Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá hồng chấm (Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792) ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên

10  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA CÁ HỒNG CHẤM  
(Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792) Ở ĐẦM Ô LOAN, TỈNH PHÚ YÊN  
Nguyễn Thị Phi Loan*  
Lưu Thị Bích Tuyền**  
Tóm tắt  
Cá Hồng chấm (Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792) ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú  
Yên là loài có giá trị thương phẩm cao và sản lượng lớn; có chất lượng thịt thơm ngon, có hàm  
lượng chất dinh dưỡng cao, ít chất béo, cung cấp chất đạm và vitamin. Hiện nay, sản lượng  
khai thác cá Hồng chấm trong đầm ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng. Bài viết trình bày kết  
quả nghiên cứu về đặc tính sinh trưởng của cá Hồng chấm ở đầm Ô Loan, là cơ sở khoa học  
bước đầu cho các nghiên cứu tiếp theo để xây dựng mô hình nuôi thử nghiệm loài cá có giá trị  
kinh tế này.  
Từ khóa: Cá Hồng chấm, sinh trưởng, đầm Ô Loan  
Nguồn lợi thủy sản trong đầm khá  
phong phú. Đáng chú ý là nguồn lợi từ cá  
Hồng chấm (Lutjanus jorhnii Bloch et  
Schneider, 1792), thuộc họ cá Hồng  
(Lutjanidae), bộ cá Vược (Perciformes) là  
loài cá có giá trị thương phẩm cao, chất  
lượng thịt thơm ngon, có hàm lượng chất  
dinh dưỡng cao, ít chất béo, cung cấp chất  
đạm và vitamin.  
1. Đặt vấn đề  
Đầm Ô Loan là danh thắng cấp quốc gia  
của Việt Nam, một danh lam thắng cảnh  
tiêu biểu của tỉnh Phú Yên. Hai con sông  
chính cung cấp nước cho đầm Ô Loan  
huyện Tuy An là sông Hà Yến và suối Đá,  
hình thành nên hệ sinh thái rất đặc thù là  
vùng đầm phá nước lợ. Đây cũng chính là  
vùng có giá trị về kinh tế - xã hội, lịch sử -  
văn hóa quan trọng tại huyện Tuy An.  
Hình 1. Hình dạng cá Hồng chấm (Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792)  
Cá Hồng chấm (Lutjanus jorhnii) tăng  
_____________________________  
* TS, Trường Đại học Phú Yên  
trưởng khá nhanh, sớm bước vào đàn khai  
thác, có khả năng phát dục và sinh sản ngay  
trong đầm. Đó là những đặc tính đáng quý  
cần được quan tâm, tìm hiểu. Hiện nay, sản  
** CN, Trường Đại học Phú Yên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 13 * 2016  
11  
lượng khai thác cá Hồng chấm trong đầm  
ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng. Tuy  
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu  
về đặc tính sinh trưởng của loài này. Vì  
vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài  
“Đặc tính Sinh trưởng của cá Hồng chấm  
trong đầm Ô Loan”  
cần tìm.  
L: Chiều dài thực tại của cá (mm).  
Vt : Khoảng cách từ tâm vảy đến vạch  
vòng năm ở tuổi t.  
V: Bán kính vảy.  
a: Kích thước của cá khi bắt đầu có vảy.  
Sau khi tính được sinh trưởng chiều dài  
Lt, sẽ tính được tốc độ sinh trưởng hằng  
năm của cá theo công thức:  
2. Phương pháp  
Ngoài thực địa  
Từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2016,  
chúng tôi thu mẫu bằng cách đánh bắt cùng  
ngư dân, đặt mua tại các hộ ngư dân, thu  
mua từ các chợ cá xung quanh đầm. Mẫu cá  
Hồng chấm phải còn tươi, nguyên vẹn, đem  
cân trọng lượng, đo chiều dài và lấy vảy…  
Nghiên cứu về sinh trưởng của cá  
* Tương quan về chiều dài và trọng lượng  
của cá:  
Dựa vào các chỉ số chiều dài và khối  
lượng để tính tương quan của cá theo  
phương trình R.J.H Berverton-S.J.Holt (1976):  
W= a.Lb  
Tt = Lt – Lt – 1  
Trong đó: Tt : Tốc độ tăng trưởng của cá ở  
tuổi t (mm).  
