Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình

46  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Assessment of heavy metals content and consumer health risk to Siganus fuscescens  
(Houttuyn, 1782) from Quang Binh province  
Thiep V. Vo1,2∗, Yen T. Tran1, & Anh V. Hoang1  
1Faculty of Agriculture, Forestry, and Fisheries, Quang Binh University, Quang Binh, Vietnam  
2Institute Biology, Pedagogical University of Cracow, Kraków, Poland  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
Research Paper  
Siganus fuscescens Houttuyn, 1782 is one of the common fish species  
in Quang Binh province and consumers are favored by its high nu-  
Received: June 02, 2020  
Revised: July 30, 2020  
Accepted: September 28, 2020  
tritional value. However, the consumption of Siganus fuscescens may  
pose potential risks to human health since they can accumulate signif-  
icant amounts of heavy metals in their tissues. From July to October  
2019, a total of 50 individuals of Siganus fuscescens were randomly  
collected through fishermen at local markets in Quang Binh province.  
Liver, gills, and muscles were dissected and analyzed for cadmium,  
lead, copper, zinc, and iron contents by the flame atomic absorption  
spectrometer, and the cold vapor atomic absorption spectrometer for  
mercury content. The metal content in all tested samples was lower  
than the threshold limit value by the Vietnamese Ministry of Health  
(MoH). The risk to human health by the intake of metal contaminated  
Siganus fuscescens was evaluated by estimated daily intake (EDI), tar-  
get hazard quotient (THQ), and hazard index (HI). All of the EDI  
values were below the provisional tolerable daily intake (PTDI) set by  
the MoH, and all of THQ and HI values for male and female consumers  
did not exceed 1, indicating that there was no potential human health  
risk in consuming Siganus fuscescens from coastal areas of Quang  
Binh province.  
Keywords  
Estimated daily intake (EDI)  
Heavy metal  
Siganus fuscescens  
Target hazard quotients (THQ)  
∗Corresponding author  
Vo Van Thiep  
Email: vovanthiep[email protected]  
Cited as: Vo, T. V., Tran, Y. T., & Hoang, A. V. (2020). Assessment of heavy metals content  
and consumer health risk to Siganus fuscescens (Houttuyn, 1782) from Quang Binh province. The  
Journal of Agriculture and Development 19(5), 46-54.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
47  
Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro  
(Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình  
Võ Văn Thiệp1,2∗, Trần Thị Yên1 & Hoàng Anh Vũ1  
1Khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường Đại Học Quảng Bình, Quảng Bình  
2Viện Sinh Học, Trường Đại Học Sư Phạm Cracow, Kraków, Ba Lan  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Bài báo khoa học  
TÓM TẮT  
Cá Dìa tro là một trong những loài cá phổ biến ở ven biển tỉnh  
Quảng Bình và được người dân ưu chuộng vì giá trị dinh dưỡng  
cao. Tuy nhiên, việc tiêu thụ chúng có thể gây ra những rủi ro tiềm  
ẩn cho sức khỏe vì chúng có thể tích lũy đáng kể các kim loại nặng  
trong các mô. Từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2019, tổng cộng 50 cá  
thể cá Dìa tro đã được thu thập ngẫu nhiên thông qua các ngư dân  
và tại các chợ cá địa phương ở tỉnh Quảng Bình. Gan, mang và cơ  
đã được mổ xẻ và phân tích hàm lượng cadimi, chì, đồng, kẽm và  
sắt bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và  
phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử hóa hơi lạnh áp dụng  
cho xác định hàm lượng thủy ngân, tại Viện Sinh học, trường Đại  
học Sư phạm Kracow, Ba Lan. Hàm lượng kim loại ở trong các mẫu  
nghiên cứu đều nhỏ hơn giới hạn quy định của Bộ Y tế Việt Nam.  
Nguy cơ rủi ro bị nhiễm các kim loại nặng đối với người tiêu thụ  
cá Dìa tro đã được đánh giá bằng ước tính lượng kim loại tiêu thụ  
hàng ngày (EDI), chỉ số nguy hại (THQ) và chỉ số nguy hiểm (HI).  
Tất cả các giá trị EDI đều dưới ngưỡng lượng ăn vào hàng ngày có  
thể chấp nhận được (PTDI) quy định bởi Bộ Y tế, đồng thời tất cả  
các giá trị THQ và HI ở nam và nữ giới đều không vượt quá 1. Kết  
quả cho thấy không có nguy cơ rủi ro đến sức khỏe khi tiêu thụ cá  
Dìa tro tại ven biển tỉnh Quảng Bình.  
