Đo lường sinh kế bền vững của hộ nuôi trồng thủy sản ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;
pISSN: 2588-1191; eISSN: 2615-9708
Tập 130, Số 3B, 2021, Tr. 5–18, DOI: 10.26459/hueunijard.v130i3B.6184
ĐO LƯỜNG SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA HỘ NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN Ở VÙNG ĐẦM PHÁ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1, 2,
2
2
Nguyễn Thị Thu Hương *, Bùi Đức Tính , Trịnh Văn Sơn
1 Thị ủy Hương Trà, 6 Thống Nhất, Tứ Hạ, Hương Trà, Thừa Thiên Huế, Việt Nam
2 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 99 Hồ Đắc Di, Huế, Việt Nam
(Ngày nhận bài: 8-2-2021; Ngày chấp nhận đăng: 11-3-2021)
Tóm tắt. Nghiên cứu na
phá tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cư
gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế chính sách với 28 chỉ tiêu. Hệ số nhất quán ở nhóm nuôi chuyên
canh, nhóm nuôi xen ghép va nhóm cá lồng lân lươt la 0,021–0,097, 0,014–0,055 va 0,019–0,077. Chỉ số phản
ánh mức độ bền vững sinh kế cho các nhóm trên lần lượt là 0,462, 0,508 va 0,446, với chỉ số chung là 0,471.
Mức độ sinh kế bền vững theo hộ là tương đối bền vững (42,3%), hơi bền vững (38,14%), khá bền vững
(17,8%), va kém bền vững (1,69%). Phương pháp phân tích thứ bậc cho thấy nhóm hộ nuôi xen ghép có khả
̀
̣i vùng đầm
́
̀
̀
̣
̀
̀
̀
̀
năng phát triển sinh kế bền vững tốt nhất. Cần chú trọng đầu tư phát triển mô hình nuôi thủy sản xen ghép
để đảm bảo tính bền vững cho hệ thống phát triển thủy sản ở vùng đầm phá của Thừa Thiên Huế.
Từ khóa: phương pháp phân tích thứ bậc, sinh kế, Thừa Thiên Huế, thủy sản, vùng đầm phá
Measuring livelihoods’ sustainability of aquacultural farmers in
the lagoons of Thua Thien Hue province
1, 2
2
2
Nguyen Thi Thu Huong *, Bui Duc Tinh , Trinh Van Son
1 People’s Committee of Huong Tra Commune, 6 Thong Nhat St., Tu Ha, Huong Tra,
Thua Thien Hue, Vietnam
2 University of Economics, Hue University, 99 Ho Dac Di St., Hue, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Thi Thu Huong <[email protected]>
(Received: February 8, 2021; Accepted: March 11, 2021)
Abstract. This study evaluates the livelihoods’ sustainability of aquaculture farmers in the lagoons of Thua
Thien Hue province. The study identified four criteria measuring livelihoods’ sustainability, namely
economic criteria, social criteria, environmental criteria, and policy criteria with 28 indicators. The
Consistency Ratio of the specialized farming group, the intercropping group, and the cage fish group is
0.021–0.097, 0.014–0.055, and 0.019–0.077, respectively. The index reflecting the measure of livelihoods’
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Tập 130, Số 3B, 2021
sustainability for the groups above is 0.462, 0.508, and 0.446, respectively, with the general index of 4.71. The
extent of livelihoods’ sustainability by households is as follows: relatively sustainable (42.3%), slightly
sustainable (38.14%), sufficiently sustainable (17.8%), and unsustainable (1.69%). The Analytic Hierarchy
Process method indicates that the intercropping households have the best potential to develop livelihoods’
sustainability. It is necessary to invest in developing the mixed aquaculture model to ensure the
sustainability of the lagoon fisheries development system of Thua Thien Hue province.
Keywords: Analytic Hierarchy Process, livelihood, Thua Thien Hue, fisheries, lagoon
1
Đặt vấn đề
Sinh kế là khái niệm được hiểu đơn giản là phương tiện đảm bảo đời sống của con người.
Sinh kế có thể được xem xét ở các mức độ khác nhau, trong đó phổ biến nhất là sinh kế hộ gia
đình. Carney cho rằng sinh kế bao gồm các khả năng tài sản (chẳng hạn, vật chất và nguồn lực
xã hội) và các hoạt động cần thiết để sống [6].
Sinh kế bền vững được Neefjes diễn giải rằng: Sinh kế tùy thuộc vào các khả năng và của
cải (trong đó có nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và những hoạt động cần thiết để mưu
sinh. Sinh kế của hộ được gọi là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước các căng
thẳng và chấn động và tồn tại được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình và cả
trong tương lai mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường [9].
