Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình
46
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Assessment of heavy metals content and consumer health risk to Siganus fuscescens
(Houttuyn, 1782) from Quang Binh province
Thiep V. Vo1,2∗, Yen T. Tran1, & Anh V. Hoang1
1Faculty of Agriculture, Forestry, and Fisheries, Quang Binh University, Quang Binh, Vietnam
2Institute Biology, Pedagogical University of Cracow, Kraków, Poland
ARTICLE INFO
ABSTRACT
Research Paper
Siganus fuscescens Houttuyn, 1782 is one of the common fish species
in Quang Binh province and consumers are favored by its high nu-
Received: June 02, 2020
Revised: July 30, 2020
Accepted: September 28, 2020
tritional value. However, the consumption of Siganus fuscescens may
pose potential risks to human health since they can accumulate signif-
icant amounts of heavy metals in their tissues. From July to October
2019, a total of 50 individuals of Siganus fuscescens were randomly
collected through fishermen at local markets in Quang Binh province.
Liver, gills, and muscles were dissected and analyzed for cadmium,
lead, copper, zinc, and iron contents by the flame atomic absorption
spectrometer, and the cold vapor atomic absorption spectrometer for
mercury content. The metal content in all tested samples was lower
than the threshold limit value by the Vietnamese Ministry of Health
(MoH). The risk to human health by the intake of metal contaminated
Siganus fuscescens was evaluated by estimated daily intake (EDI), tar-
get hazard quotient (THQ), and hazard index (HI). All of the EDI
values were below the provisional tolerable daily intake (PTDI) set by
the MoH, and all of THQ and HI values for male and female consumers
did not exceed 1, indicating that there was no potential human health
risk in consuming Siganus fuscescens from coastal areas of Quang
Binh province.
Keywords
Estimated daily intake (EDI)
Heavy metal
Siganus fuscescens
Target hazard quotients (THQ)
∗Corresponding author
Vo Van Thiep
Email: vovanthiep[email protected]
Cited as: Vo, T. V., Tran, Y. T., & Hoang, A. V. (2020). Assessment of heavy metals content
and consumer health risk to Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) from Quang Binh province. The
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
47
Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro
(Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình
Võ Văn Thiệp1,2∗, Trần Thị Yên1 & Hoàng Anh Vũ1
1Khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường Đại Học Quảng Bình, Quảng Bình
2Viện Sinh Học, Trường Đại Học Sư Phạm Cracow, Kraków, Ba Lan
THÔNG TIN BÀI BÁO
Bài báo khoa học
TÓM TẮT
Cá Dìa tro là một trong những loài cá phổ biến ở ven biển tỉnh
Quảng Bình và được người dân ưu chuộng vì giá trị dinh dưỡng
cao. Tuy nhiên, việc tiêu thụ chúng có thể gây ra những rủi ro tiềm
ẩn cho sức khỏe vì chúng có thể tích lũy đáng kể các kim loại nặng
trong các mô. Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2019, tổng cộng 50 cá
thể cá Dìa tro đã được thu thập ngẫu nhiên thông qua các ngư dân
và tại các chợ cá địa phương ở tỉnh Quảng Bình. Gan, mang và cơ
đã được mổ xẻ và phân tích hàm lượng cadimi, chì, đồng, kẽm và
sắt bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và
phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử hóa hơi lạnh áp dụng
cho xác định hàm lượng thủy ngân, tại Viện Sinh học, trường Đại
học Sư phạm Kracow, Ba Lan. Hàm lượng kim loại ở trong các mẫu
nghiên cứu đều nhỏ hơn giới hạn quy định của Bộ Y tế Việt Nam.
Nguy cơ rủi ro bị nhiễm các kim loại nặng đối với người tiêu thụ
cá Dìa tro đã được đánh giá bằng ước tính lượng kim loại tiêu thụ
hàng ngày (EDI), chỉ số nguy hại (THQ) và chỉ số nguy hiểm (HI).
Tất cả các giá trị EDI đều dưới ngưỡng lượng ăn vào hàng ngày có
thể chấp nhận được (PTDI) quy định bởi Bộ Y tế, đồng thời tất cả
các giá trị THQ và HI ở nam và nữ giới đều không vượt quá 1. Kết
quả cho thấy không có nguy cơ rủi ro đến sức khỏe khi tiêu thụ cá
Dìa tro tại ven biển tỉnh Quảng Bình.
