phân  
tích vi sinh vật tổng số; Demi Frasher, Alkaline Saline Peptone water và Buffered Peptone Water  
(Merck, Đức sản xuất) cho phân tích các chỉ tiêu định tính - tương ứng cho Listeria  
monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella spp. [9]. Đối với mẫu nước cắt tiết, khoảng 500  
mL mẫu được lấy từ vòi xả nước cắt tiết và chứa trong túi vô trùng. Tất cả các mẫu sau khi lấy  
được ghi nhãn, cho vào túi vô trùng và bảo quản trong thùng đá, sau đó vận chuyển về phòng thí  
nghiệm (tại nhà máy lấy mẫu hoặc phòng thí nghiệm vi sinh của Bộ môn Công nghệ thực phẩm,  
Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ) để tiến hành phân tích. Số lượng mẫu và chỉ tiêu  
phân tích tương ứng được trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1. Lượng mẫu và chỉ tiêu vi sinh vật phân tích được lấy tại công đoạn phi lê (a)  
và chỉnh hình (b) ở 04 nhà máy chế biến  
Chỉ tiêu phân tích  
Công  
đoạn  
Loại mẫu  
Vi sinh vật  
Listeria  
Salmonella  
Vibrio  
cholerae  
tổng số  
monocytogenes  
spp.  
Cá  
31 × 32 × 43  
36  
36  
36  
36  
36  
36  
108  
36  
(a)  
Tay (găng tay) công nhân  
Nước cắt tiết (xả máu)  
Tổng  
36  
36  
108  
36  
36  
36  
108  
36  
36  
-
72  
36  
36  
-
Cá  
(b)  
Tay (găng tay) công nhân  
Bề mặt dụng cụ chế biến  
Tổng  
36  
36  
108  
36  
36  
108  
36  
36  
108  
72  
Chú thích: 1Thời điểm lấy mẫu (8, 11, 14 giờ), 2Số ngày trong tuần lấy mẫu độc lập, 3Số nhà máy chế biến  
cá Tra đã lấy mẫu, “-” Không phân tích.  
2.3. Phương pháp phân tích vi sinh vật  
Mẫu cá: 25 g mẫu cá được lấy từ các phần khác nhau của miếng cá, cho vào túi vô trùng và  
thêm vào 225 mL dung dịch pha loãng thích hợp. Tiến hành dập mẫu trong 5 phút. Mẫu bề mặt  
tiếp xúc (mẫu tay và dụng cụ chỉnh hình): Đồng nhất các ống chứa mẫu trong 10-15 giây bằng  
máy vortex (PHOENIX, Đức sản xuất). Sau khi đồng nhất, mẫu được tiến hành pha loãng bằng  
cách lấy 1 mL mẫu cần pha loãng cho vào ống nghiệm chứa 9 mL dung dịch MRD đã khử trùng.  
Sử dụng máy vortex để đồng nhất mẫu trong 10 giây và lặp lại thao tác cho đến khi thu được các  
nồng độ đổ đĩa thích hợp [10]. Mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí (Total Mesophylic Counts -  
TMC) được xác định theo phương pháp đổ đĩa bằng môi trường Plate Count Agar (PCA, Merck,  
o
Đức sản xuất) và ủ ở 37 C trong 48 - 72 giờ. Các chỉ tiêu Listeria monocytogenes, Vibrio  
cholerae và Salmonella spp. được phân tích theo phương pháp định tính được trình bày bởi Tong  
et al. [11] với một số điều chỉnh nhỏ. Các khuẩn lạc nghi ngờ của Listeria monocytogenes, Vibrio  
cholerae và Salmonella trên môi trường chọn lọc (tương ứng là thạch ALOA, TCBS và XLD;  
Merck, Đức sản xuất) được kiểm tra các đặc tính sinh hóa riêng biệt bằng các thử nghiệm khẳng  
định khác nhau (Phenol Red, Oxydase, KOH, Indol, Manitol, Urea, ODC, LDC, Sucrose,  
Lactose, TSI, LIA; Merck, Đức sản xuất) để khẳng định sự hiện diện hoặc vắng mặt của các vi  
sinh vật này trong mẫu phân tích [11], [21].  
