Thành phần loài và phân bố của cá trong các thủy vực rừng đặc dụng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ TRONG CÁC THỦY  
VỰC RỪNG ĐẶC DỤNG NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG  
TRẦN VĂN ĐẠT  
1. MỞ ĐẦU  
Rừng đặc dụng Na Hang (RĐD Na Hang) thuộc địa bàn tỉnh Tuyên Quang với  
diện tích 22.401,5 ha. Khu vực mang đặc điểm địa hình vòng cung của khối núi đá  
vôi Lô-Gâm với độ cao dao động từ 150 m đến 800 m. Khu vực nghiên cứu thuộc  
lưu vực của hệ thống sông Năng và sông Gâm. Hồ thuỷ điện Tuyên Quang thuộc địa  
bàn nghiên cứu với mực nước dâng bình thường ở cao trình 120 m có diện tích thủy  
vực lên đến trên 8.263 ha [1].  
Đã có nhiều nghiên cứu về khu hệ cá sông Gâm (khu vực Na Hang - Tuyên  
Quang) được các tác giả công bố như Nguyễn Văn Hảo và Võ Văn Bình (1999) ghi  
nhận 87 loài cá trong đoạn sông Gâm tại thị trấn Na Hang; Nguyễn Kiêm Sơn  
(2001) chỉ ra khu hệ cá sông Gâm, sông Năng đoạn từ hồ Ba Bể ra sông Lô ở khu  
vực Na Hang có 73 loài; Ngô Sỹ Vân (2007) ghi nhận khu hệ cá sông Lô - Gâm ở  
vùng Hà Giang - Tuyên Quang có 41 loài [2].  
Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, sau khi thủy điện Na Hang được  
hoàn thành (2008), chưa có điều tra, đánh giá lại thành phần, phân bố loài cá tại khu  
vực này. Xuất phát từ thực tế đó, nhằm bổ sung dẫn liệu cho khu hệ cá, cung cấp  
thêm thông tin nguồn lợi cá bản địa làm cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học động vật  
hoang dã nói chung và cá khu vực RĐD Na Hang nói riêng, bài báo trình bày kết  
quả điều tra, nghiên cứu thành phần và đặc điểm phân bố của cá trong các thủy vực  
thuộc RĐD Na Hang.  
2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Thời gian và địa điểm  
Thời gian điều tra, khảo sát thực địa được tiến hành 3 đợt vào các tháng  
7/2017, tháng 10/2017 và tháng 6/2018.  
Địa điểm tiến hành khảo sát là các thủy vực của RĐD Na Hang với 8 nhánh suối  
như: suối Thác Mơ, Nậm Trang, Khâu Tinh, Bản Va, Tát Kẻ, Ngòi Nè...; 2 điểm trên  
hồ thủy điện Tuyên Quang; các chợ bán cá trong vùng cũng như quan sát, phỏng vấn  
bằng hình ảnh mẫu cá thông qua người dân địa phương khu vực RĐD Na Hang  
(hình 1).  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Mẫu cá được thu chủ yếu bằng cách bắt trực tiếp với các loại ngư cụ gồm lưới,  
vợt, đó, bẫy cá... Bên cạnh đó mẫu còn được thu mua từ ngư dân và ở chợ địa  
phương. Sau khi thu, mẫu vật được cố định trong dung dịch formalin 5% trong 2-5  
giờ, sau đó tiến hành rửa sạch bằng nước và ngâm trong dung dịch cồn 70% để bảo  
quản. Bên ngoài hộp mẫu được dán nhãn, ghi rõ các thông tin: khu vực nghiên cứu,  
ngày thu mẫu, tọa độ nghiên cứu.  
16  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Hình 1. Sơ đồ vị trí các điểm điều tra, khảo sát tại RĐD Na Hang  
Đo đếm, phân tích mẫu vật theo phương pháp của Pravdin (1963) [3]. Định loại  
cá dựa theo các tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước: Mai Đình Yên [4, 5];  
Nguyễn Văn Hảo & Ngô Sỹ Vân [6, 7, 8]; Kottelat [9, 10]; trang web Fishbase [11].  
