Đặc điểm sinh học sinh sản cá chim đen Parastromateus niger (Bloch, 1795)

VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CÁ CHIM ĐEN  
Parastromateus niger (BLOCH, 1795)  
Mai Viết Văn1*  
TÓM TẮT  
Cá chim đen có tên khoa học Parastromateus niger, đây là loài cá biển có thịt thơm ngon và kích  
cỡ thương phẩm lớn nên có giá trị kinh tế cao. Đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá  
chim đen được thực hiện từ tháng 03 năm 2014 đến tháng 01 năm 2015 tại vùng biển Sóc Trăng-  
Cà Mau. Kết quả phân tích cho thấy hệ số điều kiện (CF) của cá trong thời gian nghiên cứu dao  
động thấp từ tháng 05 đến tháng 09 (0,0272±0,0006). CF cao nhất vào tháng 10 (0,0282±0,0001).  
Hệ số thành thục (GSI) cao nhất vào tháng 08 (cá cái 4,68%; cá đực 1,29%), GSI thấp nhất vào  
tháng 04 (cá cái: 1,52%, cá đực: 0,59%). Tỷ lệ thành thục tuyến sinh dục của cá cái và cá đực tăng  
từ tháng 06 đến tháng 10, cao nhất vào tháng 08 (cá cái: 64%; cá đực 82%). Điều đó cho thấy mùa  
vụ sinh sản tự nhiên của cá chim đen phân bố vùng biển Sóc Trăng-Cà Mau từ tháng 06 đến tháng  
10, sinh sản tập trung vào tháng 08 trong năm. Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim đen dao động từ  
21.756 đến 1.784.151 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối của cá đạt 629 trứng/g cá cái với khối  
lượng thân dao động từ 237,52 đến 1.491,00 g. Mối tương quan thấp đã được tìm thấy giữa sức  
sinh sản tuyệt đối và khối lượng thân cá (r=0,51).  
Từ khóa: Cá chim đen, Parastromateus niger, sinh học sinh sản, mùa vụ sinh sản.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cá chim đen có tên khoa học là  
Parastromateus niger, đây là loài thuộc họ cá  
khế (Carangidae), bộ cá vược (Perciformes).  
Trên thế giới, cá chim đen phân bố ở các vùng:  
Nam Phi, Mozambique, Kenya, biển Ả Rập,  
vịnh Bengal, Indonesia, Philippines, Trung  
Quốc, miền Nam Nhật Bản và Úc. Nhưng  
phong phú nhất trên bờ biển phía tây của Ấn  
Độ và Indonesia. Ở Việt Nam, chúng phân bố  
nhiều ở vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung bộ và  
Đông, Tây Nam bộ (Fröese và Pauly, 2014).  
Cá chim đen là loài ăn thịt, thức ăn chủ yếu là  
động vật không xương sống cỡ nhỏ, cá con và  
giáp xác (Pati, 1983; Dadzie, 2007). Đây là loài  
cá có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, là đối  
tượng khai thác phổ biến ở nhiều nơi trên thế  
giới và ở Việt Nam (Hình 1).  
Hình 1: Hình thái bên ngoài cá chim đen  
Đã có một số công trình nghiên cứu bước  
đầu về cá chim đen phân bố ở nhiều vùng quốc  
gia khác nhau, phần lớn các nghiên cứu về  
phân loại tập trung ở Trung Quốc (Vương Dĩ  
Khang, 1962), nghiên cứu đặc điểm sinh học  
1Khoa Thủy Sản, Trường Ðại học Cần Thơ.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
97  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
2.2.2. Phương pháp phân tích hệ số điều kiện  
được thực hiện ở vùng vịnh Băng-gan (Pati,  
(CF)  
1983) và vùng biển Ả-Rập (Dadzie, 2007;  
Dadzie et al., 2009). Ở Việt Nam, các công  
trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh  
sản của cá chim đen còn rất hạn chế.  
