Ảnh hưởng của các mức protein khác nhau trong thức ăn tới sinh trưởng của cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) nuôi thương phẩm

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE ANDTECHNOLOGY
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Tập 22, Số 1 (2021): 72-79  
Vol. 22, No. 1 (2021): 72-79  
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PROTEIN KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN  
TỚI SINH TRƯỞNG CỦA CÁ TRẮM CỎ (Ctenopharyngodon idellus)  
NUÔI THƯƠNG PHẨM  
Đỗ Văn Thịnh1*, Trần Thị Mai Hương1, Nguyễn Thị Biên Thùy1,  
Cao Thị Linh Chi1, Lê Văn Khôi1  
1Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, Bắc Ninh  
Ngày nhận bài: 06/11/2020; Ngày chỉnh sửa: 10/12/2020; Ngày duyệt đăng: 11/12/2020  
Tóm tắt  
ghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức protein trong thức ăn tới sinh trưởng và tỷ  
N
lệ sống của cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) nuôi thương phẩm. Tổng số 240 con cá, khối lượng trung  
bình 202,66 ± 0,97 g/con, được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 12 giai (10m3/giai) với ba lần lặp lại. Ba loại thức ăn  
viên với hàm lượng protein lần lượt là 15, 20 và 25% và một loại thức ăn đối chứng là cỏ voi được sử dụng trong thí  
nghiệm. Sau thời gian 90 ngày nuôi, tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng protein và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá  
với thức ăn CT3 có hàm lượng protein (CP) 25% đạt kết quả tốt nhất trong các nghiệm thức. Tỷ lệ sống các nghiệm  
thức không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, hàm lượng lipid trong cơ thịt cá và các chỉ số gan, mật ruột  
của cá ăn thức ăn viên cao hơn so với cá ăn cỏ. Kết quả nghiên cứu này bước đầu cho thấy thức ăn CT3 (25% protein)  
phù hợp và có thể sử dụng thay thế cỏ trong giai đoạn nuôi thương phẩm cá Trắm cỏ.  
Từ khóa: Cá Trắm cỏ, hàm lượng protein, sinh trưởng.  
[2]. Ở Việt Nam, cá Trắm cỏ được nuôi nhiều ở  
các tỉnh miền Bắc như: Hải Dương, Hưng Yên,  
Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội... với hình thức  
nuôi ghép và nuôi đơn trong ao, trong lồng.  
Protein trong khẩu phần ăn đã được chứng  
minh là một thành phần dinh dưỡng không  
thể thiếu cho sự phát triển bình thường của  
cá [3]. Một số nghiên cứu trước đây cho thấy  
rằng mức độ cao quá hay thấp quá của hàm  
lượng protein trong thức ăn đều ảnh hưởng  
tới tốc độ tăng trưởng, tình trạng sức khỏe  
của ruột, thận và gan cá Trắm cỏ. Trong khi  
mức protein tối ưu trong chế độ ăn có thể cải  
1. Đặt vấn đề  
Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus  
(Cuvier & Valenciennes, 1844) là đối tượng  
cá nước ngọt được nuôi phổ biến, có tốc độ  
tăng trưởng nhanh và chất lượng thịt thơm  
ngon. Cá vừa có khả năng sử dụng thức ăn  
thực vật như cỏ, rong tảo, đồng thời có thể sử  
dụng thức ăn chế biến nên được người dân ưa  
chuộng (Dongmeza, 2009) [1]. Trên thế giới,  
cá Trắm cỏ được nuôi rộng rãi ở nhiều nước  
và vùng lãnh thổ như: Trung Quốc, Đài Loan,  
Banglades, Ấn Độ... Trong đó Trung Quốc là  
nước nuôi và có sản lượng cá Trắm cỏ lớn nhất  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 72-79  
2.1.2. Thức ăn thí nghiệm  
thiện sự tăng trưởng cũng như vấn đề về sức  
khỏe của cá [4-6]. Trong thức ăn của cá Trắm  
cỏ, protein được sử dụng như là nguồn năng  
lượng chính đồng thời nó cũng cần thiết giúp  
cá tăng trưởng.  
Nhu cầu dinh dưỡng của cá Trắm cỏ giai  
đoạn cá giống đã được tập trung nghiên cứu  
[7-10]. Tuy nhiên, nhu cầu dinh dưỡng của  
cá trong giai đoạn nuôi thương phẩm vẫn  
còn hạn chế. Với mục tiêu tìm ra được mức  
protein phù hợp trong thức ăn cho cá Trắm  
cỏ. Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của việc  
sử dụng thức ăn với các mức protein khác  
nhau tới sinh trưởng, phát triển của cá đã  
được tiến hành.  