Dựa trên khung lý thuyết về sinh kế và sinh kế bền vững do Cục Phát triển Quốc tế Vương
quốc Anh (DFID) và tổ chức CARE Quốc tế phát triển, nhiều nghiên cứu đã được triển khai và
mở rộng các khung lý thuyết cho sinh kế nông thôn. Các chính sách để xác định sinh kế cộng
đồng dân cư theo hướng bền vững được xác định là có liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ
mô và liên quan đến các yếu tố bên ngoài. Ellis đã chỉ ra mức độ quan hệ của tăng trưởng kinh
tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân, nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách
cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo [7].
Nghiên cứu khẳng định sự bền vững của sinh kế cộng đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả
năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng và chính sách phát
triển sinh kế [1]. Bên cạnh đó, Lê Hiếu Thảo cho rằng nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong
việc phát triển kinh tế [2].
Vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có 21.620 ha diện tích mặt nước với 616.730 ha tổng
diện tích tự nhiên, chiếm 20% diện tích tỉnh Thừa Thiên Huế. Dân số khoảng 262.698 người, bằng
33% dân số toàn tỉnh. Sinh kế thủy sản là hoạt động sinh kế quan trọng của phần lớn ngư dân
ven biển [4]. Bên cạnh khai thác thủy sản tự nhiên, nghề nuôi trồng thủy sản (NTTS) được phát
triển mạnh và trở thành một trong những nguồn thu nhập chính của các hộ ngư dân. Tại vùng
đầm pha có các hình thức nuôi trồng thủy sản phổ biến như: nuôi xen ghép, nuôi chuyên canh
́
và nuôi cá lồng. Tuy nhiên, do sự khác biệt trình độ văn hóa, tỷ lệ qua đào tạo của người lao động
6
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
ở vùng đầm phá chưa cao nên việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong các mô
hình nuôi trồng thủy sản là chưa nhiều và có sự chênh lệch lớn về quy mô giữa các hộ [5].
Hiện nay, nuôi trồng thủy sản một cách ồ ạt với nhiều phương thức khác nhau và sự gia
tăng các rủi ro từ biến đổi khí hậu làm cho các hộ nuôi trồng thủy sản dễ bị tổn thương sinh kế,
dẫn tới phát triển nuôi trồng thủy sản mất đi tính bền vững. Chính vì vậy, xác định phương thức
nuôi trồng thủy sản bền vững là hết sức quan trọng ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế hiện nay.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic Hierarchy
Process – AHP) để xây dựng các tiêu chí để có thể hoạch định và giảm thiểu thiệt hại cho các hộ
nuôi trồng thủy sản, làm cơ sở để có thể phát triển sinh kế bền vững trong tương lai.
2
Phương pháp
Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành trong năm 2019 tại thị xã Hương Trà, huyện Quảng Điền, huyện
Phú Vang và huyện Phú Lộc, nằm trong vùng trọng điểm của hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai,
có thế mạnh về NTTS trong nhiều năm trở lại đây. Đây là khu vực có các phương thức nuôi trồng
thủy sản đa dạng và lâu đời ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Số lượng mẫu ở các địa điểm điều tra được
trình bày ở Bảng 1.
Tại mỗi xã nghiên cứu chọn 60 ngư hộ, riêng đối với xã Hải Dương và Hương Phong
(thị xã Hương Trà) do quy mô diện tích NTTS nhỏ hơn so với các địa phương khác nên số lượng
hộ được chọn là chọn 30.
Bảng 1. Số lượng mẫu điều tra
STT
Địa điểm lựa chọn điều tra
Xã Lộc Bình
Số mẫu điều tra
60
60
60
60
60
60
60
60
60
60
30
30
660
1
Huyện Phú Lộc
Xã Vinh Hưng
Xã Vinh Giang
Xã Vinh Hà
Xã Vinh An
2
3
Huyện Phú Vang
Xã Vinh Xuân
Xã Vinh Thanh
Xã Quảng Ngạn
Xã Quảng Công
Xã Quảng Thành
Xã Hải Dương
Xã Hương Phong
Huyện Quảng Điền
Thị xã Hương Trà
4
Tổng số
7
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Thu thập số liệu
Tập 130, Số 3B, 2021
Chúng tôi phỏng vấn trực tiếp chuyên gia là lãnh đạo Sở nông nghiệp phát triển nông thôn,
Sở Tài nguyên môi trường; Chi cục thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc, huyện Phú
Vang, thị xã Hương Trà, huyện Quảng Điền, huyện Phong Điền, v.v. Từ thông tin thu được,
chúng tôi xác định trọng số (Weight) và đảm bảo hệ số nhất quán (Consistency Ratio – CR) nhỏ
hơn 0,1. Tám chuyên gia đã tham gia trả lời phỏng vấn.
