Xác định quy mô phát triển cá tra bền vững cho vùng đồng bằng sông Cửu Long dựa trên sức chịu tải môi trường

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
XÁC ĐỊNH QUY MÔ PHÁT TRIỂN CÁ TRA BỀN VỮNG CHO  
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
DỰA TRÊN SỨC CHỊU TẢI MÔI TRƯỜNG  
Lưu Đức Điền1*, Nguyễn Đinh Hùng1, Nguyễn Văn Hảo2  
TÓM TẮT  
Cá tra đã và đang trở thành đối tượng cá nước ngọt được nuôi thâm canh trong ao chủ yếu ở ĐBSCL,  
và sản lượng cá tra tăng nhanh từ khi nghề nuôi đã chủ động được nguồn giống và phát triển tốt thị  
trường xuất khẩu. Tuy nhiên, sự phát triển tự phát của ngành nuôi thuỷ sản nước ngọt đã làm cho  
môi trường nước bị biến động và có dấu hiệu suy thoái, nguồn nước sông Tiền và sông Hậu bꢀt đầu  
ô nhiễm, dịch bệnh trên cá tra xuất hiện và lây lan trên quy mô rộng, và tính đa dạng sinh học của  
các hệ sinh thái vùng có chiều suy giảm. Chính vì vậy, việc phát triển nghề nuôi theo quy hoạch về  
diện tích nuôi và sản lượng là một yêu cầu khá cấp thiết. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản  
bền vững nói chung và cho con cá tra nói riêng thường dựa trên cơ sở tác động môi trường tối thiểu  
và sản lượng tối ưu. Báo cáo này đánh giá sức chịu tải của từng vùng nuôi cá tra ven sông Tiền, sông  
Hậu để xác định quy mô phát triển cá tra bền vững cho toàn vùng và các vùng nuôi một cách phù  
hợp nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô phát triển nuôi cá tra các tỉnh dọc sông Tiền và sông  
Hậu đến năm 2020 được xác định ở 3 mức: (i) Mức thấp: sản lượng: 1.563.503 tấn, diện tích: 7.774  
ha; (ii) Mức trung bình: sản lượng: 2.102.558 tấn, diện tích: 10.414 ha; (iii) Mức cao: sản lượng:  
2.641.614 tấn, diện tích: 13.053 ha. Tuy nhiên, quy hoạch nuôi cá tra nên áp dụng ở mức trung bình  
vì ở mức này chưa đòi hỏi phải phát triển kinh tế xã hội quá cao, nhưng vẫn đảm bảo năng suất sản  
lượng cá tra; và quan trọng là đảm bảo khả năng chịu tải của dòng sông Tiền, sông Hậu.  
Từ khoá: bền vững, cá tra, ĐBSCL, quy hoạch, sức tải môi trường.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
của các địa phương tính đến 31/12/2012, tổng  
diện tích nuôi cá tra toàn vùng đạt 5.910 ha, sản  
lượng đạt 1.285.500 tấn; so với năm 2011, mặc  
dù diện nuôi tăng 480ha nhưng sản lượng tăng  
90.256 tấn; nguyên nhân do khó khăn về vốn và  
tiêu thụ sản phẩm nên hầu hết người nuôi giảm  
mật độ nuôi (mật độ nuôi trung bình từ 35-40  
con/m2) nên năng suất trung bình đạt trên 274  
tấn/ha (năm 2011 là 305 tấn/ha) (Tổng cục thuỷ  
sản, 2013).  
Cá tra với tên khoa học Pangasianodon hy-  
pophthalmus, là một đối tượng nuôi trồng thủy  
sản quan trọng hiện nay của vùng Đồng bằng  
sông Cửu Long (ĐBSCL). Năm 2012, trong bối  
cảnh nền kinh tế thế giới tiếp tục bị ảnh hưởng  
bởi khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới kéo  
dài; đặc biệt là các nước thuộc khối EU (thị  
trường chính xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam),  
nhiều nước nhập khẩu dựng lên các rào cản  
thương mại, rào cản kꢁ thuật nhằm hạn chế nhập  
khẩu; nên xuất khẩu thuỷ sản nói chung và cá tra  
nói riêng gặp nhiều khó khăn. Thống kê báo cáo  
Nghề nuôi cá tra cũng đã cung cấp hàng  
ngàn sinh kế cho người dân ở ĐBSCL. Hiện  
nay, nghề nuôi cá tra phát triển ở 10 tỉnh  
1 Trung tâm Quốc gia Quan trꢀc Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa Dịch bệnh Thủy sản Khu vực Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng  
Thủy sản 2.  
2 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2.  
* Email: [email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
156  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
ĐBSCL. Tuy nhiên, sản lượng chính của nuôi nghiệp, nông nghiệp phát triển, thay đổi lưu  
cá tra tập trung ở các tỉnh: An Giang, Đồng  
Tháp, Cần Thơ và Vĩnh Long. Việc đầu tư nuôi  
cá tra vẫn chủ yếu ở dạng tư nhân, nuôi cá tra  
ở quy mô nhỏ vẫn còn chiếm tỷ lệ cao, kích  
cỡ ao nuôi biến động lớn từ một ao (< 1,0 ha)  
đến nhiều ao (lên đến 150 ha). Thời gian qua  
việc phát triển nuôi cá tra khá nhanh và chưa  
có quy hoạch phát triển lâu dài vì vậy cũng đã  
phát sinh nhiều vấn đề cần quan tâm như: cách  
chăm sóc quản lý, chất lượng con giống, quy  
hoạch nuôi ở từng địa phương không phù hợp,  
chất lượng thức ăn, yêu cầu của thị trường và  
sự suy thoái môi trường (Nguyễn Thanh Tùng,  
2008). Vì vậy, việc tính toán quy hoạch nghề  
nuôi cá tra cũng như các hoạt động sản xuất  
công nghiệp và nông nghiệp khác cần lưu ý  
đến những tác động xấu của nguồn thải của  
các ngành nghề đối với sông Tiền và sông Hậu  
(Nguyễn Xuân Lý và ctv., 2005). Ô nhiễm hữu  
cơ là một trong các nguyên nhân làm nghề nuôi  
thủy sản không bền vững. Chất lượng nước  
khảo sát từ năm 2005-2010 dọc sông Tiền và  
sông Hậu cho thấy các nguồn thải khác nhau  
lượng nước trên dòng Mekong).  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phân vùng nghiên cứu  
Việc phân vùng đánh giá này đã được trình  
bày trong báo cáo “Phân vùng đánh giá sức  
tải môi trường hệ thống sông Tiền, sông Hậu”  
(Nguyễn Hải Âu và Nguyễn Hồng Quân, 2013).  