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm gồm: Cỏ  
voi và ba loại thức ăn viên có hàm lượng protein  
lần lượt là 15, 20 và 25%. Thức ăn viên được  
phối trộn trên nguồn nguyên liệu chính là các  
loại bột có nguồn gốc thực vật: Bột mỳ và cám  
gạo, bột cỏ, bột bã đậu và một số nguyên liệu  
khác (Bảng 1), các nguyên liệu này được mua  
từ nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản  
Thành Long, Phủ Lý, Hà Nam. Nguyên liệu sau  
khi được cân và phối trộn theo tỷ lệ trong bảng  
1, hỗn hợp nguyên liệu đã trộn đều được ép  
viên tại phòng thí nghiệm dinh dưỡng thủy sản,  
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 bằng  
máy ép viên thủ công. Viên thức ăn sau khi ép  
được sấy ở 80oC trong thời gian 4 tiếng bằng lò  
sấy (Menmert), sau đó thức ăn được bảo quản  
trong tủ đông -20oC và sử dụng cho thí nghiệm  
đánh giá tăng trưởng. Cỏ voi sử dụng trong thí  
nghiệm có hàm lượng dinh dưỡng theo vật chất  
khô lần lượt là: Protein 5,9%; lipid 2%; xơ 27%  
được mua từ các hộ chăn nuôi bò sữa tại Phù  
Đổng, Gia Lâm và được sử dụng làm thức ăn  
cho lô đối chứng trong thí nghiệm.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
2.1.1. Cá thí nghiệm  
Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus có  
khối lượng trung bình 202,66 ±0,99 g/con, có  
nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy  
sản 1. Cá được luyện ăn thức ăn viên trong thời  
gian hai tuần trước khi đưa vào thí nghiệm.  
Bảng 1. Công thức thức ăn trong thí nghiệm  
Thành phần nguyên liệu (g)  
Công thức 1  
Công thức 2  
Công thức 3  
Bột cỏ  
70  
473  
0
70  
373  
100  
200  
200  
15  
150  
173  
220  
200  
200  
15  
Bã sữa đậu  
Gluten ngô  
Cám gạo  
200  
200  
15  
Bột mỳ  
Monocanxi photphat  
Vitamin và khoáng**  
Chất kết dính (GG)  
Vitamin C*  
20  
20  
20  
20  
20  
20  
2
2
2
Tổng số (g)  
1.000  
145,35  
1.000  
198,83  
1.000  
251,32  
Độ ẩm  
Protein tổng số (g/kg)  
Béo tổng số (g/kg)  
Tro tổng số  
61,05  
63,4  
67,05  
62,1  
67,85  
64,3  
Năng lượng (KJ/kg)  
1.559  
1.803  
1.972  
73  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Văn Thịnh và ctv.  
* Vitamin C (L-ascorbate-2-monophosphate) đông -20oC để tiến hành phân tích thành phần  
của hãng Bayer.  
dinh dưỡng. Tỷ lệ sống được xác định vào thời  
điểm kết thúc thí nghiệm.  
** Thành phần vitamin và khoáng bổ  
sung vào thức ăn (mg/kg hỗn hợp vitamin  
và khoáng): vitamin C 18.100 mg; vitamin A  
485.000 mg; vitamin D3 172.000 mg; vitamin  
E 7.010 mg; vitamin K3 1.850 mg; folic acid,  
550 mg; nicotinamide, 5.200 mg; D-calcium  
pantothenate, 4.250 mg; D-biotin, 16.5 mg;  
inositol, 15.400 mg; ZnSO4, 2.700 mg; MnSO4,  
1.730 mg; CuSO4, 1.310 mg; FeSO4, 6.250  
mg; CoSO4, 156 mg.  
2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá  
- Tỷ lệ sống (%) = Số cá thu hoạch × 100/  
Số cá thả.  
- Tốc độ tăng trưởng tương đối theo  
khối lượng SGR (%/ngày) = 100 × (LnWc  
- LnWđ)/T  
- Khối lượng cá tăng lên (g/con) = Wc - Wđ  
Trong đó, Wc là khối lượng cá khi kết  
thúc thí nghiệm, Wđ là khối lượng cá ban  
đầu, T là thời gian thí nghiệm.  