Lt : Chiều dài của cá ở tuổi t (mm).  
Lt – 1 : Chiều dài cá ở tuổi t - 1 (mm).  
* Xác định các tham số sinh trưởng theo  
phương trình Bertalanffy (1959):  
Phương trình sinh trưởng theo Bertalanffy  
về chiều dài (mm):  
Lt = L∞[1- e-k(t – to)  
]
Trong đó: Lt : Chiều dài cá ở tuổi t (mm).  
L∞ : Chiều dài tối đa của cá (mm).  
k: Hệ số phân giải Protein trong cơ  
thể cá hay hệ số của đường cong Logarit.  
t và t0 : Khoảng thời gian cá sinh  
trưởng (tuổi, năm).  
Trong đó: W: Khối lượng toàn thân cá (g).  
L: Chiều dài toàn thân cá (mm).  
a, b: Các hệ số tương quan của  
phương trình.  
Phương trình sinh trưởng theo Bertalanffy  
* Xác định tuổi cá:  
về khối lượng:  
b
Tuổi cá được xác định bằng vảy. Vảy  
được xử lý bằng cách ngâm vào dung dịch  
NaOH 4% trong thời gian 30 đến 60 phút.  
Sau đó rửa vảy bằng nước sạch, dùng giấy  
thấm khô nước để lên lam kính quan sát.  
Mỗi lam kính có thể soi 5 – 7 vảy 1 lần.  
Dùng kính hiển vi có nhiều mức độ phóng  
đại để quan sát vòng năm.  
* Xác định tốc độ tăng trưởng của cá:  
Dựa vào chiều dài thân (L) và bán kính  
vảy được đo bằng trắc vi thị kính, ta tính  
được tốc độ sinh trưởng của cá theo Rosa  
Lee (1920): Công thức tính theo phương  
trình của Rosa Lee (1920) có dạng:  
Lt = (L – a)Vt /V + a  
Wt = W∞[1- e-k(t - to)  
]
Trong đó: Wt : Khối lượng của cá ở tuổi t (g).  
W∞ : Khối lượng tối đa của cá (g).  
b : Hệ số tương quan chiều dài và  
khối lượng của cá (theo phương trình R.J.H  
Berverton-S.J.Holt).  
3. Kết quả nghiên cứu  
3.1. Tương quan giữa kích thước và khối  
lượng của cá  
Sinh trưởng là quá trình gia tăng về mặt  
kích thước và khối lượng cơ thể. Quá trình  
này thường có mối liên hệ chặt chẽ với  
nhau. Sau khi phân tích 100 mẫu cá Hồng  
chấm, tôi đã xác định được mối tương quan  
giữa chiều dài và khối lượng của quần thể  
cá Hồng chấm (Bảng 1).  
Trong đó: Lt : Chiều dài cá ở tuổi t (mm)  
12  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Bảng 1. Sự tương quan giữa chiều dài và khối lượng của cá Hồng chấm trong 3 tháng nghiên cứu  
Chiều dài (mm)  
Khối lượng W (g)  
N
Giới  
tính  
Juv  
Tuổi  
0+  
L dao động  
151-219  
217-245  
219-250  
240-267  
235-281  
278-342  
260-314  
151-342  
L (TB) W dao động W (TB)  
N
20  
16  
14  
11  
15  
12  
10  
100  
%
20  
17  
15  
11  
15  
12  
10  
100  
170,7  
229,7  
230,6  
251,2  
256,5  
300,4  
295,1  
247,8  
55,4-163  
150-203  
65,7  
Đực  
Cái  
175,6  
183.3  
248,7  
260,1  
347,5  
409,6  
256,9  
1+  
154,5-210  
192-283  
Đực  
Cái  
Đực  
Cái  
2+  
3+  
185-310,7  
270,4-485  
309,5-600  
55,4-600  
Tổng  
Qua kết quả bảng 1 ta thấy: xu hướng  
chung về tương quan giữa chiều dài và khối  
lượng cá Hồng chấm diễn biến theo chiều  
thuận, nghĩa là trong quá trình phát triển, sự  
tăng chiều dài và sự gia tăng về khối lượng  
luôn diễn ra cùng nhau.  