Công tác đánh giá sức tải môi trường được áp  
dụng cho 9 tiểu vùng sau:  
- Tiểu vùng 1: Đoạn sông Hậu từ thượng  
nguồn đến hết tỉnh An Giang.  
- Tiều vùng 2: Đoạn sông Hậu chảy qua  
thành phố Cần Thơ.  
- Tiểu vùng 3: Đoạn sông Tiền từ thượng  
nguồn đến khu vực xã Tân Thuận Tây, thành  
phố Cao Lãnh.  
- Tiểu vùng 4: Đoạn sông từ xã Tân Thuận  
Tây, thành phố Cao Lãnh đến Cầu Mꢁ Thuận.  
- Tiểu vùng 5: Nhánh sông Tiền từ xã An  
Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long chảy dài  
xuống cửa biển Cổ Chiên.  
- Tiểu vùng 6: Nhánh sông Tiền bꢀt đầu từ  
xãAn Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đến  
đang gây ô nhiễm hữu cơ cục bộ dọc sông Tiền cửa biển Hàm Luông.  
và sông Hậu mặc dù mức độ ô nhiễm chưa đến  
mức báo động (Trần Quốc Bảo và ctv., 2010;  
Lưu Đức Điền và ctv., 2012).  
- Tiểu vùng 7: Nhánh sông Tiền từ xã Phong  
Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xuống  
cửa Đại.  
- Tiểu vùng 8: Dòng chính sông Tiền từ Cầu  
Mꢁ Thuận đến xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy,  
tỉnh Tiền Giang.  
Một trong số các nội dung quan trọng  
của đề tài cấp Bộ NNPTNT “Đánh giá sức  
tải môi trường sông Tiền và sông Hậu phục  
vụ quy hoạch nuôi cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) bền vững trên sông Tiền,  
sông Hậu” là “Xác định quy mô phát triển cá  
tra bền vững cho vùng ĐBSCL dựa trên sức  
chịu tải môi trường” với mục tiêu xác định quy  
mô phát triển cá tra bền vững ở ĐBSCL dựa  
trên sức tải môi trường căn cứ trên môi trường  
nền hiện nay (không tính đến các nguồn thải  
khác trong tương lai như gia tăng dân số, công  
- Tiểu vùng 9: Đoạn sông Hậu chảy từ thành  
phố Cần Thơ đến cửa biển Định An  
2.2. Xây dựng quy mô phát triển nuôi cá  
tra ở 3 mức (thấp, trung bình và cao)  
a. Xây dựng các kịch bản phát triển nuôi  
cá tra  
Trong nghiên cứu này, quy mô phát triển cá  
tra (sản lượng và diện tích) được đề xuất theo 3  
phương án sau:  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
157  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
• Phương án 1 (quy mô phát triển nuôi cá tra  
Bước 3: Chạy mô hình tính toán (Mike 21)  
ở mức thấp): quy hoạch nuôi cá tra bằng cho các kịch bản xả thải.  
60% mức tối đa (Nguyễn Thanh Tùng,  
2008). Đây là mức phát triển tương ứng  
với kịch bản KTXH ở mức thấp.  
Bước 4: Chiết tách kết quả mô hình từ các  
kịch bản mô phỏng tại các vị trí đặc trưng trong  
vùng: giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất trên  
• Phương án 2 (quy mô phát triển nuôi cá 9 tiểu vùng tính toán.  
tra ở mức trung bình): quy hoạch nuôi cá  
tra bằng 80% mức tối đa. Đây là mức phát  
triển tương ứng với kịch bản KTXH ở mức  
trung bình.  
Bước 5: So sánh kết quả mô phỏng và quy  
chuẩn cho phép QCVN.  
Bước 6: Chọn lựa kịch bản có nồng độ chất  
nằm trong giới hạn cho phép.  
• Phương án 3 (quy mô phát triển nuôi cá  
tra ở mức cao): quy hoạch nuôi cá tra bằng  
100% mức tối đa. Đây là mức phát triển  
tương ứng với kịch bản KTXH ở mức cao.  
Bước 7: Tính toán khả năng tiếp nhận của  
các kịch bản còn lại bằng hiệu số tải lượng kịch  
bản chọn với kịch bản tính toán.  
c. Điều chỉnh lại từng kịch bản khi cần thiết  
b. Phương pháp đánh giá sức tải môi trường  
Khi vượt ngưỡng sức chịu tải của vùng nào  
thì quan trọng là phải giảm sản lượng nuôi để  
giảm chất thải ô nhiễm. Việc giảm sản lượng  
có thể thông qua giảm diện tích hoặc giảm mật  
độ nuôi tuỳ thuộc vào điều kiện KTXH của địa  
phương.  
Đánh giá theo Thông tư 02/2009 của Bộ  
Tài nguyên – Môi trường (Thông tư 02/2009/  
TT-BTNMT, 2009), sử dụng mô hình tích hợp  
MIKE 21/3 Coupled Model FM kết hợp với mô  
hình thủy lực tích hợp HydroGIS 3.0, cụ thể  
phương pháp như sau:  
d. Xây dựng bản đồ quy hoạch các vùng nuôi  
Bước 1: Xây dựng mô hình tính toán hiện  
trạng chất lượng nước và mô hình được kiểm  
định (Nguyễn Hồng Quân và ctv., 2013a;  
Nguyễn Hồng Quân và ctv., 2013b).  
