Tình hình nhiễm giun sán ở cá thia đầu sọc (Dascyllus reticulatus Richardson, 1846) và cá thia ba đốm trắng (Dascyllus trimaculatus Ruppell, 1829) khu vực vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Nghiên cứu khoa học công nghệ  
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN SÁN Ở CÁ THIA ĐẦU SỌC (Dascyllus  
reticulatus Richardson, 1846) VÀ CÁ THIA BA ĐỐM TRẮNG  
(Dascyllus trimaculatus Ruppell, 1829) KHU VỰC  
VỊNH NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA  
VÕ THỊ HÀ (1), LÊ THỊ KIỀU OANH (1)  
,
NGUYỄN THỊ HẢI THANH (1), NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN (1)  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Giống Cá Thia đồng tiền Dascyllus (Cuvier, 1829) thuộc họ Cá Thia  
Pomacentridae, bao gồm 11 loài sinh sống ở vùng nhiệt đới giữa Ấn Độ Dương và  
Thái Bình Dương [1, 2, 3]. Ở Việt Nam, Cá Thia đồng tiền phân bố chủ yếu ở vùng  
biển Trung Bộ và nhiều nhất ở khu vực Khánh Hoà. Theo Võ Sĩ Tuấn và cộng sự  
(2005) [4] cá có kích thước nhỏ (1-10 cm), đặc biệt họ Cá Thia Pomacentridae và  
các loài Cá Thia đầu sọc Dascyllus reticulatus, Cá Thia ba đốm trắng D.  
trimaculatus chiếm ưu thế trong tổng độ phong phú của cá. Các loài cá này có mật  
độ tương đối cao tại tất cả các điểm giám sát. Nhờ đa dạng về màu sắc, hình dạng và  
khả năng thích nghi cao trong điều kiện nuôi nhân tạo nên ngày càng thu hút nhiều  
người nuôi làm cảnh, trưng bày ở các khu du lịch và giải trí. Để nâng cao tỷ lệ sống  
trong quá trình nuôi nhốt hay vận chuyển các loài cá này cần hiểu rõ triệu chứng,  
cách phòng bệnh cho chúng. Chính vì vậy việc nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán  
trên các loài cá này là cần thiết.  
Thông tin về tình trạng nhiễm các loài ký sinh trên Cá Thia đồng tiền còn hạn  
chế. Cho đến nay trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thành phần loài ký sinh  
trên giống Cá Thia đồng tiền Dascyllus. Đối với Cá Thia đầu sọc D. reticulatus chỉ  
có 4 loài sán lá Hurrolecitha nahaensis, Thulinia microrchis, Hysterolecitha  
nahaensis và Lecithocladium sp. ở vùng ven biển nước Úc [5, 6]. Cá Thia đồng tiền  
sọc D. aruanus ở Pháp đã được ghi nhận nhiễm sán lá đơn chủ giống Haliotrema  
[7]. Zhokhov và cộng sự (2017) [8] đã tìm thấy 13 loài ký sinh trên Cá Thia đầu sọc  
D. reticulatus được thu ở khu vực vịnh Nha Trang, Khánh Hòa.  
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phương pháp thu mẫu  
Mẫu cá được thu ngẫu nhiên ở khu vực vịnh Nha Trang, Khánh Hòa bằng  
phương pháp lặn, dùng vợt có đường kính 0,5 m, mắt lưới 10 mm. Thời gian thu  
mẫu: từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2018. Cá được vận chuyển sống về phòng thí  
nghiệm bằng thùng xốp có chứa nước kết hợp sục khí và phân tích mẫu trong ngày.  
2.2. Phương pháp phân tích mẫu  
Mẫu cá được đo chiều dài toàn thân (mm) và cân trọng lượng (g). Giải phẫu cá,  
lấy mẫu mang, dạ dày, ruột kiểm tra dưới kính soi nổi tìm ngoại và nội ký sinh trùng.  
Số lượng mẫu nghiên cứu, kích thước và khối lượng của hai loài cá nghiên cứu  
được trình bày ở bảng 1.  
