Phân bố trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck, 1819) trên rạn san hô vịnh Nha Trang và kết quả bước đầu nuôi thử nghiệm ở đầm Báy
Nghiên cứu khoa học công nghệ
PHÂN BỐ TRAI TAI TƯỢNG VẢY (Tridacna squamosa Lamarck, 1819)
TRÊN RẠN SAN HÔ VỊNH NHA TRANG VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU
NUÔI THỬ NGHIỆM Ở ĐẦM BÁY
TRẦN VĂN BẰNG (1)
1. MỞ ĐẦU
Trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa) thuộc lớp động vật thân mềm hai
mảnh vỏ Bivalvia, bộ Venoroida, họ trai tai tượng Tridacnidae. Trai tai tượng vừa có
ý nghĩa về mặt sinh học vừa có giá trị kinh tế xuất khẩu cao. Khi xuất khẩu sang
Nhật Bản dùng nuôi giải trí, trai tai tượng kích cỡ 30 cm có giá 500.000 đ/cá thể hay
xuất khẩu sang Úc dùng làm đồ mỹ nghệ, vỏ trai tai tượng kích cỡ 15 cm có giá
50.000 đ/vỏ. Bên cạnh đó, trai tai tượng vảy (TTTV) là mắt xích thức ăn quan trọng
và chỉ thị “sức khỏe” của hệ sinh thái rạn san hô [1].
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi trai tai
tượng họ Tridacnidae, trong đó đã thống kê được danh lục thành phần loài, phân bố
nguồn lợi, sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài thuộc họ Tridacnidae và
phục hồi, tái tạo nguồn lợi tự nhiên ở nhiều nơi. Ở Việt Nam, đã có một số công
trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lợi trai tai tượng, bước đầu nghiên cứu sản
xuất giống và nuôi phục hồi nguồn lợi TTTV. Các nghiên cứu đều cho thấy, các loài
trong họ Tridacnidae chỉ phân bố trên rạn san hô ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt
đới trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Ngoài tự nhiên, trai tai tượng có mật
độ thấp, sinh sản không thường xuyên và thời gian sinh trưởng kéo dài nên dễ bị tác
động bởi môi trường và sự khai thác. Biển Việt Nam có 05 loài trai tai tượng là
Tridacna gigas, T. squamosa, T. maxima, T. crocea và Hippopus hippopus. Cả 5 loài
chỉ phân bố tập trung từ vùng biển miền Trung đến vùng biển phía Nam, phạm vi
phân bố trên nền rạn san hô từ vùng triều đến vùng dưới triều [2, 3].
Việc khai thác và xuất khẩu trai tai tượng ở Việt Nam được bắt đầu từ những
năm 1998 cho đến trước năm 2004, trong đó TTTV (T. Squamosa), trai lớn (T.gigas)
và T. maxima được khai thác nhiều trong thời gian dài nên nguồn lợi đã bị suy giảm
nghiêm trọng. Bên cạnh đó những nghiên cứu về trai tai tượng ở Việt Nam còn giới
hạn nên chưa đưa ra được những biện pháp quản lý và khai thác hợp lý. Sách đỏ
Việt Nam, 2007 xếp các loài trai tai tượng ở mức độ sẽ nguy cấp (VU) nhưng thực
trạng hiện nay thì nguồn lợi này ở các vùng biển đang trong tình trạng báo động do
sự khai thác quá mức và không đúng kích cỡ [4, 5, 6].
Trước thực trạng đó, bước đầu chúng ta đã có những biện pháp bảo vệ trai tai
tượng như nghiên cứu phục hồi và phát triển nguồn lợi trai tai tượng ở vùng biển
Việt Nam thông qua khoanh vùng, di dời bảo tồn ở Phú Quốc, Côn Đảo [6, 7]. Tại
Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, trong những năm qua đã có
những nghiên cứu bảo tồn một số loài sinh vật biển quý hiếm như cá ngựa, bào ngư,
nhum sọ, đồi mồi... Với những kinh nghiệm đó, năm 2019 nhóm nghiên cứu tiếp tục
bảo tồn loài TTTV ở Đầm Báy, vịnh Nha Trang, Khánh Hòa. Trong khuôn khổ bài
báo này, trình bày kết quả khảo sát hiện trạng TTTV tại 03 khu vực Đầm Báy, Hòn
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
15
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Mun, Bích Đầm của vịnh Nha Trang và bước đầu thử nghiệm nuôi chúng trên nền
đáy tại Đầm Báy; đánh giá hiện trạng TTTV cũng như khả năng sống và phát triển
của chúng khi lưu giữ trên nền rạn san hô nhằm mục đích bảo tồn.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tượng, thời gian
- Đối tượng: Loài trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck, 1819) tại
khu vực vịnh Nha Trang.