Đối với từng kịch bản: xây dựng bản đồ về  
diện tích nuôi và bản đồ về sản lượng nuôi. Sử  
dụng phần mềm Map Info để xây dựng các bản  
đồ GIS.  
Bước 2: Xác định các kịch bản xả thải tối đa  
trong vùng bằng cách thử dần 3 kịch bản có mức  
phát thải cao nhất:  
2.3. Phương pháp xử lý số liệu  
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 6.0 để  
tính toán, lập các bảng biểu.  
• Kịch bản 1 (KB1): Kịch bản Phát triển  
kinh tế xã hội thấp, quy hoạch thủy sản  
mức cao nhất.  
- Sử dụng phần mềm Map Info để xây dựng  
các bản đồ GIS.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
• Kịch bản 2 (KB2): Kịch bản Phát triển kinh  
tế xã hội thấp, quy hoạch thủy sản mức  
3.1. Vấn đề thay đổi khả năng tiếp nhận  
cao nhất (lưu lượng thải từ hoạt động nuôi nước thải do việc sử dụng 9 tiểu vùng tính  
trồng thủy sản ở mức cao) và nồng độ các toán mô phỏng  
chất từ các sông nhánh nằm trong mức tới  
Để làm rõ khả năng thay đổi kết quả tính  
hạn (mức B1, QCVN08/2008 BTNMT).  
toán tải lượng do việc phân tách 9 tiểu vùng tính  
• Kịch bản 3 (KB3): Kịch bản Phát triển kinh  
toán mô phỏng, đề tài đã tiến hành đánh giá khả  
tế xã hội thấp, quy hoạch thủy sản tăng gấp  
năng này theo phương pháp lặp bằng cách thay  
đổi các điều kiện biên (kết quả mô hình “thượng  
lưu” làm điều kiện biên cho vùng “hạ lưu” và  
đôi so với mức cao nhất và nồng độ các  
chất từ các sông nhánh nằm trong mức tới  
hạn (mức B1, QCVN08/2008 BTNMT).  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
158  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.2. Chọn kịch bản phù hợp nhất  
ngược lại) và lặp lại 3 lần. Kết quả tính toán cho  
thấy chỉ sau 5 ngày nồng độ các chất đã tương đối  
ổn định và rất gần so với kết quả tính toán trong  
trường hợp biên cố định đối với những vị trí gần  
biên. Riêng các vị trí xa biên thì kết quả không có  
gì thay đổi. Do vậy, có thể khẳng định việc phân  
tách 9 tiểu vùng tính toán không ảnh hưởng lớn  
đến kết quả tính toán và có thể sử dụng trong bài  
toán tính toán tải lượng ô nhiễm tối đa.  
Sau khi chạy mô hình tính toán cho các  
kịch bản xả thải và chiết tách kết quả mô hình  
từ các kịch bản mô phỏng tại các vị trí đặc trưng  
trong vùng: giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất  
trên 9 tiểu vùng tính toán, so sánh kết quả mô  
phỏng và quy chuẩn cho phép QCVN. Kết quả  
so sách kết quả mô phỏng một số chỉ tiêu với  
QCVN08/2008 được thể hiện trong hình 1 và  
hình 2.  
Hình 1. Kết quả mô phỏng N-NH4 trong 3 kịch bản vào mùa kiệt  
Hình 2. Kết quả mô phỏng N-NH4 trong 3 kịch bản vào mùa lũ  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
159  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Kết quả tính toán cho thấy ở kịch bản 1 thì trường tối đa đã được xác định cho 9 tiểu vùng  
nồng độ các chất nằm trong và vượt hơn chút ít (kịch bản phát triển xã hội thấp, hoạt động nuôi  
so với nồng độ tới hạn (mức B1, QCVN:08/2008 trồng thủy sản ở mức cao). Kết quả tính toán  
BTNMT). Cho nên, kịch bản phát triển xã hội (Nguyễn Hồng Quân và ctv., 2014) cho thấy với  
thấp, hoạt động nuôi trồng thủy sản ở mức cao kịch bản phát triển cá tra ở mức thấp, kinh tế xã  
(KB1) được xem như là mức giới hạn. Việc tính hội ở mức thấp, trung bình, cao thì khả năng tiếp  
toán khả năng tiếp nhận của các kịch bản còn lại nhận nước thải đã nằm ở mức tới hạn. Do đó,  
bằng hiệu số tải lượng kịch bản chọn với kịch trong trường hợp giảm phát thải từ hoạt động  
bản tính toán.  
nuôi cá (kịch bản nuôi cá tra ở mức thấp), nếu  
xét về khía cạnh sức tải môi trường thì khả năng  
tiếp nhận nước thải trong kịch bản này là hoàn  
toàn chấp nhận được.  
3.3. Sức tải môi trường theo các kịch bản  
phát triển nuôi cá tra  
3.3.1. Đối với kịch bản phát triển nuôi cá  
tra ở quy mô thấp  
b. Xác định các vùng nuôi trên các vùng  
dọc sông Tiền và sông Hậu  
a. Sức tải môi trường đối với kịch bản nuôi  
cá tra ở mức thấp  
Theo kết quả mô hình sức chịu tải môi  
trường cho 9 tiểu vùng, quy hoạch sản lượng và  
diện tích nuôi cá tra các vùng dọc sông Tiền và  
sông Hậu ở mức thấp được thể hiện chi tiết đến  
cấp huyện (bảng 1).  
Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước  
thải tối đa đối với kịch bản nuôi cá tra ở mức  
thấp được đánh giá dựa trên cơ sở sức tải môi  
Bảng 1. Quy mô nuôi cá tra ở mức thấp  
Quy hoạch mức thấp  
Tỉnh  
Huyện  
Sản lượng (tấn)  
26.874,4  
36.090,6  
43.749,3  
9.807,0  
Diện tích (ha)  
176,5  
237,1  
287,4  
64,4  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
Bến Tre  
Cao Lãnh  
Châu Thành  
Hồng Ngự  
Lai Vung  
Lấp Vò  
Tân Hồng  
Thanh Bình  
TX.Sa Đéc  
An Phú  
Châu Phú  
Châu Thành  
Chợ Mới  
Long Xuyên  
Phú Tân  
Tân Châu  
Bình Đại  
Châu Thành  
Chợ Lách  
Giồng Trôm  
Mỏ Cày  
29.474,7  
7.535,0  
193,6  
49,5  
58.090,9  
19.572,9  
66.005,4  
95.180,5  
41.653,7  
79.025,3  
56.895,9  
46.819,4  
21.658,8  
28.786,4  
20.749,9  
36.450,3  
32.535,0  
25.318,8  
28.001,6  
23.259,9  
381,6  
128,6  
285,5  
411,6  
180,1  
341,8  
246,1  
202,5  
93,7  
176,6  
127,3  
223,7  
199,7  
155,4  
144,4  
120,0  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Ô Môn  
Bình Thủy  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
160  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cái Răng  
Cờ Đỏ  
Thốt Nốt  
Vĩnh Thạnh  
Châu Thành  
Phụng Hiệp  
Cù Lao Dung  
Kế Sách  
Long Phú  
Mꢁ Tú  
Cái Bè  
Châu Thành  
Chợ Gạo  
Gò Công Tây  
Càng Long  
Cầu Kè  
21.687,4  
12.648,6  
106.717,5  
73.541,2  
49.989,5  
40.354,1  
45.861,4  
56.520,3  
25.262,5  
6.374,8  
75.459,3  
10.113,4  
14.208,2  
26.124,9  
4.259,3  
111,9  
65,2  
550,4  
379,3  
257,8  
208,1  
183,4  
226,1  
101,0  
25,5  
209,8  
28,1  
39,5  
72,6  
28,4  
Hậu Giang  
Hậu Giang  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
34.367,6  
15.550,3  
5.421,1  
229,1  
103,7  
36,1  
Châu Thành  
Trà Cú  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
29,0  
0,2  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Tổng  
Bình Minh  
Long Hồ  
Mang Thit  
Tam Bình  
Trà Ôn  
14.949,7  
23.243,3  
17.677,0  
13.743,9  
20.426,1  
4.949,3  
69,6  
108,3  
82,3  
64,0  
95,1  
23,1  
48,9  
7.774,6  
TX.Vĩnh Long  
Vũng Liêm  
10.488,4  
1.563.503,5  
3.3.2. Đối với kịch bản phát triển nuôi cá bình, cao và cho thấy khả năng tiếp nhận nước  
tra ở quy mô trung bình  
thải đã nằm ở mức tới hạn. Do đó, trong trường  
hợp kịch bản nuôi cá tra ở mức trung bình, nếu  
xét về khía cạnh sức tải môi trường thì khả năng  
tiếp nhận nước thải trong kịch bản này là vẫn có  
thể chấp nhận được.  
a. Sức tải môi trường đối với kịch bản nuôi  
cá tra ở quy mô trung bình  
Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước  
thải tối đa đối với kịch bản nuôi cá tra ở mức  
trung bình được đánh giá dựa trên cơ sở sức tải  
môi trường tối đa đã được xác định cho 9 tiểu  
vùng (kịch bản phát triển xã hội thấp, hoạt động  
b. Xác định các vùng nuôi trên các vùng  
dọc sông Tiền và sông Hậu  
Theo kết quả mô hình sức chịu tải môi  
nuôi trồng thủy sản ở mức cao). Kết quả tính trường cho 9 tiểu vùng, quy hoạch sản lượng và  
toán (Nguyễn Hồng Quân và ctv., 2014) cũng diện tích nuôi cá tra các vùng dọc sông Tiền và  
đã tính toán đầy đủ với kịch bản phát triển cá tra sông Hậu ở mức trung bình được thể hiện chi  
mức trung bình, kinh tế xã hội ở mức thấp, trung tiết đến cấp huyện (bảng 2)  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
161  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Bảng 2. Quy mô nuôi cá tra ở mức trung bình  
Quy hoạch mức trung bình  
Tỉnh  
Huyện  
Sản lượng (tấn)  
44.891,5  
53.706,4  
55.027,8  
11.009,4  
46.327,9  
15.069,9  
61.139,3  
32.781,4  
87.943,1  
111.279,7  
34.151,6  
111.114,3  
64.435,8  
56.749,6  
26.984,7  
46.119,1  
25.125,2  
47.960,4  
33.825,8  
24.475,9  
32.286,3  
29.164,5  
16.470,3  
12.648,6  
119.692,4  
85.016,8  
89.301,4  
52.766,3  
71.260,1  
80.970,6  
50.524,9  
12.749,5  
107.608,2  
20.226,7  
28.416,4  
52.249,8  
8.518,5  
Diện tích (ha)  
294,9  
352,8  
361,5  
72,3  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Cao Lãnh  
Châu Thành  
Hồng Ngự  
Lai Vung  
Lấp Vò  
Tân Hồng  
Thanh Bình  
TX.Sa Đéc  
An Phú  
Châu Phú  
Châu Thành  
Chợ Mới  
Long Xuyên  
Phú Tân  
Tân Châu  
Bình Đại  
Châu Thành  
Chợ Lách  
Giồng Trôm  
Mỏ Cày  
304,3  
99,0  
401,6  
215,3  
380,3  
481,3  
147,7  
480,5  
278,7  
245,4  
116,7  
283,0  
154,2  
294,3  
207,6  
150,2  
166,5  
150,4  
84,9  
Ô Môn  
Bình Thủy  
Cái Răng  
Cờ Đỏ  
65,2  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
Thốt Nốt  
617,3  
438,5  
460,6  
272,1  
285,0  
323,9  
202,1  
51,0  
299,2  
56,2  
79,0  
145,3  
56,8  
412,0  
207,3  
72,3  
Vĩnh Thạnh  
Châu Thành  
Phụng Hiệp  
Cù Lao Dung  
Kế Sách  
Long Phú  
Mꢁ Tú  
Cái Bè  
Châu Thành  
Chợ Gạo  
Gò Công Tây  
Càng Long  
Cầu Kè  
Châu Thành  
Trà Cú  
Trà Vinh  
Hậu Giang  
Hậu Giang  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
61.802,9  
31.100,7  
10.842,1  
57,9  
0,4  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Tổng  
Bình Minh  
Long Hồ  
Mang Thit  
Tam Bình  
Trà Ôn  
23.240,9  
25.947,8  
26.271,4  
21.153,6  
25.328,8  
6.334,4  
108,3  
120,9  
122,4  
98,5  
118,0  
29,5  
TX.Vĩnh Long  
Vũng Liêm  
10.488,4  
2.102.558,9  
48,9  
10.414,1  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
162  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Quy mô sản lượng và diện tích nuôi cá tra ở mức trung bình được thể hiện trong hình 3 và hình 4.  