Ngày nhận: 02/06/2020  
Ngày chỉnh sửa: 30/07/2020  
Ngày chấp nhận: 28/09/2020  
Từ khóa  
Cá Dìa tro  
Kim loại nặng  
Thương số nguy hại  
Ước tính lượng tiêu thụ hàng ngày  
∗Tác giả liên hệ  
Võ Văn Thiệp  
Email: vovanthiep[email protected]  
1. Đặt Vấn Đề  
thái dưới nước do độc tính, cùng sự tồn tại lâu  
dài, đồng thời chúng có xu hướng tích tụ và phóng  
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày đại sinh học trong các chuỗi thức ăn (Kumar &  
càng phát triển, cùng với việc gia tăng dân số dẫn ctv., 2012; Rahman & ctv., 2014).  
đến vấn đề ô nhiễm ngày càng tăng do lượng lớn  
Ở môi trường dưới nước, cá thường có vị trí cao  
chất thải thải ra môi trường (Naser, 2013). Một  
trong các chuỗi thức ăn nên chúng có xu hướng  
ví dụ điển hình, trong năm 2018, chỉ tính riêng  
tích lũy lớn các chất ô nhiễm (Jiang & ctv., 2014).  
lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn  
Do đó, bên cạnh cung cấp các chất dinh dưỡng  
tỉnh Quảng Bình khoảng 466 tấn/ngày, trong đó  
quan trọng thì cá cũng là một mối nguy cơ tiềm  
tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt bình quân  
ẩn mang các kim loại nặng vào cơ thể người tiêu  
chung cả tỉnh là 77.4% (QBPPC, 2019). Theo  
thụ. Chính vì vậy, không quá ngạc nhiên khi trên  
Akcil & ctv. (2015), các chất thải từ hoạt động  
thế giới có nhiều công trình tập trung đánh giá  
nhân tạo của con người thường chứa một lượng  
hàm lượng kim loại nặng và ước tính rủi ro đáng  
lớn các kim loại nặng. Một khi phát thải ra môi  
có khi tiêu thụ cá (Delgado-Alvarez & ctv., 2017;  
trường, chúng theo các dòng chảy đổ vào sông và  
Ali & Khan, 2018; Solgi & Beigzadeh-Shahraki;  
biển, đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ sinh  
2019).  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
48  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, -4oC. Tất cả các quy trình lấy mẫu được thực  
1782) là một trong những loài cá biển có thịt hiện theo các hướng dẫn được Quốc tế công nhận  
thơm ngon, giàu dinh dưỡng và hàm lượng Omega (UNEP, 1991).  
3 cao, nên được người dân ưu chuộng và tiêu  
thụ nhiều. Trên thế giới, chúng phân bố phần  
2.2. Xác định hàm lượng kim loại  
lớn ở Tây Thái Bình Dương, như miền Nam  
Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia,  
Sigapore, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Úc...  
(Froese & Pauly, 2019). Tại Việt Nam, chúng  
được ghi nhận phổ biến ở các vùng nước nông, ven  
biển, cửa sông của các tỉnh Miền trung (MARD,  
2015; Bien & Vo, 2017; Nguyen & ctv., 2017).  
Để xác định nồng độ của Cd, Pb, Cu, Zn và  
Fe, các mẫu sau khi được rã đông, cân mỗi mẫu  
xấp xỉ 2g trọng lượng ướt (cân có độ chính xác  
đến 0,0001g, loại cân Metler AE240), rồi đem  
sấy khô ở nhiệt độ 60oC cho đến khi đạt trọng  
lượng khô không đổi (với máy sấy SUP-100W,  
WAMED). Tiếp đến các mẫu đã sấy khô được  
khoáng hóa nóng với axit nitric (65%, Baker An-  
alyzed, JT Baker, USA) trong hệ thống khoáng  
hóa Velp Scientifica DK20. Các dung dịch khoáng  
hóa được pha loãng tới 10 mL với nước siêu tinh  
khiết (18,2 MΩ cm at 25oC, Direct-Q 3, Merck-  
Millipore, Germany) và được phân tích bằng máy  
quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (loại máy  
AAnalyst 200, PerkinElmer, USA). Các kết quả  
ban đầu thu được hiển thị với đơn vị g/g trọng  
lượng khô (d.w) được tính toán và chuyển sang  
trọng lượng ướt (w.w) dựa trên phần trăm độ ẩm  
(25%).  