Mẫu cá thu qua các tháng được cân khối  
lượng và đo chiều dài từng cá thể, sau đó xác  
định hệ số điều kiện từng tháng theo công thức  
của King (1995):  
Báo cáo này tập trung nghiên cứu về khía  
cạnh sinh học sinh sản của cá chim đen phân  
bố ở vùng biển từ Sóc Trăng đến Cà Mau bao  
gồm: biến động các hệ số điều kiện (CF), hệ  
số thành thục (GSI), (ii) tần suất xuất hiện các  
giai đoạn thành thục sinh dục, (iii) đặc điểm  
phát triển tuyến sinh dục, (iv) mùa vụ sinh sản  
tự nhiên, (v) sức sinh sản.  
W
Lb  
CF =  
Trong đó: W là khối lượng thân cá (g)  
L là chiều dài tổng của cá (cm)  
b là hệ số tăng trưởng được xác định  
qua phương trình hồi quy: W=aLb (a là hệ số  
tăng trưởng).  
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm cung cấp  
thêm những thông tin mới về đặc điểm sinh  
học của đối tượng này làm cơ sở cho việc học  
tập, giảng dạy và nghiên cứu quy trình sản  
xuất giống nhân tạo loài cá này để phát triển  
đối tượng nuôi vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng,  
Cà Mau nói riêng và vùng Đồng bằng sông  
Cửu Long nói chung.  
2.2.3. Các giai đoạn thành thục sinh dục và  
sức sinh sản của cá  
i) Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh  
dục cá chim đen đã được quan sát trực tiếp  
bằng mắt thường kết hợp với việc sử dụng  
kính lúp và dựa theo thang 6 bậc của Nikolsky  
(1963). Những cá thể chưa thành thục được  
xếp chung vào một nhóm I - II. Tiêu bản mô  
học tuyến sinh dục được thực hiện theo Drury  
và Wallington (1973); Kiernan (1990). Quan  
sát và phân tích tiêu bản mô học tuyến sinh  
dục theo Laurence và Briand (1990).  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
Đề tài được thực hiện từ tháng 03 năm  
2014 đến tháng 01 năm 2015. Phạm vi thu  
mẫu nghiên cứu thuộc vùng biển từ Sóc Trăng  
đến Cà Mau.  
ii) Hệ số thành thục (GSI) được xác định  
theo công thức của Holden và Raitt (1974).  
GSI (%) = (Wg/ Wn) x 100  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thu và cố định mẫu  
Trong đó: Wg là khối lượng tuyến sinh dục (g)  
Mẫu cá được thu định kỳ hàng tháng, kéo  
dài trong suốt 11 tháng. Thu thập mẫu từ các  
phương tiện khai thác thông thường như tàu  
lưới kéo, tàu lưới vây, tàu lưới rê. Định danh  
loài và đối chiếu các tên đồng vật (synonym)  
theo Fröese và Pauly (2014).  
Wn là khối lượng thân không nội quan (g)  
iii) Sức sinh sản tuyệt đối (F) được xác  
định theo phương pháp của Biswas (1993):  
n x G  
F =  
g
Mẫu cá đã được thu ngẫu nhiên 30 cá thể/  
đợt. Mẫu sau khi thu được bảo quản lạnh và  
phân tích ở phòng thí nghiệm Nguồn lợi của  
Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ. Để xác định  
sức sinh sản của cá, buồng trứng cá được cố  
định trong dung dịch Gilson’s fluid (Simpson,  
1954. Được trích dẫn bởi Biswas, 1993).  
Trong đó: G là khối lượng buồng trứng (g)  
n là số lượng trứng giai đoạn III-IV có  
trong mẫu đại diện (trứng).  
g là khối lượng mẫu trứng được lấy ra  
đếm (trứng).  