Bên cạnh đó, chúng tôi điều tra 660 hộ ngư dân bằng bảng hỏi và phân loại hộ theo ba
nhóm: (1) hộ nuôi chuyên canh; (2) hộ nuôi xen ghép; và (3) hộ nuôi cá lồng. Bảng hỏi được thiết
kế nhằm khai thác được những chỉ tiêu về nguồn vốn sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh
kế. Ngoài ra, còn có những câu hỏi mở để người trả lời phỏng vấn đưa ra những đánh giá, nhận
xét, kiến nghị; các đề xuất giải pháp phát triển sinh kế theo hướng bền vững trong thời gian tới.
Phân tích thứ bậc
Phân tích thứ bậc là phương pháp giúp đưa ra phương án phù hợp nhất trên cơ sở xác
định và phân cấp yếu tố ảnh hưởng, tác động đến một vấn đề cần giải quyết [10]. AHP phân tích
một vấn đề phức tạp, đa tiêu chí theo cấu trúc thứ bậc, phương pháp có 4 bước như sau:
Bước 1: Lập ma trận so sánh cặp chỉ tiêu. So sánh cặp có thể được sử dụng để xác định tầm
quan trọng tương đối của mỗi chỉ tiêu ứng với mỗi tiêu chí. Trong tiêu chí này, chuyên gia phải
diễn tả ý kiến của mình về giá trị của sự so sánh cặp theo một thang đánh giá mức độ quan trọng
(quan trọng như nhau, quan trọng hơn một ít, quan trọng hơn, quan trọng hơn nhiều, rất quan
trọng) và chia giá trị từ 1 đến 9 [11, 12]. Sau đó tham khảo ý kiến chuyên gia về tầm quan trọng
của các chỉ tiêu và thiếp lập ma trận ý kiến chuyên gia đối với mỗi tiêu chí (gồm có m chỉ tiêu):
a11, a12, … a1m đến am1, … amm. Trong đó aij là mức độ đánh giá giữa chỉ tiêu i so với j. 푎푖푗 > 0, 푎푖푗 =
1
, 푎푖푖 = 1. Gọi wij là trọng số giữa chỉ tiêu thứ i so với chỉ tiêu thứ j và wij được tính theo công
푎
푖푗
thức (1)
푎푖푗
푤푖푗 =
(1)
푚
∑
푖=1 푎푖푗
Bảng 2. Quan hệ chỉ số ngẫu nhiên (Random Index – RI)
N
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1,51
RI
0,00
0,00
0,058
0,90
1,12
1,24
1,32
1,45
1,49
8
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
Bước 2: Tính trọng số riêng từng chỉ tiêu.
푚
1
푤푖 = ∑ 푤푖푗
(2)
푚
푗 = 1
Điều kiện tổng các trọng số riêng các chỉ tiêu trong mỗi tiêu chí là
푚
∑
푖 = 1 푤푖 = 1.
Tính chỉ số của trọng số
퐼푖푗 = 푎푖푗 × 푤
(3)
(4)
푗
Tính tổng chỉ số của trọng số
푚
퐼푖 = ∑ 푎푖푗 × 푤
푗
푗 = 1
Bước 3: Tính và kiểm tra hệ số nhất quán
퐶퐼
퐶푅 =
푅퐼
(5)
(6)
trong đó CI là chỉ số nhất quán (Consistency Index)
휆max − 푚
퐶퐼 =
푚 − 1
và max là hệ số trị cực đại
1
퐼1
퐼푚
휆max
=
× ( + ⋯ +
푤1
)
(7)
푚
푤푚
trong đó m là số chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí được đánh giá; RI là chỉ số ngẫu nhiên, được lấy từ
quan hệ chỉ số do Saaty đề xuất theo 10 mức (Bảng 2).
Trong quy trình phân tích xác định trọng số theo phương pháp AHP thì dữ liệu ý kiến
chuyên gia được chấp nhận khi CR nhỏ hơn 0,1. Trong trường hợp CR lớn hơn 0,1 thì có nghĩa là
các ý kiến đánh giá của chuyên gia không thống nhất và phải xem xét lại từ đầu.
