Nghiên cứu tách chiết và thủy phân collagen từ da cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT VÀ THỦY PHÂN COLLAGEN  
TỪ DA CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)  
Nguyễn Thị Hương Thảo1, Đinh Thị Mến1, Nguyễn Thị Mỹ Thuận1  
TÓM TẮT  
Collagen được chiết từ da cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) đã xử lý loại tạp sau đó được  
thủy phân bằng enzyme để thu nhận collagen thủy phân. Kết quả nghiên cứu cho thấy collagen được  
chiết bốn lần bằng nước nóng ở các nhiệt độ khác nhau từ 60 - 100oC đạt hiệu suất trên 82%. Điều  
kiện thủy phân được tối ưu bằng phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM). Nhiệt độ 55,5oC, pH 8 thủy  
phân dịch chiết collagen trong 260 phút sử dụng enzyme Corolase 7089 với tỷ lệ enzyme 9U/g cơ  
chất là điều kiện tối ưu để đạt mức độ thủy phân trên 34%. Sản phẩm sau khi thủy phân gồm 87% là  
collagen có kích thước <10kDa trong đó tỷ lệ collagen kích thước <3kDa chiếm gần 60%. Quy trꢀnh  
phù hợp để sản xuất collagen thủy phân nhằm ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm.  
Từ khóa: collagen thủy phân, Corolase, da cá Tra, mức độ thủy phân, phương pháp bề mặt đáp ứng  
(RSM).  
MỞ ĐẦU  
trꢀnh lão hóa mà còn bổ sung năng lượng cho  
những người vận động nhiều như vận động viên  
hay những người lao động nặng. Tại Việt Nam,  
công nghiệp chế biến cá Tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) phi lê hiện đang phát triển rất  
mạnh mẽ ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trước  
yêu cầu gia tăng giá trị cho phụ phẩm quá trꢀnh  
chế biến và đa dạng hóa mặt hàng sản phẩm,  
việc sản xuất collagen thủy phân bên cạnh việc  
sản xuất gelatin từ da cá là một hướng đi mới và  
đúng đắn cho công nghiệp sản xuất và chế biến  
cá Tra. Nghiên cứu này tập trung vào việc tách  
chiết và thu nhận collagen thủy phân có kích  
thước nhỏ hơn 10kDa từ da cá Tra.  
Collagen là protein cấu trúc hiện diện  
trong da và xương động vật. Hiện nay, da cá,  
phụ phẩm của ngành công nghiệp chế biến cá,  
được xem là nguồn nguyên liệu quan trọng mới  
để sản xuất collagen thủy phân. Loại sản phẩm  
này được chiết từ da bằng phương pháp dùng  
enzyme thủy phân sau đó tinh sạch, cô đặc, khử  
trùng, sấy khô, nghiền và bao gói.  
Khác với gelatin là những protein có khối  
lượng phân tử khoảng 100kD và có khả năng  
tạo gel thꢀ collagen thủy phân là những mạch  
peptide có khối lượng nhỏ, không có khả năng  
tạo gel và chỉ tan được trong nước lạnh. Khối  
lượng phân tử nhỏ giúp collagen thủy phân  
có những ưu điểm vượt trội trong ngành thực  
phẩm và mỹ phẩm vꢀ chúng được hấp thu dễ  
dàng nhanh chóng hơn bởi cơ thể người so với  
gelatin hay protein. Việc dùng collagen thủy  
phân bổ sung trong khẩu phần ăn không những  
cung cấp những amino acid cần thiết cho quá  
trꢀnh tổng hợp da, xương, sụn, chống lại quá  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Nguyên liệu  
Da cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus)  
phụ phẩm của quá trꢀnh chế biến cá Tra phi lê được  
thu từ các nhà máy chế biến cá Tra ở Đồng bằng  
sông Cửu Long sau đó được xử lí loại tạp chất đạt  
hàm lượng collagen lớn hơn 85% chất khô.  
1
Trung tâm Công nghệ Sau thu hoạch, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2  
Email: nthuongth[email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
124  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
phẩm thuỷ phân, dịch sau khi thuỷ phân được  
Protease  
lọc một khối lượng xác định qua bộ lọc màng  
cut-off Amicon (Milipore-Ireland) ở các kích  
thước phân tử 30kDa, 10kDa và 3kDa, xác định  
protein trong từng phân đoạn bằng phương pháp  
Lowry. Tỷ lệ phân đoạn được tính bằng tỷ lệ  
phần trăm lượng protein thu được ở từng phân  
đoạn so với lượng protein trong dịch thuỷ phân  
ban đầu đem lọc.  
Corolase 7089 (AB enzymes) là  
endopeptidase kiềm sản xuất từ vi khuẩn Bacillus  
subtilis, họat tính tối thiểu là 840 UHb/g.  
Tách chiết collagen  
Collagen được trích ly trong nước nóng  
trong 4 lần ở các nhiệt độ 60, 75, 90 và lần cuối  
ở 100oC nhằm tận thu lượng collagen còn sót lại  
trong da cá. Tỷ lệ da cá: nước trong hai lần chiết  
đầu tiên là 1: 2 và 1:1 cho hai lần chiết sau cùng.  