24  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 1. Số lượng, kích thước và khối lượng các loài cá nghiên cứu  
TT  
Tên loài cá  
Số lượng (n) Chiều dài (cm) Khối lượng (g)  
Dascyllus reticulatus  
7,6  
22,6  
1
155  
120  
Cá Thia đầu sọc  
(5,0 - 9,8)  
(13 - 29)  
Dascyllus trimaculatus  
10,5  
30,9  
2
Cá Thia ba đốm trắng  
(6,0 - 13,5)  
(13 - 45)  
Nội và ngoại ký sinh trùng (KST) trên cá được thu theo phương pháp mô tả  
bởi Hà Ký & Bùi Quang Tề (2007) [9]. Các mẫu sán được để duỗi ra trong nước tự  
nhiên, định hình và bảo quản trong cồn 70%, mẫu giun tròn bảo quản trong formalin  
4%. Sán lá được nhuộm carmin, loại nước và gắn nhựa dính Canada; Giun tròn được  
làm trong bằng dung dịch glyxerin - axit lactic.  
Phân loại KST dựa vào các chỉ tiêu hình thái và cấu tạo theo tài liệu phân loại  
Yamguti (2007) [10], Justine và cộng sự (1958) [11] và Justine (2010) [12], Hà Ký  
và Bùi Quang Tề (2007) [9].  
2.3. Xử lý số liệu  
Tỷ lệ nhiễm KST được tính theo công thức:  
X
A = × 100  
N
Trong đó:  
A - tỷ lệ nhiễm KST (%)  
X - số cá thể cá bị nhiễm KST  
N - tổng số cá kiểm tra  
Cường độ nhiễm được đánh giá dựa trên tổng số KST trên số cá bị nhiễm:  
Tổng số KST  
Cường độ nhiễm =  
Số cá nhiễm  
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Thành phần loài ký sinh trùng  
Kết quả nghiên cứu hình thái đã ghi nhận trên loài Cá Thia đầu sọc và Cá Thia  
ba đốm trắng nhiễm 5 loài KST, cụ thể: 1 loài sán lá đơn chủ (Haliotrema sp.), 2  
loài sán lá song chủ (Hysterolecitha nahaensis và ấu trùng nang Bivesicula sp.), 2  
loài giun tròn (Hysterothylacium sp. và Contracaecum sp.). Trong số 5 loài ký sinh  
có 1 loài ngoại ký sinh (ký sinh trên mang: Haliotrema sp.), 4 loài nội ký sinh (2 loài  
ký sinh trong dạ dày Hysterolecitha nahaensis, ấu trùng nang Bivesicula sp., 2 loài  
ký sinh trong ruột (Hysterothylacium sp. và Contracaecum sp.). Vị trí phân loại,  
hình thái ngoài, vị trí và cường độ nhiễm các loài KST được trình bày ở hình 1, bảng  
2 và bảng 3.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
25  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Bảng 2. Vị trí phân loại các loài ký sinh trên Cá Thia đầu sọc D. reticulatus  
và Cá Thia ba đốm trắng D. trimaculatus  
Ngành  
Lớp  
Bộ  
Plagiorchiida Lecithasteridae  
Azygiida Bivesiculidae  
Họ  
Loài  
Hysterolecitha  
nahaensis  
Platyhelmi  
-nthes  
Digenea  
Bivesicula sp.  
Monogenea Dactylogyridea Ancyrocephalidae Haliotrema sp.  
Raphidascarididae Hysterothylacium sp.  
Nematoda Chromadorea Ascaridida  
Anisakidae  
Contracaecum sp.  
Cá Thia đầu sọc nhiễm 5 loài giun sán ký sinh gồm: Haliotrema sp.,  
Hysterolecitha nahaensis, ấu trùng nang Bivesicula sp., Hysterothylacium sp. và  
Contracaecum sp.. Ký sinh trên Cá Thia ba đốm trắng D. trimaculatus chỉ phát hiện  
có 2 loài: Haliotrema sp. và Hysterolecitha nahaensis.  