*** Hàm lượng protein của nguyên liệu  
chính/VCK: Bột cỏ 5,9%; Bã sữa đậu 20,5%:  
Gluten ngô 74%; Cám gạo 10%; Bột mỳ 12%.  
- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) = Tổng  
khối lượng thức ăn sử dụng (kg)/Khối lượng  
cá tăng thêm (kg).  
2.2. Chăm sóc và quản lý thí nghiệm  
2.2.1. Bố trí và quản lý thí nghiệm  
- Hiệu quả sử dụng protein (PER) = Khối  
lượng cá tăng lên/Lượng protein cá ăn vào  
Tổng số 240 con cá Trắm cỏ được bố  
trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 12 giai nuôi  
(10 m3/giai) với mật độ 20 con/giai. Mỗi  
công thức thức ăn được lặp lại ba lần. Cá  
được cho ăn 2 lần/ngày (8 giờ và 16 giờ) cho  
tới khi thỏa mãn. Định kỳ vệ sinh lồng lưới 1  
lần/tháng nhằm duy trì chất lượng nước bên  
trong và ngoài giai như nhau. Nước ao nuôi  
được xử lý bằng men vi sinh Bùi Gia hàng  
tháng. Nhiệt độ nước trong ao nuôi được đo  
bằng nhiệt kế thủy ngân, hàm lượng oxy hòa  
tan (mg/l) được kiểm tra hàng ngày bằng bộ  
kít thử nhanh trong quá trình thí nghiệm.  
- Chỉ số ruột cá (VSI) (%) = Khối lượng  
ruột cá × 100/Khối lượng cá.  
- Chỉ số mật cá (GBSI) (%) = Khối lượng  
mật cá × 100/Khối lượng cá.  
- Chỉ số gan cá (HSI) (%) = Khối lượng  
gan cá × 100/Khối lượng cá.  
2.2.4. Phương pháp phân tích thành phần  
dinh dưỡng  
Chỉ tiêu dinh dưỡng trong cơ thịt cá phi  
lê như protein tổng số, lipid tổng số, độ ẩm,  
khoáng tổng số được phân tích theo TCVN  
4328-1:2007, TCVN 4331:2001, TCVN  
4327:2007, TCVN 4326:2001.  
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu và  
phân tích một số chỉ tiêu  
Sinh trưởng của cá thí nghiệm được xác  
định định kỳ 1 tháng/lần. Thu mẫu ngẫu nhiên  
10 con/giai để xác định các chỉ tiêu sinh trưởng  
và hệ số thức ăn. Trước mỗi đợt cân kiểm tra  
cá được dừng cho ăn trước một ngày. Kết thúc  
thí nghiệm cân toàn bộ cá thí nghiệm trong  
giai và mỗi giai thu ngẫu nhiên 5 cá thể để tiến  
hành mổ thu ruột, gan, mật và thu mẫu cơ thịt  
cá bằng cách phi lê cơ thịt hai bên mình cá. Cơ  
thịt cá sẽ được nghiền nhỏ và bảo quản trong tủ  
2.3. Phương pháp xử lý số liệu  
Các số liệu của thí nghiệm sẽ tính giá trị  
trung bình, sai số chuẩn. Số liệu trung bình  
tại các công thức thức ăn sẽ được xử lý bằng  
phương pháp phân tích phương sai 1 nhân  
tố (ANOVA) trên phần mềm Minitab 16. Sử  
dụng phép so sánh Duncan để so sánh sự  
khác nhau giữa các công thức. Sự khác nhau  
được xem là có ý nghĩa khi P< 0,05.  
74  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 72-79  
3.2. Tốc độ tăng trưởng  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
Sau 90 ngày nuôi, từ cỡ giống thả có khối  
lượng 202,66 g/con cá đạt khối lượng trung  
bình 434,33 - 539,30 g/con (Bảng 2). Tăng  
trọng của cá thí nghiệm thấp nhất ghi nhận ở  
lô thí nghiệm sử dụng cỏ và thức ăn CT1, tiếp  
đến là CT2 và cao nhất ở lô cá sử dụng thức  
ăn CT3 (333,97 g/con). Tốc độ tăng trưởng  
tương đối của cá thí nghiệm dao động 0,85  
- 1,07 %/ngày. Cá sử dụng thức ăn CT3 cho  
tốc độ tăng trưởng cao nhất (1,07 %/ngày)  
và có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P<  
0,05) so với cá sử dụng thức ăn ở các công  
thức còn lại. Tuy nhiên, không có sự khác  
biệt về tốc độ tăng trưởng khối lượng giữa cá  
sử dụng thức ăn CT1 và cỏ (P>0,05).  