Ngày nhận: 02/06/2020
Ngày chỉnh sửa: 30/07/2020
Ngày chấp nhận: 28/09/2020
Từ khóa
Cá Dìa tro
Kim loại nặng
Thương số nguy hại
Ước tính lượng tiêu thụ hàng ngày
∗Tác giả liên hệ
Võ Văn Thiệp
Email: vovanthiep[email protected]
1. Đặt Vấn Đề
thái dưới nước do độc tính, cùng sự tồn tại lâu
dài, đồng thời chúng có xu hướng tích tụ và phóng
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày đại sinh học trong các chuỗi thức ăn (Kumar &
càng phát triển, cùng với việc gia tăng dân số dẫn ctv., 2012; Rahman & ctv., 2014).
đến vấn đề ô nhiễm ngày càng tăng do lượng lớn
Ở môi trường dưới nước, cá thường có vị trí cao
chất thải thải ra môi trường (Naser, 2013). Một
trong các chuỗi thức ăn nên chúng có xu hướng
ví dụ điển hình, trong năm 2018, chỉ tính riêng
tích lũy lớn các chất ô nhiễm (Jiang & ctv., 2014).
lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn
Do đó, bên cạnh cung cấp các chất dinh dưỡng
tỉnh Quảng Bình khoảng 466 tấn/ngày, trong đó
quan trọng thì cá cũng là một mối nguy cơ tiềm
tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt bình quân
ẩn mang các kim loại nặng vào cơ thể người tiêu
chung cả tỉnh là 77.4% (QBPPC, 2019). Theo
thụ. Chính vì vậy, không quá ngạc nhiên khi trên
Akcil & ctv. (2015), các chất thải từ hoạt động
thế giới có nhiều công trình tập trung đánh giá
nhân tạo của con người thường chứa một lượng
hàm lượng kim loại nặng và ước tính rủi ro đáng
lớn các kim loại nặng. Một khi phát thải ra môi
có khi tiêu thụ cá (Delgado-Alvarez & ctv., 2017;
trường, chúng theo các dòng chảy đổ vào sông và
Ali & Khan, 2018; Solgi & Beigzadeh-Shahraki;
biển, đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ sinh
2019).
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
48
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, -4oC. Tất cả các quy trình lấy mẫu được thực
1782) là một trong những loài cá biển có thịt hiện theo các hướng dẫn được Quốc tế công nhận
thơm ngon, giàu dinh dưỡng và hàm lượng Omega (UNEP, 1991).
3 cao, nên được người dân ưu chuộng và tiêu
thụ nhiều. Trên thế giới, chúng phân bố phần
2.2. Xác định hàm lượng kim loại
lớn ở Tây Thái Bình Dương, như miền Nam
Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia,
Sigapore, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Úc...
(Froese & Pauly, 2019). Tại Việt Nam, chúng
được ghi nhận phổ biến ở các vùng nước nông, ven
biển, cửa sông của các tỉnh Miền trung (MARD,
2015; Bien & Vo, 2017; Nguyen & ctv., 2017).
Để xác định nồng độ của Cd, Pb, Cu, Zn và
Fe, các mẫu sau khi được rã đông, cân mỗi mẫu
xấp xỉ 2g trọng lượng ướt (cân có độ chính xác
đến 0,0001g, loại cân Metler AE240), rồi đem
sấy khô ở nhiệt độ 60oC cho đến khi đạt trọng
lượng khô không đổi (với máy sấy SUP-100W,
WAMED). Tiếp đến các mẫu đã sấy khô được
khoáng hóa nóng với axit nitric (65%, Baker An-
alyzed, JT Baker, USA) trong hệ thống khoáng
hóa Velp Scientifica DK20. Các dung dịch khoáng
hóa được pha loãng tới 10 mL với nước siêu tinh
khiết (18,2 MΩ cm at 25oC, Direct-Q 3, Merck-
Millipore, Germany) và được phân tích bằng máy
quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (loại máy
AAnalyst 200, PerkinElmer, USA). Các kết quả
ban đầu thu được hiển thị với đơn vị g/g trọng
lượng khô (d.w) được tính toán và chuyển sang
trọng lượng ướt (w.w) dựa trên phần trăm độ ẩm
(25%).