Lo (1999) [7] đã tìm thấy loài Haliotrema sp. ký sinh trên Cá Thia đồng tiền  
sọc D. aruanus ở Pháp. Theo Barker và cộng sự (2014) [3], Bray và cộng sự (1993)  
[5] ký sinh trên Cá Thia đầu sọc ở vùng ven biển nước Úc có 4 loài sán lá song chủ  
Hurrolecitha nahaensis, Thulinia microrchis, Hysterolecitha nahaensis,  
Lecithocladium sp.. King [13] đã ghi nhận Hysterolecitha nahaensis ký sinh trên Cá  
Thia đầu sọc và và Cá Thia ba đốm trắng ở khu vực miền Nam Việt Nam. Zhokhov  
và cộng sự [8] cũng đã phát hiện 13 loài ký sinh trên Cá Thia đầu sọc ở khu vực  
vịnh Nha Trang, Khánh Hòa. Trong số đó có 1 loài giáp xác, 3 loài sán lá đơn chủ, 1  
loài sán dây, 5 loài sán lá song chủ và 3 loài giun tròn. Đa số các loài ký sinh trên Cá  
Thia đầu sọc ở vịnh Nha Trang ở giai đoạn ấu trùng (9 loài: Copepoda sp., Scolex  
polymorphus, Bivesicula sp., Stephanostomum sp., Metacercariae gen. sp. 1,  
Metacercariae gen. sp. 2, Hysterothylacium sp., Contracaecum sp., Spirocamallanus  
sp.), chỉ có 4 loài ký sinh dạng trưởng thành (Ancyrocephalinae gen. sp. 1, 2, 3,  
Hysterolecitha nahaensis). Ấu trùng sán lá Bivesicula sp. trong nghiên cứu chỉ được  
tìm thấy trên Cá Thia đầu sọc. Theo nghiên cứu Cable và Nahhas (1962) [14];  
Pearson (1968) [15]; Mani (1989) [16] cá trực tiếp nuốt ấu trùng sán lá giống  
Bivesicula. Một số loài cá có kích thước lớn, ấu trùng giống Bivesicula sẽ phát triển  
đến giai đoạn trưởng thành, một số loài cá có kích thước nhỏ (Dascyllus) thì ấu  
trùng này vẫn ở giai đoạn metacercaria.  
Nghiên cứu hiện tại đã phát hiện 5 loài giun sán ký sinh, trong đó loài sán lá  
song chủ Hysterolecitha nahaensis được tìm thấy trên cả hai đối tượng vật chủ Cá  
Thia đầu sọc và cá Thia ba đốm trắng, tương tự với kết quả nghiên cứu của King  
(1964), Zhokhov và cộng sự (2017). Các loài Bivesicula sp., Hysterothylacium sp.  
và Contracaecum sp. cũng đã được phát hiện trên Cá Thia đầu sọc ở khu vực vịnh  
Nha Trang [8]. Riêng loài sán lá đơn chủ Haliotrema sp. trong nghiên cứu hiện tại  
có cấu tạo hoàn toàn khác so với 3 loài sán lá đơn chủ (Ancyrocephalinae gen. sp. 1,  
2, 3) được Zhokhov và cộng sự (2017) mô tả trên cùng vật chủ.  
26  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Như vậy, có 4 loài sán lá đơn chủ đã được tìm thấy trên Cá Thia đầu sọc. Tại  
các thời điểm nghiên cứu khác nhau thành phần loài sán lá đơn chủ trên loài cá này  
không giống nhau.  
Hình 1. Các loài KST trên Cá Thia đầu sọc D. reticulatus và Cá Thia ba đốm trắng  
D. trimaculatus vịnh Nha Trang, Khánh Hòa  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
27  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
3.2. Mức độ cảm nhiễm ký sinh  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm KST đối với 2  
loài cá được nghiên cứu không giống nhau. Tỷ lệ nhiễm cao nhất đối với loài  
Haliotrema sp. trên hai loài Cá Thia đầu sọc và Cá Thia ba đốm trắng lần lượt là  
49,7 và 70%, cường độ nhiễm 18,1 và 15 KST/cá nhiễm. Các loài còn lại có tỷ lệ và  
cường độ nhiễm tương đối thấp. Ấu trùng nang Bivesicula sp. ký sinh trong dạ dày  
Cá Thia đầu sọc có tỷ lệ nhiễm thấp nhất 0,6%. Cường độ nhiễm cao nhất là 18,1  
(KST/cá nhiễm) đối với loài Haliotrema sp. trên Cá Thia ba đốm trắng, thấp nhất là  
1,5 (KST/cá nhiễm) đối với loài Hysterothylacium sp. trên Cá Thia đầu sọc.  