Xét thấy các số liệu còn hạn chế tại Việt Nam,  
các tác giả phần lớn tập trung vào lớp hai mảnh  
vỏ (Nguyen & ctv., 2014; Nguyen, 2016), một số  
loài cá nuôi (Nguyen, 2017), trong khi đó chưa  
tìm thấy công bố nào liên quan đến hàm lượng  
kim loại nặng trong cá Dìa tro và đánh giá rủi  
ro tiềm ẩn khi tiêu thụ loài này. Do đó, mục đích  
của nghiên cứu này là đánh giá hàm lượng một số  
kim loại nặng (cadimi – Cd, chì – Pb, đồng – Cu,  
kẽm – Zn, sắt – Fe, thủy ngân – Hg) trong cá Dìa  
tro từ vùng ven biển tỉnh Quảng Bình; đồng thời  
ước tính các nguy cơ tiềm ẩn đến sức khỏe con  
người thông qua tiêu thụ loài cá này. Nghiên cứu  
cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng  
tích lũy kim loại nặng ở cá Dìa tro, tạo cơ sở cho  
các cơ quan quản lý thực hiện giám sát ô nhiễm  
môi trường và thực hiện các biện pháp hiệu quả  
để giảm rủi ro sức khỏe tiềm ẩn cho người tiêu  
thụ.  
Hàm lượng Hg được đo bằng máy quang phổ  
hấp thụ nguyên tử hơi lạnh (loại máy MA-2, NIC,  
Japan) trong khoảng 100 mg mẫu tươi, kết quả  
cuối cùng được trình bày bằng g/g w.w.  
Tất cả các phân tích đều được lặp lại hai lần,  
giá trị trung bình của hai lần được xem là kết quả  
cuối cùng. Nếu độ lệch chuẩn tương đối (RSD)  
giữa các lần lặp lại cao hơn 15%, thì phân tích  
được kiểm tra lại. Cứ mười mẫu, các giải pháp  
kiểm soát chất lượng và tăng đột biến với nồng  
độ kim loại được kiểm tra lại một lần với mẫu  
chuẩn. Tất cả các độ thu hồi (Recovery) dao động  
từ 90 đến 110% cho mỗi kim loại.  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
2.1. Thu mẫu  
Các mẫu cá Dìa tro được thu thập ngẫu nhiên  
trực tiếp từ ngư dân và các chợ cá tại 5 địa điểm  
trên toàn tỉnh Quảng Bình (S1: xã Cảnh Dương,  
huyện Quảng Trạch; S2: Phường Quảng Phúc,  
Thị xã Ba Đồn; S3: xã Đức Trạch và S4: xã Nhân  
Trạch, huyện Bố Trạch; và S5: cảng cá Nhật Lệ,  
thành phố Đồng Hới) từ tháng 7 đến tháng 10  
năm 2019 (Hình 1), các số liệu chi tiết về mẫu  
cá được trình bày ở Bảng 1. Gan, mang, và cơ ở  
phần lưng đã được thu thập, đặt trong túi nilon  
có dán nhãn và được bảo quản ở nhiệt độ -18  
đến -22oC tại phòng thực hành trường Đại học  
Quảng Bình, sau đó các mẫu được chuyển đến  
phòng phân tích kim loại, Viện Sinh học, trường  
Đại học Sư phạm Kracow, Ba Lan. Trong quá  
trình vận chuyển bằng đường hàng không, các  
mẫu được bảo quản trong thùng đá ở nhiệt độ  
2.3. Đánh giá rủi ro sức khỏe  
2.3.1. Ước tính lượng kim loại tiêu thụ hàng ngày  
(Estimated daily intake - EDI)  
EDI của mỗi kim loại nặng tính theo công thức  
sau:  
CM x CONS  
EDI =  
BW  
Trong đó: EDI là lượng tiêu thụ kim loại ước  
tính hàng ngày (g/ngày); CM là hàm lượng kim  
loại trong cơ cá ( g/g w.w); CONS là tỉ lệ tiêu  
thụ cá hàng này, theo Ojamaa (2018) lượng tiêu  
thụ cá trung bình ở khu vực Miền trung là 45,21  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
49  
Bảng 1. Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, nhỏ nhất và lớn nhất của cá Dìa tro tại Quảng Bình  
Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất  
S1  
(n=10) Chiều dài (cm)  
S2 Trọng lượng (g)  
(n=10) Chiều dài (cm)  
S3 Trọng lượng (g)  
(n=10) Chiều dài (cm)  
S4 Trọng lượng (g)  
(n=10) Chiều dài (cm)  
S5 Trọng lượng (g)  
Trọng lượng (g)  
97,840  
19,822  
101,510  
20,217  
77,590  
18,686  
83,410  
20,113  
107,200  
20,624  
34,484  
2,325  
47,563  
3,044  
35,420  
2,267  
21,762  
1,354  
45,600  
16,238  
39,500  
16,248  
32,500  
15,800  
57,800  
18,419  
75,600  
18,700  
142,000  
22,808  
172,000  
24,728  
142,300  
22,827  
121,200  
22,477  
132,500  
23,465  
18,577  
1,488  
(n=10) Chiều dài (cm)  
Hình 1. Vị trí thu mẫu.  
g/ngày; BW là trọng lượng trung bình của người 0,3; 0,6 và 0,0003 g/g/ngày.  
trưởng thành (58,4 kg đối với nam và 50,8 kg đối  
với nữ (Tran & ctv., 2019).  