66  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
2.4 Xử lý số liệu  
Mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí (TMC) được tính toán và biểu thị dưới dạng logarithm của  
số khuẩn lạc hình thành: log CFU/g đối với mẫu cá, log CFU/100 cm2 đối với các mẫu bề mặt  
tiếp xúc và log CFU/mL đối với mẫu nước. Kết quả định lượng mật số vi sinh vật tổng số được  
trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn và xử lý số liệu thống kê thông qua kiểm định  
ANOVA (α = 0,05) bằng phần mềm Statgraphics Centurion 18 (Statgraphics Technologies, Inc.,  
The Plains, Virginia). Kết quả định tính vi sinh vật gây bệnh Listeria monocytogenes, Vibrio  
cholerae và Salmonella spp. được trình bày dưới dạng tần suất xuất hiện của loại vi sinh vật gây  
bệnh trong mẫu phân tích.  
3. Kết quả và bàn luận  
3.1. Mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí  
Trong quá trình chế biến, chất lượng vi sinh vật trên cá phụ thuộc vào nguyên liệu và các điều  
kiện vệ sinh của môi trường chế biến (nước rửa, dụng cụ chế biến, con người…) [12]-[15]. Do  
đó, điều kiện vệ sinh của môi trường chế biến như các bề mặt tiếp xúc sẽ ảnh hưởng lên chất  
lượng vi sinh vật của cá (bán) thành phẩm. Kết quả phân tích mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí  
tay (găng tay) công nhân, dụng cụ chế biến và cá tại công đoạn phi lê và chỉnh hình ở 04 nhà máy  
chế biến cá Tra được thể hiện ở bảng 2.  
Bảng 2. Mật số TMC trên tay (găng tay) công nhân, dụng cụ chế biến và cá  
tại công đoạn phi lê (a) và chỉnh hình (b)  
Nhà  
máy  
VL  
DT  
AG  
CT  
Nhà  
máy  
VL  
DT  
AG  
CT  
Khoảng  
giá trị  
Khoảng  
giá trị  
Khoảng  
giá trị  
Nước cắt tiết  
Tay (găng tay)  
Cá  
8,1±0,3c  
6,6±0,8b  
7,6±0,4c  
5,2±0,5a  
7,5-8,6  
5,3-7,4  
7,0-8,3  
4,4-5,9  
Khoảng  
giá trị  
7,1-9,0  
6,0-9,0  
5,7-8,3  
5,5-7,4  
6,9±0,6b  
7,3±0,7b  
7,0±0,7b  
5,7±1,1a  
5,3-7,4  
7,0-8,2  
5,5-7,7  
4,2-7,0  
Khoảng  
giá trị  
7,5-8,3  
6,3-9,0  
5,9-8,0  
5,1-6,6  
6,3±0,8b  
6,9±0,8b  
4,9±0,9a  
5,5±0,6a  
5,0-8,0  
5,6-8,0  
3,0-6,0  
4,3-6,1  
Khoảng  
giá trị  
6,6-7,6  
6,5-8,5  
4,9-8,1  
5,3-6,7  
(a)  
(b)  
Dụng cụ chế biến  
Tay (găng tay)  
Cá  
7,9±0,6b  
7,1±1,0ab  
7,3±0,9ab  
6,5±0,6a  
7,7±0,3c  
7,6±0,9bc  
6,9±0,7b  
5,7±0,5a  
7,1±0,4bc  
7,5±0,7c  
6,7±1,1ab  
6,0±0,4a  
Chú thích: Các giá trị trung bình có các chữ cái a, b, c đi kèm trong cùng một cột khác nhau thì khác biệt  
có ý nghĩa thống kê ở mức 5% (p < 0,05).  