Bảng 3. Vị trí, tỷ lệ và cường độ nhiễm KST trên Cá Thia đầu sọc D. reticulatus  
và Cá Thia ba đốm trắng D. trimaculatus  
Tỷ lệ nhiễm  
Vật chủ  
(Cường độ nhiễm  
Vị trí  
ký sinh  
Loài KST  
trung bình)  
D.  
D.  
D.  
D.  
reticulatus trimaculatus  
reticulatus trimaculatus  
49,7%  
(18,1)  
70%  
(15)  
Haliotrema sp.  
+
+
+
+
+
+
+
Mang  
Dạ dày  
Dạ dày  
Ruột  
29,6%  
(2,4)  
12,5%  
(2,1)  
Hysterolecitha  
nahaensis  
0,6%  
(2)  
Bivesicula sp.  
2,6%  
(1,5)  
Hysterothylacium sp.  
Contracaecum sp.  
31,6%  
(2,2)  
Ruột  
Tỷ lệ nhiễm Hysterolecitha nahaensis, Hysterothylacium sp. và Contracaecum  
sp. trên Cá Thia đầu sọc D. reticulatus trong nghiên cứu tương tự với kết quả nghiên  
cứu của Zhokhov và cộng sự (2017) [8]. Theo nghiên cứu của Lo và cộng sự (1998)  
[17] trên Cá Thia đồng tiền sọc D. aruanus ở đảo Moorea (Pháp) ghi nhận nhiễm loài  
sán lá đơn chủ giống Haliotrema với tỷ lệ nhiễm cao 83%. Ở khu vực Khánh Hòa  
giống Haliotrema được bắt gặp ở một số loài Cá Phèn Parupeneus multifasciatus, P.  
heptacanthus với tỷ lệ nhiễm cao 34,61% và 100% [18]. Võ Thế Dũng và cộng sự  
(2012) nghiên cứu KST trên Cá Mú mè Epinephelus bleekeri, Cá Mú đen E.  
coioides đã ghi nhận các loài Haliotrema epinepheli, H. cromileptis và Haliotrema  
sp. với tỷ lệ nhiễm thấp từ 0,28 đến 2,1% [19]. Ngoài ra trên ba loài Cá Mú E.  
coioides, E. bleekeri và E. malabaricus còn phát hiện thấy có loài Hysterothylacium  
aduncum ký sinh trên thành dạ dày với tỷ lệ nhiễm 3,15% [19].  
28  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
Trong số các loài KST được phát hiện trên loài Cá Thia đầu sọc D. reticulatus  
và Cá Thia ba đốm trắng D. trimaculatus, loài Haliotrema sp. có tỷ lệ, cường độ  
nhiễm tương đối cao (49,7-70% và 15-18,1 KST/cá nhiễm) so với các loài ký sinh  
khác. Theo Đỗ Thị Hòa và cộng sự (2008) [20]: khi phân tích các mẫu cá bị bệnh  
mủ mang, đã phát hiện nhiều giống loài sán lá đơn chủ ký sinh ở mang cá hồng, cá  
mú bị bệnh với tỷ lệ và cường độ nhiễm rất cao (100% và 40-350 KST/phiến mang),  
như: Pseudorhabdosynochus spp., Diplectanum spp. (Diplectanidae: Monogenea) và  
Haliotrema spp. (Ancyrocephalidae: Monogenea). Trong khi đó, các mẫu cá khỏe  
thường không hoặc nhiễm các ký sinh trùng này với tỷ lệ và cường độ thấp (10-53%  
và 0-7 KST/phiến mang). Như vậy, với tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá đơn chủ  
Haliotrema sp. trên hai loài cá trong nghiên cứu này có thể chưa ảnh hưởng đến sức  
khỏe của cá.  