3.1. Các yếu tố môi trường  
Các yếu tố môi trưởng có ảnh hưởng rất  
lớn tới sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống  
của cá. Kết quả quan trắc các thông số môi  
trường trong ao thí nghiệm cho thấy, nhiệt độ  
nước dao động từ 23,6 - 30,7oC. Ôxy hòa tan  
trong quá trình thí nghiệm dao động từ 6,1 -  
7,9 mg/l. Nhìn chung, các yếu tố môi trường  
trên đều nằm trong khoảng thích hợp cho  
sinh trưởng và phát triển của cá [11]. Trong  
quá trình thí nghiệm nước ao được định kỳ  
xử lý bằng men vi sinh, đây cũng là điều kiện  
để duy trì môi trường ao nuôi được ổn định  
nhằm tạo thuận lợi cho cá phát triển.  
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng, hệ số thức ăn và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm  
Công thức thức ăn  
Chỉ tiêu  
CT1  
CT2  
CT3  
Cỏ  
Khối lượng cá ban đầu (g/con)  
Khối lượng cá kết thúc (g/con)  
Khối lượng cá tăng lên (g/con)  
Hiệu quả sử dụng protein  
Tốc độ tăng trưởng (%/ngày)  
Hệ số thức ăn  
201,30 ± 4,66  
434,33 ± 3,20ᶜ  
233,03 ± 4,33c  
1,38 ± 0,02b  
0,85 ± 0,01ᶜ  
4,98 ± 0,11d  
85,00 ± 2,89  
203,47 ± 4,45  
482,33 ± 5,21ᵇ  
278,86 ± 5,27b  
1,36 ± 0,04b  
0,96 ± 0,01ᵇ  
3,69 ± 0,21ᶜ  
85,00 ± 5,00  
205,33 ± 3,60  
539,30 ± 5,05ᵃ  
333,97 ± 8,11a  
1,51 ± 0,01a  
1,07 ± 0,01ᵃ  
2,64 ± 0,06b  
83,33 ± 6,67  
205,47 ± 3,28  
447,33 ± 5,10ᶜ  
241,86 ± 6,74c  
0,25 ± 0,01c  
0,86 ± 0,02ᶜ  
31,00 ± 0,71ᵃ  
80,00 ± 5,77  
Tỷ lệ sống (%)  
* Ghi chú: Giá trị trung bình ± SE. Giá trị ở cùng một hàng có số mũ khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
3.3. Hệ số chuyển đổi thức ăn và hiệu quả  
sử dụng protein của cá thí nghiệm  
Tốc độ tăng trưởng của cá Trắm cỏ  
trong nghiên cứu này thấp hơn so với kết  
quả nghiên cứu của Jing và cộng sự (2005)  
[9] nuôi cá Trắm cỏ từ 285 gam bằng thức  
ăn chứa hàm lượng protein/lipid (30/5%)  
khi được bổ sung photpho ở mức 5,6 g/kg  
là 1,4%/ngày. Tuy nhiên, kết quả của  
nghiên cứu này tương đồng và cao hơn khi  
cá sử dụng thức ăn protein/lipid (30/5%)  
và bổ sung photpho từ 1-2,5 g/kg là 0,6-  
0,9%/ngày.  
Hệ số thức ăn (FCR) của cá thí nghiệm  
thấp nhất ở CT3 (2,64) và cao nhất là lô sử  
dụng cỏ (31,00). Có sự sai khác có ý nghĩa  
thống kê (P<0,05) về hệ số thức ăn của cá  
giữa các công thức với nhau. Là một trong  
những động vật ăn cỏ thủy sinh điển hình,  
cá Trắm cỏ nổi tiếng với tỷ lệ ăn cỏ cao,  
theo Van và cộng sự (2017) [12] hệ số thức  
ăn với cỏ của cá lên tới 27,6 kg cỏ trên mỗi  
kg. Trong 3 công thức thức ăn viên, nghiệm  
75  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Văn Thịnh và ctv.  
thức CT3 cho hệ số thức ăn thấp nhất và có 25% bột cá trong khẩu phần ăn cho cá Trắm  
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) cỏ giống hiệu quả sử dụng protein là 1,6-2,4  
so với hai ngiệm thức thức ăn viên còn thì với CT3 trong nghiên cứu này có nguồn  
lại. So với kết quả nghiên cứu của Kenan gốc hoàn toàn từ thực vật hiệu quả sử dụng  
(2012) [7] hệ số chuyển đổi thức ăn của cá protein là 1,51 là kết quả khả quan.  