Cách tính chỉ số bền vững sinh kế
Chỉ số sinh kế bền vững được tính dựa trên công thức của Hahn và cs. [8]. Dựa vào số liệu
thu thập được từ khảo sát các nhóm hộ, chúng tôi sử dụng phương pháp cực trị để chuẩn hóa các
chỉ số đo lường dựa trên công thức (8) và (9)
9
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Tập 130, Số 3B, 2021
푋푖푗 − 푋푚푖푛
푋푖′푗 =
푋푖′푗 =
(8)
(9)
푋푚푎푥 − 푋푚푖푛
푋푚푎푥 − 푋푖푗
푋푚푎푥 − 푋푚푖푛
Công thức (8) được sử dụng để chuẩn hóa các chỉ tiêu mang dấu kỳ vọng hướng tích cực
(+); công thức (9) được sử dụng để chuẩn hóa các chỉ tiêu mang dấu kỳ vọng hướng tiêu cực, thực
hiện với các chỉ tiêu nghịch đảo (–). Giá trị chuẩn hóa đưa vào biến được chuẩn hóa về giá trị
′
[
]
thuộc phạm vi 0,1 . Trong đó 푋푖푗 là chỉ số dữ liệu được chuẩn hóa; 푋푖푗 là giá trị thực từ khảo sát;
i là thứ tự chỉ tiêu thứ i; j là của hộ gia đình thứ j; Xmax và Xmin là giá trị tối đa và tối thiểu của các
chỉ tiêu. Sau khi thực hiện mã số hóa các chỉ tiêu đối với mỗi hộ gia đình, chúng tôi tính giá trị
trung bình của từng giá trị đã được mã hóa cho từng chỉ tiêu.
푛
′
∑
푋
푗 = 1 푖푗
′
(10)
(
)
=
푀푑 푋푖
푛
′
(
)
trong đó 푀푑 푋푖 là giá trị trung bình của chỉ tiêu i; n là số khảo sát. Tính chỉ số cho từng chỉ tiêu
đánh giá
′
(
)
퐼푖 = 푀푑 푋푖 × 푤푖
(11)
trong đó 푤푖 là trọng số của chỉ tiêu i; 퐼푖 là chỉ số của từng chỉ tiêu i.
Tính chỉ số cho từng tiêu chí:
Chỉ số tiêu chí kinh tế:
10
′
(
)
퐼푘 = ∑ 푤푘푖 × 푀푑 푋푘푖
(12)
(13)
(14)
푖 = 1
Chỉ số tiêu chí xã hội:
8
′
(
)
퐼푥 = ∑ 푤푥푖 × 푀푑 푋푥푖
푖 = 1
Chỉ số tiêu chí môi trường:
5
′
(
)
퐼푚 = ∑ 푤푚푖 × 푀푑 푋푚푖
푖 = 1
10
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
Chỉ tiêu tiêu chí thể chế, chính sách:
5
′
(
)
퐼푡 = ∑ 푤푡푖 × 푀푑 푋푡푖
(15)
푖 = 1
Tính chỉ số sinh kế bền vững:
퐻푆퐿퐼 =
퐼푘 + 퐼푥 + 퐼푚 + 퐼푡
4
(16)
(17)
4
퐻푆퐿퐼 = 퐼 × 퐼 × 퐼 × 퐼푡
√
푘
푥
푚
Để giảm sự chênh lệch về kết quả giữa các tiêu chí, chúng tôi sử dụng công thức (17). Dựa
theo thang đo của Nguyễn Minh Thu đề xuất năm mức để đo lường mức độ bền vững của chỉ số
phát triển bền vững: chỉ số từ 0 đến 0,2 là mức “kém bền vững”; 0,2–0,4 là mức “hơi bền vững”;
0,4–0,6 là mức “tương đối bền vững”; 0,6–0,8 là mức “khá bền vững” và chỉ số có mức trên 0,8 là
mức “bền vững”[3]. Chúng tôi sử dụng thang đo trên để nhận định tính bền vững sinh kế cho
các hộ ngư dân nuôi trồng thủy sản ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế.
3
Kết quả và thảo luận
3.1
Đặc điểm hoạt động sinh kế của hộ
Kết quả về điều tra các hoạt động sinh kế của ngư hộ NTTS được trình bày ở Bảng 3. Kết quả
cho thấy: Có nhiều hoạt động sinh kế khác nhau như nuôi cá lồng, nuôi xen ghép tôm – cua – cá, buôn
bán dịch vụ thủy sản, đánh bắt thủy sản trên đầm phá, đánh bắt thủy sản trên biển và lao động công
nhật. Các hoạt động này có tỷ lệ hộ tham gia khác nhau ở các điểm điều tra khác nhau, nhưng sinh
kế chủ yếu là đánh bắt thủy sản trên biển, lao động công nhật, buôn bán dịch vụ thủy sản và nuôi xen
ghép, với số hộ tham gia đạt tỷ lệ trên 19%. Ngoài ra, hoạt động đánh bắt thủy sản trên đầm phá cũng
là sinh kế chính của ngư hộ với tỷ lệ dao động từ 15,56 đến 19,31%. Nuôi cá lồng là sinh kế với tỷ lệ
hộ tham gia thấp (10,98–13,71%). Riêng hình thức nuôi chuyên canh tôm vẫn được người dân tổ chức
sản xuất nhưng chủ yếu là nuôi trên cát ven biển.