Nhìn chung, kết quả ở bảng 2 cho thấy mật số TMC tồn tại với lượng cao trong nước cắt tiết,  
trên tay (găng tay) công nhân, dụng cụ chế biến và cá tại công đoạn phi lê và chỉnh hình ở tất tả  
các nhà máy lấy mẫu và đa số mẫu cao hơn giới hạn khuyến cáo để đảm bảo an toàn vệ sinh - đối  
với các mẫu bề mặt tiếp xúc là 4,5 log CFU/100 cm2 và cá là 6,0 log CFU/g [5], [6]. Cụ thể, mật  
số TMC trong nước cắt tiết dao động từ 5,2 - 8,1 log CFU/mL; trên các bề mặt dụng cụ chế biến  
dao động từ 6,5 - 7,9 log CFU/100 cm2; trên tay (găng tay) công nhân tại công đoạn phi lê dao  
động từ 5,7 - 7,3 log CFU/100 cm2 và từ 5,7 - 7,7 log CFU/100 cm2 tại công đoạn chỉnh hình.  
Trong khi đó, mật số TMC trên cá phi lê và cá chỉnh hình tương ứng tại công đoạn phi lê và  
chỉnh hình dao động từ 4,9 - 6,9 và 6,0 - 7,5 log CFU/g. Kết quả thống kê cho thấy mật số TMC  
trong nước cắt tiết và trên tay công nhân phi lê và chỉnh hình ở 3 nhà máy VL, DT và AG cao  
hơn ý nghĩa (p < 0,05) so với ở nhà máy CT (bảng 2). Bên cạnh đó, mật số TMC trên cá phi lê và  
cá chỉnh hình tại hai nhà máy AG và CT thấp hơn ý nghĩa so với hai nhà máy còn lại (p < 0,05).  
Lượng vi sinh vật tồn tại trên cá và môi trường chế biến được cải thiện tốt hơn khi việc áp dụng  
xuyên suốt các hệ thống quản lí chất lượng an toàn thực phẩm (chẳng hạn như HACCP), kiểm soát  
67  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
hiệu quả các qui trình - thủ tục vệ sinh và phương pháp phòng ngừa đối với sản phẩm, cũng như  
kiểm soát hiệu quả sự lây nhiễm nước và nguyên liệu đầu vào [6]. Kết quả cũng cho thấy không có  
sự khác biệt ý nghĩa giữa mật số TMC trên tay công nhân tại công đoạn phi lê và chỉnh hình (p =  
0,180); ngược lại, mật số TMC trên cá chỉnh hình cao hơn ý nghĩa so với mật số TMC trên cá phi lê  
(p = 0,001).  
Nghiên cứu của Tong et al. [4] cho thấy, mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí trên cá chỉnh hình  
cao (6 log CFU/g) tại nhà máy chế biến có quy mô nhỏ (năng suất nguyên liệu 35 tấn/ngày), và  
thấp hơn ở nhà máy chế biến có quy mô lớn (3 log CFU/g, năng suất nguyên liệu 200 tấn/ngày).  
Nghiên cứu của Noseda et al. [5] cho thấy mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí trên cá phi lê cao  
hơn cá chỉnh hình ở nhà máy có năng suất nguyên liệu 200 tấn/ngày (lần lượt dao động từ 3,4 -  
5,3 và 3,0 - 4,1 log CFU/g). Bởi vì, ở công đoạn phi lê, nếu thao tác công nhân làm vỡ nội tạng cá  
thì khả năng do ô nhiễm vi sinh vật là rất cao và cũng làm tăng nguy cơ gây mất an toàn thực  
phẩm cho các công đoạn sau trong quy trình chế biến. Lượng vi khuẩn cao (lên đến 8 log CFU/g)  
đã được tìm thấy trong đường ruột của cá [16]. Một số nghiên cứu trước đây cũng đã báo cáo  
rằng nhóm vi khuẩn Enterobacteriaceae (bao gồm nhóm Coliforms và E. coli) có nguồn gốc từ  
đường ruột của cá và do đó khả năng nhiễm chéo cao xảy ra từ công đoạn phi lê trở đi [5], [14],  
[17]. Vi sinh vật nói chung tồn tại với lượng cao (đặc biệt là các vi sinh vật gây bệnh) trong nước  
rửa, trên tay công nhân và các bề mặt tiếp xúc (bảng 2) có thể tiềm ẩn nguy cơ gây nhiễm chéo  
cho cá (bán) thành phẩm nếu điều kiện vệ sinh và khử trùng không đảm bảo [6], [16], [18]-[19].  