98  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
III. KẾT QUẢ  
iv) Sức sinh sản tương đối (FA) được  
xác định theo phương pháp của Biswas (1993):  
3.1. Biến động hệ số điều kiện (CF) và hệ số  
thành thục (GSI)  
F
FA =  
Hệ số điều kiện (CF) của cá trong thời  
gian nghiên cứu dao động ở mức thấp từ tháng  
5 đến tháng 9 (0,0272±0,0006). Giá trị CF cao  
nhất vào tháng 10 (0,0282±0,0001) (Hình 2).  
W
Trong đó: F là sức sinh sản tuyệt đối (trứng)  
W là khối lượng thân cá (g)  
2.3. Phương pháp xử lý số liệu  
Hệ số thành thục (GSI) cao nhất vào  
tháng 08 (cá cái 4,68%; cá đực 1,29%), GSI  
thấp nhất vào tháng 04 (cá cái: 1,52%, cá đực:  
0,59%) (Hình 3).  
Số liệu đã được tính toán dưới dạng  
giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Phần mềm  
Microsoft Excel đã được sử dụng để phân tích,  
xử lý số liệu.  
Hình 2: Biến động hệ số CF cá chim đen  
Hình 3: Biến động hệ số GSI cá chim đen  
3.2. Biến động các giai đoạn thành thục  
tuyến sinh dục của cá  
cái và cá đực tăng từ tháng 6 đến tháng 10, cao  
nhất vào tháng 8 (cá cái: 64%; cá đực 82%)  
(Hình 4 và Hình 5).  
Tỷ lệ thành thục tuyến sinh dục của cá  
Hình 4: Tỷ lệ thành thục sinh dục ở cá cái  
Hình 5: Tỷ lệ thành thục sinh dục ở cá đực  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
99  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
3.3. Đặc điểm phát triển mô học tuyến sinh dục cá chim đen  
3.3.1. Các giai đoạn phát triển noãn sào  
Giai đoạn thành thục Đặc điểm hình thái noãn sào  
Đặc điểm mô học noãn sào  
Noãn sào phân thành 2 thùy dạng Trên lát cắt rất dễ quan sát thấy  
sợi nhỏ, có màu hồng phấn hơi các noãn nguyên bào ở thời kỳ I  
Giai đoạn I  
trong (Hình 6).  
với nhân to tròn, nhân chiếm tỷ lệ  
lớn so với thể tích của noãn bào  
(Hình 10).  
Giai đoạn II  
Noãn sào tăng kích thước và có Noãn bào thời kỳ II có kích thước  
màu vàng tươi (Hình 7).  
lớn hơn các noãn nguyên bào ở  
thời kỳ I, tỷ lệ thể tích của nhân  
so với tế bào giảm xuống. Noãn  
bào có dạng hình đa giác hoặc  
hình elip được bao bọc bởi lớp  
màng follicul mỏng bên ngoài  
(Hình 11). Các noãn bào thời kỳ  
II chiếm ưu thế về số lượng trong  
noãn sào.  
Giai đoạn III  
Noãn sào tăng nhanh kích thước, Noãn bào gia tăng về kích thước  
noãn sào phồng dày lên, trên bề và có hình dạng tròn, xuất hiện  
mặt có xuất hiện các mạch máu các không bào, các hạt mỡ và  
nhỏ. Màu sắc noãn sào chuyển các hạt noãn hoàng. Số lượng  
từ màu vàng tươi sang màu vàng các giọt mỡ gia tăng đáng kể so  
nhạt. Bằng mắt thường có thể với noãn bào giai đoạn II. Đường  
quan sát thấy các hạt trứng nằm kính trung bình của noãn bào là  
bên trong màng võ trứng (Hình 572,01±41,71 µm (Hình 12). Các  
8).  
noãn bào thời kỳ III chiếm ưu thế  
về số lượng trong noãn sào.  