- Thời gian: Từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019.
- Địa điểm điều tra và thu giống: vịnh Nha Trang, Khánh Hòa. Thử nghiệm
lưu giữ TTTV ở Đầm Báy, vịnh Nha Trang.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Khảo sát thực địa
Phương pháp lặn quan sát theo mặt cắt đánh giá sự phân bố, hiện trạng T.
squamosa ở vịnh Nha Trang tại 03 khu vực Đầm Báy, Hòn Mun và Bích Đầm. Số
lượng mặt cắt và vị trí đặt các mặt cắt mang tính đại diện cho nội dung nghiên cứu
về phân bố, mật độ, sinh thái của TTTV. Vị trí các điểm khảo sát được chỉ ra trong
hình 1.
Trên mỗi mặt cắt, lặn quan sát trực tiếp với thiết bị lặn SCUBA theo quy trình
của English và Baker (1994) [8], mặt cắt có chiều dài 100 m, rộng 5 m đặt song song
với đường bờ). Các thông tin ghi nhận bao gồm: số lượng cá thể (mật độ), đặc điểm
sinh thái và phân bố của T. squamosa.
Hình 1. Vị trí khảo sát TTTV ở Đầm Báy, Hòn Mun và Bích Đầm
16
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
Nghiên cứu khoa học công nghệ
2.2.2. Lưu giữ TTTV trên nền rạn san hô ở Đầm Báy
+ Thu thập giống TTTV: Thu mẫu của ngư dân địa phương qua lặn bắt ở biển
Khánh Hòa và vùng lân cận. Kích thước giống từ 5-10 cm về chiều dài vỏ, tình trạng
nguồn giống khỏe mạnh (đóng khép vỏ nhanh), phần vỏ còn nguyên vẹn.
+ Lưu giữ TTTV:
Thí nghiệm 1: Giống TTTV được đặt trong các rổ nhựa và cố định xuống nền
đáy ở các độ sâu 1 đến 2m; bố trí thí nghiệm ở mật độ: 1 con/m2, 2 con/m2 và 4
con/m2. Thường xuyên chăm sóc, theo dõi trai tai tượng nuôi. Định kỳ 1 tháng/lần
đánh giá tình trạng của trai tai tượng nuôi gồm chiều dài, chiều rộng vỏ, khối lượng,
tỷ lệ sống.
Thí nghiệm 2: Giống TTTV được cố định xuống nền đáy ở độ sâu 3 đến 5 m
nước; bố trí thí nghiệm ở mật độ: 1 con/m2, 2 con/m2 và 4 con/m2. Đánh giá sinh
trưởng và tỷ lệ sống của TTTV. Các chỉ tiêu đánh giá như thí nghiệm 1.
2.3. Thu thập và xử lý số liệu
Chiều dài và chiều rộng mai được xác định bằng thước kẹp kỹ thuật (độ sai số
0,1 mm). Khối lượng TTTV được xác định bằng cân điện tử (độ sai số 0,01g).
+ Tốc độ tăng trưởng (cm/tháng) được tính theo công thức: DGR = ꢀ ꢂꢀ
ꢁ
ꢃ
ꢄ ꢂꢄ
ꢁ
ꢃ
Trong đó: L1 là kích thước giống TTTV tại thời điểm t1;
L2 là kích thước giống TTTV tại thời điểm t2.
+ Tỷ lệ sống (Ts): ꢅ (%) = ꢇꢈ ꢉ100
ꢆ
Trong đó: A, B là số lượng cá thể TTTV thu được tại thời điểm nghiên cứu.
Số liệu được thống kê và xử lý trên phần mềm Excel, SPSS version 16.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng T. squamosa ở vịnh Nha Trang (Đầm Báy, Hòn Mun và
Bích Đầm)
3.1.1 Mật độ phân bố
Qua khảo sát với tổng số 5 điểm đại diện tại mỗi khu vực ở Đầm Báy, Hòn
Mun và Bích Đầm cho thấy, mật độ cá thể trung bình bắt gặp tại Đầm Báy là 4
con/10.000m2, Hòn Mun là 7 con/10.000m2 và Bích Đầm là 3 con/10.000m2. Tính
trung bình thì mật độ tại 3 khu vực là 0,233 con/500m2 có sai khác so với nghiên
cứu của Nguyễn Quang Hùng (2010) là 0,2 con/500m2 (hình 2).