Vì vậy, các nhà máy cần tăng cường tần suất vệ sinh tay công nhân, dụng cụ chế biến, nhà xưởng  
cũng như kiểm soát tốt nhiệt độ và thời gian cá tồn lưu tại công đoạn chỉnh hình do đây là công  
đoạn có thời gian chế biến dài (16-18 phút) tạo điều kiện cho sự phát triển chung của các vi sinh  
vật [4] cũng như tránh làm vỡ nội tạng cá trong quá trình phi lê. Ngoài ra, hiệu quả của các quá  
trình và thủ tục vệ sinh cá nhân, tay (găng tay), bảo hộ lao động, cũng như tần suất thay nước (cắt  
tiết/xả máu) cần được quan tâm và kiểm soát chặt chẽ.  
Từ các kết quả trên có thể thấy rằng, chất lượng vi sinh vật trên cá Tra phụ thuộc vào điều  
kiện chế biến, vệ sinh và khử trùng ở mỗi công ty. Lượng vi sinh vật trên cá (bán) thành phẩm bị  
ảnh hưởng bởi các hoạt động kiểm soát chất lượng như thực hành vệ sinh cá nhân, chương trình  
vệ sinh, các biện pháp phòng ngừa cho sản phẩm và kiểm soát nguyên liệu [6], [20].  
3.2. Sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh trên cá và môi trường chế biến tại công đoạn  
phi lê và chỉnh hình  
Sự hiện diện của Listeria monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella spp. trên cá và các  
mẫu môi trường chế biến (nước cắt tiết, tay công nhân và dụng cụ chế biến) tại công đoạn phi lê  
và chỉnh hình ở 04 nhà máy được thể hiện ở Hình 1.  
Kết quả định tính vi sinh vật gây bệnh cho thấy Listeria monocytogenes và Vibrio cholerae  
hiện diện rải rác trên tay công nhân và cá tại công đoạn phi lê (Hình 1a), và nhìn chung xuất hiện  
với tần suất cao hơn tại công đoạn chỉnh hình tại các nhà máy (Hình 1b). Cụ thể, L.  
monocytogenes và V. cholerae hiện diện trên tay công nhân chỉnh hình với tần suất cao nhất tại  
nhà máy VL (6/9); trên tay công nhân phi lê thì tần suất này lần lượt là 1/9 (tại nhà máy DT) và  
5/9 (tại nhà máy VL). Tương tự với kết quả trên, L. monocytogenes và V. cholerae hiện diện trên  
cá phi lê và chỉnh hình với tần suất cao nhất tại nhà máy VL (tần suất lần lượt là 2/9 và 9/9 trên  
cá phi lê; 5/9 và 9/9 trên cá chỉnh hình). Ngược lại, L. monocytogenes không được tìm thấy tại  
công đoạn phi lê và chỉnh hình trên tất cả các mẫu cá và mẫu môi trường tại nhà máy CT. Trong  
khi đó, L. monocytogenes hiện diện rải rác trong các mẫu nước cắt tiết (tại nhà máy VL và DT);  
và hiện diện với tần suất tương đối cao trên các dụng cụ chỉnh hình tại nhà máy VL (7/9) và AG  
(4/9). Bên cạnh đó, Salmonella spp. được tìm thấy trong mẫu nước cắt tiết, trên tay công nhân và  
cá phi lê tại nhà máy VL (với tần suất lần lượt là 3/9, 1/9 và 1/9); Salmonella spp. cũng được tìm  
thấy trên cá chỉnh hình tại nhà máy AG (1/9).  
68  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
(a)  
(b)  
Hình 1. Tần suất hiện diện của Listeria monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella spp. tại công đoạn  
phi lê (a) và chỉnh hình (b) ở 04 nhà máy VL, DT, AG và CT  
Chú thích:  
Âm tính  
Dương tính  
Không có mẫu  
Nhìn chung, nhà máy VL có tần suất nhiễm L. monocytogenes và V. cholerae cao hơn các nhà  
máy còn lại có thể là do áp dụng HACCP trong thực tế chưa triệt để. Thêm vào đó, các thị trường  
xuất khẩu chủ lực của nhà máy ở các nước trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia và  
Indonesia. Tuy nhiên nhà máy DT có tần suất nhiễm các vi sinh vật này theo xu hướng thấp hơn,  
có thể do nhà máy sản xuất sản phẩm xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu nghiêm ngặt hơn  
như Châu Âu, Mỹ, Úc. Mặt khác, nhà máy DT áp dụng đa dạng các tiêu chuẩn quản lý chất  
lượng và an toàn thực phẩm như ISO, HACCP, BRC, IFS, GLOBAL GAP. Đối với nhà máy AG  
mặc dù đã áp dụng nhiều tiêu chuẩn đảm bảo an toàn thực phẩm như nhà máy xuất khẩu sản  
phẩm sang các thị trường như Châu Âu, Nam Mỹ… nhưng tần suất nhiễm Salmonella spp., L.  
