Hình thái ống tiêu hóa và hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon phân bố ở một số vùng cửa song ven biển thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau

VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
Original Article  
The Digestive Tract Morphology and Clark index of Mud  
Sleeper Butis koilomatodon Living in some Coastal and  
Estuarine areas belonging to Tra Vinh, Soc Trang, Bac Lieu  
and Ca Mau  
Dinh Minh Quang1,, Nguyen Thi Nha Y2, Lam Thi Huyen Tran3,4, Phan Thanh Gieo3,5  
1School of Education, Can Tho University, Campus II, 3/2 street, Xuan Khanh, Ninh Kieu,Can Tho, Vietnam  
2College of Natural Science, Can Tho University, Campus II, 3/2 street, Xuan Khanh, Ninh Kieu,Can Tho, Vietnam  
3Biotechnology Research and Development Institute, Can Tho University, Campus II, 3/2 street, Xuan Khanh,  
Ninh Kieu,Can Tho, Vietnam  
4Faculty of Agriculture and Fishery, University of Cuu Long, Phu Quoi, Vinh Long, Vietnam  
5Faculty of Natural Resource and Environment, Kien Giang University, 320A, AH 61, Vinh Hoa Hiep,  
Chau Thanh, Kien Giang, Vietnam  
Received 06 April 2020  
Revised 07 August 2020; Accepted 17 August 2020  
Abstract: This study provides new data on the characteristics of the gastrointestinal morphology  
and the variation of Clark index according to sexes, fish size groups, seasons and sampling sites of  
mud sleeper Butis koilomatodon, one of the commercially valuable gobiid species in the Mekong  
Delta. Analytical results of 1,227 fish samples collected monthly from April 2019 to March 2020 in  
Duyen Hai (Tra Vinh), Cu Lao Dung (Soc Trang), Tran De (Soc Trang), Hoa Binh (Bac Lieu), Dong  
Hai (Bac Lieu) and Dam Doi (Ca Mau) showed that this species had a slightly sloping mouth, the  
length between two jaws was relatively equal, teeth were small and grew in long lines on both jaws  
with the outer row having larger teeth. The length of the gut was shorter than the total length of the  
fish and so this species belonged to predator group. The Clark index depended on length of fish,  
sampling time and site but excluding season and gender. It was also effected by interactions of fish  
length x season; fish length x site and season x site. Conversly, the interactions of gender x season  
and gender x site did not impact on the Clark index. The outcomes of research will provide useful  
data in artificial aquaculture Butis koilomatodon.  
Keywords: Butis koilomatodon, Clark index, coastal and estuarine area, gastrointestinal.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
61  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
62  
Hình thái ống tiêu hóa và hệ số béo Clark của cá bống lưng  
cao Butis koilomatodon phân bố ở một số vùng cửa song ven  
biển thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau  
Đinh Minh Quang1,, Nguyễn Thị Nhã Ý2, Lâm Thị Huyền Trân3,4,  
Phan Thanh Giẻo3,5  
1Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ, Khu II, Đường 3/2, Xuân Khánh, Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ, Viꢀt Nam  
2Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ, Khu II, Đường 3/2, Xuân Khánh, Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ,  
Viꢀt Nam  
3Viꢀn Nghiên cứu & Phát triển công nghꢀ Sinh học, Trường Đại học Cần Thơ, Khu II, Đường 3/2, Xuân Khánh,  
Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ, Viꢀt Nam  