EDI  
den  
THQ =  
x 10−3  
2.3.2. Ước tính chỉ số nguy hại (Target hazard quo-  
tients - THQ)  
Tổng THQ (hay còn gọi là chỉ số nguy hiêm -  
HI) được tính bằng tổng của từng THQ kim loại  
riêng lẻ cho từng loài cá. Nếu HI < 1 có nghĩa  
là người tiêu thụ được coi là an toàn (USEPA,  
2019).  
THQ đã được sử dụng để ước tính nguy cơ  
không gây ung thư của các chất ô nhiễm tích lũy  
trong các mô của cá. Đó là tỉ lệ của EDI và tỉ  
lệ tham chiếu (reference dose (RfD)) được đặt ra  
bởi USEPA (2019). Theo đó, RfD của Cd, Pb,  
Cu, Zn, Fe và Hg lần lượt là 0,001; 0,004; 0,04;  
2.4. Phân tích thống kê  
Thử nghiệm “Shapiro – Wilk test” được dùng  
để kiểm tra sự phân bố của hàm lượng kim loại  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
   
50  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 2. Giá trị trung bình, trung vị, tối thiểu, tối đa và độ lệch chuẩn của  
kim loại trong cá Dìa tro ở tỉnh Quảng Bình  
Kim loại ( g/g w.w)  
Cu Zn Hg  
Cd  
Pb  
Fe  
Trung bình  
Trung vị  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
0,022 0,020 0,456 0,440 2,479 0,114  
0,018 0,011 0,370 0,407 2,317 0,071  
0,009 0,003 0,161 0,096 1,301 0,032  
0,067 0,087 0,923 0,912 5,071 0,555  
Gan  
Mang  
Cơ  
Độ lệch chuẩn 0,013 0,023 0,214 0,193 0,863 0,116  
Trung bình  
Trung vị  
0,017 0,015 0,251 0,298 2,204 0,033  
0,016 0,014 0,164 0,295 1,915 0,032  
0,007 0,002 0,008 0,132 0,998 0,018  
0,026 0,040 0,699 0,608 3,988 0,061  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Độ lệch chuẩn 0,006 0,011 0,189 0,103 0,890 0,010  
Trung bình  
Trung vị  
0,015 0,025 0,133 0,245 1,347 0,080  
0,014 0,010 0,095 0,227 1,027 0,079  
0,005 0,001 0,008 0,093 0,835 0,036  
0,026 0,338 0,401 0,483 3,408 0,143  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Độ lệch chuẩn 0,005 0,054 0,097 0,090 0,630 0,028  
trong các mẫu. Do các mẫu có sự phân bố không ở trong gan, mang và cơ lần lượt theo thứ tự  
chuẩn nên “Kruskal-Wallis test” được thực hiện để giảm dần như sau: Fe > Cu > Zn > Hg > Cd  
xác định khác biệt đáng kể sự tích lũy kim loại > Pb; Fe > Zn > Cu > Hg > Cd > Pb; Fe >  
trong cá mô cá. Tất cả các tính toán thống kê Zn > Cu > Hg > Pb > Cd. Kết quả phân tích  
được thực hiện với phần mềm thống kê Statistica cho thấy sự tích lũy các kim loại ở trong cơ là  
13.3 (StatSoft, Ba Lan). Kết quả thống kê có ý thấp nhất, trong khi ở gan và mang lại cao hơn.  
nghĩa khi giá trị p bằng hoặc nhỏ hơn 0,05.  
Với phép kiểm tra “Kruskal-Wallis ANOVA” và  
phép so sánh thứ hạng giá trị trung bình cho các  
kim loại giữa các cơ quan cho thấy có sự khác biệt  
đáng kể về nồng độ kim loại giữa chúng, được thể  
hiện rõ trong Hình 2. Sự tích lũy của các kim loại  
cao ở trong gan vì gan đóng vai trò quan trọng  
trong quá trình trao đổi chất (Zhao & ctv., 2012).  
Trong khi mang là nơi trao đổi trực tiếp của các  
ion kim loại ở trong nước với cơ thể của cá, do  
đó dấu vết kim loại ở trong mang thường cao hơn  
trong cơ (Qadir & Malik, 2011). Đây cũng là lí  
do mang cá thường được xem xét như là một tiêu  
chí để phản ánh chất lượng môi trường nước, nơi  
chúng sống (El-Moselhy & ctv., 2014).  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
3.1. Hàm lượng kim loại nặng trong cá  
Kết quả phép đo sinh trắc của cá Dìa tro (chiều  
dài và cân nặng) được thể hiện ở Bảng 1. Trung  
bình chiều và trọng lượng lớn nhất lần lượt là  
20,624 cm và 107,2 g thu được ở vùng S5, trong  
khi đó chiều dài và trọng lượng trung bình nhỏ  
nhất là 18,686 cm và 77,590 g thu được tại vùng  
S3. Kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy  
không có sự khác biệt đáng kể về chiều dài và  
trọng lượng của cá Dìa tro ở 5 vùng nghiên cứu.  
Mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng  
là tương quan thuận (r2 = 0,92) và theo phương  
trình sau:  
Kết quả của nghiên cứu này tương tự với báo  
cáo của Liu & ctv. (2015) tại bờ biển phía nam  
của Trung Quốc, đó là hàm lượng kim loại nặng  
có xu hướng tập trung cao ở gan, mang hơn là  
ở trong cơ. Tuy nhiên, Liu & ctv. (2015) đã cho  
thấy sự tích lũy Cd, Pb, Zn và Cu ở trong gan,  
mang và cơ cao hơn trong báo cáo này. Trước  
đó, tại vùng biển của Indonesia, Bramandito &  
ctv. (2018) đã trình bày nồng độ Cd (0,27 g/g  
w.w) và Cu (3,92 g/g w.w) ở trong cơ cá Dìa  
cao hơn tại vùng ven biển Quảng Bình. Trong  
L = 5, 7468 x W0,2758  
Trong đó: L - chiều dài (cm), W - trọng lượng  
(g). Giá trị trung bình, trung vị, nồng độ nhỏ  
nhất, lớn nhất và độ lệch chuẩn của các kim loại  
trong gan, mang và cơ của cá Dìa tro được tóm  
tắt trong Bảng 2. Theo đó, sự tích lũy kim loại  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
51  
Hình 2. Hàm lượng Cd, Pb, Cu, Zn, Fe và Hg ở trong gan, mang và cơ của cá Dìa tro. a, b, cCác ký tự  
giống nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, P < 0,05.  
báo cáo về hàm lượng kim loại nặng của 29 loài và phi sinh học bao gồm môi trường sống của cá,  
cá ven biển Trung Quốc, Zhang & Wang (2012) nhiệt độ nước, giá trị pH, nồng độ oxy hòa tan,  
đã cho thấy nồng độ của Pb (0,068 g/g w.w) và dạng hóa học của các kim loại trong nước, ngoài  
Fe (6,445 g/g w.w) ở trong cơ cá Dìa tro là cao ra các yếu tố như tuổi, giới tính, trọng lượng cơ  
hơn, trong khi nồng độ Cd (0,135 g/g w.w) và thể cũng ảnh hưởng đến sự tích lũy các kim loại  
Zn (0,273 g/g w.w) lại xấp xỉ, còn hàm lượng (Putri & ctv., 2017).  
Cu (0,02 g/g w.w) thì thấp hơn so với báo cáo  
này. Bên cạnh đó, Pan & ctv. (2014) đã trình bày  
hàm lượng Hg ở trong cơ là khá thấp (0,005 g/g  
w.w), trong khi Onsanit & ctv. (2012) và Chen &  
ctv. (2018) lại có trình bày cao hơn (0,03 và 0,018  
g/g w.w) so với nghiên cứu này. Cùng một loài  
cá nhưng ở các địa điểm khác nhau thì sự tích  
lũy của kim loại trong cơ thể là khác nhau, vì sự  
tích lũy này chịu ảnh hưởng bởi các yếu sinh học  
So với Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia đối với  
giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm  
của Bộ Y tế (MoH, 2011), mặc dù giá trị trung  
bình của tất cả các mẫu được xét nghiệm đều  
dưới ngưỡng cho phép, nhưng vẫn có một số mẫu  
vượt qua quy chuẩn (Cd và Hg ở trong gan, Pb ở  
trong cơ), do đó để xác định mức độ an toàn cho  
người tiêu thụ thì cần phải xem xét đến lượng  
tiêu thụ hàng ngày đối với loài cá đó.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
 
52  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 3. Giá trị ước tính lượng tiêu thụ hàng ngày (EDI), chỉ số nguy hại  
(THQ) và tổng chỉ số nguy hại (HI) của các kim loại đối với việc tiêu thụ cá  
Dìa tro  
Cd  
Nam 0,012 0,019 0,103 0,190 1,043 0,062  
Nữ 0,013 0,022 0,118 0,218 1,199 0,071  
Nam 0,012 0,005 0,003 0,001 0,002 0,206 0,228  
Nữ 0,013 0,006 0,003 0,001 0,002 0,237 0,262  
Pb  
Cu  
Zn  
Fe  
Hg  
HI  
EDI  
THQ  
3.2. Đánh giá rủi ro sức khỏe đối với người tiêu xuyên, qua đó phát hiện được bất kỳ những thay  
thụ cá  
đổi có thể trở thành mối nguy hiểm cho người  
tiêu thụ. Hơn nữa, cần mở rộng việc đánh giá  
Cơ cá là phần chính trong việc tiêu thụ, do đó  
hàm lượng kim loại nặng trong cơ được xem xét  
để đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của  
người tiêu thụ. Giá trị EDI, THQ và HI đối với  
việc tiêu thụ cá Dìa tro ở nam giới và nữ giới tại  
Quảng Bình được trình bày trong Bảng 3.  
trên nhiều đối tượng, nhiều kim loại, phạm vi  
lấy mẫu để đưa ra được những dự báo chính xác  
nhất.  