Các phương pháp phân tích  
Hàm lượng hydroxyproline, collagen:  
được xác định bằng phương pháp so màu với  
thuốc thử Ehrlich theo phương pháp AOAC  
990.26. Collagen trong mẫu được tính tương  
đương bằng lượng hydroxyproline x 7,7  
(Nalilanon et al., 2007).  
Để xác định thời gian thích hợp cho mỗi lần  
chiết, dịch chiết được lấy mẫu rồi đem lọc trước  
khi đo OD ở 280nm theo thời gian. Sau mỗi lần  
chiết hỗn hợp được lọc qua vải để thu dịch chiết  
và dịch chiết sau các lần chiết được gộp chung  
để tính hiệu suất. Hiệu suất tách chiết được tính  
bằng tỷ lệ phần trăm lượng collagen thu được  
trong dịch chiết so với lượng collagen trong da  
cá ban đầu.  
Mức độ thủy phân DH% (Hoyle và Mer-  
ritt, 1994): mức độ thủy phân được xác định  
thông qua chỉ số N hòa tan trong TCA bằng  
cách bổ sung lượng thể tích tương đương TCA  
20% nhằm kết tủa protein còn lại trong dung  
dịch sau khi thủy phân, sau đó ly tâm ở 7500v/  
phút trong 15 phút rồi lọc loại bỏ kết tủa. Xác  
định hàm lượng N trong dịch thủy phân ban đầu  
và trong dịch nổi sau li tâm bằng phương pháp  
Kjeldahl. Mức độ thủy phân DH(%) là tỷ lệ giữa  
hàm lượng N tan trong TCA 10% sau thủy phân  
so với hàm lượng N ban đầu trong mẫu.  
Quá trình thủy phân dịch chiết tạo  
collagen thủy phân  
Điều kiện pH thích hợp cho quá trꢀnh thủy  
phân được khảo sát căn cứ vào điều kiện pH đối với  
enzyme do hãng AB Enzymes cung cấp. Ghi nhận  
mức độ thủy phân theo pH để xác định khoảng pH  
phù hợp cho phản ứng thủy phân collagen.  
Để tối ưu hóa phản ứng thủy phân, bố trí  
thí nghiệm tại pH xác định từ thí nghiệm trên,  
khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ thủy phân và tỷ  
lệ E/S và thời gian thủy phân đến mức độ thủy  
phân DH.  
Định lượng protein tan bằng phương  
pháp Lowry: dựa vào phản ứng màu của Pro-  
tein và thuốc thử Folin để tạo phức màu xanh  
đặc trưng có độ hấp thu cực đại ở bước sóng  
750nm và dựa vào đường chuẩn Protein để từ  
đó định lượng hàm lượng Protein.  
Thí nghiệm tối ưu hóa được bố trí theo kế  
họach hỗn hợp bậc hai xoay tâm k=3, cánh tay  
đòn α = 2k/4 = 23/4. Để xác định kết quả tối ưu  
hóa của các thí nghiệm ảnh hưởng tương tác của  
các yếu tố lên hàm mục tiêu sử dụng phương  
pháp bề mặt đáp ứng RSM (Response surface  
method) sử dụng phần mềm Modde 5.0 để xử  
lý kết quả.  
Phương pháp xử lí số liệu  
Phân tích phương sai ANOVA để xác định  
sự khác biệt của các số liệu và sai số chuẩn bằng  
phần mềm Statgraphics nhằm kiểm định độ tin  
cậy của kết quả thu được từ các thí nghiệm.  
KẾT QUẢ  
Đánh giá kích thước phân tử của sản  
phẩm thuỷ phân  
3.1. Chiết collagen trực tiếp bằng nước  
Da cá được chiết 4 lần tại các nhiệt độ 60oC,  
Để đánh giá kích thước phân tử của sản  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
125  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
75oC, 90oC và 100oC, theo thời gian lấy mẫu biểu diễn độ hấp thu theo thời gian chiết được  
dịch chiết đem đo độ hấp thu ở 280nm. Đồ thị trꢀnh bày trong hꢀnh 1.  
Hꢀnh 1. Biê  
́
Kết quả đo OD ở 280nm phản ánh hàm lượng chiết lên đến 90oC sau 120 phút khả năng chiết đạt  
protein tan trong dung dịch. Ở lần chiết đầu tiên tối đa do đó OD không thay đổi sau thời gian này.  
sau khoảng thời gian chiết 120 phút độ hấp thu Sau 3 lần chiết ở các nhiệt độ khác nhau, miếng da  
hầu như không thay đổi chứng tỏ ở 60oC khả năng cá còn lại là một phần da mềm trong, nhằm tận thu  
chiết collagen từ da cá đạt cực đại sau 120 phút lượng collagen còn sót lại trong da, nhiệt độ chiết  
gia nhiệt. Nhằm tăng khả năng chiết phần da cá được tăng tới nhiệt độ sôi. Ở nhiệt độ sôi sau 45  
sau khi chiết lần 1 được tiếp tục chiết ở nhiệt độ phút khả năng chiết collagen đạt tối đa.  
cao hơn. Ở lần chiết thứ hai khả năng chiết đạt cao  
nhất sau 90 phút, sau thời gian này hầu như không  
chiết được thêm collagen vào dung dịch.  