Đánh giá tính tương đồng về thành phần loài cá giữa khu vực nghiên cứu với  
các khu vực khác theo công thức tính chỉ số tương đồng Sorensen [12].  
SI = 2C/(A+B).  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
17  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Trong đó:  
SI: Chỉ số tương đồng (Index of Similarity hay Sorensen’s Index);  
C: Số lượng loài xuất hiện cả ở 2 khu vực A và B;  
A: Số lượng loài của khu vực A;  
B: Số lượng loài của khu vực B.  
Đo hàm lượng Oxy hòa tan (DO) và pH theo phương pháp dùng thuốc thử  
chuẩn - so màu với bộ Test kid Sera (Đức).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Điều kiện môi trường nước khu vực RĐD Na Hang  
Trong các đợt khảo sát, đã tiến hành thu 8 mẫu nước tại các thủy vực khác  
nhau. Kết quả đo hàm lượng DO và pH được chỉ ra trong bảng 1.  
Bảng 1. Hàm lượng DO và pH tại một số điểm nghiên cứu  
Chỉ tiêu môi trường nước  
STT  
Địa Điểm  
DO (mg/l)  
6,0  
pH  
8,0  
7,5  
8,5  
8,0  
8,0  
7,5  
7,5  
7,5  
1
2
3
4
5
6
7
8
Suối Thác Mơ  
Suối Nậm Trang  
4,5  
Hồ Thủy Điện (thị trấn Na Hang)  
Suối Khâu Tinh  
4,0  
4,5  
Suối Kéo Tấu  
5,0  
Hồ Thủy Điện (xã Sơn Phú)  
Suối Sinh Long  
4,0  
4,5  
Suối Bản Va (xã Yên Hoa)  
4,5  
Kết quả đo đạc cho thấy, hàm lượng DO trong nước hồ thủy điện và các nhánh  
suối đều ≥ 4mg/l, pH dao động từ 7,5 đến 8,5. Điều này có thể giải thích do các thuỷ  
vực chủ yếu hình thành trên nền đá vôi nên pH luôn ở mức cao.  
3.2. Thành phần loài cá khu vực nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu qua các đợt điều tra tại RĐD Na Hang năm 2017 và 2018,  
đã thu và phân tích định loại trên cơ sở 260 mẫu cá. Ngoài ra còn sử dụng các kết quả  
từ phỏng vấn người dân địa phương, xác lập được danh lục thành phần loài cá gồm 41  
loài thuộc 15 họ trong 4 bộ. Danh lục thành phần loài được thể hiện ở bảng 2.  
18  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 2. Thành phần loài cá khu vực RĐD Na Hang  
Số  
lượng  
mẫu  
SĐVN IUCN  
2007 2018  
TT Tên Tiếng Việt  
Tên khoa học  
I. BỘ CÁ CHÉP  
1. Họ cá Chép  
1 Cá Chép  
CYPRINIFORMES  
Cyprinidae  
Cyprinus carpio (Linnaeus, 1758)  
Carassius auratus (Linnaeus, 1758)  
2
2
VU  
LC  
2 Cá Diếc  
Cá Đòng đong  
cân cấn  
3
Puntius semifasciolatus (Gunther, 1868)  
Opsarichthys bidens (Gunther, 1873)  
9
3
LC  
4 Cá Cháo  
LC  
DD  
NT  
LC  
DD  
DD  
DD  
5 Cá Mè hoa  
6 Cá Mè trắng  
7 Cá Trắm cỏ  
8 Cá Trắm đen  
9 Cá Chát hoa  
10 Cá Đục  
Hypophthalmichthys nobilis (Richardson, 1844) QS  
Hypophthalmichthys molitrix (Cuvier, 1844) QS  
Ctenopharyngodon idella (Valenciennes, 1842) QS  
Mylopharyngodon piceus (Richardson, 1846).  