Giai đoạn IV  
Noãn sào phát triển lớn và phân Noãn bào thời kỳ IV có kích  
thùy không rõ ràng. Có rất nhiều thước lớn nhất và chiếm ưu thế  
mạch máu bố trên bề mặt của về số lượng trong noãn sào, ngoài  
noãn sào. Noãn sào có màu vàng ra còn có các noãn nguyên bào  
nhạt. Mắt thường rất dễ quan sát thời kỳ I, noãn bào thời kỳ II, III.  
thấy các noãn bào nằm bên trong Hình dạng noãn bào tròn căng  
màng trứng (Hình 9).  
với noãn hoàng chiếm thể tích  
lớn trong noãn bào. Các hạt noãn  
hoàng trộn lẫn với các hạt mỡ và  
các không bào. Nhân tập trung  
chính giữa noãn bào. Màng nhân  
tiêu biến, nhiễm sắc chất phân  
tán. Đường kính của noãn bào đạt  
796,27±36,68 µm (Hình 13).  
100  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
3.3.2. Các giai đoạn phát triển tinh sào  
Giai đoạn thành thục  
Giai đoạn I  
Đặc điểm hình thái tinh sào  
Đặc điểm mô học tinh sào  
Tinh sào có dạng hình sợi, có Có sự hiện diện của tinh nguyên  
phân thùy nhỏ, màu trắng trong, bào, số lượng tinh nguyên bào  
nằm ôm sát phía cột sống của lớn nằm trong các bào nang.  
thân cá. Quan sát bằng mắt Trên lát cắt chỉ thấy các tế bào  
thường không thể xác định giới bắt màu hồng nhạt của thuốc  
tính của cá (Hình 14).  
nhuộm Eosin (Hình 18).  
Giai đoạn II  
Giai đoạn III  
Giai đoạn IV  
Tinh sào gia tăng kích thước và Có sự xuất hiện các túi sinh tinh  
có màu trắng sữa nhạt (Hình 15). chứa các tinh bào (Hình 19).  
Giai đoạn này chưa thấy có sự  
xuất hiện của tinh trùng.  
Tinh sào tăng thêm kích thước so Có sự xuất hiện của tinh trùng  
với giai đoạn II, có màu trắng đục trong các tinh nang (bắt màu tím  
(Hình 16).  
xanh của hematoxylin) (Hình  
20).  
Tinh sào mở rộng, bề mặt tinh Tinh trùng đã thoát ra khỏi tinh  
sào phồng lên và căng tròn, quan nang và được chứa đầy trong  
sát bằng mắt thường thấy bên các tuyến và ống dẫn tinh. Trên  
trong có chứa nhiều tinh trùng lát cắt cho thấy các tuyến chứa  
có màu trắng đục như bông sữa tinh trùng bắt màu tím xanh rất  
(Hình 17).  
rõ với heamatoxylin (Hình 21).  
Hình 6: Noãn sào giai đoạn I  
Hình 7: Noãn sào giai đoạn II  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
101  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
Hình 8: Noãn sào giai đoạn III  
Hình 9: Noãn sào giai đoạn IV  
Hình 11: Lát cắt noãn sào giai đoạn II  
Hình 13: Lát cắt noãn sào giai đoạn IV  
Hình 10: Lát cắt noãn sào giai đoạn I  
Hình 12: Lát cắt noãn sào giai đoạn III  
102  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
Chú thích:  
Hình 10: Lát cắt noãn sào giai đoạn I (nhuộm HE; x10);  
Hình 11: Lát cắt noãn sào giai đoạn II (nhuộm HE; x40);  
Hình 12: Lát cắt noãn sào giai đoạn III (nhuộm HE; x40);  
Hình 13: Lát cắt noãn sào giai đoạn IV (nhuộm HE; x40).  
: Noãn nguyên bào (tỷ lệ nhân lớn hơn so với tế bào, tế bào chất bắt màu xanh tím của  
Haematoxylin);  
nhiều hạt sắc chất bắt màu tím của Hematoxylin);  
dầu nằm xen lẫn trong noãn hoàng; : Hạt noãn hoàng.  