Bảng 3. Các hoạt động sinh kế của hộ nuôi trồng thủy sản trên vùng đầm phá Thừa Thiên Huế
ĐVT: % hộ điều tra
Địa điểm điều tra
Hoạt động sinh kế
Nuôi nuôi cá lồng
Huyện
Phú Lộc
Huyện
Phú Vang
Thị xã
Hương Trà
Huyện
Quảng Điền
13,71
19,70
18,80
12,76
17,26
18,52
12,70
18,63
18,93
10,98
19,87
19,35
Nuôi xen ghép tôm – cua – cá
Dịch vụ TS
11
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Hoạt động sinh kế
Tập 130, Số 3B, 2021
Địa điểm điều tra
Huyện
Huyện
Thị xã
Huyện
Phú Lộc
Phú Vang
Hương Trà
Quảng Điền
ĐBTS đầm phá
ĐBTS trên biển
14,96
19,25
19,25
13,91
15,06
19,66
19,29
15,56
19,87
19,61
19,85
18,90
Lao động công nhật
Ghi chú: TS = thủy sản; ĐBTS = đánh bắt thủy sản.
Nguồn: xử lý số liệu điều tra
3.2
Mô tả về chi
̉ tiêu đo lường sinh kế
Hệ thống chỉ tiêu đo lường sinh kế bền vững dựa trên bốn nhóm tiêu chí về đo lường mức
sinh kế bền vững gồm: tiêu chí kinh tế, tiêu chí xã hội, tiêu chí môi trường, và tiêu chí thể chế
chính sách (Bảng 4).
Bảng 4. Tiêu chí đo lường sinh kế bền vững cho các hộ nuôi trồng thủy sản ở vùng đầm phá
tỉnh Thừa Thiên Huế
STT
Chỉ tiêu
Tên biến
Đơn vị
Dấu kỳ vọng
I. Tiêu chí kinh tế
1
Mức thu nhập bình quân trên đầu
người/ năm
Lượng lương thực bình quân trên đầu
người/ năm
퐾푇
Triệu đồng
+
+
1
2
퐾푇2
퐾푇3
kg
3
4
5
6
Thu từ các khoản hỗ trợ
Loại nhà ở
Triệu đồng
Triệu đồng
Công trình
–
+
+
퐾푇
4
퐾푇5
퐾푇6
퐾푇7
퐾푇8
퐾푇9
Số công trình phụ
Giá trị lưới cụ, các ngư cụ, lồng nuôi và
các vật dụng khác phục vụ NTTS
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
+
+
+
7
8
Giá trị máy bơm nước, giàn sục khí
Giá trị các phương tiện vận tải phục vụ
NTTS: các loại xe, thuyền, ghe.
9
Số lao động có việc làm trong gia đình
Lao động
Lao động
+
+
10
퐾푇
Số lao động được đào tạo nghề
10
II. Tiêu chí xã hội
1
푋퐻1
푋퐻2
Trình độ văn hóa của chủ hộ
Năm
+
+
2
3
Tỷ lệ lao động nữ có việc làm
%
Tỷ lệ người tham gia vào các tổ chức
đoàn thể xã hội ở địa phương
푋퐻3
푋퐻4
%
%
+
+
4
Tỷ lệ người tham gia vào BHYT
12
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
STT
Chỉ tiêu
Tên biến
푋퐻5
Đơn vị
Cái/chiếc
Lần
Dấu kỳ vọng
5
Số phương tiện cập nhật thông tin
Số lần tham gia sinh hoạt cộng đồng
Số tháng được hỗ trợ sản xuất
+
+
–
–
6
7
8
푋퐻6
푋퐻7
Tháng
km
푋퐻8
Khoảng cách từ nhà đến trung tâm
III. Tiêu chí môi trường
1
푀푇
Diện tích mặt nước NTTS
Sào
Hệ số
Lần/năm
Loài
+
+
–
–
+
1
2
3
4
5
푀푇2
푀푇3
Tình trạng nguồn nước
Cường độ khai thác
푀푇
Số loài sản phẩm được khai thác
Tỷ lệ người tham gia tuyên truyền
4
푀푇5
%
IV. Tiêu chí thể chế chính sách
1
2
3
4
5
Các cơ quan địa phương hỗ trợ việc
Số chính sách,
chương trình
Số hoạt động
sinh kế
Thang đo từ 1
đến 5
1 – Không ảnh
hưởng;
2 – Ảnh hưởng
một phần;
퐶푆1
퐶푆2
퐶푆3
+
+
+
+
thực hiện thành công hoạt động sinh kế
Các hoạt động sinh kế mà gia đình
được hỗ trợ thành công
Vai trò của chính quyền địa phương
trong việc chuyển đổi sinh kế
Chính sách tuyên truyền bảo vệ biển,
bảo vệ môi trường
퐶푆4
퐶푆5
Quy trình hoạch định chính sách có sự
tham gia của người dân
3 – Không ý kiến;
4 – Ảnh hưởng
tương đối
+
nhiều;
5 – Ảnh hương
rất nhiều.