trong thí nghiệm này cao hơn, tuy nhiên so  
3.4. Tỷ lệ sống  
với kết quả nuôi thực tế của các loại thức  
ăn hiện nay người dân đang sử dụng thì  
thức ăn CT3 không có sự khác biệt lớn,  
mặc dù đây là thức ăn tự chế. Hệ số thức  
ăn trong thí nghiệm này còn cao nguyên  
nhân có thể do nguyên liệu hoàn toàn từ  
thực vật gây ra việc khó tiêu hóa và hấp thụ  
chất dinh dưỡng có trong thức ăn. Đặc biệt,  
trong nguyên liệu thực vật thường có các  
chất kháng dinh dưỡng, vách tế bào thực  
vật chứa hàm lượng cellulose cao.  
Hiệu quả sử dụng protein của cá với thức  
ăn là cỏ là thấp nhất 0,25 và cao nhất là thức  
ăn CT3 (1,51). Có sự sai khác có ý nghĩa  
thống kê về hiệu quả sử dụng protein của cá  
giữa thức ăn CT3 với cỏ và hai loại thức ăn  
CT1 và CT2. Kết quả này thấp hơn so với  
kết quả trong nghiên cứu của Li (2018) [13]  
khi đánh giá hiệu quả sử dụng protein trên cá  
Trắm cỏ giai đoạn giống lớn (47 g/con) là 2,1.  
Tuy nhiên, kết quả này cũng phù hợp do cá  
trong thí nghiệm này là giai đoạn đầu thương  
phẩm (205 g/con). So với kết quả nghiên  
cứu của Tạ Thị Bình và cộng sự (2010) [14]  
trên cá Trắm đen giai đoạn giống lớn thì kết  
quả trong nghiên cứu này cao hơn. So với  
nghiên cứu của Kenan (2012) [7] sử dụng  
Tỷ lệ sống của cá trong quá trình thí nghiệm  
đạt khá cao, dao động từ 80 tới 85%. Không  
thấy có sự khác có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ  
sống giữa bốn nghiệm thức trong thí nghiệm  
(P>0,05). Nguyên nhân có thể lý giải là kích  
cỡ cá đưa vào thí nghiệm lớn (trên 200 g/con).  
Nước ao thí nghiệm được xử lý định ký bằng  
chế phẩm vi sinh tạo điều kiện thuận lợi cho  
cá phát triển. Trong khẩu phần ăn của cá có  
bổ sung vitamin C giúp cá giảm stress và tăng  
cường sức đề kháng. Kết quả trong nghiên  
cứu này này cũng tương đồng với nghiên cứu  
của Yan và cộng sự (2015) [9].  
3.5. Hàm lượng dinh dưỡng cơ thịt cá  
Hàm lượng protein tổng số, tro tổng số và  
độ ẩm trong cơ thịt cá sau 90 ngày thí nghiệm  
không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê  
(P>0,05) giữa các công thức thức ăn (Bảng 3).  
Tuy nhiên, hàm lượng lipid trong cơ thịt cá  
ở nghiệm thức sử dụng cỏ thấp hơn và có sự  
sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với  
các nghiệm thức sử dụng thức ăn viên. Trong  
ba nghiệm thức sử dụng thức ăn viên không  
thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê về hàm  
lượng lipid trong cơ thịt cá.  
Bảng 3. Thành phần dinh dưỡng cơ thịt cá thí nghiệm  
Thức ăn thí nghiệm  
Chỉ tiêu  
CT1  
CT2  
CT3  
Cỏ  
Protein tổng số (%)  
Lipid tổng số (%)  
16,41±0,77  
2,20±0,05b  
15,02±0,54  
3,08±0,00a  
15,44±0,47  
15,40±0,34  
3,16±0,15a  
1,7±0,17c  
Tro (%)  
Ẩm (%)  
1,65±0,08  
1,68±0,08  
1,83±0,13  
1,68±0,10  
79,89±0,43  
80,50±0,28  
79,78±0,27  
81,48±0,55  
* Ghi chú: Giá trị trung bình ± SE. Giá trị ở cùng một hàng có số mũ khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
76  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 72-79  
Hàm lượng dinh dưỡng trong cơ thịt cá hưởng tới việc chuyển hóa tinh bột của gan.  