4. KẾT LUẬN  
- Nghiên cứu đã xác định được 5 loài giun sán: Haliotrema sp., Hysterolecitha  
nahaensis, Bivesicula sp., Hysterothylacium sp. và Contracaecum sp. ký sinh trên  
mang, dạ dày và ruột của loài Cá Thia đầu sọc Dascyllus reticulatus và Cá Thia ba  
đốm trắng D. trimaculatus được thu từ khu vực vịnh Nha Trang, Khánh Hòa.  
- Trong số các loài ký sinh được ghi nhận, loài sán lá đơn chủ Haliotrema sp. có  
tỷ lệ và cường độ nhiễm cao nhất là 70% và 18,1 (KST/cá nhiễm), đây là loài ký sinh  
trùng thường xuyên bắt gặp trên Cá Thia đồng tiền Dascyllus. Tỷ lệ nhiễm thấp nhất  
là 0,6% đối với loài Bivesicula sp.. Cường độ nhiễm thấp nhất là 1,5 (KST/cá nhiễm)  
đối với loài Hysterothylacium sp..  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện từ nguồn kinh phí quỹ chung của  
đề tài E.3.1. “Nghiên cứu bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái biển  
ven bờ trên cơ sở nghiên cứu tổ chức cấu trúc-chức năng của chúng” do Trung tâm  
Nhiệt đới Việt - Nga cấp kinh phí.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Randall H.A., Allen G.R., A revision of the damselfish genus Dascyllus  
(Pomacentridae) with the description of a new species, Records of the South  
Australian Museum, 1977, 31:349-385.  
2.  
3.  
Randall J.E., Randall H.A., Dascyllus auripinnis, a new pomacentrid fish from  
atolls of the Central Pacific Ocean, Zoological Studies, 2001, 40:61-67.  
Borsa P., Sembiring A., Fauvelot C., Chen W.J., Resurrection of Indian Ocean  
humbug damselfish, Dascyllus abudafur (Forsskål) from synonymy with its  
Pacific Ocean sibling, Dascyllus aruanus (L.), Comptes Rendus Biologies,  
2014, 337:709-716.  
4.  
Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Long, Phan Kim Hoàng, Hoàng Xuân Bền, Lyndon  
DeVantier, Giám sát sinh thái khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, Khánh Hòa,  
Việt Nam, 2005, tr.17.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
29  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
5.  
6.  
7.  
8.  
Bray R.A., Cribb T.H., Barker S.C., The Hemiuroidea (Digenea) of  
pomacentrid fishes (Perciformes) from Heron Island, Queensland, Australia,  
Systematic Parasitology, 1993, 24:159-184..  
Barker S.C., Cribb T.H., Bray R.A., Adlard R.D., Host-parasite associations  
on a coral reef: pomacentrid fishes and digenean trematodes, International  
Journal for Parasitology, 1994, 24:643-647.  
Lo C.M., Mating rendezvous in Monogenean gill parasites of the humnug  
Dascyllus aruanus (Pisces: Pomacentridae), The Journal of Parasitology,  
1999, 85:1178-1180.  
Жохов А.Е., Пугачева М.Н., Михеев В.Н., Паразиты рыбы Dascyllus  
reticulatus (Pisces: Pomacentridae), симбионтов склератиниевых кораллов  
(зал. Нячанг, Южно-Китайское море, Вьетнам), Зоол. Журн., 2017,  
96(7):1-10.  
9.  
Hà Ký, Bùi Quang Tề, Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, Nxb Nông  
nghiệp, Hà Nội, 2007.  
10. Yamaguti S., Systema Helminthum. The digenetic Trematodes of vertebrates,  
1958, Part II, Vol. I.  
11. Justine J.L., Beveridge I., Boxshall G.A., Bray R.A., Miller T.L., Moravec F.,  
Trilles J.P., Whittington D., “An annotated list of fish parasites (Isopoda,  
Copepoda, Monogenea, Digenea, Cestoda, Nematoda) collected from  
Snappers and Bream (Lutjanidae, Nemipteridae, Caesionidae) in New  
Caledonia confirms high parasite biodiversity on coral reef fish”, Aquatic  
Biosystems, 2012, 8:1-29.  