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
17
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Hình 2. Mật độ trung bình của loài T. squamosa ở vịnh Nha Trang
3.1.2. Phân bố theo cấu trúc nền đáy và địa hình đới rạn san hô
* Phân bố theo cấu trúc nền đáy:
Kết quả nghiên cứu cho thấy loài T. Squamosa phân bố trong vùng có nền rạn
san hô, những vùng nền đáy là đá gốc hay nền đáy mềm (cát, cát bùn) đều không
phát hiện. Điều này phù hợp với đặc điểm sinh thái của TTTV và hầu hết các loài
trai tai tượng đều sống bám trên nền đáy trong vùng rạn san hô [9].
Quan sát sự cư trú cho thấy, T. squamosa dùng chân tơ bám nhẹ trên nền đáy,
hầu như toàn bộ cơ thể nằm trên bề mặt, không vùi thân dưới nền đáy, không đào
hang để trú ẩn. Chúng thường ở trong những hốc san hô hoặc những vùng hơi trũng
so với xung quanh để giảm thiểu tác động của sóng và dòng chảy, đây được coi là
một trong những tập tính phân bố sinh thái nhằm thích nghi với môi trường sống.
Hình 3. Phân bố của T. squamosa trên nền đáy ở vịnh Nha Trang
* Phân bố theo đới rạn:
Đặc điểm rạn san hô ở biển Việt Nam chủ yếu là kiểu rạn riềm bờ không điển
hình (không đủ 5 đới cấu trúc) mà chỉ hình thành rõ ràng nhất 3 đới cấu trúc là đới
mặt bằng rạn, đới sườn dốc và đới chân rạn [10]. Tại 3 vị trí nghiên cứu là Đầm Báy,
Hòn Mun, Bích Đầm vịnh Nha Trang, rạn san hô cũng được phân ra thành 3 đới chủ
yếu là: đới mặt bằng rạn, đới sườn dốc và đới chân rạn.
18
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Qua lặn khảo sát ở khu vực Đầm Báy, Hòn Mun và Bích Đầm cho thấy TTTV
phân bố ở 3 đới rạn, mật độ trung bình tại vùng mặt bằng rạn chiếm khoảng 55%,
vùng đới sườn dốc rạn chiếm khoảng 35% và vùng chân rạn chiếm khoảng 10%.
Phạm vi phân bố chủ yếu trong khoảng độ sâu từ 2-15 m nước, vùng gần bờ đảo (<1
m nước) và vùng nước sâu hơn (>15 m) không bắt gặp. Kết quả này có sự sai khác
với khảo sát của Nguyễn Quang Hùng (2011) là đới mặt bằng rạn chiếm 50%, sườn
dốc rạn 35% và chân rạn 15%. Sự sai khác này có thể do địa điểm, thời gian và khu
vực khảo sát (hình 4).
Hình 4. Tỷ lệ (%) phân bố của T. squamosa theo hình thái cấu trúc rạn
3.2. Kết quả thử nghiệm nuôi trên nền đáy rạn san hô
3.2.1. Tăng trưởng về chiều dài vỏ
Qua 3 tháng nuôi trên nền đáy ở Đầm Báy, mật độ nuôi 1 con/m2, 2 con/m2 và
4 con/m2; độ sâu 1-2 m, tăng trưởng trung bình về chiều dài vỏ từ 10,89±2,66 cm;
12,44±1,22 cm; 8,22±1,63 cm lên 11,82±3,53 cm; 13,18±2,41 cm; 8,89±1,77 cm.
Độ sâu 3-5 m tăng từ 10,65±0,97 cm; 11,56±3,76 cm và 10,1±2,69 cm lên
11,07±1,07 cm; 11,86±4,03 cm và 10,28±2,67 cm (hình 5).
Hình 5. Tăng trưởng về chiều dài vỏ T. squamosa qua 3 tháng nuôi
trên nền đáy ở mật độ 1 con/m2, 2 con/m2 và 4 con/m2; độ sâu 1-2 m và 3-5 m
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
19
Nghiên cứu khoa học công nghệ
3.2.2. Tăng trưởng về chiều rộng vỏ
Ở độ sâu 1-2 m, mật độ 1 con/m2, 2 con/m2 và 4 con/m2 tăng trưởng về chiều
rộng vỏ trung bình từ 5,2±1,57 cm; 6,42±0,66 cm; 3,96±0,71 cm lên 5,59±2,11 cm;
6,7±0,6 cm; 4,15±0,70 cm. Ở độ sâu 3-5 m, tăng trưởng về chiều rộng vỏ từ
5,09±0,99 cm, 6,05±1,33 cm và 5,16±1,48 cm lên 5,23±0,89 cm, 6,18±1,79 cm và
5,25±1,64 cm (hình 6).