4. Kết Luận  
Nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu cơ bản sự tích  
lũy của các kim loại nặng trong gan, mang và cơ  
của cá Dìa tro ở ven biển Quảng Bình và đánh  
giá các rủi ro sức khỏe tiềm ẩn liên quan đến việc  
tiêu thụ loài cá này cho nam và nữ giới. Tất cả  
các mẫu kiểm tra đều có hàm lượng kim loại nằm  
dưới ngưỡng của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia  
đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực  
phẩm của Bộ Y tế. Đồng thời giá trị EDI của các  
kim loại cũng không vượt quá ngưỡng PTDI. Chỉ  
số THQ và HI cho thấy không có rủi ro tiềm ẩn  
nào đến sức khỏe con người khi tiêu thụ loài cá  
này. Qua đây, nhóm tác giả cũng đề nghị cần theo  
dõi liên tục các kim loại nặng trong nhiều loài cá  
khác nhau, từ nhiều vùng, để đánh giá chính xác  
các rủi ro tiềm ẩn từ việc tiêu thụ với các nguồn  
kim loại này.  
Giá trị EDI cao nhất được tìm thấy đối với Fe  
ở nữ giới (1,199 /g/ngày), trong khi giá trị thấp  
nhất được phát hiện đối với Cd ở nam giới (0,012  
/g/ngày). Giá trị THQ ở nam và nữ đều theo  
thứ tự giảm dần như sau: Hg > Cd > Pb > Cu  
> Fe > Zn. Trong đó các giá trị THQ ở nữ giới  
đều cao hơn so với nam giới.  
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp  
Quốc, tổ chức Y tế Thế giới (FAO/WHO, 1982),  
và Bộ Y tế Việt Nam (MoH, 2011) đã thiết lập  
lượng ăn vào hàng ngày có thể chấp nhận được  
tạm thời (Provisional Tolerable Daily Intake -  
PTDI) đối với Cd, Pb, Cu, Zn, Fe và Hg lần  
lượt là 1,00; 3,571; 500; 300-1000; 800 và 0,714  
g/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Trong báo cáo  
này, tất cả các giá trị EDI của kim loại ở người  
tiêu thụ nam và nữ giới đều nằm dưới ngưỡng  
PTDI. Thêm vào đó, các giá trị THQ của từng  
kim loại cũng như giá trị HI của tất cả các kim  
loại đều nhỏ hơn 1, điều này cho thấy không có  
bất kỳ rủi ro nào ảnh hưởng đến sức khỏe của  
người tiêu thụ loài cá này tại ven biển Quảng  
Bình. Trước đó, Vo & ctv. (2019) và Vo & Huynh  
(2019) cũng đã có những đánh giá liên quan đến  
rủi ro tiềm ẩn khi tiêu thụ các loài cá Đối mục,  
cá Móm gai dài và cá Đục bạc ở vùng ven biển  
Quảng Bình, nhóm tác giả cũng cho thấy giá trị  
EDI và THQ đều ở dưới ngưỡng an toàn.  
Lời Cảm Ơn  
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ  
Wl odzimierz Wojta´s, Tiến sĩ Tomasz L  aciak ở  
Viện Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Cra-  
cow, Ba Lan đã hỗ trợ trong việc phân tích hàm  
lượng các kim loại.  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
Akcil, A. C. E., Erust, C., Ozdemiroglu, S., Fonti, V.,  
& Beolchini, F. (2015). A review of approaches and  
techniques used in aquatic contaminated sediments:  
metal removal and stabilization by chemical and  
biotechnological processes. Journal of Cleaner Pro-  
duction 86, 24-36.  
Mặc dù chỉ số THQ cho thấy không có bất kỳ  
rủi ro nào nhưng nó mới chỉ thực hiện trên 6 kim  
loại, và trong khoảng thời gian ngắn. Do đó việc  
đánh giá, theo dõi mức độ ô nhiễm kim loại trong  
cá phải được thực hiện thận trọng và thường  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
   
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
53  
Ali, H., & Khan, E. (2018). Bioaccumulation of non-  
essential hazardous heavy metals and metalloids in  
freshwater fish. Risk to human health. Environmental  
Chemistry Letters 16(3), 903-917.  