Ghi chú: (+) nếu sự tăng lên sẽ tác động tích cực đến tính bền vững của sinh kế và dấu (–) ngược lại sẽ tác
động tiêu cực.
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu và thảo luận nhóm
Đối với nhóm tiêu chí kinh tế, hầu hết các chỉ tiêu thay đổi theo xu hướng tích cực đồng
thời chỉ tiêu về phụ thuộc từ các khoản hỗ trợ giảm xuống. Điều này chứng tỏ rằng người dân đã
giảm sự phụ thuộc vào các khoản hỗ trợ và sinh kế của các nhóm hộ đáp ứng nhóm tiêu chí phát
triển bền vững. Tiêu chí xã hội được xem xét trên các khía cạnh: trình độ văn hóa, tỉ lệ lao động
có việc làm, số lần tham gia sinh hoạt cộng đồng, tỉ lệ người tham gia bào bảo hiểm xã hội, v.v.
Quá trình hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có tác động đến cơ cấu nghề nghiệp và một số tập
quán trong lao động sản xuất. Trong bối cảnh ấy, người dân đã có tiếp cận thông tin, nâng cao
trình độ để phát triển sản xuất. Tiêu chí môi trường bao gồm diện tích mặt nước NTTS, tình trạng
13
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Tập 130, Số 3B, 2021
nguồn nước, cường độ khai thác, số loài được khai thác và tỉ lệ tham gia tuyên truyền. Tiêu chí
thể chế chính sách được xem xét trên một số khía cạnh như: các cơ quan địa phương hỗ trợ việc
thực hiện thành công hoạt động sinh kế (các hoạt động sinh kế mà gia đình được hỗ trợ thành
công; vai trò của chính quyền địa phương trong việc chuyển đổi sinh kế; chính sách tuyên truyền
bảo vệ biển, bảo vệ môi trường; quy trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân).
3.3
Thực trạng nguồn lực sinh kế
Chuẩn hóa giá trị các chỉ tiêu đánh giá: Thực hiện chuẩn hóa 28 chỉ tiêu đánh giá với giá trị
được chuẩn hóa về phạm vi khoảng [0,1], trong đó 23 chỉ tiêu thuận chiều (+) được tính theo công
thức (1) và 5 chỉ tiêu ngược chiều (–) được tính theo công thức (2). Giá trị cực đại và cực tiểu của
chuỗi dữ liệu khảo sát là căn cứ để thực hiện chuẩn hóa dữ liệu về phạm vi [0,1]. Bước chuẩn hóa
này sẽ giúp hạn chế sự khác nhau về đơn vị đo lường, so sánh nhiều loại dữ liệu khác nhau
(định tính hay định lượng) không có ý nghĩa sẽ được khắc phục.
Xác định trọng số: Để xác định trọng số, chúng tôi tiến hành tham vấn tám chuyên gia trong
lĩnh vực thuỷ sản về mức độ quan trọng của năm nhóm tiêu chí đối với từng loại hình sinh kế
thuỷ sản là chuyên canh, xen ghép và cá lồng. Khảo sát 660 hộ để xác định giá trị thực tế của các
tiêu chí đối với hộ. Tính giá trị trung bình nhân đánh giá tầm quan trọng của các chỉ tiêu theo các
ý kiến chuyên gia bằng công thức:
8
퐾 = 퐾 × 퐾 × 퐾 × 퐾 × 퐾 × 퐾 × 퐾 × 퐾
√
푖푗
1
2
3
4
5
6
7
8
Hệ số nhất quán được tính theo công thức (8) cho ba nhóm hộ và toàn vùng đầm phá
(Bảng 5).
Chỉ số ngẫu nhiên được lấy từ bảng quan hệ chỉ số của Saaty tương ứng với số chỉ tiêu m
trong từng tiêu chí. Như vậy, tất cả hệ số nhất quán của các nhóm tiêu chí ở cả ba nhóm hộ và
vùng đầm phá đều nhỏ hơn 0,1, thỏa mãn điều kiện về tính thống nhất ý kiến đánh giá của các
chuyên gia.
Chỉ số thành phần và chỉ số chung về sinh kế bền vững: Chỉ số thành phần và chỉ số chung về
sinh kế bền vững phản ánh bốn tiêu chí kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế chính sách. Trong
đó chỉ số thành phần được tính theo công thức (5) và chỉ số chung được tính theo công thức (7).