trong thí nghiệm này tương đương với kết Việc bổ sung thêm các chất có chức năng hỗ  
quả trong thí nghiệm của Kenan (2012) [7] trợ chuyển hóa béo vào trong thức ăn cho cá  
và Xi & cs (2019) [15] khi cho cá ăn thực cũng cần được xem xét.  
vật nổi và thức ăn viên có hàm lượng protein  
3.6. Chỉ số nội tạng  
30%. Trong thí nghiệm này vẫn ghi nhận  
hiện tượng cá tích mỡ trong nội tạng khi  
sử dụng thức ăn viên so với cá sử dụng cỏ,  
mặc dù các nguyên liệu hoàn toàn từ thực  
vật. Tuy nhiên, sự khác biệt này giữa thức ăn  
CT1 và cỏ là không lớn. Nguyên nhân có thể  
do hàm lượng cacbonhydrat trong thức ăn  
viên có nguồn gốc thực vật còn cao, đã ảnh  
Hệ số ruột, gan và mật của lô cá thí  
nghiệm sử dụng cỏ thấp hơn so với ba  
nghiệm thức còn lại và có sự sai khác có  
ý nghĩa thống kê (P< 0,05). Trong các  
nghiệm thức ăn thức ăn viên (CT1, CT2 và  
CT3), không thấy có sự khác biệt về các hệ  
số ruột, gan và mật (Bảng 4).  
Bảng 4. Chỉ số nội tạng của cá thí nghiệm  
Thức ăn thí nghiệm  
Chỉ tiêu  
CT1  
Hệ số mật (%)  
CT2  
CT3  
0,89 ± 0,03b  
Cỏ  
0,72 ± 0,10a  
0,86 ± 0,07b  
0,95 ± 0,06b  
Hệ số gan (%)  
Hệ số ruột (%)  
2,53 ± 0,19ᵇ  
11,81 ± 0,39b  
3,13 ± 0,71ᵇ  
12,53 ± 0,52b  
2,44 ± 0,52ᵇ  
12,66 ± 0,57b  
1,66 ± 0,12a  
8,89 ± 0,23a  
* Ghi chú: Giá trị trung bình ± SE. Giá trị ở cùng một hàng có số mũ khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).  
Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết và ép viên cho hệ số ruột và gan lần lượt là: ép  
quả của Yan & cs (2015) [9] về hệ số ruột và đùn (7,68 và 1,59%); ép viên (7,53 và 1,54%).  
gan cá là không có sự khác biệt khi sử dụng Kết quả của Li (2018) [13] tương đồng với lô  
thức ăn có hàm lượng protein 20 và 25%. Kết cá ăn cỏ và thấp hơn so với lô cá sử dụng thức  
quả cũng được ghi nhận tương tự trong nghiên ăn viên trong thí nghiệm này. Nguyên nhân có  
cứu của Kenan (2012) [7] đánh giá ảnh hưởng thể do trong thức ăn ép đùn tỷ lệ hồ hóa tinh bột  
của các mức protein và lipid tới sinh trưởng của trong thức ăn cao trên 70%. Do đó, cá có thể  
cá Trắm cỏ cho kết quả hệ số gan là 3,0-3,2%. tiêu hóa và chuyển hóa được tinh bột trong thức  
Trong thí nghiệm của Li (2018) [13] khi sử ăn, dẫn đến các hệ số tương đương với cỏ.  
dụng thức ăn có nguồn gốc từ thực vật ép đùn  
a. Ruột cá sử dụng thức ăn viên  
b. Ruột cá sử dụng cỏ  
Hình 1. Ruột cá thí nghiệm  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Đỗ Văn Thịnh và ctv.  
Nguyên nhân cá ăn cỏ có hàm lượng lipid  
và hệ số ruột thấp hơn so các công thức còn  
lại có thể do thành phần dinh dưỡng trong  
cỏ chất xơ cao, hàm lượng protein thô,  
cacbonhydrat, lipid thấp, nên cá không có  
hiện tượng tích mỡ trong cơ thịt và trong  
ruột (Hình 1). Trái lại cá sử dụng thức ăn  
viên hàm lượng dinh dưỡng như protein,  
lipid và tinh bột cao hơn, dẫn đến hệ số ruột  
của cá ăn thức ăn viên cao hơn so với ăn cỏ.  