nhóm tuổi 0+, còn các nhóm tuổi từ 1+ đến  
3+ cá cái có khối lượng lớn hơn cá đực  
(Bảng 1). Biểu hiện rõ nhất ở nhóm tuổi 3+,  
khối lượng cá cái tăng nhiều hơn so với cá  
đực. Ở nhóm 2+ khối lượng trung bình cá  
cái đạt 260,1g, cá đực nặng 248,7g thì ở  
nhóm tuổi 3+ cá cái có khối lượng trung  
bình đạt 409,6g, trong khi đó cá đực chỉ đạt  
347,5g. Sự chênh lệch về khối lượng này có  
thể liên quan đến nhu cầu tích lũy dinh  
dưỡng để phát triển cá thể và bước vào quá  
trình hình thành sinh dục và chín muồi sinh  
dục, sinh sản và tái sản xuất chủng quần. Vì  
vậy, ở nhóm cá trên 3 năm tuổi, khối lượng  
cá cái luôn lớn hơn cá đực.  
Dựa vào công thức R.J.H Beverton-S.J  
Holt (1976), phân tích kết quả nghiên cứu  
thấy rằng, tương quan chiều dài và khối  
lượng của cá Hồng chấm biến thiên theo  
hàm số mũ. Trên cơ sở những số liệu quan  
trắc về chiều dài và khối lượng, đã xác định  
được các thông số của phương trình tương  
quan giữa chiều dài và khối lượng cá Hồng  
chấm. Phương trình tương quan có dạng:  
W =3148.10-10 x L3,7048  
Mối tương quan giữa chiều dài và khối  
lượng của cá phụ thuộc vào từng nhóm tuổi  
và giới tính. Tuổi cá càng tăng thì kích  
thước và trọng lượng cá càng lớn. Ví dụ: cá  
Hồng chấm ở nhóm tuổi 0+ thì chỉ đạt chiều  
dài trung bình 170,7mm với khối lượng  
tương ứng trung bình là 65,7g; trong khi  
đó, nhóm cá trưởng thành 3 năm tuổi (3+)  
đạt chiều dài trung bình là 300,4mm tương  
ứng với khối lượng trung bình là 347,5g đối  
với cá đực và đạt chiều dài trung bình là  
295,1mm tương ứng với khối lượng trung  
bình là 409,6g đối với cá cái. Cá ở các  
nhóm 1 năm tuổi (1+) và nhóm 2 năm tuổi  
(2+) có chiều dài trung bình từ 229,7mm  
đến 251,2mm với khối lượng tương ứng đạt  
từ 175,6g đến 248,7g đối với cá đực và  
chiều dài trung bình từ 230,6mm đến  
256,5mm với khối lượng tương ứng từ  
183,3g đến 260,1g đối với cá cái.  
Đồ thị (Hình 2) biểu diễn mối tương  
quan này có dạng nhánh Parapol, thể hiện  
những năm đầu của cá thể cá Hồng chấm  
tăng nhanh về về chiều dài, những năm sau  
Ngoài ra, tuy trong cùng nhóm tuổi  
nhưng khác nhau về giới tính thì cũng có sự  
biến đổi về chiều dài và khối lượng. Trừ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 13 * 2016  
13  
tăng nhanh về khối lượng. Điểm này của cá  
Hồng chấm phù hợp với đặc tính sinh  
trưởng của nhiều loài cá nhiệt đới. Trong  
giai đoạn đầu, sự tăng nhanh kích thước là  
đặc điểm giúp cá thích nghi và tồn tại tốt  
trong môi trường cạnh tranh cùng loài hay  
hạn chế sức chèn ép của các vật ăn thịt. Sự  
gia tăng về khối lượng ở giai đoạn sau có  
thể là do liên quan đến quá trình tích lũy  
chất dinh dưỡng để tham gia vào quá trình  
thành thục sinh dục, tham gia sinh sản và  
tái sản xuất chủng quần cao của cá.  
đồng hóa thức ăn trong môi trường tốt hơn  
mùa lạnh. Về mùa lạnh, nhiệt độ thấp, cá ăn  
ít hay thậm chí ngừng dinh dưỡng, kết quả  
làm cho quá trình sinh trưởng cũng bị  
ngừng lại, đó là nguyên nhân dẫn đến vòng  
năm của cá được hình thành vào mùa lạnh.  