monocytogenes và V. cholerae vẫn xuất hiện rải rác trên các mẫu phân tích. Nguyên nhân có thể  
là do năng suất lớn (sản xuất 250 tấn nguyên liệu/ngày) khiến cho việc kiểm soát chất lượng  
nguồn nguyên liệu và trong quá trình sản xuất còn hạn chế. Mặc dù, qui trình chế biến của các  
nhà máy tương tự nhau [5] nhưng cách triển khai quá trình sản xuất, kiểm soát và quản lý hệ thống  
an toàn và chất lượng trong thực tế khác nhau [11]. Vì vậy, cần đánh giá toàn bộ việc thực hiện và  
hiệu quả của việc triển khai hệ thống quản lý an toàn chất lượng thực phẩm HACCP tại nhà máy để  
khắc phục và cải thiện chất lượng trong các nghiên cứu tiếp theo.  
Thêm vào đó, theo TCVN 8338:2010 [21] thì không cho phép các vi sinh vật gây bệnh như L.  
monocytogenes, V. cholerae hoặc Salmonella spp. có mặt trong 25 g sản phẩm cá Tra phi lê đông  
lạnh, do đó sự hiện diện của các vi sinh vật này trong quy trình chế biến (trên cá, tay công nhân,  
69  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
dụng cụ chế biến, trong nước rửa…) sẽ làm tăng nguy cơ gây nhiễm chéo cho cá bán thành phẩm  
kết quả là dẫn đến sự hiện diện quá mức cho phép của các vi sinh vật này trên cá thành phẩm. L.  
monocytogenes được biết là có khả năng tồn tại rất lâu trong môi trường nước ở 4oC (lên đến 141  
ngày) và khả năng hình thành màng sinh học (bao gồm Salmonella) [22]-[25]; do đó làm tăng  
nguy cơ tái nhiễm cho sản phẩm hoặc gây ô nhiễm cho cá với lượng lớn các tế bào L.  
monocytogenes hoặc Salmonella spp. được giải phóng bởi màng sinh học nếu quá trình vệ sinh  
và khử trùng ban đầu không đảm bảo. Nghiên cứu này khác với kết quả trong nghiên cứu của  
Noseda et al. [5] khi L. monocytogenes và V. cholerae không được tìm thấy đồng thời trên tay  
công nhân, dụng cụ chế biến và cá tại công đoạn phi lê và chỉnh hình; L. monocytogenes không  
tìm thấy trong tất cả các mẫu nước cắt tiết được phân tích. Ngoài các yếu tố như chất lượng  
nguồn nguyên liệu, thao tác chế biến, quá trình vệ sinh thì cách bảo quản cá bán thành phẩm  
trong quá trình chế biến cũng hạn chế được sự lây nhiễm và phát triển của vi sinh vật [4], [26],  
[27]. Từ các kết quả trên, các nhà máy cần có phương pháp bảo quản bán thành phẩm tốt và thực  
hành sản xuất tốt được khuyến cáo nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm chéo để đảm bảo chất lượng  
và an toàn của sản phẩm.  