Xét thấy các số liệu còn hạn chế tại Việt Nam,
các tác giả phần lớn tập trung vào lớp hai mảnh
vỏ (Nguyen & ctv., 2014; Nguyen, 2016), một số
loài cá nuôi (Nguyen, 2017), trong khi đó chưa
tìm thấy công bố nào liên quan đến hàm lượng
kim loại nặng trong cá Dìa tro và đánh giá rủi
ro tiềm ẩn khi tiêu thụ loài này. Do đó, mục đích
của nghiên cứu này là đánh giá hàm lượng một số
kim loại nặng (cadimi – Cd, chì – Pb, đồng – Cu,
kẽm – Zn, sắt – Fe, thủy ngân – Hg) trong cá Dìa
tro từ vùng ven biển tỉnh Quảng Bình; đồng thời
ước tính các nguy cơ tiềm ẩn đến sức khỏe con
người thông qua tiêu thụ loài cá này. Nghiên cứu
cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng
tích lũy kim loại nặng ở cá Dìa tro, tạo cơ sở cho
các cơ quan quản lý thực hiện giám sát ô nhiễm
môi trường và thực hiện các biện pháp hiệu quả
để giảm rủi ro sức khỏe tiềm ẩn cho người tiêu
thụ.
Hàm lượng Hg được đo bằng máy quang phổ
hấp thụ nguyên tử hơi lạnh (loại máy MA-2, NIC,
Japan) trong khoảng 100 mg mẫu tươi, kết quả
cuối cùng được trình bày bằng g/g w.w.
Tất cả các phân tích đều được lặp lại hai lần,
giá trị trung bình của hai lần được xem là kết quả
cuối cùng. Nếu độ lệch chuẩn tương đối (RSD)
giữa các lần lặp lại cao hơn 15%, thì phân tích
được kiểm tra lại. Cứ mười mẫu, các giải pháp
kiểm soát chất lượng và tăng đột biến với nồng
độ kim loại được kiểm tra lại một lần với mẫu
chuẩn. Tất cả các độ thu hồi (Recovery) dao động
từ 90 đến 110% cho mỗi kim loại.
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu
2.1. Thu mẫu
Các mẫu cá Dìa tro được thu thập ngẫu nhiên
trực tiếp từ ngư dân và các chợ cá tại 5 địa điểm
trên toàn tỉnh Quảng Bình (S1: xã Cảnh Dương,
huyện Quảng Trạch; S2: Phường Quảng Phúc,
Thị xã Ba Đồn; S3: xã Đức Trạch và S4: xã Nhân
Trạch, huyện Bố Trạch; và S5: cảng cá Nhật Lệ,
thành phố Đồng Hới) từ tháng 7 đến tháng 10
phần lưng đã được thu thập, đặt trong túi nilon
có dán nhãn và được bảo quản ở nhiệt độ -18
đến -22oC tại phòng thực hành trường Đại học
Quảng Bình, sau đó các mẫu được chuyển đến
phòng phân tích kim loại, Viện Sinh học, trường
Đại học Sư phạm Kracow, Ba Lan. Trong quá
trình vận chuyển bằng đường hàng không, các
mẫu được bảo quản trong thùng đá ở nhiệt độ
2.3. Đánh giá rủi ro sức khỏe
2.3.1. Ước tính lượng kim loại tiêu thụ hàng ngày
(Estimated daily intake - EDI)
EDI của mỗi kim loại nặng tính theo công thức
sau:
CM x CONS
EDI =
BW
Trong đó: EDI là lượng tiêu thụ kim loại ước
tính hàng ngày (g/ngày); CM là hàm lượng kim
loại trong cơ cá ( g/g w.w); CONS là tỉ lệ tiêu
thụ cá hàng này, theo Ojamaa (2018) lượng tiêu
thụ cá trung bình ở khu vực Miền trung là 45,21
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
49
Bảng 1. Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, nhỏ nhất và lớn nhất của cá Dìa tro tại Quảng Bình
Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
S1
(n=10) Chiều dài (cm)
S2 Trọng lượng (g)
(n=10) Chiều dài (cm)
S3 Trọng lượng (g)
(n=10) Chiều dài (cm)
S4 Trọng lượng (g)
(n=10) Chiều dài (cm)
S5 Trọng lượng (g)
Trọng lượng (g)
97,840
19,822
101,510
20,217
77,590
18,686
83,410
20,113
107,200
20,624
34,484
2,325
47,563
3,044
35,420
2,267
21,762
1,354
45,600
16,238
39,500
16,248
32,500
15,800
57,800
18,419
75,600
18,700
142,000
22,808
172,000
24,728
142,300
22,827
121,200
22,477
132,500
23,465
18,577
1,488
(n=10) Chiều dài (cm)
Hình 1. Vị trí thu mẫu.
g/ngày; BW là trọng lượng trung bình của người 0,3; 0,6 và 0,0003 g/g/ngày.
trưởng thành (58,4 kg đối với nam và 50,8 kg đối
với nữ (Tran & ctv., 2019).