4Khoa Nông nghiệp Thủy sản, Trường Đại học Cửu Long, Quốc Lộ 1A, Phú Quới, Long Hồ, Vĩnh Long, Việt Nam  
5Khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Kiên Giang, 320A, Quốc Lộ 61, Vĩnh Hoà Hiꢀp,  
Châu Thành, Kiên Giang, Viꢀt Nam  
Nhận ngày 06 tháng 04 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 08 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 08 năm 2020  
Tóm tắt: Nghiên cứu này cung cấp dẫn liệu mới về đặc điểm hình thái ống tiêu hóa và sự biến động  
của hệ số béo Clark theo giới tính, nhóm chiều dài cá, mùa thu mẫu và điểm thu mẫu của loài cá  
bống lưng cao Butis koilomatodon, một trong những loài cá bống có giá trị thương phẩm ở vùng  
Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả phân tích 1.227 mẫu cá thu được liên tục mỗi tháng một lần, từ  
tháng 04/2019 đến tháng 03/2020 tại 6 địa điểm tại các huyện Duyên Hải (Trà Vinh), Cù Lao Dung  
(Sóc Trăng), Trần Đề (Sóc Trăng), Hòa Bình (Bạc Liêu), Đông Hải (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà  
Mau) thấy được loài này có miệng hơi chếch về phía dưới, chiều dài giữa hai hàm tương đối bằng  
nhau, răng nhỏ và mọc thành hàng dài trên cả hai hàm với hàng ngoài có răng lớn hơn. Chiều dài  
của ruột cá ngắn hơn chiều dài tổng của cá và loài này thuộc nhóm cá ăn động vật. Giá trị Clark của  
loài này thay đổi theo chiều dài của cá, thời gian thu mẫu và điểm thu mẫu cũng như sự tác động  
kết hợp của chiều dài cá × mùa, chiều dài cá × điểm thu mẫu, mùa × điểm thu mẫu, nhưng không  
chịu ảnh hưởng bởi mùa, giới tính và giới tính × mùa, giới tính × điểm thu mẫu. Kết quả này góp  
phần cung cấp dẫn liệu cho các nghiên cứu nuôi nhân tạo loài cá này trong tương lai.  
Từ khóa: Butis koilomatodon, hệ số béo Clark, hình thái ống tiêu hóa, vùng cửa sông ven biển.  
hơn nhiều loài cá có giá trị kinh tế khác ở biển  
[2]. Hơn nữa, trong nhiều năm gần đây, việc  
đánh bắt quá mức đã làm cho nguồn lợi cá bống  
giảm sút nhanh chóng, nhiều loài đã trở nên cạn  
kiệt. Tuy nhiên, đến nay có rất ít nghiên cứu về  
đối tượng này, đặc biệt các nghiên cứu về hình  
1. Mở đầu  
Cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
(Bleeker, 1849) sống tập trung ở cửa sông lớn có  
chất đáy là bùn cát, một số vùng nước nông và  
khe đá [1]. Cá bống còn có giá trị dinh dưỡng cao  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
63  
thái ngoài của ống tiêu hóa và sự thay đổi của chỉ  
số Clark với kích thước của cá, địa điểm và mùa  
vẫn chưa được biết đến. Hình thái ống tiêu hóa  
được dùng để xác định tính ăn của cá [3]. Chỉ số  
Clark biểu thị cho khả năng tích lũy năng lượng  
của cá [4]. Nghiên cứu này nhằm cung cấp dẫn  
liệu về hình thái ống tiêu hóa và hệ số Clark của  
cá và sự biến đổi giá trị của hệ số Clark theo giới  
tính, nhóm chiều dài, mùa, điểm và thời gian thu  
mẫu. Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở hữu ích cho  
việc nghiên cứu nuôi nhân tạo loài này trong  
tương lai.  
2. Vật liệu và phương pháp  
2.1 Thu và phân tích mẫu  
Mẫu cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
được thu dọc theo vùng cửa sông ven biển ở  
huyện Duyên Hải (Trà Vinh), Cù Lao Dung (Sóc  
Trăng), Trần Đề (Sóc Trăng), Hòa Bình (Bạc  
Liêu), Đông Hải (Bạc Liêu) và Đầm Dơi (Cà  
Mau) (Hình 1) bằng lưới kéo đáy (có kích thước  
mắt lưới phần đụt là 2a=15 mm). Mẫu được thu  
ngẫu nhiên, định kỳ 1 lần/tháng với nhiều kích  
cỡ cá khác nhau và thu liên tục trong một năm từ  
tháng 04/2019 đến tháng 03/2020.  