Vảy của cá Hồng chấm có dạng hình  
tròn lớn, dày, vảy bám vào da và rất dễ  
bong tróc.  
Kết quả phân tích vảy của 100 cá thể cá  
Hồng chấm thu được ở đầm Ô Loan đã xác  
định được cấu trúc tuổi của cá gồm 4 nhóm  
tuổi. Trong đó, nhóm tuổi cá Hồng chấm  
cao nhất là 3+ và thấp nhất là 0+. Căn cứ số  
lượng cá thể trong từng nhóm tuổi để xác  
định cấu trúc tuổi của chủng quần cá Hồng  
chấm. Nhóm 1 tuổi (1+) chiều dài trung  
bình 230,2mm và khối lượng trung bình  
179,7g chiếm tỷ lệ cao nhất 32%, chiếm tỉ  
lệ thấp nhất là nhóm 0 tuổi (0+) chiều dài  
trung bình 170,7mm và khối lượng trung  
bình 65,7g chiếm 20%. Nhóm 2 tuổi (2+)  
chiều dài trung bình 253,3mm và khối  
lượng trung bình 254,3g chiếm 26%. Nhóm  
3 tuổi (3+) chiều dài trung bình 296,7mm và  
khối lượng trung bình 360,8g chiếm 22%.  
Cấu trúc tuổi của cá Hồng chấm được thể  
hiện ở bảng 2.  
700  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
0
50  
100  
150  
200  
250  
300  
350  
400  
Chiều dài (mm)  
Hình 2. Đồ thị biểu diễn sự tương quan  
giữa chiều dài và khối lượng cá Hồng chấm  
3.2. Cấu trúc tuổi của cá  
Cá sinh trưởng liên tục trong suốt đời  
sống và có tính chất chu kỳ trong năm. Vào  
mùa ấm, cá sinh trưởng nhanh do quá trình  
Bảng 2. Cấu trúc tuổi của quần thể cá Hồng chấm trong 3 tháng nghiên cứu  
Chiều dài (mm)  
Khối lượng W (g)  
N
Tuổi  
L dao động  
L (TB) W dao động W (TB)  
N
20  
%
20  
0+  
1+  
151-219  
170,7  
230,2  
55,4-163  
150-210  
65,7  
217-250  
179,7  
32  
32  
2+  
3+  
235-281  
260-342  
253,3  
296,7  
185-310,7  
270,4-600  
254,3  
360,8  
26  
22  
26  
22  
Qua bảng 2 đã xác định được 4 nhóm  
tuổi của cá Hồng chấm. Trong đó, nhóm  
tuổi cá Hồng chấm cao nhất là 3+ và thấp  
nhất là 0+. Căn cứ số lượng cá thể trong  
từng nhóm tuổi để xác định cấu trúc tuổi  
của chủng quần cá Hồng chấm.  
Những kết quả thu được về thành phần  
tuổi cá cho thấy, cấu trúc của quần thể cá  
14  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Hồng chấm khai thác được trong đầm khá  
đơn giản, gồm 4 nhóm tuổi, tuổi cao nhất là  
nhóm tuổi 3+ thấp nhất là tuổi 0+. Điều này,  
chứng tỏ quần thể cá có kích thước lớn và  
phát triển nhanh cho sản lượng khai thác  
cao trong đầm Ô Loan.  
3.3. Tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá  
Căn cứ vào số liệu phân tích 100 cá thể  
cá Hồng chấm, kết quả số đo chiều dài và  
kích thước vẩy tương ứng của chúng để  
tính ngược tốc độ sinh trưởng của cá Hồng  
chấm theo Rosa Lee (1920). Giải phương  
trình thực nghiệm ta có hệ số a đó là kích  
thước của cá khi bắt đầu hình thành vảy của  
cá Hồng chấm là 52,7mm.  
Hồng chấm có dạng:  
Lt = (L –52,7)Vt /V + 52,7 (*)  
Đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa chiều  
dài thân cá và kích thước vảy theo phương  
trình (*) có dạng đường thẳng. Đường  
thẳng này cắt trục tung tại 52,7mm.  