EDI
den
THQ =
x 10−3
2.3.2. Ước tính chỉ số nguy hại (Target hazard quo-
tients - THQ)
Tổng THQ (hay còn gọi là chỉ số nguy hiêm -
HI) được tính bằng tổng của từng THQ kim loại
riêng lẻ cho từng loài cá. Nếu HI < 1 có nghĩa
là người tiêu thụ được coi là an toàn (USEPA,
2019).
THQ đã được sử dụng để ước tính nguy cơ
không gây ung thư của các chất ô nhiễm tích lũy
trong các mô của cá. Đó là tỉ lệ của EDI và tỉ
lệ tham chiếu (reference dose (RfD)) được đặt ra
bởi USEPA (2019). Theo đó, RfD của Cd, Pb,
Cu, Zn, Fe và Hg lần lượt là 0,001; 0,004; 0,04;
2.4. Phân tích thống kê
Thử nghiệm “Shapiro – Wilk test” được dùng
để kiểm tra sự phân bố của hàm lượng kim loại
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
50
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2. Giá trị trung bình, trung vị, tối thiểu, tối đa và độ lệch chuẩn của
kim loại trong cá Dìa tro ở tỉnh Quảng Bình
Kim loại ( g/g w.w)
Cu Zn Hg
Cd
Pb
Fe
Trung bình
Trung vị
Nhỏ nhất
Lớn nhất
0,022 0,020 0,456 0,440 2,479 0,114
0,018 0,011 0,370 0,407 2,317 0,071
0,009 0,003 0,161 0,096 1,301 0,032
0,067 0,087 0,923 0,912 5,071 0,555
Gan
Mang
Cơ
Độ lệch chuẩn 0,013 0,023 0,214 0,193 0,863 0,116
Trung bình
Trung vị
0,017 0,015 0,251 0,298 2,204 0,033
0,016 0,014 0,164 0,295 1,915 0,032
0,007 0,002 0,008 0,132 0,998 0,018
0,026 0,040 0,699 0,608 3,988 0,061
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Độ lệch chuẩn 0,006 0,011 0,189 0,103 0,890 0,010
Trung bình
Trung vị
0,015 0,025 0,133 0,245 1,347 0,080
0,014 0,010 0,095 0,227 1,027 0,079
0,005 0,001 0,008 0,093 0,835 0,036
0,026 0,338 0,401 0,483 3,408 0,143
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Độ lệch chuẩn 0,005 0,054 0,097 0,090 0,630 0,028
trong các mẫu. Do các mẫu có sự phân bố không ở trong gan, mang và cơ lần lượt theo thứ tự
chuẩn nên “Kruskal-Wallis test” được thực hiện để giảm dần như sau: Fe > Cu > Zn > Hg > Cd
xác định khác biệt đáng kể sự tích lũy kim loại > Pb; Fe > Zn > Cu > Hg > Cd > Pb; Fe >
trong cá mô cá. Tất cả các tính toán thống kê Zn > Cu > Hg > Pb > Cd. Kết quả phân tích
được thực hiện với phần mềm thống kê Statistica cho thấy sự tích lũy các kim loại ở trong cơ là
13.3 (StatSoft, Ba Lan). Kết quả thống kê có ý thấp nhất, trong khi ở gan và mang lại cao hơn.
nghĩa khi giá trị p bằng hoặc nhỏ hơn 0,05.
Với phép kiểm tra “Kruskal-Wallis ANOVA” và
phép so sánh thứ hạng giá trị trung bình cho các
kim loại giữa các cơ quan cho thấy có sự khác biệt
đáng kể về nồng độ kim loại giữa chúng, được thể
cao ở trong gan vì gan đóng vai trò quan trọng
trong quá trình trao đổi chất (Zhao & ctv., 2012).
Trong khi mang là nơi trao đổi trực tiếp của các
ion kim loại ở trong nước với cơ thể của cá, do
đó dấu vết kim loại ở trong mang thường cao hơn
trong cơ (Qadir & Malik, 2011). Đây cũng là lí
do mang cá thường được xem xét như là một tiêu
chí để phản ánh chất lượng môi trường nước, nơi
chúng sống (El-Moselhy & ctv., 2014).