Acrossocheilus iridescens (Nichols & Pope, 1927)  
Hemibarbus labeo (Pallas, 1776)  
1
8
5
Neolissochilus benasi (Pellegrin & Chevey,  
1936)  
11 Cá Pami*  
24  
LC  
12 Cá Bậu thác*  
13 Cá Mương  
14 Cá Nhác  
Placogobio nahangensis (Hảo nov.sp)  
Pseudohemiculter dispar (Peters, 1881)  
Sinibrama affinis (Vaillant, 1892)  
Megalobrama terminalis (Richardson, 1846)  
Rhodeus ocellatus (Kner, 1866)  
Labeo rohita (Hamilton, 1822)  
62  
7
LC  
LC  
LC  
LC  
DD  
LC  
6
15 Cá Vền  
1
16 Cá Bướm  
3
17 Cá Trôi Ấn độ  
2. Họ cá Chạch  
18 Cá Chạch bùn  
QS  
Cobitidae  
Misgurnus anguillicaudatus (Cantor, 1842)  
3
LC  
3. Họ cá Chạch  
vây bằng  
Balitoridae  
Cá Chạch suối  
chín sọc  
19  
Schistura hingi (Herre, 1934)  
13  
17  
LC  
Cá Chạch suối  
20  
Schistura fasciolata (Nichols & Pope, 1927)  
DD  
mười sọc  
21 Cá Chạch suối* Schistura incerta (Nichols, 1931)  
22 Cá Vây bằng Vanmanenia tetraloba (Mai, 1978)  
6
4
DD  
DD  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
19  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
II. BỘ CÁ DA  
TRƠN  
SILURIFORMES  
Siluridae  
4. Họ cá Nheo  
23 Cá Thèo  
24 Cá Nheo  
5. Họ cá Chiên  
Pterocryptis cochinchinensis (Valenciennes, 1840)  
Silurus asotus (Linnaeus, 1758)  
Sisoridae  
3
LC  
LC  
QS  
25 Cá Chiên  
26 Cá Chiên suối  
6. Họ cá Lăng  
27 Cá Bò*  
Bagarius bagarius (Hamilton, 1822)  
Glyptothorax hainanensis (Nichols & Pope, 1927)  
Bagridae  
QS  
5
VU  
VU  
NT  
LC  
Pelteobagrus fulvidraco (Richardson, 1846)  
Hemibagrus guttatus (Lacepède, 1803)  
Hemibagrus vietnamicus (Mai, 1978)  
Claridae  
4
1
2
LC  
DD  
DD  
28 Cá Lăng chấm  
29 Cá Huốt  
7. Họ cá Trê  
30 Cá Trê  
Clarius fuscus (Lacepede, 1803)  
3
LC  
III. BỘ MANG  
LIỀN  
SYNBRANCHIFORMES  
8. Họ Lươn  
31 Lươn  
Monopteridae  
Monopterus albus (Zuiew, 1793)  
2
8
LC  
LC  
9. Họ cá Chạch  
sông  
Mastacembelidae  
32 Cá Chạch sông Mastacembelus armatus (Lacepede, 1800)  
IV. BỘ CÁ  
PERCIFORMES  
VƯỢC  
10. Họ cá Rô  
33 Cá Rô  
Anabantidae  
Anabas testudineus (Bloch, 1792)  
1
2
LC  
LC  
11. Họ cá Tai  
tượng  
Osphronemidae  
Macropodus opercularis (Linneaus, 1758)  
Gobiidae  
34 Cá Đuôi cờ  
12. Họ cá Bống  
trắng  
35 Cá Bống đá  
Rhinogobius giurinus (Rutter, 1897)  
6
LC  
LC  
36 Cá Bống đá khe Rhinogobius leavelli (Herre, 1935)  
23  
13. Họ cá Rô phi  
37 Cá Rô phi vằn  
Cichlidae  
Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)  
6
LC  
20  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
14. Họ cá Quả  
Channidae  
38 Cá Quả  
Channa striata (Bloch, 1793)  
Channa gachua (Hamilton,1822)  
Channa maculata (Lacepède, 1801)  
Percichthyidae  
3
9
2
LC  
LC  
LC  
39 Cá Lóc suối  
40 Cá Chuối hoa  
15. Họ cá Rô mo  
41 Cá Rô mo  
EN  
Coreoperca whiteheadi (Boulenger, 1900)  
Tổng  
4
LC  
260  
Chú thích: EN: Nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; NT: Sắp bị đe dọa; LC: Ít quan  
tâm; DD: Thiếu dữ liệu; QS: Loài quan sát, chụp ảnh; * Loài bổ sung cho khu hệ.  