Bảng 5. Hệ số nhất quán của các tiêu chí đối với ba nhóm hộ
Loại hộ
Tiêu chí
Số chỉ tiêu
max
10,284
8,537
5,437
5,137
10,746
CI
CR
Kinh tế
Xã hội
Môi trường
Thể chế, chính sách
Kinh tế
10
8
5
0,032
0,077
0,109
0,034
0,083
0,021
0,053
0,097
0,031
0,055
Nhóm
chuyên canh
5
Nhóm
10
14
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
xen ghép
Xã hội
8
5
5
8,138
5,083
5,077
10,260
8,291
5,152
5,346
0,020
0,014
0,019
0,017
0,019
0,029
0,034
0,077
Môi trường
Thể chế, chính sách
Kinh tế
Xã hội
Môi trường
Thể chế, chính sách
0,021
0,019
0,029
0,042
0,038
0,087
10
8
5
Nhóm
cá lồng
5
Nguồn: Tính toán từ khảo sát ý kiến của chuyên gia
3.4
Kết quả đo lường sinh kế bền vững
Chỉ số sinh kế bền vững thành phần giữa các tiêu chí có khác nhau, trong đó tiêu chí
kinh tế có chỉ số thấp nhất (<0,4); tiêu chí xã hội là cao nhất (0,608) và chỉ số chung là 0,471
(Bảng 6). Theo thang đo của Nguyễn Minh Thu [3] thì sinh kế của hộ nuôi trồng thủy sản ở vùng
đầm phá là “tương đối bền vững”. Chỉ số đo lường mức độ bền vững của nhóm hộ nuôi xen ghép
cao nhất và điều này đúng với thực tế. Những năm qua, do thời tiết khí hậu thay đổi thất thường,
môi trường vùng đầm phá ngày một ô nhiễm nên Chi cục Nuôi trồng thủy sản đã nghiên cứu và
khuyến cao ngư dân chuyển đổi đối tượng nuôi, hình thức nuôi phù hợp. Nhờ chuyển sang nuôi
xen ghép nên nhiều loại cá, tôm, cua cho hiệu quả nuôi cao rõ rệt, cho sản lượng cao hơn và có
thể nuôi quanh năm. Nhóm hộ nuôi xen ghép được xem là nhóm hộ có điều kiện phát triển ở
vùng đầm phá, khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn lực hiện có và hỗ trợ để phát triển sinh kế
của họ khá tốt. Vì vậy, nhóm hộ nuôi xen ghép là nhóm có khả năng phát triển sinh kế bền vững
tốt nhất (0,508).
Chỉ số đo lường sinh kế bền vững theo hộ: Khi tính chỉ số của các hộ khảo sát theo phương
pháp trọng số AHP, chúng tôi nhận thấy nuôi xen ghép là phương thức có khả năng phát triển
sinh kế bền vững nhất và có thể được điều chỉnh và phát triển trong thời gian tới để cải thiện và
nâng cao mức độ bền vững về sinh kế của hộ nuôi trồng thủy sản tại địa phương để thích ứng
với những thay đổi từ các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường.
3.5
Một số rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương
Bảng 7 cho thấy tỷ lệ hộ có chỉ số sinh kế bền vững từ 0,5 trở lên là 38,14%, trong đó chỉ số
của nhóm tiêu chí về xã hội, môi trường, thể chế chính sách từ 0,5 trở lên chiếm trên 30% số hộ.
Nhìn chung số hộ có chỉ số sinh kế bền vững từ 0,5 trở lên tương đối thấp, chứng tỏ sinh kế của
hộ ngư dân NTTS ở vùng đầm phá chưa thực sự bền vững. Kết quả cho thấy, số hộ có chỉ số từ
0,4 đến 0,6 là cao nhất, tiếp theo là từ 0,2 đến 0,4. Như vậy, sinh kế của hộ ngư dân NTTS vùng
đầm phá nằm vào khoảng “hơi bền vững đến tương đối bền vững”.