3. Kết Quả và Thảo Luận
3.1. Hàm lượng kim loại nặng trong cá
Kết quả phép đo sinh trắc của cá Dìa tro (chiều
20,624 cm và 107,2 g thu được ở vùng S5, trong
khi đó chiều dài và trọng lượng trung bình nhỏ
nhất là 18,686 cm và 77,590 g thu được tại vùng
S3. Kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy
không có sự khác biệt đáng kể về chiều dài và
trọng lượng của cá Dìa tro ở 5 vùng nghiên cứu.
Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng
là tương quan thuận (r2 = 0,92) và theo phương
trình sau:
Kết quả của nghiên cứu này tương tự với báo
cáo của Liu & ctv. (2015) tại bờ biển phía nam
của Trung Quốc, đó là hàm lượng kim loại nặng
có xu hướng tập trung cao ở gan, mang hơn là
ở trong cơ. Tuy nhiên, Liu & ctv. (2015) đã cho
thấy sự tích lũy Cd, Pb, Zn và Cu ở trong gan,
mang và cơ cao hơn trong báo cáo này. Trước
đó, tại vùng biển của Indonesia, Bramandito &
ctv. (2018) đã trình bày nồng độ Cd (0,27 g/g
w.w) và Cu (3,92 g/g w.w) ở trong cơ cá Dìa
cao hơn tại vùng ven biển Quảng Bình. Trong
L = 5, 7468 x W0,2758
Trong đó: L - chiều dài (cm), W - trọng lượng
(g). Giá trị trung bình, trung vị, nồng độ nhỏ
nhất, lớn nhất và độ lệch chuẩn của các kim loại
trong gan, mang và cơ của cá Dìa tro được tóm
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
51
Hình 2. Hàm lượng Cd, Pb, Cu, Zn, Fe và Hg ở trong gan, mang và cơ của cá Dìa tro. a, b, cCác ký tự
giống nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, P < 0,05.
báo cáo về hàm lượng kim loại nặng của 29 loài và phi sinh học bao gồm môi trường sống của cá,
cá ven biển Trung Quốc, Zhang & Wang (2012) nhiệt độ nước, giá trị pH, nồng độ oxy hòa tan,
đã cho thấy nồng độ của Pb (0,068 g/g w.w) và dạng hóa học của các kim loại trong nước, ngoài
Fe (6,445 g/g w.w) ở trong cơ cá Dìa tro là cao ra các yếu tố như tuổi, giới tính, trọng lượng cơ
hơn, trong khi nồng độ Cd (0,135 g/g w.w) và thể cũng ảnh hưởng đến sự tích lũy các kim loại
Zn (0,273 g/g w.w) lại xấp xỉ, còn hàm lượng (Putri & ctv., 2017).
Cu (0,02 g/g w.w) thì thấp hơn so với báo cáo
này. Bên cạnh đó, Pan & ctv. (2014) đã trình bày
hàm lượng Hg ở trong cơ là khá thấp (0,005 g/g
w.w), trong khi Onsanit & ctv. (2012) và Chen &
ctv. (2018) lại có trình bày cao hơn (0,03 và 0,018
g/g w.w) so với nghiên cứu này. Cùng một loài
cá nhưng ở các địa điểm khác nhau thì sự tích
lũy của kim loại trong cơ thể là khác nhau, vì sự
tích lũy này chịu ảnh hưởng bởi các yếu sinh học
So với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia đối với
giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm
của Bộ Y tế (MoH, 2011), mặc dù giá trị trung
bình của tất cả các mẫu được xét nghiệm đều
dưới ngưỡng cho phép, nhưng vẫn có một số mẫu
vượt qua quy chuẩn (Cd và Hg ở trong gan, Pb ở
trong cơ), do đó để xác định mức độ an toàn cho
người tiêu thụ thì cần phải xem xét đến lượng
tiêu thụ hàng ngày đối với loài cá đó.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
52
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Bảng 3. Giá trị ước tính lượng tiêu thụ hàng ngày (EDI), chỉ số nguy hại
(THQ) và tổng chỉ số nguy hại (HI) của các kim loại đối với việc tiêu thụ cá
Dìa tro
Cd
Nam 0,012 0,019 0,103 0,190 1,043 0,062
Nữ 0,013 0,022 0,118 0,218 1,199 0,071
Nam 0,012 0,005 0,003 0,001 0,002 0,206 0,228
Nữ 0,013 0,006 0,003 0,001 0,002 0,237 0,262
Pb
Cu
Zn
Fe
Hg
HI
EDI
THQ
3.2. Đánh giá rủi ro sức khỏe đối với người tiêu xuyên, qua đó phát hiện được bất kỳ những thay
thụ cá
đổi có thể trở thành mối nguy hiểm cho người
tiêu thụ. Hơn nữa, cần mở rộng việc đánh giá
Cơ cá là phần chính trong việc tiêu thụ, do đó
hàm lượng kim loại nặng trong cơ được xem xét
để đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của
người tiêu thụ. Giá trị EDI, THQ và HI đối với
việc tiêu thụ cá Dìa tro ở nam giới và nữ giới tại
trên nhiều đối tượng, nhiều kim loại, phạm vi
lấy mẫu để đưa ra được những dự báo chính xác
nhất.