Hình 1. Sơ đồ sáu điểm thu mẫu  
[Dấu mũi tên: địa điểm thu mẫu; 1: Duyên Hải (Trà Vinh), 2: Cù Lao Dung (Sóc Trăng),  
3: Trần Đề (Sóc Trăng), 4: Hòa Bình (Bạc Liêu), 5: Đông Hải (Bạc Liêu), 6: Đầm Dơi (Cà Mau);  
Nguồn: Google Map]  
Mẫu cá sau khi thu được bảo quản bằng cách  
ngâm trong formol 10% (1 formoline: 9 nước)  
trước khi mang về phòng thí nghiệm. Sau khi  
mang về phòng thí nghiệm Động vật, Bộ môn  
Sinh học, Khoa Sư phạm, mẫu cá được định loại  
dựa vào đặc điểm hình thái ngoài đã được mô tả  
bởi Trần Đắc Định và nnk. (2013) [5]. Giới tính  
được xác định dựa vào đặc điểm hình thái của  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
64  
gai sinh dục (tam giác nhọn ở cá đực và oval ở  
Đầm Dơi: 6,95 cm), với nhóm 1 có kích thước  
nhỏ hơn chiều dài thành thục đầu tiên (tài liệu  
chưa công bố). Phần mềm SPSS v.21 được dùng  
để xử lý thống kê. Tất cả phép thử được xác định  
ở mức ý nghĩa 5%.  
cá cái). Mẫu cá được xác định khối lượng (W;  
chính xác đến 0,01 g) và chiều dài (TL; chính xác  
đến 0,1 cm) trước khi giải phẫu lấy ống tiêu hóa.  
Hình thái ống tiêu hóa được mô tả dựa trên  
phương pháp nghiên cứu của Nikolsky (1963)  
[3]. Chỉ số Clark được tính dựa vào khối lượng  
cá không nội quan (Wo; chính xác đến 0,01 g)  
theo công thức:  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Hình thái ống tiêu hóa  
Trong thời gian từ tháng 04/2019 đến tháng  
03/2020 đã thu được tổng cộng 1.227 cá thể đực  
và cái (Bảng 1). Kết quả phân tích cho thấy loài  
cá bống lưng cao Butis koilomatodon có miệng  
hơi chếch về phía dưới, chiều dài hàm trên và  
hàm dưới tương đối bằng nhau cho thấy loài này  
thuộc nhóm cá miệng giữa và thường bắt mồi ở  
tầng giữa. Răng loài này nhỏ, mọc thành hàng  
dài trên cả hai hàm của cá, hàng phía ngoài có  
răng lớn hơn và hơi cong về phía miệng cá (Hình  
2). Loài cá này có chiều dài thân từ 2,9 cm đến  
11,1 cm (7,16±0,03 SE cm), chiều dài ruột dao  
động từ 1,0 cm đến 8,0 cm (3,99±0,03 SE cm;  
Hình 3), chỉ số RLG của loài này dao động từ  
0,17 đến 1,41 (0,56±0,00 SE). Chiều dài của ruột  
cá ngắn hơn chiều dài tổng của cá chứng tỏ loài  
cá này thuộc nhóm cá ăn động vật. Kết quả này  
cũng được tìm thấy ở một số loài cá bống ở khu  
vực Đồng bằng sông Cửu Long như: Glossogobius  
giuris [6], Glossogobius sparsipapillus [7], Oxyeleotris  
urophthalmus [8], Eleotris melanosoma [9,10],  
Periophthalmodon schlosseri [11].  
Trong đó, Wo: khối lượng cá không nội quan;  
TL: tổng chiều dài của cá [4].  