4. Kết luận và đề nghị  
Tóm lại, các vi sinh vật gây bệnh như: Listeria monocytogenes, Vibrio cholerae và Salmonella  
spp. hiện diện rải rác trên cá phi lê và chỉnh hình. Từ các kết quả trong nghiên cứu này, các nhà  
máy chế biến cá Tra cần cải thiện các biện pháp phòng ngừa; quy trình và thủ tục (kiểm soát) vệ  
sinh nhà xưởng, dụng cụ, thiết bị; thực hành tốt vệ sinh cá nhân và phương pháp bảo quản cá bán  
thành phẩm và đảm bảo an toàn và chất lượng của sản phẩm cuối.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ của đề tài/dự án A-16 được tài trợ bởi dự án Nâng cấp  
Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 bằng nguồn vốn vay ODA từ chính phủ Nhật Bản. Nhóm  
nghiên cứu xin chân thành cảm ơn các nhà máy cho phép lấy mẫu và công bố các kết quả này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] VASEP, "Overview of Vietnam Fisheries Industry (VASEP)," 2019. [Online]. Available:  
[2] VASEP, "Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers (VASEP)," 2011. Report on Vietnam  
seafood export in 2011. [Online]. Available: http://seafood.vasep.com.vn. [Accessed Apr. 9, 2020].  
[3] FAO, "Pangasius - November 2014: Demand continues to pick up in non-major markets, major  
producer lays out five year plan," 2014. [Online]. Available: http://www.fao.org/in-  
[4] T. A. N. Tong, T. H. D. Bui, N. T. T. L. Le, D. N. Le, N. D. D. Le, N. B. Ly, and F. Devlieghere,  
"Comparison of Tra fish production process at seafood processing factories: microbial quality of total  
aerobic counts (In Vietnamese)," Can Tho University Journal of Science, Part B: Agriculture,  
Fisheries and Biotechnology, vol. 32, pp. 69-75, 2014.  
[5] B. Noseda, A. N. T. Thi, L. Rosseel, F. Devlieghere, and L. Jacxsens, "Dynamics of microbiological  
quality and safety of Vietnamese Pangasianodon hypophthalmus during processing," Aquaculture  
International, vol. 21, no. 3, pp. 709-727, 2013.  
[6] T. A. N. Tong, A. M. Arturu, C. H. Nguyen, and T. Miyamoto, "Effective Operation of Food Quality  
Management System: A Case Study from Fishery Processing," Current Research in Nutrition and  
Food Science, vol. 8, no. 1, pp. 25-40, 2020.  
[7] RASFF, "Rapid Alert System for Food and Feed (RASFF)," 2020. [Online]. Available:  
[8] L. Jacxsens, J. Kussaga, P. Luning, M. Van der Spiegel, F. Devlieghere, and M. Uyttendaele, "A  
microbial assessment scheme to measure microbial performance of food safety management systems,"  
International Journal of Food Microbiology, vol. 134, no. 1-2, pp. 113-125, 2009.  
70  
TNU Journal of Science and Technology  
226(05): 64 - 71  
[9] ISO, "Microbiology of Food and Animal Feeding Stuffs – Horizontal Methods for Sampling  
Techniques from Surfaces Using Contact Plates and Swabs (ISO 18593:2004)," 2004. [Online].  
Available: https://www.iso.org/standard/39849.html. [Accessed Apr. 9, 2020].  
[10] ISO, "Microbiology of food and animal feeding stuffs - Preparation of test samples, initial suspension  
and decimal dilutions for microbiological examination — Part 2: Specific rules for the preparation of  
meat  
and  
meat  
products  
(ISO  
6887-2:2003),"  
2003.  
[Online].  
Available:  
[11] T. A. N. Tong, L. Jacxsens, B. Noseda, S. Samapundo, N. B. Ly, M. Heyndrickx, and F. Devlieghere,  
"Evaluation of the microbiological safety and quality of Vietnamese Pangasius hypophthalmus during  
processing by a microbial assessment scheme in combination with a self-assessment questionnaire,"  
Fisheries Science, vol. 80, no. 5, pp. 1117-1128, 2014.  
[12] F. González‐Rivas, C. Ripolles‐Avila, F. Fontecha‐Umaña, A. G. Ríos‐Castillo, and J. J. Rodríguez‐  
Jerez, "Biofilms in the spotlight: Detection, quantification, and removal methods," Comprehensive  
Reviews in Food Science and Food Safety, vol. 17, no. 5, pp. 1261-1276, 2018.  
[13] T. Møretrø and S. Langsrud, "Residential bacteria on surfaces in the food industry and their  
implications for food safety and quality," Comprehensive Reviews in Food Science and Food Safety,  
vol. 16, no. 5, pp. 1022-1041, 2017.  