Hình 6. Tăng trưởng về chiều rộng vỏ T. squamosa qua 3 tháng nuôi
trên nền đáy ở mật độ 1con/m2, 2 con/m2 và 4 con/m2, độ sâu 1-2 m và 3-5 m
3.2.3. Tăng trưởng về khối lượng
Ở mật độ 1 con/m2, 2 con/m2 và 4 con/m2, độ sâu 1-2 m khối lượng trung bình
tăng từ 292,89 g; 336,41 g và 91,86 g/con lên 383,22 g; 417,47g và 97,90 g/con sau
3 tháng thử nghiệm. Độ sâu 3-5 m tăng trưởng về khối lượng từ 241,42 g; 374,41 g
và 229,80 g/con lên 260,08 g; 395,25 g và 252,17 g/con.
Ở các mật độ nuôi khác nhau, TTTV có xu hướng tăng trưởng về khối lượng ở
độ sâu 1-2 m nhanh hơn ở độ sâu 3-5 m. Trong phạm vi khối lượng dưới 500 g/con,
trai nuôi có khối lượng lớn hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn.
Ước tính tăng trưởng về khối lượng từ 2,01-13,00 g/cá thể/tháng (hình 7).
Hình 7. Tăng trưởng về khối lượng T. squamosa qua 3 tháng nuôi
trên nền đáy ở mật độ 1 con, 2 con và 4 con/m2, độ sâu 1-2 m và 3-5 m
20
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
Nghiên cứu khoa học công nghệ
3.2.4. Tỷ lệ sống
Tỷ lệ sống của T. squamosa qua 3 tháng nuôi trên rạn san hô ở Đầm Báy nơi
có độ sâu 3-5m đạt 92% cao hơn ở độ sâu 1-2 m là 85,4% (hình 8).
Hình 8. Tỷ lệ sống của T. squamosa nuôi trên rạn san hô ở Đầm Báy
Tỷ lệ sống này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Hùng
(2011) khi nuôi trên rạn san hô ở Vũng Ngán, vịnh Nha Trang là 54,1-64,5%. Tuy
nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu theo dõi đánh giá vì thời gian nuôi chưa đủ
dài. Hầu hết trai nuôi bị hao hụt ở tháng đầu khi mới bắt đầu thả nuôi, nguyên nhân
xác định do TTTV bị tổn thương phần chân bám trong quá trình khai thác và trong
các tháng 10, 11 và 12 là mùa mưa tại Nha Trang nên cường độ ánh sáng thấp, làm
hạn chế khả năng hấp thụ thức ăn thông qua tảo cộng sinh.
Như vậy, ước tính tăng trưởng trung bình về chiều dài vỏ của TTTV nuôi trên
nền rạn san hô đạt 0,10-0,31 cm/tháng, chiều rộng vỏ tăng trung bình 0,03-0,13
cm/tháng và khối lượng tăng trung bình 2,01-13,00 g/tháng. Kết quả này cũng khá
phù hợp với nghiên cứu về tốc độ tăng trưởng của Klumpp và cộng sự (1992) và
nghiên cứu của Nguyễn Quang Hùng (2011). Theo Nguyễn Quang Hùng, khi thử
nghiệm nuôi trai tai tượng T. squamosa ở Vũng Ngán, vịnh Nha Trang cho thấy tăng
trưởng của chúng đạt 29,5 mm/năm, chiều rộng đạt 29,8 mm/năm và khối lượng đạt
182,6 g/năm. Tỷ lệ sống của trai nuôi thí nghiệm đạt 85,4-92,0%.
4. KẾT LUẬN
- Mật độ phân bố của T. squamosa tại 3 khu vực Đầm Báy, Hòn Mun và Bích
Đầm của vịnh Nha Trang là 0,233 cá thể/500m2, chúng cư trú trong vùng có nền rạn
san hô, những hốc san hô hoặc những vùng hơi trũng so với xung quanh. Tỷ lệ phân
bố tại vùng mặt bằng rạn chiếm 55%, vùng đới sườn dốc rạn chiếm 35% và vùng
chân rạn chiếm 10%, độ sâu phân bố từ 2-15 m.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
21
Nghiên cứu khoa học công nghệ
- Tăng trưởng trung bình về chiều dài vỏ của TTTV nuôi trên nền rạn san hô
đạt 0,1-0,31 cm/tháng, chiều rộng vỏ tăng trung bình 0,03-0,13 cm/tháng và khối
lượng tăng trung bình 2,01-13,00 g/tháng.