2.2. Xử lý số liꢀu  
Sự biến động của giá trị Clark theo giới tính,  
nhóm chiều dài cá và mùa được xác định bằng t-  
test. Phương pháp phân tích phương sai một  
nhân tố (1-way ANOVA) được dùng để kiểm tra  
sự biến động của giá trị Clark theo điểm và tháng  
thu mẫu. Phương pháp phân tích phương sai hai  
nhân tố (2-way ANOVA) được dùng để xác định  
sự ảnh hưởng của giới tính × mùa, giới tính ×  
điểm thu mẫu, nhóm chiều dài cá × mùa, nhóm  
chiều dài cá × điểm thu mẫu và mùa × điểm thu  
mẫu đến sự thay đổi của giá trị Clark. Kích thước  
của cá được chia thành 2 nhóm dựa vào chiều dài  
thành thục đầu tiên ở mỗi địa điểm thu mẫu  
(chiều dài thành thục đầu tiên: tại Duyên Hải:  
6,95 cm; Cù Lao Dung: 8,61 cm; Trần Đề: 6,93  
cm; Hòa Bình: 5,50 cm; Đông Hải: 5,09 cm;  
Bảng 1. Số lượng cá thu được tại sáu điểm thu mẫu ở khu vực nghiên cứu  
Duyên Hải  
Đực  
6
10  
8
8
7
9
12  
8
9
Cù Lao Dung  
Trần Đề  
Hòa Bình  
Đông Hải  
Đầm Dơi  
Tháng  
Cái  
2
1
Đực  
Cái  
1
2
Đực Cái Đực Cái Đực Cái Đực Cái  
04/2019  
05/2019  
06/2019  
07/2019  
08/2019  
09/2019  
10/2019  
11/2019  
12/2019  
01/2020  
02/2020  
03/2020  
Tổng  
3
10  
6
12  
8
3
7
22  
25  
24  
24  
24  
21  
21  
23  
28  
16  
20  
255  
25  
9
5
6
6
6
7
9
8
2
7
6
96  
17  
12  
14  
19  
12  
11  
14  
16  
1
15  
14  
13  
158  
4
11  
3
0
8
5
4
1
13  
2
21  
19  
15  
16  
11  
14  
19  
7
6
9
14  
4
5
4
8
3
1
9
9
9
7
3
1
3
6
5
1
6
1
10  
5
4
5
1
2
9
2
3
5
11  
4
39  
3
1
15  
7
4
1
4
2
1
11  
15  
20  
24  
192  
13  
15  
10  
6
19  
9
26  
131  
3
2
5
1
2
1
4
3
12  
162  
2
24  
3
1
93  
21  
58  
98  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
65  
Hình 2. Miệng (a) và răng (b) của cá bống lưng cao Butis koilomatodon.  
Hình 3. Ống tiêu hóa của cá bống lưng cao Butis koilomatodon.  
3.2. Hꢀ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis  
nhau (không có ý nghĩa thống kê) như Stigmatogobius  
koilomatodon  
pleurostigma [12], Periophthalmodon schlosseri  
[13], Eleotris melanosoma [10].  
Hệ số béo Clark ở cá cái là 1,19±0,02 SE (t-  
test, n=336, p > 0,05), ở cá đực là 1,20±0,02 SE  
(t-test, n=891, p > 0,05). Kết quả cho thấy ở cá  
đực hệ số béo tương đương cá cái, nhu cầu về  
dinh dưỡng của cá đực ngang bằng cá cái và  
không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu  
này không chỉ gặp ở loài cá bống lưng cao Butis  
koilomatodon mà có một số loài khác cũng có hệ  
số béo Clark giữa cá đực và cá cái tương đương  
Hệ số béo Clark thay đổi theo kích thước của  
cá, với nhóm 1 (cá có kích thước nhỏ hơn chiều  
dài thành thục đầu tiên) có hệ số béo Clark là  
1,30±0,06 SE (t-test, n=232, p < 0,05), cao hơn  
nhóm 2 (cá có kích thước lớn hơn chiều dài thành  
thục đầu tiên) có hệ số béo Clark là 1,17±0,01  
SE (t-test, n=995, p < 0,05) (Hình 4).  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
66  
Trung bình hệ số béo của cá bống lưng cao  
1,4000  
a
Butis koilomatodon là 1,19±0,01 SE (1-way  
ANOVA, n=1.227). Tại sáu điểm thu mẫu, hệ số  
béo Clark biến động từ 1,05±0,01 SE (Cù Lao  
Dung) đến 1,33±0,03 SE (Đầm Dơi). Chứng tỏ  
sự tích lũy năng lượng của loài cá này chịu tác  
động bởi yếu tố địa lý (F=10,37, p < 0,05) (Hình  
5). Trong thời gian nghiên cứu, giá trị hệ số béo  
Clark cũng có sự biến đổi giữa các tháng, đạt giá  
trị thấp nhất vào tháng 02/2020 và cao nhất vào  
tháng 6/2019 (F=8,84, p < 0,05) (Hình 6).  