Hình 3. Bản đồ quy mô sản lượng nuôi cá tra ở mức trung bình  
Hình 4. Bản đồ quy mô diện tích nuôi cá tra ở mức trung bình  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
163  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.3.3. Đối với kịch bản phát triển nuôi cá hạn của hệ thống sông Tiền sông Hậu. Kịch bản  
tra ở quy mô cao  
a. Sức tải môi trường đối với kịch bản nuôi  
cá tra ở cao  
nuôi cá tra ở mức cao này chỉ nên áp dụng trong  
điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở mức cao và  
trung bình để đảm bảo không vượt mức sức tải  
cho phép.  
Kết quả tính toán khả năng tiếp nhận nước  
thải tối đa đối với kịch bản nuôi cá tra ở mức  
cao được đánh giá dựa trên cơ sở sức tải môi  
trường tối đa đã được xác định cho 9 tiểu vùng  
b. Xác định các vùng nuôi trên các vùng  
dọc sông Tiền và sông Hậu  
Theo kết quả mô hình sức chịu tải môi  
(kịch bản phát triển xã hội thấp, hoạt động nuôi trường cho 9 tiểu vùng, quy hoạch sản lượng và  
trồng thủy sản ở mức cao) (Nguyễn Hồng Quân diện tích nuôi cá tra các vùng dọc sông Tiền và  
và ctv., 2014). Do vậy, trường hợp kịch bản nuôi sông Hậu ở mức cao được thể hiện chi tiết đến  
cá tra ở mức cao có thể coi là trường hợp tới cấp huyện (bảng 3).  
Bảng 3. Quy mô nuôi cá tra ở mức cao  
Quy hoạch mức cao (ha)  
Sản lượng (tấn)  
Tỉnh  
Huyện  
Diện tích (ha)  
413,2  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
Đồng Tháp  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
An Giang  
Bến Tre  
Cao Lãnh  
Châu Thành  
Hồng Ngự  
Lai Vung  
Lấp Vò  
62.908,5  
71.322,2  
468,5  
66.306,4  
12.211,9  
63.181,1  
22.604,9  
64.187,7  
45.989,9  
109.880,8  
127.379,0  
26.649,4  
143.203,3  
71.975,7  
66.679,8  
32.310,6  
63.451,8  
29.500,5  
59.470,5  
35.116,6  
23.633,1  
36.571,0  
35.069,1  
11.253,2  
12.648,6  
435,5  
80,2  
415,0  
148,5  
421,6  
302,1  
475,2  
550,9  
115,3  
619,3  
311,3  
288,4  
139,7  
389,4  
181,0  
364,9  
215,5  
145,0  
188,6  
180,9  
58,0  
Tân Hồng  
Thanh Bình  
TX.Sa Đéc  
An Phú  
Châu Phú  
Châu Thành  
Chợ Mới  
Long Xuyên  
Phú Tân  
Tân Châu  
Bình Đại  
Châu Thành  
Chợ Lách  
Giồng Trôm  
Mỏ Cày  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Bến Tre  
Cần Thơ  
Ô Môn  
Cần Thơ  
Bình Thủy  
Cái Răng  
Cờ Đỏ  
Cần Thơ  
Cần Thơ  
65,2  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
164  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Cần Thơ  
Thốt Nốt  
132.667,3  
96.492,4  
128.613,4  
65.178,5  
96.658,8  
105.421,0  
75.787,4  
19.124,3  
139.757,1  
30.340,1  
42.624,6  
78.374,7  
12.777,8  
89.238,2  
46.651,0  
16.263,2  
86,9  
684,2  
497,7  
663,3  
336,2  
386,6  
421,7  
303,1  
76,5  
Cần Thơ  
Vĩnh Thạnh  
Châu Thành  
Phụng Hiệp  
Cù Lao Dung  
Kế Sách  
Hậu Giang  
Hậu Giang  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Sóc Trăng  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Tiền Giang  
Trà Vinh  
Long Phú  
Mꢁ Tú  
Cái Bè  
388,6  
84,4  
Châu Thành  
Chợ Gạo  
118,5  
217,9  
85,2  
Gò Công Tây  
Càng Long  
Cầu Kè  
Trà Vinh  
594,9  
311,0  
108,4  
0,6  
Trà Vinh  
Châu Thành  
Trà Cú  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Trà Vinh  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Vĩnh Long  
Tổng  
Bình Minh  
Long Hồ  
31.532,0  
28.652,2  
34.865,7  
28.563,3  
30.231,5  
7.719,4  
146,9  
133,5  
162,4  
133,0  
140,8  
36,0  
Mang Thit  
Tam Bình  
Trà Ôn  
TX.Vĩnh Long  
Vũng Liêm  
10.488,4  
2.641.614,3  
48,9  
13.053,6  
IV. THẢO LUẬN  
năng phát triển là các tỉnh không có hệ thống  
sông Tiền và sông Hậu chảy qua. Điều kiện cấp  
nước, thổ nhưỡng không thuận lợi cho cá tra  
sinh trưởng và phát triển đạt chất lượng tốt như:  
Long An, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.  