: Noãn bào (kích thước tăng lên, tỷ lệ giữa nhân và tế bào giảm,  
: Nhân tế bào; : Giọt  
Hình 15:  
Tinh sào  
Hình 14:  
Tinh sào giai  
giai đoạn II  
đoạn I  
Hình 16:  
Tinh sào giai  
đoạn III  
Hình 17:  
Tinh sào  
giai đoạn IV  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
103  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
Hình 18: Lát cắt tinh sào giai đoạn I  
Hình 19: Lát cắt tinh sào giai đoạn II  
Hình 20: Lát cắt tinh sào giai đoạn III  
Hình 21: Lát cắt tinh sào giai đoạn IV  
Chú thích:  
Hình 18: Lát cắt tinh sào giai đoạn I (Nhuộm HE; x10);  
Hình 19: Lát cắt tinh sào giai đoạn II (Nhuộm HE; x40);  
Hình 20: Lát cắt tinh sào giai đoạn III (Nhuộm HE; x40);  
Hình 21: Lát cắt tinh sào giai đoạn IV (Nhuộm HE; x40);  
: Bào nang chứa tinh nguyên bào;  
: Tinh nang;  
:Tinh trùng bắt màu xanh tím của Haematoxylin.  
3.4. Mùa vụ sinh sản  
trong năm.  
Từ kết quả phân tích biến động hệ số điều 3.5. Sức sinh sản  
kiện (CF), hệ số thành thục (GSI) kết hợp với  
tỷ lệ thành thục của cá đã cho thấy mùa vụ sinh  
sản của cá chim đen phân bố ở vùng biển Sóc  
Trăng-Cà Mau bắt đầu từ tháng 6 đến tháng  
10, thời gian sinh sản tập trung vào tháng 8  
Kết quả phân tích 106 cá cái và 122 cái  
đực (trong đó có 48 cá thể cái mang trứng giai  
đoạn III và IV) cho thấy sức sinh sản tuyệt  
đối của cá chim đen dao động từ 21.756 đến  
1.784.151 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối  
104  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
của cá 629 trứng/g cá cái với khối lượng thân Mau có gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh,  
dao động từ 237,52 đến 1.491,00 g/cá thể. Cá gây mưa nhiều, nhiệt độ nước biến động từ 28-  
nhỏ nhất phát hiện mang trứng giai đoạn IV có 30oC (Mai Viết Văn, 2014 và Đỗ Ngọc Quỳnh,  
chiều tổng là 30,50 cm. Mối tương quan thấp 2010). Do phân bố ở môi trường có nhiệt độ  
đã được tìm thấy giữa sức sinh sản tuyệt đối và thấp hơn nên cá có thời gian tích lũy tổng nhiệt  
khối lượng thân cá (r=0,51).  
thành thục chậm hơn, do đó cá có mùa sinh  
sản muộn hơn. Mặt khác, theo Mansor (1997)  
thì mùa vụ sinh sản của một số loài cá tầng mặt  
phân bố trong khu vực biển Đông nói chung  
chịu ảnh hưởng về độ sâu của mực nước biển,  
về hiện tượng pha trộn các dòng chảy theo  
hướng Tây Bắc và Đông Nam, khi các dòng  
chảy pha trộn với nhau sẽ tạo nên các vùng  
nước trồi tạo thức ăn tự nhiên rất phong phú  
làm ảnh hưởng đến mùa vụ sinh sản các loài  
cá phân bố trong khu vực đó.  
IV. THẢO LUẬN  
Bên cạnh mối quan hệ giữa chiều dài  
và khối lượng thân cá thì từng cá thể cũng có  
những biến động trong quá trình sinh trưởng.  