b
1,2000  
1,000  
,8000  
,6000  
,4000  
,2000  
,000  
c
1,4000  
N1  
N2  
b,c  
a,b  
a,b  
1,2000  
1,000  
,8000  
,6000  
,4000  
,2000  
,000  
Nhóm chiều dài cá  
a,b  
a
Hình 4. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá  
bống lưng cao Butis koilomatodon theo nhóm chiều  
dài (N1: TL<chiều dài thành thục đầu tiên; N2:  
TL>chiều dài thành thục đầu tiên; Đường đứng: sai  
số chuẩn; a và b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về  
mặt thống kê).  
Sự khác nhau về hệ số béo Clark giữa 2  
nhóm chiều dài có ý nghĩa về mặt thống kê và  
thấy được khả năng tích lũy năng lượng trong  
quá trình bắt mồi của nhóm cá chưa thành thục  
lớn hơn nhóm cá thành thục. Kết quả này khác  
với loài Periophthalmodon schlosseri [13] được  
nghiên cứu tại khu vực Trần Đề, Sóc Trăng có  
hệ số béo Clark tương đương nhau giữa cá chưa  
thành thục (0,891±0,004) và nhóm cá thành thục  
(0,869±0,008), với p > 0,05.  
DH CLD TĐ HB ĐH ĐD  
Địa điểm thu mẫu  
Hình 5. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá  
bống lưng cao Butis koilomatodon tại các địa điểm  
thu mẫu (DH: Duyên Hải; CLD: Cù Lao Dung; TĐ:  
Trần Đề; ĐH: Đông Hải; Hòa Bình; ĐD: Đầm Dơi;  
Đường đứng: sai số chuẩn; a, b và c thể hiện sự khác  
biệt có ý nghĩa về mặt thống kê).  
Hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis  
koilomatodon trong mùa khô là 1,20±0,01 SE  
(n=658, t-test, t=0,68, p > 0,05) và mùa mưa là  
1,19±0,02 SE (n=569, t-test, t=0,66, p > 0,05)  
cho thấy hệ số béo Clark không có sự khác nhau  
giữa hai mùa. Như vậy, lượng mưa không ảnh  
hưởng đến giá trị của hệ số béo Clark và loài này  
có sự thích nghi tốt khi môi trường thay đổi. Ở  
một số loài như: Parapocryptes serperaster [14],  
Stigmatogobius pleurostigma [12], Pseudapocryptes  
elongatus [15], Periophthalmodon schlosseri  
[13] cũng có hệ số béo Clark không khác nhau  
giữa hai mùa khô và mùa mưa.  
Sự thay đổi giá trị hệ số béo Clark của loài  
này không chịu ảnh hưởng bởi sự tác động kết  
hợp của hai yếu tố giới tính x mùa (2-way  
ANOVA, F=2,47, p > 0,05) (Bảng 2) và giới tính  
× điểm thu mẫu (F=0,34, p > 0,05) (Bảng 3);  
nhưng chịu ảnh hưởng bởi sự tác động kết hợp  
của hai yếu tố chiều dài cá × mùa (F=32,31, p <  
0,05) (Bảng 4), chiều dài cá × điểm thu mẫu  
(F=48,92, p < 0,05) (Bảng 5) và mùa × địa điểm  
thu mẫu (F=11,76, p < 0,05) (Bảng 6).  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
67  
d
c,d  
1,4000  
1,2000  
1,000  
,8000  
,6000  
,4000  
,2000  
,000  
b,c,d  
b,c,d  
b,c  
b,c  
a,b,c  
a,b,c  
a,b  
a,b  
a,b  
a
Thời gian  
Hình 6. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon trong 12 tháng thu mẫu  
(Đường đứng: sai số chuẩn; a, b, c và thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê).  