4. Kết Luận
Nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu cơ bản sự tích
lũy của các kim loại nặng trong gan, mang và cơ
của cá Dìa tro ở ven biển Quảng Bình và đánh
giá các rủi ro sức khỏe tiềm ẩn liên quan đến việc
tiêu thụ loài cá này cho nam và nữ giới. Tất cả
các mẫu kiểm tra đều có hàm lượng kim loại nằm
dưới ngưỡng của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực
phẩm của Bộ Y tế. Đồng thời giá trị EDI của các
kim loại cũng không vượt quá ngưỡng PTDI. Chỉ
số THQ và HI cho thấy không có rủi ro tiềm ẩn
nào đến sức khỏe con người khi tiêu thụ loài cá
này. Qua đây, nhóm tác giả cũng đề nghị cần theo
dõi liên tục các kim loại nặng trong nhiều loài cá
khác nhau, từ nhiều vùng, để đánh giá chính xác
các rủi ro tiềm ẩn từ việc tiêu thụ với các nguồn
kim loại này.
Giá trị EDI cao nhất được tìm thấy đối với Fe
ở nữ giới (1,199 /g/ngày), trong khi giá trị thấp
nhất được phát hiện đối với Cd ở nam giới (0,012
/g/ngày). Giá trị THQ ở nam và nữ đều theo
thứ tự giảm dần như sau: Hg > Cd > Pb > Cu
> Fe > Zn. Trong đó các giá trị THQ ở nữ giới
đều cao hơn so với nam giới.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp
Quốc, tổ chức Y tế Thế giới (FAO/WHO, 1982),
và Bộ Y tế Việt Nam (MoH, 2011) đã thiết lập
lượng ăn vào hàng ngày có thể chấp nhận được
tạm thời (Provisional Tolerable Daily Intake -
PTDI) đối với Cd, Pb, Cu, Zn, Fe và Hg lần
lượt là 1,00; 3,571; 500; 300-1000; 800 và 0,714
g/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Trong báo cáo
này, tất cả các giá trị EDI của kim loại ở người
tiêu thụ nam và nữ giới đều nằm dưới ngưỡng
PTDI. Thêm vào đó, các giá trị THQ của từng
kim loại cũng như giá trị HI của tất cả các kim
loại đều nhỏ hơn 1, điều này cho thấy không có
bất kỳ rủi ro nào ảnh hưởng đến sức khỏe của
người tiêu thụ loài cá này tại ven biển Quảng
Bình. Trước đó, Vo & ctv. (2019) và Vo & Huynh
(2019) cũng đã có những đánh giá liên quan đến
rủi ro tiềm ẩn khi tiêu thụ các loài cá Đối mục,
cá Móm gai dài và cá Đục bạc ở vùng ven biển
Quảng Bình, nhóm tác giả cũng cho thấy giá trị
EDI và THQ đều ở dưới ngưỡng an toàn.
Lời Cảm Ơn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ
Wl odzimierz Wojta´s, Tiến sĩ Tomasz L aciak ở
Viện Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Cra-
cow, Ba Lan đã hỗ trợ trong việc phân tích hàm
lượng các kim loại.
Tài Liệu Tham Khảo (References)
Akcil, A. C. E., Erust, C., Ozdemiroglu, S., Fonti, V.,
& Beolchini, F. (2015). A review of approaches and
techniques used in aquatic contaminated sediments:
metal removal and stabilization by chemical and
biotechnological processes. Journal of Cleaner Pro-
duction 86, 24-36.
Mặc dù chỉ số THQ cho thấy không có bất kỳ
rủi ro nào nhưng nó mới chỉ thực hiện trên 6 kim
loại, và trong khoảng thời gian ngắn. Do đó việc
đánh giá, theo dõi mức độ ô nhiễm kim loại trong
cá phải được thực hiện thận trọng và thường
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
53
Ali, H., & Khan, E. (2018). Bioaccumulation of non-
essential hazardous heavy metals and metalloids in
freshwater fish. Risk to human health. Environmental
Chemistry Letters 16(3), 903-917.