So sánh với danh mục thành phần loài của dự án PRAC năm 2002, trong các  
đợt nghiên cứu, đã bổ sung thêm 4 loài cho khu hệ, gồm: Neolissochilus benasi,  
Placogobio nahangensis, Pelteobagrus fulvidraco và Schistura incerta (hình 2).  
a) Cá Pami (Neolissochilus benasi)  
c) Cá Bò (Pelteobagrus fulvidraco)  
b) Cá Bậu thác (Placogobio nahangensis)  
d) Cá Chạch suối (Schistura incerta)  
Hình 2. Các loài bổ sung cho khu hệ cá RĐD Na Hang  
Số lượng các loài cá đã được ghi nhận không cao, thấp hơn so với kết quả các  
nghiên cứu và ghi nhận trước đây tương ứng là 73 loài và 110 loài [2, 13]. Nguyên  
nhân có thể là do địa bàn khảo sát không rộng, chỉ khu trú trong phạm vi RĐD Na  
Hang. Ngoài ra, việc xây đập thủy điện Tuyên Quang hoàn thành từ năm 2008 đã làm  
thay đổi chế độ dòng chảy sông Gâm, dẫn đến thay đổi môi trường sống của các loài  
thủy sinh vật, ngăn cản sự di cư tự nhiên của cá từ sông Gâm lên các nhánh phía thượng  
nguồn và ngược lại, từ đó có thể dẫn tới suy giảm đa dạng thành phần loài cá tại đây.  
3.3. Đa dạng về cấu trúc thành phần loài  
Sự đa dạng về cấu trúc thành phần loài cá khu vực RĐD Na Hang được thể  
hiện trong bảng 3.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
21  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 3. Cấu trúc đơn vị phân loại cá khu vực RĐD Na Hang  
Số họ Tỷ lệ % Số giống Tỷ lệ % Số loài Tỷ lệ %  
Bộ  
Bộ cá Chép  
Cypriniformes  
3
4
2
20,0  
26,7  
13,3  
19  
7
55,9  
20,6  
5,9  
22  
8
53,7  
19,5  
4,9  
Bộ cá Da trơn  
Siluriformes  
Bộ cá Mang liền  
Synbranchiformes  
2
2
Bộ cá Vược  
Perciformes  
6
40,0  
6
17,6  
9
21,9  
Tổng  
15  
100  
34  
100  
41  
100  
Dẫn liệu từ bảng 3 cho thấy, cấu trúc các đơn vị phân loại cá khu vực RĐD Na  
Hang khá đa dạng. Về bậc họ, đa dạng nhất là bộ cá Vược - Perciformes có 6 họ,  
chiếm 40%; tiếp đến là bộ cá Da trơn - Siluriformes với 4 họ, chiếm 26,7%; bộ cá  
Chép - Cypriniformes có 3 họ, chiếm 20% và thấp nhất là bộ cá Mang liền -  
Synbrabchiformes có 2 họ, chiếm 13,3%. Về bậc giống, đa dạng nhất là bộ cá Chép  
với 19 giống, chiếm 55,9%; tiếp đến là bộ cá Da trơn với 7 giống, chiếm 20,6%; bộ  
cá Vược có 6 giống chiếm 17,6%, bộ cá Mang liền chỉ có 2 giống, chiếm 5,9%. Về  
bậc loài, đa dạng nhất là bộ cá Chép với 22 loài, chiếm 53,7%; tiếp theo là bộ cá  
Vược 9 loài, chiếm 21,9%; bộ cá Da trơn 8 loài, chiếm 19,5%, bộ cá Mang liền chỉ  
có 2 loài, chiếm 4,9% tổng số loài.  