Sự biến động cá thể được phân tích thông qua  
một chỉ số gọi là hệ số điều kiện (Condition  
Factor) hay hệ số béo. Khi giá trị hệ số điều  
kiện tăng lên đồng nghĩa với tình trạng cá  
đang tích lũy độ béo để phục vụ cho quá trình  
chuyển hóa dinh dưỡng cho các sản phẩm sinh  
dục sau này. Sự thay đổi theo mùa của khối  
lượng tuyến sinh dục có thể thấy rõ trên cá cái  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
Cá chim đen phân bố tại vùng biển từ  
do sự gia tăng nhanh chóng khối lượng tuyến Sóc Trăng đến Cà Mau có mùa vụ sinh sản tự  
sinh dục. Biến động hệ số điều kiện (CF) và hệ nhiên kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10. Thời  
số thành thục (GSI) có ý nghĩa rất quan trọng gian sinh sản tập trung vào tháng 8 trong năm.  
trong việc xác định thời gian và mùa vụ sinh  
sản của cá. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số  
điều kiện (CF) của cá duy trì ở mức thấp từ  
tháng 05 đến tháng 09, hệ số thành thục (GSI)  
cao nhất vào tháng 08 và tỷ lệ thành thục tuyến  
sinh dục của cá cái và cá đực tăng từ tháng 06  
đến tháng 10, cao nhất vào tháng 08. Điều đó  
cho thấy khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng  
10 cá chim đen đã chuyển hóa năng lượng tích  
lũy được sang sản phẩm sinh dục để phục vụ  
cho mùa sinh sản.  
Cần tránh các hoạt động khai thác cá vào  
mùa sinh sản, nhằm tạo điều kiện giúp cá tái  
tạo quần đàn tự nhiên.  
Sức sinh sản của cá chim đen cao nên là  
đối tượng thích hợp cho nghiên cứu sản xuất  
giống nhân tạo phục vụ cho nghề nuôi trồng  
thủy sản nước mặn lợ ở địa phương.  
LỜI CẢM TẠ  
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến  
lãnh đạo Chi cục Thủy sản các tỉnh Sóc Trăng,  
Bạc Liêu và Cà Mau đã nhiệt tình giúp đỡ  
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả thu  
thập mẫu vật nghiên cứu tại địa phương. Chân  
thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ đã hỗ  
trợ kinh phí giúp tác giả hoàn thành nghiên  
cứu.  
Theo kết quả nghiên cứu của Dadzie et  
al., (2009) thì cá chim đen phân bố ở vùng  
biển Ả-Rập có giá trị GSI biến động thấp từ  
tháng 10 năm trước đến tháng 01 năm sau. GSI  
bắt đầu tăng dần từ tháng 02 và đạt giá trị cao  
nhất vào tháng 6. Có nghĩa là thời gian thành  
thục của cá chim đen phân bố ở vùng biển Sóc  
Trăng-Cà Mau muộn hơn cá phân bố ở vùng  
biển Ả-Rập khoảng 02 tháng. Theo Dadzie et  
al., (2009) thì nhiệt độ vùng biển Ả-Rập biến  
động từ 28-36oC từ tháng 6 đến tháng 10 trong  
khi thời gian này ở vùng biển Sóc Trăng-Cà  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
Vương Dĩ Khang, 1962. Ngư loại phân loại học  
(Nguyễn Bá Mão dịch). NXB NN&PTNT.  
814 trang.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
105  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
Đỗ Ngọc Quỳnh, 2010. Báo cáo tổng hợp đề tài Fröese, R., and Pauly, D., 2014. Fishbase.  
Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và môi  
trường vùng biển Tây Nam, phục vụ phát  
triển kinh tế và bảo vệ an ninh chủ quyền  
Quốc gia. Chương trình KHCN cấp Nhà  
nước. KC.09.02/06-10. 374 trang.  
Worldwide Web Electronic Publication,  
Holden, M.J., and Raitt, D.F.S., 1974. Manual  
of Fisheries Science, Part II. Methods of  
resource Investigation and their Application.  
Revised edition of FAO Fish. Tech. Pape.  
(115).  
Mai Viết Văn, 2014. Cơ sở khoa học về môi trường  
nước và thủy sinh vật để quản lý nguồn lợi  
thủy sản vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc  
Liêu. Luận án Tiến sĩ Nuôi Trồng Thủy sản.  
Khoa Thủy sản. Trường Đại học Cần Thơ.  
168 trang.  