- Tỷ lệ sống của T. squamosa qua 3 tháng nuôi trên rạn san hô tại Đầm Báy ở
độ sâu 3-5 m đạt 92%, ở độ sâu 1-2 m đạt 85,4%.
- Kết quả bước đầu của nghiên cứu cho thấy T. squamosa có thể được nuôi tại
Đầm Báy phục vụ cho mục đích bảo tồn loài sinh vật có giá trị này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Công Thung, M. Sarti và nnk, Bảo tồn đa dạng sinh học dải ven bờ Việt
Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr. 36-82.
2. Lucas J.S., The biology, exploitation, and mariculture of giant clams
(Tridacnidae). Reviews in Fisheries Science, 1994, 2(3):181-223.
3. TMMP, Động vật thân mềm biển Việt Nam, Chương trình động vật thân mềm
nhiệt đới, Tổ chức DANIDA, 2003, tr. 186-187.
4. Sách đỏ Việt Nam, Phần Động vật, Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà
Nội, 2000 và 2007, tr. 379-382.
February 2006.
6. Nguyễn Quang Hùng, Nghiên cứu phục hồi và phát triển nguồn lợi Trai tai
tượng (Tridacnidae) ở biển Việt Nam, Báo cáo khoa học, 2011.
7. Nguyễn Đức Thắng, Di dời và khoanh phục hồi một số loài: ốc đụn, vú nàng,
trai tai tượng tại Vườn quốc gia Côn Đảo, Báo cáo khoa học, 2017.
8. English S., Wilkinson C. and Baker V., Survey manual for tropical marine
resources, Australian Institute of Marine Science, Townville, 1994, tr. 34-49.
9. Nguyễn Quang Đông, Nguyễn Quang Hùng, Một số đặc điểm sinh học trai tai
tượng vẩy (Tridacna Squamosa Lamarck, 1819) tại 04 đảo khảo sát ở biển
Việt Nam, Khoa học - Công nghệ Thủy sản, 2015, 1:91-97.
10. Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Huy Yết, Nghiên cứu bổ sung, cập nhật và hệ thống hoá
tư liệu về rạn san hô biển, Viện Hải dương học Nha Trang, Trung tâm KHKT
Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội, 2001.
11. Klumpp D.W., Bayne B.L. and Hawkins A.J.S., Nutrition of the giant clam
Tridacna gigas (L.). I. Contribution of filter feeding and photosynthesis to
respiration and growth, Journal of Experimental Marine Biology and Ecology,
1992, 155:105-122.
22
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
Nghiên cứu khoa học công nghệ
SUMMARY
DISTRIBUTION OF SCALED CLAM, Tridacna squamosa LAMARCK, 1819,
AT NHA TRANG BAY AND INITIAL DATA ON CULTURE AT DAM BAY
Survey on the status of scaled clam at Dam Bay, Hon Mun, Bich Dam and
culture trial on the coral reef showed that: Density of scaled clam at Dam Bay, Hon
Mun and Bich Dam was 0.233 ind/500m2. The clam were mainly distributed at the
coral reef, burrows or the lower area. Fifty percent (55%) of the clam were found
from the reef surfacce; 35% on the reef slope and the remaining on the reef base.
The clam were found at the water deepth from 2 to 15 m at the study site. Growth in
shell length of the rared clam was 0.1 to 0.31 cm/month, growth in shell wide was
0.03 to 0.13 cm/month and growth in weight was 2.01-13.00 g/month. Survival of
the clam was 92.0% when culture at 3 to 5 m of water depth and was 85.3% at the 1
to 2 m water depth. The results suggest that the scaled clam can be cultured at Dam
Bay for conservation purpose.
Keywords: Scaled clam, tridacna squamosa, status, culture, coral reef,
growth, survival.
Nhận bài ngày 05 tháng 02 năm 2020
Phản biện xong ngày 15 tháng 3 năm 2020
Hoàn thiện ngày 21 tháng 4 năm 2020
(1)
Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 20, 06-2020
23
Bạn đang xem tài liệu "Phân bố trai tai tượng vảy (Tridacna squamosa Lamarck, 1819) trên rạn san hô vịnh Nha Trang và kết quả bước đầu nuôi thử nghiệm ở đầm Báy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_bo_trai_tai_tuong_vay_tridacna_squamosa_lamarck_1819_tr.pdf