MARD (Ministry of Agriculture and Rural Develop-
ment). (2015). Summary report on aquaculture devel-
opment planning of central provinces to 2020 and ori-
entation to 2030. Ha Noi, Vietnam.
Bien, V. Q., & Vo, V. P. (2017). A preliminary study
on species composition fishes of fishesin coastal waters
of Ha Tinh province. In Le, X. C. (Ed.). Proceedings
of the 7th National Scientific Conference on Ecology
and Biological Resources (883-891). Ha Noi, Vietnam:
Publishing House for Science & Technology.
MoH (Ministry of Health of Vietnam). (2011). National
technical regulation on the safety limits of heavy met-
als contaminants in food. QCVN 8-2:2011/BYT. Ha
Noi, Vietnam.
Naser, H. A. (2013). Assessment and management of
heavy metal pollution in the marine environment of
the Arabian Gulf: a review. Marine Pollution Bulletin
72(1), 6-13.
Bramandito, A., Subhan, B., Prartono, T., Anggraini,
N. P., Januar, H. I., & Madduppa H. H. (2018). Ge-
netic diversity and population structure of Siganus
fuscescens across urban reefs of Seribu Islands, North-
ern of Jakarta, Indonesia. Biodiversitas 19, 1993-2002.
Nguyen, M. T. (2016). Determining and evaluating mag-
anese and zinc content in oysters Crassostrea rivularis
(Gould, 1861) in Gianh river, Ba Don town, Quang
Binh. The DUEd Journal of Science and Education
20(3), 54-60.
Chen, S., Chen, Z., Wang, P., Huang, R., Huo, W.,
Huang, W., & Peng J. (2018). Health risk assessment
for local residents from the South China Sea based
on mercury concentrations in marine fish. Bulletin of
Environmental Contamination and Toxicology 101(3),
398-402.
Nguyen, M. T. (2017). Determination the manganese and
zinc content in Red tilapia at Bac Nghia ward, Dong
Hoi city, Quang Binh province. Scientific Journal of
Hanoi Metropolitan University 3(39), 42-45.
Delgado-Alvarez, C. G., Frías-Espericueta, M. G., Ruelas-
Nguyen, V. K., Tran, D. V., & Le H. Y. N. (2014). Heavy
metal content (Hg, Cd, Pb, Cr) in bivalve shellfish in
some estuaries in the central region, Vietnam. Vietnam
Journal of Marine Science and Technology 4, 385-392.
Inzunza, J., Becerra-Álvarez, M. J., Osuna-Martínez,
C. C., Aguilar-Juárez, M., & Voltolina, D. (2017). To-
tal mercury in muscles and liver of Mugil spp. from
three coastal lagoons of NW Mexico: concentrations
and risk assessment. Environmental Monitoring and
Assessment 189(7), 312.
Nguyen, X. H., Nguyen, T. N., & Ta., P. D. (2017). Diver-
sity of fish species in the coastal area of Gianh estuary,
Quang Binh province. In Le, X.C. (Ed). Proceedings
of the 7th National Scientific Conference on Ecology
and Biological Resources (206-213). Ha Noi, Vietnam:
Publishing House for Science & Technology.
El-Moselhy, K. M., Othman, A. I., Abd El-Azem, H.,
& El-Metwally, M. E. A. (2014). Bioaccumulation of
heavy metals in some tissues of fish in the Red Sea,
Egypt. Egyptian Journal of Basic and Applied Sci-
ences 1(2), 97-105.
Ojamaa, P. (2018). Research for PECH Com-
mittee
-
Fisheries in Vietnam. Policy De-
FAO/WHO (Food and Agriculture Organization/World
Health Organization). (1982). Evaluation of certain
food additives and contaminants. Twenty-sixth Report
of the Joint FAO/WHO Expert Committee on Food
Additives. Geneva, Switzerland: World Health Organi-
zation.
partment for Structural and Cohesion Poli-
cies Directorate-General for Internal Policies
PE 629.175. Retrieved May 31, 2020, from
Onsanit, S., Chen, M., Ke, C., & Wang, W. X. (2012).
Mercury and stable isotope signatures in marine caged
fish and fish feeds. Journal Hazard Materials 203/204,
13-21.
Froese, R., & Pauly, D. (2019). Mottled spinefoot Siganus
fuscescens (Houttuyn, 1782). Retrieved May 31, 2020,
Pan, K., Chan, H., Tam, Y. K., & Wang W. X. (2014).