Chỉ số tương đồng thành phần loài cá giữa khu vực nghiên cứu với một số  
thủy vực khác được trình bày ở bảng 4.  
Bảng 4. Chỉ số tương đồng giữa khu hệ cá RĐD Na Hang với một số khu hệ cá  
ở miền Bắc và Bắc Trung bộ  
TT  
Địa điểm  
Tổng loài  
C
SI  
Tác giả, năm công bố  
Khu vực Hương Sơn,  
Mỹ Đức, Hà Nội  
Nguyễn Đình Tạo  
1
47  
22  
0,5  
(2011) [14]  
Phạm Hồng Phương &  
2
3
VQG Tam Đảo  
48  
26  
29  
0,6  
0,4  
cs (2015) [15]  
VQG Pù Mát và vùng  
phụ cận  
Nguyễn Xuân Khoa,  
119  
(2011) [16]  
22  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Số liệu từ bảng 4 cho thấy, thành phần loài cá RĐD Na Hang có tính tương  
đồng cao nhất với thành phần cá ở khu vực suối Kẽm thuộc VQG Tam Đảo (SI = 0,6).  
Trong 47 loài cá ghi nhận ở các suối ở vùng Hương Sơn, Mỹ Đức - Hà Nội, có 22  
loài cũng xuất hiện ở khu vực RĐD Na Hang, với chỉ số tương đồng SI = 0,5. Chỉ số  
tương đồng đạt giá trị thấp nhất (SI = 0,4) khi tiến hành so sánh với thành phần khu  
hệ cá sông Cả thuộc địa phận VQG Pù Mát. Chỉ số này cho thấy rõ được sự tương  
đồng về thành phần loài của RĐD Na Hang với khu hệ cá ở miền Bắc (Mỹ Đức,  
VQG Tam Đảo) so với khu hệ cá của vùng Bắc Trung Bộ (VQG Pù Mát) có khoảng  
cách xa về vị trí địa lý, sự khác biệt về chế độ khí hậu, thủy văn và điều kiện địa hình.  
3.4. Đặc trưng phân bố của cá theo sinh cảnh thủy vực và theo độ cao  
Để đánh giá mật độ và sự phân bố của cá tại các thủy vực khác nhau của RĐD  
Na Hang và sự phân bố theo đai độ cao, trong các đợt nghiên cứu, đã tiến hành khảo  
sát, thu mẫu tại những nơi có tốc độ dòng chảy nhanh, nền đáy cứng, thác nước, các  
ao - hố nước sâu, nơi có tốc độ dòng chảy chậm hơn.  
Tại sinh cảnh hồ thủy điện, hố, vũng sâu trong khu vực nghiên cứu, nơi hàm  
lượng oxy hòa tan trung bình khoảng 4mg/l, pH dao động từ 7,5 đến 8,5 ghi nhận  
nhiều loài thuộc họ cá Chép (Cypprinidae) và họ cá Trê (Claridae), là những loài có  
khả năng thích nghi với điều kiện oxy khá thấp hoặc ngưỡng oxy rộng như cá Chép  
(Cyprinus carpio), cá Trê (Clarius fuscus)... Sự phân bố và kích thước các loài sống  
trong môi trường nước chảy chậm hoặc hồ chứa có kích thước cơ thể lớn như cá  
Chép (Cyprinus carpio), cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella), cá Mè hoa  
(Hypophthalmichthys nobilis). Đặc biệt, ở khu vực hồ thủy điện, các loài cá như cá  
Trắm cỏ, cá Mè hoa được ghi nhận khối lượng cơ thể trên 10kg.  