Mặc dù cá tra có thể nuôi ở nhiều nơi trong  
khu vực nước ngọt ở toàn vùng ĐBSCL; song  
tùy thuộc vào điều kiện trao đổi nước nước, chất  
đất (thổ nhưỡng), khả năng vận chuyển (sau khi  
thu hoạch) và thực trạng các nhà máy chế biến  
để xác định các vùng sản xuất là: (i) Vùng sản  
xuất cá tra tập trung truyền thống thuộc các tỉnh,  
thành phố: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ,  
Vĩnh Long. (ii) Vùng sản xuất tập trung có tiềm  
năng phát triển: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,  
Sóc Trăng và Hậu Giang. (iii) Vùng ít có khả  
Quy hoạch nuôi cá tra các tỉnh dọc sông  
Tiền, sông Hậu nên áp dụng ở mức quy hoạch  
trung bình: sản lượng: 2.102.558 tấn, diện tích:  
10.414 ha. Ở mức này, chưa đòi hỏi phải phát  
triển kinh tế xã hội quá cao, nhưng vẫn đảm bảo  
năng suất sản lượng cá tra; và quan trọng là đảm  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
165  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
km thì mức độ thích hợp kém (Nguyễn Thanh  
bảo khả năng chịu tải của hai dòng sông Tiền,  
sông Hậu. Kịch bản nuôi cá tra ở mức cao chỉ  
nên áp dụng trong điều kiện phát triển kinh tế xã  
hội ở mức cao và trung bình để đảm bảo không  
vượt quá mức sức tải cho phép. Một trong  
những giải pháp để tăng sức chịu tải môi trường  
của sông Tiền, sông Hậu đó là nuôi mật độ thưa  
(chứ không nên giảm diện tích nuôi hoàn toàn),  
Tùng, 2008). Vùng có các kênh trục ngang dẫn  
trực tiếp từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu,  
ngoài việc xét khoảng cách đến biển Đông, mức  
độ thích hợp tốt đối với việc nuôi cá tra cũng tỉ lệ  
nghịch với khoảng cách đến hai con sông nói trên  
(Thanh và ctv., 2004).  
Sự xâm nhập mặn thường được xem là  
và nhờ vậy diện tích nuôi không đổi nhưng nguyên nhân ngăn cản sự phát triển mở rộng đối  
lượng chất thải đổ vào sông sẽ giảm. Do đó, để tượng nuôi cá tra các vùng ven biển dọc theo các  
nuôi cá tra đạt hiệu quả kinh tế, đảm bảo môi nhánh sông của hệ thống sông Cửu Long (White,  
trường và chất lượng sản phẩm; hình thức nuôi 2002). Vùng có nguồn nước nhiễm mặn vượt  
thâm canh với năng suất đạt trung bình 200-300 quá 4‰ có thể xem là yếu tố bất lợi cho việc  
tấn/ha là phù hợp.  
phát triển nuôi đối tượng này. Đối với các vùng  
nhiễm mặn dưới 4‰ hoặc vùng có độ mặn cao  
vào mùa kiệt nhưng lại ngọt trong mùa lũ, lại là  
vùng được xem có ưu thế hơn trong việc nuôi cá  
tra, so với các vùng ngọt hoàn toàn phía thượng  
lưu sông Tiền, sông Hậu (Nguyễn Mạnh Hùng,  
2008). Ưu thế này được thể hiện qua việc ít bị  
dịch bệnh ở đối tượng cá tra do môi trường nước  
mặn một thời gian có khả năng kìm hãm nhiều  
tác nhân gây bệnh cho đối tượng này (Phạm Thị  
Kim Oanh và Trương Hoàng Minh, 2011). Điều  
đó có thể được minh chứng bằng kết quả thực tế  
của Trần Quốc Bảo và ctv. (2010) như sau: (i)  
Năng suất bình quân thấp (152-167 tấn/ha) thuộc  
khu vực nuôi cá tra nguồn nước bị ảnh hưởng  
nhiễm mặn tại hai tỉnh Trà Vinh và Bến Tre; (ii)  
Các khu vực nuôi cá tra phải bơm cấp nước thuộc  
thượng nguồn sông Tiền, sông Hậu (An Giang,  
Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang) có năng suất  
xấp xỉ mức bình quân chung 200 tấn/ha; (iii) Ở  
vùng nuôi thay nước theo thủy triều tại hai tỉnh  
Tiền Giang và Vĩnh Long lại có năng suất bình  
quân cao nhất, đạt khoảng 300 tấn/ha.  