Kích thước vảy tăng trưởng tỉ lệ  
thuận với sự tăng trưởng về chiều dài cá,  
nghĩa là cá càng lớn thì kích thước vảy  
càng lớn.  
Qua 3 tháng nghiên cứu với 100 mẫu  
cá Hồng chấm, ta xác định được mức tăng  
trưởng chiều dài của cá Hồng chấm hàng  
tháng. Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung  
bình hàng tháng của cá Hồng chấm được  
trình bày ở bảng 3.  
Phương trình tính ngược sinh trưởng cá  
Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình hàng tháng của cá Hồng chấm  
Sinh trưởng chiều dài  
Mức tăng trưởng chiều dài trung  
trung bình hàng tháng  
bình hàng tháng (mm/%)  
Giới  
tính  
(mm)  
L2  
Tuổi  
N
L1  
L3  
T1  
T2  
T3  
Mm  
%
mm  
%
0+  
1+  
20  
17  
15  
11  
15  
12  
10  
Đực  
Cái  
229,7  
230,9  
245  
229,7  
230,9  
245  
Đực  
Cái  
257  
12  
24,8  
22,8  
9,4  
4,9  
2+  
3+  
243,3  
285  
268,1  
243  
10,2  
Đực  
Cái  
307,8 332,2  
305,8 307,8  
278,9 331,2  
285,9 307,8  
285  
10,2 24,4  
3,2  
8,6  
0,7  
296,4  
248,1  
250,3  
296,4  
248,1  
250,3  
2
Đực  
Cái  
30,8  
35,6  
12,4 53,3 21,1  
14,2 21,9 8,7  
∑tb  
100  
Dựa vào bảng 3 cho thấy, cá Hồng  
chung đã giúp cá tránh được sự cạnh tranh  
cùng loài và sự săn mồi của vật dữ trong hệ  
sinh thái đầm Ô Loan. Trong mỗi nhóm  
tuổi, cá cái có tốc độ tăng trưởng về chiều  
dài chậm hơn cá đực. Cá cái chỉ tăng nhanh  
về chiều dài ở giai đoạn đầu, sau đó giảm  
dần và cá cái bắt đầu tăng trọng lượng để  
tích lũy chất dinh dưỡng cho mùa sinh sản.  
Dựa vào số liệu về chiều dài và khối  
chấm sinh trưởng khá nhanh. Trong tháng  
đầu của chu kì sống bình quân cá đực được  
248,1mm và cá cái được 250,3mm, tháng  
thứ hai cá đực tăng 30,8mm chiếm 12,4%  
và cá cái tăng 35,6mm chiếm 14,2%, tháng  
thứ ba cá đực tăng 53,3mm chiếm 21,1%  
và cá cái tăng 21,9mm chiếm 8,7%. Chính  
sự tăng nhanh về kích thước theo qui luật  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 13 * 2016  
15  
lượng 100 cá thể cá Hồng chấm thu được  
sinh trưởng theo phương trình Von  
theo từng nhóm tuổi, tính được thông số  
Bertalanffy (Bảng 4)  
Bảng 4. Các thông số về chiều dài và khối lượng cá Hồng chấm  
Thông số sinh trưởng  
Theo chiều dài  
Theo Khối lượng  
1663,77  
336,3  
0,4542  
-1,4802  
L∞ (mm), W∞ (g)  
0,068  
K
t0  
-0,6324  
Trên cơ sở các thông số đã tính được,  
phương trình theo Von Bertalanffy của cá  
Hồng chấm được thiết lập dưới dạng:  
tuổi 0+, nhóm tuổi cao nhất là nhóm tuổi 3+.  