Tại các nhánh suối trong khu vực RĐD Na Hang như suối Thác Mơ, Kéo Tấu,  
Tát Kẻ, nơi có tốc độ dòng chảy nhanh, nhiều ghềnh, nhiều mạch nước chảy ngầm  
và nền đáy cứng, hàm lượng oxy ≥ 5 mg/l bắt gặp các loài cá trong họ cá Chạch vây  
bằng (Balitoridae) và họ cá Bống trắng (Gobiidae), những loài thường được ghi  
nhận ở những nơi có hàm lượng oxy hòa tan cao. Cơ thể cá thường có cấu trúc thon  
dài, kích thước nhỏ hệ xương và vây phát triển mạnh, nhiều loài có giác bám hoặc  
miệng thường nằm phía dưới có tác dụng như một giác bám để gắn cơ thể vào nền  
đáy chịu được sức ép của dòng chảy mạnh (hình 3, 4).  
Hình 3. Giác bám ở mặt bụng của loài Hình 4. Đặc điểm cấu trúc thân thon dài  
cá Bống đá Rhinogobius giurinus  
của giống cá Chạch suối Schistura  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
23  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Chưa có mối liên hệ rõ rệt nào về ảnh hưởng của pH đối đối với sự phân bố  
của cá tại khu vực nghiên cứu khi độ pH giữa hai loại hình thủy vực không có sự sai  
khác lớn (pH = 7,5-8,5), phù hợp với phạm vi điều kiện sống thích hợp cho cá sinh  
sản và phát triển (pH = 6,5-9,0) [17].  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại khu vực nghiên cứu có sự phân hóa rõ rệt thành  
phần loài theo đai độ cao. Tại các sông, suối, hồ thủy điện, nơi có độ cao dao động từ  
150-400 m, thành phần loài khá đa dạng; ở độ cao từ 400-800 m như khu vực nhánh  
suối Kéo Tấu (xã Khâu Tinh), số lượng loài tương đối ít, chủ yếu là loài cá Bống đá  
(Rhinogobius giurinus) và các loài thuộc giống cá Chạch suối (Schistura).  
3.5. Các loài cá có giá trị bảo tồn  
Trong 41 loài đã được ghi nhận có 3 loài có giá trị bảo tồn được ghi trong  
Sách đỏ Việt Nam: cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus) cấp VU, cá Chiên  
(Bagarius bagarius) cấp VU; cá Chuối hoa (Channa maculata) thuộc cấp EN (hình  
5) [18]; theo Danh lục đỏ IUCN có 3 loài có giá trị bảo tồn, trong đó 1 loài bậc VU  
là cá Chép (Cyprinus carpio), 2 loài thuộc bậc NT là cá Mè trắng  
(Hypophthalmichthys molitrix) và cá Chiên (Bagarius bagarius) [19].  
Các công trình nghiên cứu của Hill và Hallam [20] và báo cáo của Chi cục  
Kiểm lâm Tuyên Quang [1] đã chỉ ra rằng, RĐD Na Hang trước đây đã được ghi  
nhận là nơi sinh sống của 2 loài cá trong Sách đỏ Việt Nam bậc VU là Rầm  
xanh (Sinilabeo lemassoni) và Anh vũ (Semilabeo notabilis). Tuy nhiên, trong các  
đợt nghiên cứu năm 2017 và 2018, chưa ghi nhận được cá thể nào. Có thể việc  
xây đập thủy điện cũng như khai thác quá mức bởi giá trị thực phẩm của hai  
loài này đã làm ảnh hưởng đến môi trường sống, sự phân bố và làm giảm số  
lượng của chúng ngoài tự nhiên.  