Nguồn nước cấp cho nuôi cá tra vùng  
ĐBSCL được lấy chủ yếu từ sông Tiền, sông Hậu  
và hệ thống kênh rạch nhánh của hai con sông  
này. Đối với việc phát triển nuôi cá tra cần chú ý  
đến đặc điểm rất quan trọng là chế độ triều vì biên  
độ dao động của thủy triều tác động cả về mặt  
môi trường nước lẫn mặt kinh tế. Biên độ triều  
càng lớn, khả năng tải chất thải của sông/kênh/  
rạch càng cao, đồng thời giảm được đáng kể chi  
phí cho việc cấp và thoát nước cho ao nuôi cá  
tra. Biên độ triều trong các hệ thống sông/kênh/  
rạch trong vùng chịu ảnh hưởng từ việc truyền  
triều ở vùng biển phía Đông và vùng biển phía  
Tây. Như vậy, xét về biên độ triều trong việc phát  
triển nuôi cá tra, các vùng dọc hai nhánh sông  
Tiền và sông Hậu, mức độ thích hợp tốt đối với  
việc nuôi đối tượng này tỉ lệ nghịch với khoảng  
cách đến biển Đông, cụ thể: khu vực cách biển  
khoảng 100 km có biên độ triều thích hợp tốt cho  
nuôi cá tra cả trong mùa lũ và mùa kiệt, từ 100  
đến 200 km có biên độ triều khá thích hợp cho  
nuôi cá tra trong mùa kiệt, còn khu vực trên 200  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
166  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Nuôi cá tra thâm canh ở ĐBSCL có rất đảm bảo năng suất sản lượng cá tra; và quan  
nhiều tiềm năng để phát triển; tuy nhiên, nếu trọng là đảm bảo khả năng chịu tải của dòng  
chỉ chú trọng phát triển về diện tích và năng sông Tiền, sông Hậu.  
suất nuôi để thu lợi nhuận mà bỏ quên vấn đề  
ô nhiễm môi trường thì với tình trạng hiện  
nay, suy thoái môi trường do nuôi cá sẽ tác  
động đến nghề nuôi và là cản trở lớn nhất  
cho việc phát triển nghề nuôi trong thời gian  
tới. Vì vậy, để nghề nuôi cá tra phát triển bền  
vững, ngay bây giờ song song với quy hoạch  
phát triển nghề nuôi (giảm sản lượng nuôi  
như giảm diện tích hoặc giảm mật độ nuôi tuỳ  
thuộc vào điều kiện KTXH của địa phương)  
cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường,  
trong đó đặc biệt quan trọng là phải nghiên  
cứu đưa ra các giải pháp hợp lý, có tính thực  
tiễn cao để xử lý các chất thải phát sinh trong  
quá trình nuôi cá tra. Tăng cường hơn nữa  
công tác tập huấn và nêu cao ý thức tuân thủ  
các hộ nuôi thủy sản về quy trình kꢁ thuật và  
biện pháp bảo vệ môi trường nước tự nhiên,  
môi trường ao nuôi bằng cách chừa diện tích  
nhất định làm ao xử lý nước thải, bùn thải, cấp  
nước theo quy trình khép kín. Không được xả  
nước thải chưa qua xử lý ra môi trường bên  
ngoài. Tích cực phối hợp hoạt động giữa các  
Ban, Ngành, Đoàn thể trong công tác tuyên  
truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức cho  
các hộ nuôi thủy sản trong việc quản lý, bảo  
vệ môi trường.  
Sự xâm nhập mặn sâu vào nội địa đối với  
các vùng nhiễm mặn nhẹ (dưới 4‰) hoặc vùng  
có độ mặn cao vào mùa kiệt nhưng lại ngọt  
trong mùa lũ, có thể được xem là vùng có ưu thế  
hơn trong việc nuôi cá tra, so với các vùng ngọt  
hoàn toàn phía thượng lưu sông Tiền và sông  
Hậu. Do đó, việc quy hoạch tăng sản lượng nuôi  
tại các vùng cửa sông sẽ tốt hơn các vùng ở An  
Giang, Đồng Tháp.  
Để nghề nuôi cá tra phát triển bền vững, song  
song với quy hoạch phát triển nghề nuôi cần phải  
luôn chú trọng đến vấn đề bảo vệ môi trường.  
5.2. Đề xuất  
Hiện nay, kꢁ thuật nuôi cá tra đã phát triển  
khá hoàn thiện. Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu  
chuyên sâu các giải pháp, công nghệ để xử lý  
một lượng chất thải khổng lồ trước khi đổ ra  
kênh/rạch/sông, nhằm tăng khả năng chịu tải  
cho dòng sông Mekong.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
Lưu Đức Điền, Trương Thanh Tuấn, Đỗ Quang Tiền  
Vương, 2012. Đánh giá hiện trạng môi trường  
nước sông Tiền và sông Hậu phục vụ nuôi cá tra.  
Tạp chí Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, số 7  
kì 1, trang 68-76.  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
5.1. Kết luận  
Nguyễn Hải Âu và Nguyễn Hồng Quân, 2013. Phân  
vùng đánh giá sức tải môi trường hệ thống sông  
Tiền, sông Hậu. BCKH Viện Nghiên cứu Nuôi  
trồng Thuỷ sản 2, tháng 04/2013.  
Quy hoạch nuôi cá tra các tỉnh dọc sông  
Tiền sông Hậu nên áp dụng ở mức quy hoạch  
trung bình: sản lượng: 2.102.558 tấn và diện  
tích: 10.414 ha. Ở mức này, chưa đòi hỏi phải  
phát triển kinh tế xã hội quá cao, nhưng vẫn  
Nguyễn Hồng Quân, Lưu Đức Điền, Ngô Quang Hiếu,  
Nguyễn Hữu Nhân, 2014. Sức tải tối đa của sông  
Tiền và sông Hậu theo các kịch bản phát triển kinh  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
167  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
tế xã hội phục vụ nuôi cá tra. Tuyển tập nghề cá  
Trường Đại học Cần Thơ 2011:20b, trang 48-58.  
sông Cửu Long, ISSN 1859-1159, số 03/2014,  
trang 130-142.  
QCVN 08:2008/BTNMT, 2008. Quy chuẩn kꢁ thuật  
quốc gia về chất lượng nước mặt. Bộ Tài nguyên  
– Môi trường.  