Theo ghi nhận trong nghiên cứu của Tian và  
cộng sự (2010) [16] chỉ ra rằng hàm lượng  
cacbonhydrat trong thức ăn cao có thể dẫn  
đến tích tụ lipid trong gan cá, rối loạn chức  
năng gan và ảnh hưởng tới mật cá. Đây có  
thể là nguyên nhân dẫn tới gan cá ăn thức ăn  
viên có hệ số cao hơn cá ăn cỏ. Việc cân bằng  
hàm lượng cacbonhydrat, các yếu tố kháng  
dinh dưỡng và hồ hóa tinh bột trong thức ăn  
có nguồn gốc thực vật cho cá cũng là một  
yếu tố cần được chú ý trong quá trình sản  
xuất thức ăn. Bên cạnh đó các chất hỗ trợ  
chuyển hóa béo như vitamin E, các chất tăng  
cường chức năng gan như inositol, choline,  
sorbitol... cũng nên được tính toán bổ sung  
vào khẩu phần giúp cá phát triển tốt.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hỗ  
trợ kinh phí từ đề tài “Nghiên cứu phát triển  
thức ăn viên công nghiệp cho cá Trắm cỏ  
(Ctenopharyngodon idellus) thương phẩm”,  
thuộc chương trình đặt hàng đề tài khoa học  
công nghệ cấp cơ sở năm 2020 - Viện Nghiên  
cứu Nuôi trồng Thủy sản 1.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Dongmeza E. (2009). Studies on the nutritional  
quality of plant materials used as fish feed in  
Northern Vietnam. PhD Thesis. Department  
of Aquaculture Systems and Animal Nutrition,  
University of Hohenheim.  
[2] Cai W., Liang X., Yuan X., Liu L., He S., Li J., Li  
B. & Xue M. (2018). Diferent strategies of grass  
carp (Ctenopharyngodon idella) responding  
to insucient or excessive dietary carbohydrate.  
Aquaculture, 497, 292-298.  
[3] Serrano J. A., Nematipour G. R. & Gatlin D.  
M. (1992). Dietary protein requirement of the  
red drum (Sciaenops ocellatus) and relative use  
of dietary carbohydrate and lipid. Aquaculture,  
101, 283-291.  
[4] Xu J., Feng L., Jiang W. D., Wu P., Liu Y., Jiang  
J., Kuang S. Y., Tang L., Tang W. N., Zhang  
Y. A. & Zhou X. Q. (2016a). Efects of dietary  
protein levels on the disease re-sistance, immune  
function and physical barrier function in the gill  
of grass carp (Ctenopharyngodon idella) after  
challenged with Flavobacterium columnare.  
Fish Shellfish Immunol. 57, 1-16.  
4. Kết luận  
Sau 90 ngày nuôi, nghiệm thức sử dụng  
thức ăn CT3 (25% protein) cho tốc độ tăng  
trưởng, hiệu quả sử dụng protein và hệ số  
chuyển hóa thức ăn là tốt nhất trong ba loại  
thức ăn viên và cỏ. Thức ăn viên và cỏ đều  
ăn không ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, hàm  
lượng protein, trong cơ thịt cá thí nghiệm.  
Các chỉ số gan, mật, ruột cá sử dụng thức  
ăn viên đều cao hơn so với cá ăn cỏ. Kết  
quả nghiên cứu này bước đầu cho thấy thức  
ăn CT3 (25% protein) phù hợp và có thể  
sử dụng thay thế cỏ trong giai đoạn nuôi  
thương phẩm cá trắm.  
[5] Xu J., Wu P., Jiang W. D., Liu Y., Jiang J., Kuang  
S. Y., Tang L., Tang W. N., Zhang Y. A., Zhou X.  
Q. & Feng L. (2016b). Optimal dietary protein  
level improved growth, disease resistance,  
intestinal immune and physical barrier function  
of young grass carp (Ctenopharyngodon idella).  
Fish Shellfish Immunol, 55, 64-87.  
[6] Jiang W. D., Xu J., Zhou X. Q., Wu P., Liu  
Y., Jiang J., Kuang S. Y., Tang L., Tang, W.  
N., Zhang Y. A., Feng L. (2017). Dietary  
protein levels regulated antibacterial ac-tivity,  
inflammatory response and structural integrity  
in the head kidney, spleen and skin of grass carp  
(Ctenopharyngodon idella) after challenged  
with Aeromonas hydro-phila. Fish Shellfish  
Immunol, 68, 154-172.  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 72-79  
[7] Kenan Köprücü (2012). Effects of detary [12] Van der Lee A. S, Johnson T. B. & Koops M.  
protein and lipid levels on growth, feed  
utilization and body composition of juvenile  
grass carp (Ctenopharyngodon idella). Journal  
of FisheriesSciences.com, 6, 243-251.  