Để bảo vệ, bảo tồn các loài cá quý hiếm cũng như phục hồi khu hệ cá tại RĐD  
Na Hang, cần thiết phải tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân địa phương  
sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng và vùng phụ cận về bảo vệ, khai thác sử  
dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên. Quy định các vùng hạn chế đánh bắt, quy  
định kích thước tối thiểu của các đối tượng được phép đánh bắt và kích thước mắt  
lưới tối thiểu được phép sử dụng trong khai thác cùng với việc nghiêm cấm các hành  
động có tính chất huỷ diệt nguồn lợi (chất nổ, hoá chất, bả độc, kích điện,...) trong  
khai thác, gây ảnh trực tiếp đến các loài cá cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến môi  
trường sống của các loài thủy sản.  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
a) Cá Chuối hoa (Channa maculata)  
b) Cá Lăng chấm (Hemibagrus guttatus)  
Hình 5. Một số loài cá được ghi trong  
Sách đỏ Việt Nam  
c) Cá Chiên (Bagarius bagarius)  
4. KẾT LUẬN  
1. Đã xác lập được danh lục cá khu vực RĐD Na Hang gồm 41 loài thuộc 34  
giống, 15 họ, 4 bộ. Trong đó, bộ cá Chép có số lượng loài lớn nhất với 22 loài, bộ cá  
Vược có 9 loài, bộ cá Da trơn có 8 loài và bộ cá Mang liền có 2 loài.  
2. Bổ sung 4 loài cho danh lục thành phần loài khu hệ cá khu vực RĐD Na Hang:  
Neolissochilus benasi, Placogobio nahangensis, Pelteobagrus fulvidraco, Schistura  
incerta khi so sánh với danh lục thành phần loài của dự án PRAC năm 2002.  
3. Thành phần loài khu hệ cá RĐD Na Hang có sự tương đồng với khu hệ cá ở  
miền Bắc (VQG Tam Đảo; Hương Sơn, Hà Nội), trong khi tính tương đồng thấp với  
khu hệ cá Bắc Trung Bộ (VQG Pù Mát).  
4. Phân bố các loài cá tại khu vực nghiên cứu có sự khác nhau khá rõ theo loại  
hình thủy vực và theo đai độ cao. Họ cá Chép (Cypprinidae) được ghi nhận với số  
lượng phong phú ở thủy vực hồ chứa và tại các hố nước sâu. Họ cá Chạch vây bằng  
(Balitoridae) và họ cá Bống trắng (Gobiidae) thường bắt gặp nhiều ở các thủy vực  
nước chảy nhanh. Càng lên cao, mức độ đa dạng thành phần loài cá càng giảm. Tại  
đai cao 400-800 m, chủ yếu là loài cá Bống đá (Rhinogobius giurinus) và các loài  
thuộc giống cá Chạch suối (Schistura).  
5. Xác định tại RĐD Na Hang có 3 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam  
(2007), gồm: 2 loài cấp VU, 1 loài cấp EN; 3 loài có giá trị bảo tồn trong Danh lục  
đỏ IUCN, gồm: 1 loài cấp VU, 2 loài cấp NT.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
25  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang, Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền  
vững Khu dự trữ thiên nhiên Na Hang đến năm 2020, Tuyên Quang, 2013, tr.7-8.  
Nguyễn Đình Tạo, Nghiên cứu khu hệ cá nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ  
nguồn lợi cá ở ngã ba sông Hồng. Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường đại học  
khoa học tự nhiên/ Đại học quốc gia Hà Nội, 2010, 94tr.  
3.  
4.  
5.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Pravdin I. F., Hướng dẫn nghiên cứu cá, Nxb. Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội,  
1973 (bản dịch của Nguyễn Thị Minh Giang).  
Mai Đình Yên, Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam, Nxb.  
Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1978, 340tr.  
Mai Đình Yên, Định loại cá nước ngọt Nam bộ, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật,  
Hà Nội, 1992, 351tr.  
Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, Cá nước ngọt Việt Nam. Tập I, Nxb. Nông  
nghiệp, Hà Nội, 2001, 622tr  
Nguyễn Văn Hảo, Cá nước ngọt Việt Nam. Tập II, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội,  
2005, 759tr.  