Low mercury levels in marine fish from estuarine and
coastal environments in southern China. Environmen-
tal Pollution 185, 250-257.
Jiang, D., Hu, Z., Liu, F., Zhang, R., Duo, B., Fu, J., &
Li, M. (2014). Heavy metals levels in fish from aquacul-
ture farms and risk assessment in Lhasa, Tibetan Au-
tonomous Region of China. Ecotoxicology 23(4), 577-
583.
Putri, A. K., Barokah, G. R., & Andarwulan N. (2017).
Human health risk asessment of heavy metals bioaccu-
mulation in fish and mussels from Jakarta bay. Squalen
Bulletin of Marine and Fisheries Postharvest and
Biotechnology 12(2), 75-83.
Kumar, B., Sajwan, K. S., & Mukherjee, D. P. (2012).
Distribution of heavy metals invaluable coastal fishes
from the North East Coast of India. Turkish Journal
of Fisheries and Aquatic Sciences 12, 81-88.
Qadir, A., & Malik, R. N. (2011). Heavy metals in eight
edible fish species from two polluted tributaries (Aik
and Palkhu) of the River Chenab, Pakistan. Biological
Trace Element Research 143, 1524-1540.
Liu, J. L., Xu, X. R., Ding, Z. H., Peng, J. X., Jin, M. H.,
Wang, Y. S., Hong, Y. G., & Yue W. Z. (2015). Heavy
metals in wild marine fish from South China Sea: lev-
els, tissue-and species-specific accumulation and po-
tential risk to humans. Ecotoxicology 24(7-8), 1583-
1592.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
54
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
QBPPC (Quang Binh Provincial People’s Committee).
(2019). Socio-economic situation in 2019. Report No.
267/BC-UBND dated November 28, 2019. Quang
Binh, Vietnam.
USEPA
tection
ing levels (RSLs)
(United
Agency).
States
(2019).
Environmental
Pro-
screen-
Regional
-
Generic Tables. Wash-
ington, DC. Retrieved May 31, 2020, from
Rahman, M. S., Saha, N., Molla, A. H., & Al-Reza, S.
M. (2014). Assessment of anthropogenic influence on
heavy metals contamination in the aquatic ecosystem
components: water, sediment, and fish. Soil and Sedi-
ment Contamination: An International Journal 23(4),
353-373.
Vo, V. T, Huynh, N. T., & Le, T. T. P. (2019). Determi-
nation of heavy metals levels (Fe, Cd, Pb, Zn and Cu)
in Mugil cephalus from Quang Binh, Vietnam. Journal
of Biology 41(2se1&2se2), 451-459.
Vo, V. T., & Huynh, N. T. (2019). Esyimination of Target
hazard quotient (THQ) for heavy metal by consump-
tion of some fish species in Quang Binh. Quang Binh
University Journal of Science and Technology 19(3),
22-30.
Solgi, E., & Beigzadeh-Shahraki, F. (2019). Accumula-
tion and human health risk of heavy metals in Cul-
tured Rainbow Trout (Oncorhynchus mykiss) form dif-
ferent fish farms of Eight Cities of Chaharmahal and
Bakhtiari province, Iran. Thalassas: An International
Journal of Marine Sciences 35(1), 305-317.
Zhang, W., & Wang, W. X. (2012). Large-scale spatial
and interspecies differences in trace elements and sta-
ble isotopes in marine wild fish from Chinese waters.
Journal of Hazardous Materials 215/216, 65-74.
Tran, Q. C., Le, V. B., Nguyen, A. T., Vo, V. T., Nguyen,
M. Q., Yang, S. H., & Tuyen, V. D. (2019). Associated
factors of hypertension in women and men in Vietnam:
A cross-sectional study. International Journal of En-
vironmental Research and Public Health 16(23), 4714-
4728.
Zhao, S., Feng, C., Quan, W., Chen, X., Niu, J., & Shen,
Z. (2012). Role of living environments in the accumula-
tion characteristics of heavy metals in fishes and crabs
in the Yangtze River Estuary, China. Marine Pollution
Bulletin 64, 1163-1171.
UNEP (United Nations Environment Programme).
(1991). Sampling of selected marine organisms and
sample preparation for the analysis of chlorinated hy-
drocarbons. Reference Methods for Marine Pollution
Studies. 12, Rev. 2. UNEP, Nairobi.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_ham_luong_kim_loai_nang_va_rui_ro_suc_khoe_cho_nguo.pdf