MARD (Ministry of Agriculture and Rural Develop-  
ment). (2015). Summary report on aquaculture devel-  
opment planning of central provinces to 2020 and ori-  
entation to 2030. Ha Noi, Vietnam.  
Bien, V. Q., & Vo, V. P. (2017). A preliminary study  
on species composition fishes of fishesin coastal waters  
of Ha Tinh province. In Le, X. C. (Ed.). Proceedings  
of the 7th National Scientific Conference on Ecology  
and Biological Resources (883-891). Ha Noi, Vietnam:  
Publishing House for Science & Technology.  
MoH (Ministry of Health of Vietnam). (2011). National  
technical regulation on the safety limits of heavy met-  
als contaminants in food. QCVN 8-2:2011/BYT. Ha  
Noi, Vietnam.  
Naser, H. A. (2013). Assessment and management of  
heavy metal pollution in the marine environment of  
the Arabian Gulf: a review. Marine Pollution Bulletin  
72(1), 6-13.  
Bramandito, A., Subhan, B., Prartono, T., Anggraini,  
N. P., Januar, H. I., & Madduppa H. H. (2018). Ge-  
netic diversity and population structure of Siganus  
fuscescens across urban reefs of Seribu Islands, North-  
ern of Jakarta, Indonesia. Biodiversitas 19, 1993-2002.  
Nguyen, M. T. (2016). Determining and evaluating mag-  
anese and zinc content in oysters Crassostrea rivularis  
(Gould, 1861) in Gianh river, Ba Don town, Quang  
Binh. The DUEd Journal of Science and Education  
20(3), 54-60.  
Chen, S., Chen, Z., Wang, P., Huang, R., Huo, W.,  
Huang, W., & Peng J. (2018). Health risk assessment  
for local residents from the South China Sea based  
on mercury concentrations in marine fish. Bulletin of  
Environmental Contamination and Toxicology 101(3),  
398-402.  
Nguyen, M. T. (2017). Determination the manganese and  
zinc content in Red tilapia at Bac Nghia ward, Dong  
Hoi city, Quang Binh province. Scientific Journal of  
Hanoi Metropolitan University 3(39), 42-45.  
Delgado-Alvarez, C. G., Frías-Espericueta, M. G., Ruelas-  
Nguyen, V. K., Tran, D. V., & Le H. Y. N. (2014). Heavy  
metal content (Hg, Cd, Pb, Cr) in bivalve shellfish in  
some estuaries in the central region, Vietnam. Vietnam  
Journal of Marine Science and Technology 4, 385-392.  
Inzunza, J., Becerra-Álvarez, M. J., Osuna-Martínez,  
C. C., Aguilar-Juárez, M., & Voltolina, D. (2017). To-  
tal mercury in muscles and liver of Mugil spp. from  
three coastal lagoons of NW Mexico: concentrations  
and risk assessment. Environmental Monitoring and  
Assessment 189(7), 312.  
Nguyen, X. H., Nguyen, T. N., & Ta., P. D. (2017). Diver-  
sity of fish species in the coastal area of Gianh estuary,  
Quang Binh province. In Le, X.C. (Ed). Proceedings  
of the 7th National Scientific Conference on Ecology  
and Biological Resources (206-213). Ha Noi, Vietnam:  
Publishing House for Science & Technology.  
El-Moselhy, K. M., Othman, A. I., Abd El-Azem, H.,  
& El-Metwally, M. E. A. (2014). Bioaccumulation of  
heavy metals in some tissues of fish in the Red Sea,  
Egypt. Egyptian Journal of Basic and Applied Sci-  
ences 1(2), 97-105.  
Ojamaa, P. (2018). Research for PECH Com-  
mittee  
-
Fisheries in Vietnam. Policy De-  
FAO/WHO (Food and Agriculture Organization/World  
Health Organization). (1982). Evaluation of certain  
food additives and contaminants. Twenty-sixth Report  
of the Joint FAO/WHO Expert Committee on Food  
Additives. Geneva, Switzerland: World Health Organi-  
zation.  
partment for Structural and Cohesion Poli-  
cies Directorate-General for Internal Policies  
PE 629.175. Retrieved May 31, 2020, from  
Onsanit, S., Chen, M., Ke, C., & Wang, W. X. (2012).  
Mercury and stable isotope signatures in marine caged  
fish and fish feeds. Journal Hazard Materials 203/204,  
13-21.  
Froese, R., & Pauly, D. (2019). Mottled spinefoot Siganus  
fuscescens (Houttuyn, 1782). Retrieved May 31, 2020,  
Pan, K., Chan, H., Tam, Y. K., & Wang W. X. (2014).  
Low mercury levels in marine fish from estuarine and  
coastal environments in southern China. Environmen-  
tal Pollution 185, 250-257.  