12. Justine J.L., “Parasites of the coral fish: how much do we know? With a  
bibliography of fish parasites in New Caledinia”, Belg. J. Zool., 2010,  
140:155 - 190.  
13. King R.E., Three hemiurid trematodes from South Viet Nam, Transaction of  
the American Microscopical Society, 1964, 83:435-439.  
14. Cable R.M., Nahhas F.M., Bivesicula caribbensis sp. n. (Trematoda: Digenea)  
and its life history, Journal of Parasitology, 1962, 48:536-538.  
15. Pearson J.C., Observations on the morphology and life-cycle of  
Paucivitellosus fragile Coil, Raid and Kunts, 1965 (Trematoda:  
Bivesiculidae), Parasitology, 1968, 58:769 - 788.  
16. Mani G.G., Morphology and life cycle of Paucivitellosus hanumanthai n. sp.  
(Trematoda: Bivesiculidae), Transaction of the American Microscopical  
Society, 1989, 108:21-26.  
17. Lo C.M., Morand S., Galzin R., Parasite diversity: host age and size  
relationship in three coral-reef fishes from French Polynesia, International  
Journal for Parasitology, 1998, 28:1695-1708.  
30  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
Nghiên cứu khoa học công nghệ  
18. Dang Nguyen Tuan Anh, Tran Quang Sang, Dang Thuy Binh, Parasites of  
goatfishes (Parupeneus spp.) in Khanh Hoa province, Vietnam, preliminary  
results, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy sản, 2015, p.11 - 15.  
19. Võ Thế Dũng, Glenn Allan Bristow, Nguyễn Hữu Dũng, Võ Thị Dung,  
Nguyễn Nguyễn Thành Nhơn, Ký sinh trùng cá mú và cá chẽm ở Việt Nam,  
Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh, 2012, tr. 34-36.  
20. Đỗ Thị Hòa, Trần Vỹ Hích, Nguyễn Thị Thùy Giang, Phan Văn Út, Nguyễn  
Thị Nguyệt Huệ, Các bệnh thường gặp trên cá biển nuôi ở Khánh Hòa, Tạp  
chí Khoa học và Công nghệ Thủy sản, 2008, 2:16-24.  
SUMMARY  
THE SITUATION OF HELMINTH INFECTIONS IN Dascyllus reticulatus  
(Richardson, 1846) AND Dascyllus trimaculatus (Ruppell, 1829)  
IN NHA TRANG BAY, KHANH HOA PROVINCE  
The survey was carried in Nha Trang bay, Khanh Hoa province from June to  
November 2018, a total of 275 samples of Dascyllus (155 individuals of D.  
reticulatus and 120 individuals of D. trimaculatus) were examined for parasites. The  
results identified 5 species of parasitic helminth: Haliotrema sp., Hysterolecitha  
nahaensis, Bivesicula sp., Hysterothylacium sp. and Contracaecum sp.. Of these,  
one species was found in the gills (Haliotrema sp.), two species (Hysterolecitha  
nahaensis, Bivesicula sp.) in the stomach and two species (Hysterothylacium sp.,  
Contracaecum sp.) in the gut. Infested prevalence of Haliotrema sp. on D.  
trimaculatus was highest (70%) and prevalence of Bivesicula sp. on D. reticulatus.  
was the lowest (0.6%).  
Keywords: Dascyllus reticulatus, Dascyllus trimaculatus, ký sinh, ký sinh  
trùng, vịnh Nha Trang.  
Nhận bài ngày 15 tháng 5 năm 2019  
Phản biện xong ngày 18 tháng 6 năm 2019  
Hoàn thiện ngày 21 tháng 7 năm 2019  
(1) Chi nhánh Ven Biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 18, 07/2019  
31  
pdf 8 trang yennguyen 8280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình nhiễm giun sán ở cá thia đầu sọc (Dascyllus reticulatus Richardson, 1846) và cá thia ba đốm trắng (Dascyllus trimaculatus Ruppell, 1829) khu vực vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_hinh_nhiem_giun_san_o_ca_thia_dau_soc_dascyllus_reticul.pdf