[14] J. A. Plumb and L. A. Hanson, Health maintenance and principal microbial diseases of cultured  
fishes. (Third Edition). John Wiley & Sons, USA, 2010.  
[15] R. M. Kirby, J. Bartram, and R. Carr, "Water in food production and processing: quantity and quality  
concerns," Food control, vol. 14, no. 5, pp. 283-299, 2003.  
[16] A. Novoslavskij, M. Terentjeva, I. Eizenberga, O. Valciņa, V. Bartkevičs, and A. Bērziņš, "Major  
foodborne pathogens in fish and fish products: a review," Annals of Microbiology, vol. 66, no. 1, pp.  
1-15, 2016.  
[17] K. Apun, A. M. Yusof, and K. Jugang, "Distribution of bacteria in tropical freshwater fish and ponds,"  
International Journal of Environmental Health Research, vol. 9, no. 4, pp. 285-292, 1999.  
[18] C. S. Svanevik, I. S. Roiha, A. Levsen, and B. T. Lunestad, "Microbiological assessment along the  
fish production chain of the Norwegian pelagic fisheries sector–results from a spot sampling  
programme," Food Microbiology, vol. 51, pp. 144-153, 2015.  
[19] M. Shikongo-Nambabi, A. Shoolongela, and M. B. Schneider, "Control of bacterial contamination  
during marine fish processing," Journal of Biology and Life Science, vol. 3, no. 1, pp. 1-17, 2011.  
[20] P. Kulawik, W. Migdał, F. Gambuś, E. Cieślik, F. Özoğul, J. Tkaczewska, K. Szczurowska, and I.  
Wałkowska, "Microbiological and chemical safety concerns regarding frozen fillets obtained from  
Pangasius sutchi and Nile tilapia exported to European countries," Journal of the Science of Food and  
Agriculture, vol. 96, no. 4, pp. 1373-1379, 2016.  
[21] TCVN, "TCVN 8338:2010 - Frozen Tra fish (Pangasius hypophthalmus) fillet," 2010. [Online].  
20, 2020].  
[22] K. Budzińska, G. Wroński, and B. Szejniuk, "Survival Time of Bacteria Listeria monocytogenes in Water  
Environment and Sewage," Polish Journal of Environmental Studies, vol. 21, no. 1, pp. 31-37, 2012.  
[23] H. Steenackers, K. Hermans, J. Vanderleyden, and S. C. De Keersmaecker, "Salmonella biofilms: an  
overview on occurrence, structure, regulation and eradication," Food Research International, vol. 45,  
no. 2, pp. 502-531, 2012.  
[24] S. Stepanović, I. Ćirković, L. Ranin, and M. Svabić, "Biofilm formation by Salmonella spp. and  
Listeria monocytogenes on plastic surface," Letters in Applied Microbiology, vol. 38, no. 5, pp. 428-  
432, 2004.  
[25] B. Joseph, S. Otta, I. Karunasagar, and I. Karunasagar, "Biofilm formation by Salmonella spp. on food  
contact surfaces and their sensitivity to sanitizers," International Journal of Food Microbiology, vol.  
64, no. 3, pp. 367-372, 2001.  
[26] C. A. Boari, G. I. Pereira, C. Valeriano, B. C. Silva, V. M. D. Morais, H. C. P. Figueiredo, and R. H.  
Piccoli, "Bacterial ecology of tilapia fresh fillets and some factors that can influence their microbial  
quality," Food Science and Technology, vol. 28, no. 4, pp. 863-867, 2008.  
[27] M. N. N. N. Shikongo-Nambabi, P. M. Chimwamurombe, and S. N. Venter, "Factors impacting on the  
microbiological quality and safety of processed hake," African Journal of Biotechnology, vol. 9, no.  
49, pp. 8405-8411, 2010.  
71  
pdf 8 trang yennguyen 16620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vi sinh vật tổng số và gây bệnh trong quy trình chế biến cá tra: Công đoạn phi lê và chỉnh hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvi_sinh_vat_tong_so_va_gay_benh_trong_quy_trinh_che_bien_ca.pdf