Jiang, D., Hu, Z., Liu, F., Zhang, R., Duo, B., Fu, J., &  
Li, M. (2014). Heavy metals levels in fish from aquacul-  
ture farms and risk assessment in Lhasa, Tibetan Au-  
tonomous Region of China. Ecotoxicology 23(4), 577-  
583.  
Putri, A. K., Barokah, G. R., & Andarwulan N. (2017).  
Human health risk asessment of heavy metals bioaccu-  
mulation in fish and mussels from Jakarta bay. Squalen  
Bulletin of Marine and Fisheries Postharvest and  
Biotechnology 12(2), 75-83.  
Kumar, B., Sajwan, K. S., & Mukherjee, D. P. (2012).  
Distribution of heavy metals invaluable coastal fishes  
from the North East Coast of India. Turkish Journal  
of Fisheries and Aquatic Sciences 12, 81-88.  
Qadir, A., & Malik, R. N. (2011). Heavy metals in eight  
edible fish species from two polluted tributaries (Aik  
and Palkhu) of the River Chenab, Pakistan. Biological  
Trace Element Research 143, 1524-1540.  
Liu, J. L., Xu, X. R., Ding, Z. H., Peng, J. X., Jin, M. H.,  
Wang, Y. S., Hong, Y. G., & Yue W. Z. (2015). Heavy  
metals in wild marine fish from South China Sea: lev-  
els, tissue-and species-specific accumulation and po-  
tential risk to humans. Ecotoxicology 24(7-8), 1583-  
1592.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
54  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
QBPPC (Quang Binh Provincial People’s Committee).  
(2019). Socio-economic situation in 2019. Report No.  
267/BC-UBND dated November 28, 2019. Quang  
Binh, Vietnam.  
USEPA  
tection  
ing levels (RSLs)  
(United  
Agency).  
States  
(2019).  
Environmental  
Pro-  
screen-  
Regional  
-
Generic Tables. Wash-  
ington, DC. Retrieved May 31, 2020, from  
Rahman, M. S., Saha, N., Molla, A. H., & Al-Reza, S.  
M. (2014). Assessment of anthropogenic influence on  
heavy metals contamination in the aquatic ecosystem  
components: water, sediment, and fish. Soil and Sedi-  
ment Contamination: An International Journal 23(4),  
353-373.  
Vo, V. T, Huynh, N. T., & Le, T. T. P. (2019). Determi-  
nation of heavy metals levels (Fe, Cd, Pb, Zn and Cu)  
in Mugil cephalus from Quang Binh, Vietnam. Journal  
of Biology 41(2se1&2se2), 451-459.  
Vo, V. T., & Huynh, N. T. (2019). Esyimination of Target  
hazard quotient (THQ) for heavy metal by consump-  
tion of some fish species in Quang Binh. Quang Binh  
University Journal of Science and Technology 19(3),  
22-30.  
Solgi, E., & Beigzadeh-Shahraki, F. (2019). Accumula-  
tion and human health risk of heavy metals in Cul-  
tured Rainbow Trout (Oncorhynchus mykiss) form dif-  
ferent fish farms of Eight Cities of Chaharmahal and  
Bakhtiari province, Iran. Thalassas: An International  
Journal of Marine Sciences 35(1), 305-317.  
Zhang, W., & Wang, W. X. (2012). Large-scale spatial  
and interspecies differences in trace elements and sta-  
ble isotopes in marine wild fish from Chinese waters.  
Journal of Hazardous Materials 215/216, 65-74.  
Tran, Q. C., Le, V. B., Nguyen, A. T., Vo, V. T., Nguyen,  
M. Q., Yang, S. H., & Tuyen, V. D. (2019). Associated  
factors of hypertension in women and men in Vietnam:  
A cross-sectional study. International Journal of En-  
vironmental Research and Public Health 16(23), 4714-  
4728.  
Zhao, S., Feng, C., Quan, W., Chen, X., Niu, J., & Shen,  
Z. (2012). Role of living environments in the accumula-  
tion characteristics of heavy metals in fishes and crabs  
in the Yangtze River Estuary, China. Marine Pollution  
Bulletin 64, 1163-1171.  
UNEP (United Nations Environment Programme).  
(1991). Sampling of selected marine organisms and  
sample preparation for the analysis of chlorinated hy-  
drocarbons. Reference Methods for Marine Pollution  
Studies. 12, Rev. 2. UNEP, Nairobi.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 19(5)  
pdf 9 trang yennguyen 17600 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hàm lượng kim loại nặng và rủi ro sức khỏe cho người tiêu thụ cá Dìa tro (Siganus fuscescens Houttuyn, 1782) ở tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ham_luong_kim_loai_nang_va_rui_ro_suc_khoe_cho_nguo.pdf