Bảng 2. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
theo giới tính và mùa thu mẫu  
Giới tính  
Mùa thu mẫu  
Mùa khô  
Mùa mưa  
Mùa khô  
Giá trị Clark (Trung bình±SE)  
1,19±0,04  
Cá cái  
1,13±0,04  
1,16±0,02  
1,18±0,02  
Cá đực  
Mùa mưa  
Bảng 3. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
theo giới tính và địa điểm thu mẫu  
Giới tính  
Địa điểm thu mẫu  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Giá trị Clark (Trung bình±SE)  
1,07±0,07  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
1,08±0,09  
1,21±0,10  
Cá cái  
1,19±0,04  
1,14±0,06  
1,26±0,04  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
1,10±0,04  
1,04±0,06  
1,15±0,05  
Cá đực  
1,20±0,03  
1,19±0,03  
1,33±0,03  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
68  
Bảng 4. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
theo nhóm chiều dài cá và mùa thu mẫu  
Nhóm chiều dài cá  
Nhóm 1  
Mùa thu mẫu  
Mùa khô  
Giá trị Clark (Trung bình±SE)  
2,12±0,06  
(TL<chiều dài TTĐT)  
Mùa mưa  
Mùa khô  
1,77±0,06  
1,11±0,03  
Nhóm 2  
(TL>chiều dài TTĐT)  
Mùa mưa  
1,20±0,03  
Bảng 5. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
theo nhóm chiều dài cá và địa điểm thu mẫu  
Nhóm chiều dài cá  
Địa điểm thu mẫu  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Giá trị Clark (Trung bình±SE)  
0,87±0,08  
1,01±0,05  
1,16±0,05  
4,05±0,27  
2,88±0,15  
1,67±0,05  
1,11±0,03  
1,17±0,10  
1,11±0,05  
1,18±0,02  
1,13±0,03  
1,21±0,03  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
Nhóm 1  
(TL<chiều dài TTĐT)  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
Nhóm 2  
(TL>chiều dài TTĐT)  
Bảng 6. Sự biến động của hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon  
theo mùa và địa điểm thu mẫu  
Mùa thu mẫu  
Địa điểm thu mẫu  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Giá trị Clark (Trung bình±SE)  
0,98±0,04  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
1,03±0,07  
1,13±0,06  
Mùa khô  
2,72±0,14  
2,15±0,09  
1,66±0,04  
Duyên Hải, Trà Vinh  
Cù Lao Dung, Sóc Trăng  
Trần Đề, Sóc Trăng  
Hòa Bình, Bạc Liêu  
Đông Hải, Bạc Liêu  
Đầm Dơi, Cà Mau  
1,00±0,07  
1,15±0,07  
1,14±0,05  
Mùa mưa  
2,52±0,14  
1,85±0,08  
1,22±0,04  
D.M. Quang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 3 (2020) 61-69  
69  
[8] V.T. Toan, T.D. Dinh, Study on nutritional  
characteristics of Oxyeleotris urophthalmus fish  
distributed along the Hau River, Science  
magazine of Can Tho University, vol. Thuy san,  
(2014) 192-197.  
[9] D.M. Quang, N.T. Duy, D. Soc, Food and feeding  
habits of the broadhead sleeper Eleotris  
melanosoma from coastline in Soc Trang, in  
Proceeding of the 7 th National Scientific  
conference on Ecology and Biological Resources,  
Ha Noi, 2017, pp. 1873-1879.  
[10] V.T. Toan, T.D. Dinh, D.T.H. Oanh, Study on  
nutritional characteristics of Broadhead sleeper  
(Eleotris melanosoma Bleeker, 1853) distribitung  
along Hau River, The 2nd National Conference on  
Marine Biology and Sustainable Development,  
Science and Technics Publishing House, 2014,  
pp. 507-514.  
4. Kết luận  
Cá bống lưng cao Butis koilomatodon là một  
loài thuộc nhóm ăn động vật. Khả năng tích lũy  
năng lượng của loài này thể hiện qua hệ số béo  
Clark và không thay đổi theo mùa và giới tính  
nhưng thay đổi theo chiều dài của cá, địa điểm  
và thời gian thu mẫu. Kết quả nghiên cứu này đã  
bổ sung dẫn liệu khoa học về hình thái ống tiêu  
hóa và hệ số béo Clark qua đó làm cơ sở cho  
những nghiên cứu tiếp theo về nuôi nhân tạo loài  
cá này.  