Kiernan, J.A., 1990. Histological & Histochemical  
Methods: Theory & Practice. Second  
Edition. Pergamon Press. 433 pp.  
King, M., 1995. Fisheries biology, assessment and  
management. Fishing News Books, 341 pp.  
Tài liệu tiếng Anh  
Biswas, S.P., 1993. Manual of Methodlin Fish  
Biology. South Asian Publishere, Pvt. Ltd,  
New Delhi. 157 pp.  
Laurence, W.C., and Briand, G., 1990.  
Reproduction. in Method for Fish Biology.  
American Fisheries Society. Bethesda,  
Maryland, USA.  
Dadzie, S., 2007. Food and feeding habits of  
the black pomfret, Parastromateus niger  
(Carangidae) in the Kuwaiti waters of the  
Arabian Gulf. Cybium 31: 77-84.  
Mansor, M. I., 1997. Biological parameters and  
population dynamics of shared stocks of the  
South China Sea. The third regional worshop  
on shared stocks of the South China Sea area.  
Kuala Terengganu, Malaysia, 6-8 October,  
1997: pp.206-224. Nikolxki, G.V., 1963.  
Sinh thái học cá. Người dịch Phạm Thị Minh  
Giang (1973). NXB Đại học. 156 trang.  
Dadzie, S., Abou-Seedo, F., and Gomes, T., 2009.  
Reproductive aspects of the black pomfret,  
Parastromateus nigerin the Kuwaiti waters  
of the Arabian Gulf. Asian Fisheries Science  
22 (2009): 265-275.  
Drury, R.A.B., and Wallington, E.A., 1973. Pati, S., 1983. Observations on the biology and  
Carlton’s Histological Technique. Fourth  
Edition. Oxford University Press. 432 pp.  
fishery of black pomfret, Parastromateus  
niger (Bloch) from the Bay of Bengal. Acta  
Ichthyologia et Piscatoria 13: 63-74.  
106  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
VIEÄN NGHIEÂN CÖÙU NUOÂI TROÀNG THUÛY SAÛN 2  
THE REPRODUCTIVE BIOLOGYOF BLACK POMFRET  
Parastromateus niger (BLOCH, 1795)  
Mai Viet Van1*  
ABSTRACT  
Black pomfret (Parastromateus niger) is marine fish that has delicious meat and fish market  
size large with high economic value. A study on the reproductive biology of black pomfret  
was conducted from March, 2014 to January, 2015 in the coastal areas of Soc Trang-Ca  
Mau provinces. Results of the study showed that the condition factors (CF) of fish revealed  
lowest values from May to September (0.0272±0.0006) and those of the highest in October  
(0.0282±0.0001). Highest values of the gonad somatic index (GSI) of fish was observed in  
August (female: 4.68%; male: 1.29%) and those of lowest values in April (female: 1.52%;  
male: 0.59%). Analysis of seasonal distribution of maturity stages for one year revealed the  
presence of ripe/running males and females from June to October with the highest values  
in August (female: 64%; male:82%), thus confirming the spawning periodicity revealed  
through the analysis of fluctuations in the GSI and CF. The absolute fecundity of black  
pomfret ranged from 21,756 to 1,784.151 eggs and the relative fecundity 629 eggs/g of  
female fish, in which the body weight of female fish ranged from 237.52 to 1,491.00 g/  
individual. Low correlations were found between absolute fecundity and body weight  
(r=0.51).  
Keywords: Black pomfret, Parastromateus niger, reproductive biology, spawning season.  
Người phản biện: ThS. Vũ Vi An  
Ngày nhận bài: 29/5/2015  
Ngày thông qua phản biện: 03/8/2015  
Ngày duyệt đăng: 07/8/2015  
1College of Aquaculture and Fisheries, Cantho University  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 6 - THAÙNG 8/2015  
107  
pdf 11 trang yennguyen 24340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm sinh học sinh sản cá chim đen Parastromateus niger (Bloch, 1795)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_sinh_hoc_sinh_san_ca_chim_den_parastromateus_niger.pdf