Nhóm tuổi có số lượng cao nhất trong tổng  
số cá thể thu được là nhóm tuổi 1+ chiếm  
32%, tiếp đến là nhóm tuổi 2+ chiếm 26%,  
nhóm tuổi 3+ chiếm 22%, thấp nhất là tuổi  
0+ chiếm 20%. Phương trình sinh trưởng  
theo Von Bertalanffy được thiết lập dưới  
dạng:  
Về chiều dài: Lt = 336,3[1 – e-0,4542(t + 1,4802)  
]
Về khối lượng:  
Wt = 1663,77[1 – e-0,068(t+0,6324) 3,7048  
]
Từ các thông số trên cho thấy, cá  
Hồng chấm có thể đạt khối lượng lớn nhất  
là 1663,77g với chiều dài cơ thể tối đa là  
336,3mm. Hệ số phân hóa protein k biểu  
diễn theo chiều dài cá có giá trị lớn hơn so  
với theo trọng lượng, chứng tỏ tốc độ tăng  
trưởng về chiều dài có tỷ lệ chậm hơn tăng  
trưởng về trọng lượng. Như vậy, cần tập  
trung khai thác cá ở kích thước lớn để phát  
huy tối đa tiềm năng của quần thể cá Hồng  
chấm, nhằm đem lại chất lượng và giá trị  
thương phẩm cao cho ngư dân sống xung  
quanh đầm nói riêng và nhân dân Phú Yên  
nói chung.  
Về chiều dài:  
Lt = 336,3[1 – e-0,4542(t + 1,4802)  
]
Về trọng lượng:  
Wt = 1663,8[1 – e-0,068(t+0,6324) 3,7048  
4.2. Đề nghị  
]
- Xây dựng và thử nghiệm mô hình nuôi  
cá Hồng chấm ở đầm Ô Loan và ven biển  
để phát huy các lợi thế của nguồn lợi này  
trong tương lai.  
- Tiếp tục nghiên cứu về các đặc điểm  
sinh sản, đa dạng sinh học của cá Hồng  
chấm.  
- Chú trọng đến các giải pháp xử lí  
nguồn nước và bùn thải từ các ao nuôi thủy  
sản một cách nghiêm ngặt, cải thiện và bảo  
vệ môi trường đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên  
để đảm bảo môi trường thích hợp cho việc  
nuôi giống cá Hồng chấm.  
- Thực hiện đồng bộ và phối hợp các  
cấp, các tổ chức và cộng đồng trong bảo vệ  
nguồn lợi thủy sinh vật trong đầm. Sử dụng  
các giờ học ngoại khóa để tăng cường giáo  
dục cho học sinh về ý thức bảo vệ nguồn  
lợi, môi trường nước trong vùng  
4. Kết luận và đề nghị  
4.1. Kết luận  
- Cá Hồng chấm là loại cá có kích thước  
khá lớn. Chiều dài trung bình cao nhất có  
thể đạt 296,7mm với khối lượng tương ứng  
là 360,8g. Ở giai đoạn đầu, cá chủ yếu tăng  
về kích thước, càng về sau thì cá chủ yếu  
tăng nhanh về khối lượng. Ở các nhóm tuổi  
của cá (1+, 2+ và 3+), cá cái thường có chiều  
dài và khối lượng lớn hơn cá đực.  
- Cấu trúc của cá Hồng chấm gồm 4  
nhóm tuổi. Nhóm tuổi thấp nhất là nhóm  
16  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Phú, Vũ Trung Tạng (2010). “Khu hệ cá và đặc tính  
sinh học một số loài cá kinh tế ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên”, Tạp chí khoa học, Đại  
học Huế.  
[2] Pravdin I.F. (1963), Hướng dẫn nghiên cứu về cá, Phạm Thị Minh Giang dịch, Nxb  
Khoa học Kĩ thuật.  
Abstract  
A study on characteristic of growth properties of Hong cham  
(Lutjanus jorhnii Schneider et bloch, 1792) in O Loan lagoon, Phu Yen province  
Hong cham (Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792), in O Loan lagoon, Phu Yen  
province is regarded as the species of high commercial values and high yield; with good  
meat quality and high levels of nutrients, low proportions of fat but high quantities of  
protein and vitamins. Currently, mass fishing has caused increasingly serious declination in  
Hong cham. This paper presents the results of a research on the growth characteristics of  
Hong cham species in O Loan lagoon, which will establish some initial scientific foundation  
for the following researches on the models of experimental culture on this economically  
valuable type of fish.  
Key words: Lutjanus jorhnii Schneider et bloch, 1792, growth, O Loan lagoon  
pdf 7 trang yennguyen 15580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá hồng chấm (Lutjanus jorhnii Bloch et Schneider, 1792) ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_tinh_sinh_truong_cua_ca_hong_cham_lutjanus_jo.pdf