Lời cảm ơn  
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bộ Giáo  
dục và Đào tạo đã hỗ trợ về kinh phí cho đề tài  
này (B2019-TCT-02) và Nguyễn Hữu Đức Tôn,  
Nguyễn Thị Thúy Hiền và Trần Chí Cảnh đã hỗ  
trợ thu và phân tích mẫu.  
[11] S.Z. Zulkifli, F. Mohamat-Yusuff, A. Ismail, N.  
Miyazaki, Food preference of the giant  
mudskipper  
(Teleostei:  
Periophthalmodon  
Gobiidae),  
schlosseri  
Knowledge  
and  
Management of Aquatic Ecosystems, 405 (2012)  
013.  
Tài liệu tham khảo  
[12] D.M. Quang, T.T.D. My, Digestive tract  
morphology, food and feeding habits of the goby  
Stigmatogobius pleurostigma (Bleeker, 1849)  
from the Coastline in Soc Trang, VNU Journal of  
Science: Natural Sciences and Technology, 34  
[1] N.V. Hao, Freshwater fish of Viet Nam, vol 3, The  
Agricultural Publisher, Ha Noi, 2005.  
[2] N.N. Thi, Fauna of Vietnam - Gobioidei, vol. 5,  
Sciences and Technics Publishing, Ha Noi, 2000.  
[3] G.V. Nikolsky, Ecology of fishes, Academic  
Press, London, United Kingdom, 1963.  
[13] T.T. Lam, H.D. Huy, D.M. Quang, Digestive tract  
morphology, food composition and feeding habits  
of the giant Mudskipper Periophthalmodon  
schlosseri (Pallas, 1770) from the Coastline in  
Tran De, Soc Trang, VNU Journal of Science:  
Natural Sciences and Technology, 35 (2019) 30-  
4871.  
[4] F.N. Clark, The weight-length relationship of the  
California Sardine (Sardina cærulea) at San  
Pedro, Division of fish and game of California,  
California, 1928.  
[5] T.D. Dinh, S. Koichi, N.T. Phuong, H.P. Hung,  
T.X. Loi, M.V. Hieu, U. Kenzo, Fishes of the  
Mekong Delta, Viet Nam, Can Tho University  
Publishing House, Can Tho, 2013.  
[14] Q.M. Dinh, J.G. Qin, S. Dittmann, D.D. Tran,  
Seasonal variation of food and feeding in  
burrowing goby Parapocryptes serperaster  
(Gobiidae) at different body sizes, Ichthyological  
Research, 64 (2017) 179-189. https://doi.org/10.  
1007/s10228-016-0553-4.  
[15] D.D. Tran, Some aspects of biology and  
population dynamics of the goby Pseudapocryptes  
elongatus (Cuvier, 1816) in the Mekong Delta,  
PhD thesis, Universiti Malaysia Terengganu,  
2008.  
[6] L.T.N. Thanh, Species composition and  
biological characteristics of some economic goby  
species in Bac Lieu and Soc Trang provinces,  
M.S. thesis, College of Aquaculture and Fisheries,  
Can Tho University, 2010.  
[7] T.T. Kien, The composition of the goby species of  
Gobiidea and Eleotridae and some biological  
characteristics of the goby Glossogobius  
sparsipapillus Akihito and Meguro, 1976 in  
coastal area Thanh Phu district, Ben Tre province,  
M.S. thesis, College of Aquaculture and Fisheries,  
Can Tho University, 2013.  
pdf 9 trang yennguyen 16560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hình thái ống tiêu hóa và hệ số béo Clark của cá bống lưng cao Butis koilomatodon phân bố ở một số vùng cửa song ven biển thuộc các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhinh_thai_ong_tieu_hoa_va_he_so_beo_clark_cua_ca_bong_lung_c.pdf