15
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Tập 130, Số 3B, 2021
Chỉ số chung
Bảng 6. Chỉ số phản ánh mức độ đo lường sinh kế bền vững
Nhân tố
kinh tế (Ikt)
Nhân tố
xã hội (Ixh)
Nhân tố
môi trường (Imt)
Nhân tố
thể chế (Itc)
Nhóm
Chuyên canh
Xen ghép
0,372
0,338
0,374
0,350
0,546
0,627
0,537
0,608
0,586
0,603
0,383
0,521
0,385
0,522
0,522
0,443
0,462
0,508
0,446
0,471
Nuôi cá lồng
Vùng đầm phá
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra của tác giả
Bảng 7. Chỉ số đo lường sinh kế bền vững (%)
Chỉ số sinh kế
bền vững
Nhân tố
kinh tế (Ikt)
Nhân tố
xã hội (Ixh)
Nhân tố môi
trường (Imt)
Nhân tố thể chế
chính sách (Itc)
Chỉ số
chung
Kém bền vững (<0,2)
Hơi bền vững (0,2–0,4)
0,85
0,00
9,32
7,63
19,49
15,25
1,69
78,81
33,05
38,14
Tương đối bền vững
(0,4–0,6)
18,65
34,75
24,58
38,98
42,37
Khá bền vững (0,6–0,8)
1,69
0,00
52,54
3,39
22,88
11,86
25,43
0,85
17,80
0,00
Bền vững (>0,8)
Nguồn: Phân tích dữ liệu từ phiếu điều tra
4
Kết luận và kiến nghị
4.1
Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 nhóm tiêu chí đo lường sinh kế bền vững cho các hộ nuôi
trồng thủy sản ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế gồm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế
chính sách. Hệ số nhất quán ở nhóm chuyên canh từ 0,021 đến 0,097; nhóm nuôi xen ghép đạt từ
0,014 đến 0,055 và nhóm cá lồng đạt từ 0,019 đến 0,077. Chỉ số chung phản ánh mức độ đo lường
sinh kế bền vững là 0,471, trong đó nhóm nuôi chuyên canh là 0,462, nhóm nuôi xen ghép là 0,508
và nhóm nuôi cá lồng là 0,446. Đo lường sinh kế bền vững theo hộ cho thấy mức tương đối bền
vững có chỉ số chung là 42,3%, hơi bền vững là 38,14%, khá bền vững là 17,8%, kém bền vững là
1,69%.
Ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP đánh giá tính bền vững về sinh kế của hộ
ngư dân nuôi trồng thủy sản vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy nhóm hộ nuôi xen
ghép là nhóm có khả năng phát triển sinh kế bền vững tốt nhất.
16
Jos.hueuni.edu.vn
Tập 130, Số 3B, 2021
4.2
Kiến nghị
Dựa vào kết quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng để đảm bảo sinh kế bền vững, các hộ nuôi
trồng thủy sản trên vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế nên tập trung
phát triển mô hình nuôi xen ghép. Đây là mô hình đã chứng minh được hiệu quả kinh tế cao và
hạn chế rủi ro dịch bệnh nên tạo ra được sự bền vững so với các mô hình nuôi trồng thủy sản
khác.
Phương pháp phân tích thứ bậc phù hợp và cho kết quả có độ tin cậy trong đánh giá sinh
kế bền vững không chỉ cho các hộ nuôi trồng thủy sản mà còn có thể áp dụng để phân tích tính
bền vững cho các loại hộ gia đình có sinh kế dựa vào tài nguyên thiên nhiên.
Tài liệu tham khảo
1. Cao Lệ Quyên (2010), Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng lớn đến nghề cá tại các vùng đầm phá ven
2. Lê Hiếu Thảo (2017), Một số giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong phát triển kinh
tế biển ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí công thương, 4, 4+5, 68–72.
3. Nguyễn Minh Thu (2013), Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam, Luận
án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
4. Nguyễn Ngọc Truyền, Nguyễn Tiến Dũng, Dương Ngọc Phước (2019), Đánh giá mức độ
phục hồi sinh kế của ngư dân khai thác thủy sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế sau ảnh hưởng
của sự cố formosa năm 2016, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
128(3D), 53–65, DOI: 10.26459/hueuni-jard.v128i3D.5334.
5. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2021), Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2020 và phương hướng nhiệm vụ
2021.
6. Carney D. (ed.) (1998), Sustainable Rural Livelihoods: What contribution can we make? London:
Department for International Development.
7. Ellis F. (2000), Rural Livelihoods and Diversity in Developing Countries. Oxford University Press,
pp. 2–24.
8. Hahn M. B., Riederer A. M., Foster S. O. (2009), The livelihood vulnerability index: A
pragmatic approach to assessing risks from climate variability and change—A case study in
Mozambique, Global Environmental Change, 19(1), 74–88.
9. Neefjes K. (2000), Environments and Livelihoods: Strategies for Sust in bility, Oxfam, Oxford (Bản
dịch tiếng Việt: Môi trường và sinh kế: Các chiến lược phát triển bền vững, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2008).
17
Nguyễn Thị Thu Hương và CS.
Tập 130, Số 3B, 2021
10. Saaty T. L. (1980), The Analytical Hierarchy Process, McGraw-Hill, New York.
12. Thomas L. Saaty & Luis G. Vargas (2008), Models, methods, Concept and Applications of the
analytic Hierarchy Process, University of Pittsburg.
18
Bạn đang xem tài liệu "Đo lường sinh kế bền vững của hộ nuôi trồng thủy sản ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
do_luong_sinh_ke_ben_vung_cua_ho_nuoi_trong_thuy_san_o_vung.pdf