Nguyễn Văn Hảo, Cá nước ngọt Việt Nam. Tập III, Nxb. Nông nghiệp, Hà  
Nội, 2005, 759tr.  
Kottelat M., Freshwater fishes of Northern Vietnam, Environment and Social  
Development Unit, East Asia and Pacific region, The World Bank, 2001, 122p.  
10. Kottelat M., Fishes of the Laos, The World Bank. Colombo, Sri Lanka, 2001, 198p.  
11. FishBase, A Global Information System on Fishes, Version (11/2017&  
12. Shannon C.E., Wiener W., The mathematical theory of communities. Illinois:  
Urbana University, Illinois Press, 1963, 125p.  
13. PARC Project, Supplementary Environmental Impact Assessment of the Tuyen  
Quang Dam, Viet Nam Appendices. Ha Noi, 2002, p.43-45.  
14. Nguyễn Đình Tạo, Khu hệ cá suối vùng Hương Sơn, Mỹ Đức - Hà Nội, Hội  
nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 4, Hà Nội,  
2011, tr.321-327.  
15. Phạm Hồng Phương, Nhezdoly V. K., Lê Nam Hưng, Trần Văn Đạt, Thành  
phần loài cá suối Kẽm thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo. Tạp chí Khoa học và  
Công nghệ Nhiệt đới, 2015, 9, tr.19-27.  
16. Nguyễn Xuân Khoa, Khu hệ cá lưu vực sông Cả thuộc địa phận VQG Pù Mát  
và vùng phụ cận, Luận án Tiến sĩ sinh học. Chuyên ngành: Động vật học.  
Ngày bảo vệ 25/8/2011 tại Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội, 2011, 227tr.  
26  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
17. Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung, Ngô Ngọc Cát, Nước nuôi thủy sản, chất  
lượng và giải pháp cải thiện chất lượng, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội,  
2006, tr.71-75.  
18. Bộ KH-CN-MT, Sách đỏ Việt Nam (Phần động vật), Nxb. Khoa học và Kỹ  
thuật, Hà Nội, 2007.  
19. IUCN 2018, The IUCN Red List of Threatened Species, Version 2018-2.  
20. Hill M., Hallam D., Na Hang Nature Reserve, Tat Ke Sector. Site Description  
and Conservation Evaluation. Frontier Vietnam Environmental Research Report  
9. Society for Environmental Exploration, London and Institute of Ecology and  
Biological Resources, Hanoi, 1997, p.30-32, apeendix 5.  
SUMMARY  
SPECIES COMPOSITION AND DISTRIBUTION OF FISHES IN NA HANG  
SPECIAL-USE FOREST, TUYEN QUANG PROVINCE  
Results of the surveys conducted in 2017 and 2018 show that the total number  
of fish species at the Na Hang special-use forest was counted at 41 species, with 34  
genera and 15 families of 4 orders. Of them, the Cypriniformes order are the most  
abundant 22 species (53,7%). Perciformes is the most abundant of families with 6  
families (40%). There is richness in number the species of Balitoridae and Gobiidae  
in habitats and streams have high flow rate, limestone substrata, while in the power  
reservoir, number the species of families Cypprinidae are recorded in large numbers  
and larger in size. There are three rare species which was listed in Vietnamese Red  
Data Book (2007): 02 species of VU level and 01 species of EN level; 03 species  
were listed in the IUCN Red List: 01 species of VU level and 02 species of NT level.  
Keywords: Fish, diversity, species composition, Na Hang special-use forest.  
Nhận bài ngày 04 tháng 12 năm 2018  
Phản biện xong ngày 19 tháng 12 năm 2018  
Hoàn thiện ngày 25 tháng 12 năm 2018  
Viện Sinh thái nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 17, 12 - 2018  
27  
pdf 12 trang yennguyen 17060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thành phần loài và phân bố của cá trong các thủy vực rừng đặc dụng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthanh_phan_loai_va_phan_bo_cua_ca_trong_cac_thuy_vuc_rung_da.pdf