Nguyễn Hồng Quân, Ngô Quang Hiếu, Nguyễn Duy  
Hiếu, Mai Toàn Thꢀng, 2013a. Xác định các điều  
kiện đánh giá sức tải môi trường hệ thống sông  
Tiền, sông Hậu. BCKH Viện Nghiên cứu Nuôi  
trồng Thuỷ sản 2, tháng 06/2013.  
QCVN 38:2011. Quy chuẩn kꢁ thuật quốc gia về chất  
lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh. Bộ Tài  
Nguyên và Môi Trường.  
Tổng cục thuỷ sản, 2013. Báo cáo tình hình sản xuất  
và tiêu thụ cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long  
năm 2012 và kế hoạch năm 2013. Tổng cục Thuỷ  
sản, tháng 01/2013, 28 trang.  
Nguyễn Hồng Quân, Nguyễn Hữu Nhân, Ngô Quang  
Hiếu, 2013b. Mô hình toán đánh giá sức tải môi  
trường phục vụ quy hoạch nuôi cá tra bền vững.  
BCKH Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2,  
tháng 06/2013.  
Thông tư 02/2009/TT-BTNMT, 2009. Quy định đánh  
giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước.  
Bộ Tài nguyên - Môi trường.  
Nguyễn Mạnh Hùng, 2008. Ứng dụng công nghệ  
GIS và viễn thám trong nghiên cứu xây dựng  
các phương án quy hoạch, phát triển nuôi trồng  
thủy sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.  
Luận án Tiến sꢁ Sinh học, Viện Sinh học nhiệt  
đới, 245 trang.  
Trần Quốc Bảo, Lê Hồng Phước, Nguyễn Thanh Trúc,  
Đặng Ngọc Thùy, Thới Ngọc Bảo, Trương Thanh  
Tuấn, Đỗ Quang Tiền Vương, Lưu Đức Điền,  
2010. Quan trꢀc, cảnh báo môi trường và dịch  
bệnh thủy sản một số vùng nuôi thủy sản các tỉnh  
Đồng Bằng Sông Cửu Long và miền Đông Nam  
Bộ - Năm 2010. BCKH Viện Nghiên cứu Nuôi  
trồng Thuỷ sản 2, tháng 12/2010.  
Nguyễn Thanh Tùng, 2008. Quy hoạch phát triển sản  
xuất và tiêu thụ cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu  
Long đến năm 2010 và định hướng 2020. BCKH  
Phân Viện Quy Hoạch Thủy Sản Phía Nam.  
Tài liệu tiếng Anh  
Nguyễn Xuân Lý, Nguyễn Chu Hồi, Ðặng Khánh,  
2005. Tổng quan về chiến lược bảo vệ ngành thuỷ  
sản đến năm 2020. NXB Nông Nghiệp, Hội thảo  
toàn quốc về bảo vệ môi tường và nguồn lợi thủy  
sản, trang 41-53.  
Thanh, T.D., Saito, Y., Huy, D.V., Nguyen, V.L., Ta,  
T.K.O. and Tateishi, M., 2004. Regimes of human  
and climate impacts on coastal changes in Viet-  
nam. Reg. Environ. Change, vol.4, pp.49–62.  
White, I., 2002. Water Management in the Mekong Delta:  
Changes, Conflicts and Opportunities. Technical  
Documents in Hydrology, No. 61, pp. 78-94.  
Phạm Thị Kim Oanh, Trương Hoàng Minh, 2011. Thực  
trạng nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus  
sauvage, 1878) có liên kết và không liên kết ở  
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
168  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
DETERMINE THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT SCALE FOR CATFISH  
(Pangasianodon hypophthalmus) IN THE MEKONG DELTA BASED ON  
ENVIRONMENTAL CARRYING CAPACITY  
Luu Duc Dien1*, Nguyen Dinh Hung2, Nguyen Van Hao2  
ABSTRACT  
Catfish has become the object of freshwater fish in intensive culture ponds mainly in the Mekong  
Delta, and production from catfish farming has been increased when actively developing breeding  
and export markets. However, the spontaneous development of freshwater aquaculture has result-  
ing in the environment changes and signs of deterioration, water of Mekong river and Bassac river  
begins polluted, epidemics appear on catfish and spread on a large scale, and biological diversity of  
the ecosystem is in the reduction trend. Therefore, the development of farming scheduled in terms  
of raising area and output can be considered a urgent request. Planning of sustainable aquaculture  
development generally and catfish particularly has commonly based on minimum environmental  
impacts and optimum outputs. This report assesses the environmental carrying capacity of each  
region belonging to Mekong and Bassac rivers to determine the development model for sustainable  
catfish farming throughout each region and the whole area in the most appropriate way. The results  
showed that the scale of catfish farming development in provinces along the Mekong river and Bas-  
sac river in 2020 was determined at 3 levels: (i) low level: yield: 1,563,503 tons, area: 7,774 ha; (ii)  
Moderate level: yield: 2,102,558 tons, area: 10,414 ha; (iii) high level: yield: 2,641,614 tons, area:  
13,053 ha. However, the planning for catfish farming should be applied at moderate level since this  
level does not require high socio-economic development but still ensure fish production; and it is  
important to ensure the environmental carrying capacity of Mekong and Bassac rivers.  
Keywords: catfish, environmental carrying capacity, Mekong Delta, planning, sustainability.  
Người phản biện: ThS. Nguyễn Văn Trọng  
Ngày nhận bài: 10/8/2014  
Ngày thông qua phản biện: 26/8/2014  
Ngày duyệt đăng: 05/9/2014  
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic - Research Institute for Aquaculture No.2.  
2 Research Institute for Aquaculture No.2.  
* Email: [email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 4 - THAÙNG 10/2014  
169  
pdf 14 trang yennguyen 17000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xác định quy mô phát triển cá tra bền vững cho vùng đồng bằng sông Cửu Long dựa trên sức chịu tải môi trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxac_dinh_quy_mo_phat_trien_ca_tra_ben_vung_cho_vung_dong_ban.pdf