A. (2017). Bioenergetics modelling of grass  
carp: estimated individual consumption and  
population impacts in Great Lakes wetlands.  
Journal of Great Lakes Research, 43, 308-318.  
[13] Li X. Q., Xua H. B, Sun W. T., Xu X. Y., Xu Z.  
& Leng X. J (2018). Grass carp fed a fishmeal-  
free extruded diet showed higher weight gain  
and nutrient utilization than those fed a pelleted  
diet at various feeding rates. Aquaculture, 493,  
283-288.  
[8] Du Z.Y., LiuY. J., Tian L. X, Wang J. T., WangY.  
& Liang G. Y. (2005). Efect of dietary lipid level  
ongrowth, feedutilizationandbodycomposition  
by juvenile grass carp (Ctenopharyngodon  
idella). Aquaculture Nutrition, 11, 139-146.  
[9] Jin Y., Tian L. X., Xie S. X., Guo D. Q, Yang H.  
J., Liang G. Y. & Liu J. Y. (2015). Interactions  
between dietary protein levels, growth  
performance, feed utilization, gene expression  
and metabolic products in juvenile grass carp  
(Ctenopharyngodon idella). Aquaculture, 437,  
75-83.  
[14] Tạ Thị Bình & Nguyễn Văn Tiến (2010). Ảnh  
hưởng của thức ăn đến sinh trưởng, tỷ lệ sống  
và chuyển hóa protein của cá Trắm đen. Tạp chí  
Khoa học và Công nghệ biển. Tháng 10, 77-90.  
[15] Zhang X., Wang J. W, Tang R., He X., Li L.,  
TakagiY.&LiD.(2019).ImprovementofMuscle  
Quality of Grass Carp (Ctenopharyngodon  
idellus) with a Bio-Floating Bed in Culture  
Ponds. Aquatic Physiology: A section of the  
journal Frontiers in Physiology, 683,1-10.  
[10] Xua J., Fenga L., Jianga W. D., Wua P., Liua  
P., Jiang J., Kuang S. Y., Tang L., Zhoua X. Q  
(2018). Diferent dietary protein levels affect  
fleshquality, fattyacidsandaltergeneexpression  
of Nrf2-mediated antioxidant enzymes in  
the muscle of grass carp (Ctenopharyngodon  
idella). Aquaculture, 493, 272-282.  
Biological Science, 5, 135-142.  
[11] Boyd C. E. & Tucker C. S. (1992). Water Quality  
and Pond SoilAnalyses forAquaculture.Auburn  
University, Alabama.  
EFFECT OF PROTEIN LEVELS IN DIETS ON GROWTH PERFORMANCE  
OF GRASS CARP (Ctenopharyngodon idellus) IN GROW-OUT STAGE  
Do Van Thinh1, Tran Thi Mai Huong1, Nguyen Thi Bien Thuy1,  
Cao Thi Linh Chi1, Le Văn Khoi1  
1Research Institute for Aquaculture No 1, Bac Ninh  
Abstract  
he study was carried out to evaluate the effect of protein levels in diet on growth performance and survival  
T
rate of grass carp (Ctenopharyngodon idellus) in grow-out stage. A total of 240 fish, average initial body  
weight 202.66 ± 0.97 g/fish were distributed randomly in 12 hapas (10 m3/hapas) with triplicate. Three kinds  
of diets with protein content of 15, 20 and 25% respectively and elephant grass (Pennisetum Purpurrerum) as  
control diet were used in the experiment. After the time of 90 days of feeding trail, the growth performance,  
protein efficiency ration and feed conversion ratio of fish used the diet CT3 (25% protein) achieved the best  
results among the experimental diets. Survival rate in the experiment was not significantly different. However,  
lipid content in muscle, hepatosomatic index, gallbladder somatic index, viscera somatic index of fish feed  
pellet diet were higher than those of elephant grass fish fed. In this study, the results suggested that the diet  
(CT3) 25% protein was suitable and could substitute for grass in culturing grass carp in grow-out stage.  
Keywords: Grass carp, protein content, growth performance.  
79  
pdf 8 trang yennguyen 12700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của các mức protein khác nhau trong thức ăn tới sinh trưởng của cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) nuôi thương phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_cac_muc_protein_khac_nhau_trong_thuc_an_toi_si.pdf