Nhằm đánh giá hiệu suất của từng lần chiết,  
dịch chiết sau mỗi lần chiết được gộp chung lại  
đem xác định hàm lượng collagen. Kết quả hiệu  
Kết quả khảo sát cho thấy khi gia nhiệt dịch suất chiết được trꢀnh bày trong bảng 1.  
Bảng 1. Hiệu suất chiết sau từng giai đoạn  
Lần chiết  
Hiệu suất chiết collagen (%)  
32,46 ± 2,75  
Lần 1: 60oC trong 120 phút  
Lần 2: 75oC trong 90 phút  
Lần 3: 90oC trong 120 phút  
Lần 4: 100oC trong 45 phút  
77,73 ± 3,36  
83,85 ± 2,52  
86,84 ± 4,47  
Như vậy collagen được chiết hiệu quả từ da cá bằng nước nóng trong 4 lần với hiệu suất chiết  
đạt trên 82%.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
126  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.2. Tối ưu hóa quy trình thủy phân bằng  
Kết quả cho thấy đối với dung dịch collagen  
Corolase  
Khảo sát pH thích hợp cho phản ứng  
thủy phân  
thꢀ Corolase hoạt động hiệu quả hơn trong  
khoảng pH ≤8,0. Sự khác biệt về mức độ thủy  
phân tại pH 7,5 và 8,0 không có ý nghĩa thống  
kê nên để giảm việc phải điều chỉnh pH của dịch  
chiết quá nhiều, đề tài quyết định chọn pH của  
dịch thủy phân bằng 8,0 để thực hiện phản ứng  
thủy phân.  
Dịch chiết collagen đem đi thủy phân có pH  
khoảng 8,8 – 9,0 được điều chỉnh tới các giá trị  
pH khác nhau bằng dung dịch NaOH và HCl.  
Enzyme Corolase được bổ sung vào dung dịch  
với tỷ lệ 1% cơ chất nhằm khảo sát khả năng  
thủy phân của Corolase. Kết quả xác định mức  
độ thủy phân DH% ở nhiệt độ 55oC trong thời  
gian 240 phút được trꢀnh bày trong bảng 2.  
Bảng 2. Kết quả thủy phân dịch chiết collagen  
tại các pH khác nhau  
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm theo phương  
pháp quy hoạch thực nghiệm trực giao ba yếu tố  
nhiệt độ, thời gian và tỷ lệ enzyme/cơ chất, cấu  
trúc có tâm với hàm mục tiêu là mức độ thủy  
phân.Số thí nghiệm tối ưu là N =18 thí nghiệm,  
trong đó có 4 thí nghiệm ở tâm phương án. Các  
thông số của thí nghiệm như trong bảng 3.  
pH  
Mức độ thủy phân DH%  
33,63 ± 0,30a  
Bảng 3. Các thông số của thí nghiêm tối ưu hóa  
7,50  
8,00  
8,50  
9,00  
-α -1  
46,59 50 55 60 63,41  
X2(
ح
,phút) 139,08 180 240 300 340,92  
0
1 α  
34,05 ± 0,73a  
32,45 ± 0,47b  
31,86 ± 0,38b  
X1(0C)  
Chú thích: các giá trị có cùng kí tự mũ thì sự khác  
nhau giữa chúng là không có nghĩa (α = 5%).  
X3[E/S] (%) 0,159 0,5  
1
1,5 1,841  
Kết quả thí nghiệm được trꢀnh bày trong bảng 4.  
Bảng 4. Ma trận quy hoạch cấu trúc có tâm cấp hai, ba yếu tố  
X2 X3 [E/S]  
0C  
X1  
ح
Y
-1  
1
-1  
-1  
1
-1  
-1  
-1  
-1  
1
50  
60  
180  
180  
300  
300  
180  
180  
300  
300  
240  
240  
0,5  
0,5  
0,5  
0,5  
1,5  
1,5  
1,5  
1,5  
1
21,995  
24,576  
27,933  
28,081  
28,972  
30,593  
30,002  
30,475  
27,169  
29,704  
30,743  
33,192  
19,090  
32,981  
-1  
1
50  
1
60  
-1  
1
-1  
-1  
1
50  
1
60  
-1  
1
1
50  
1
1
60  
-1,682  
0
0
46,59  
63,41  
55  
1,682  
0
0
1
0
0
0
0
-1,682  
0
139,08  
340,92  
240  
1
1,682  
0
55  
1
0
0
-1,682  
1,682  
55  
0,159  
1,841  
55  
240  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
127  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
55  
55  
55  
55  
240  
240  
240  
240  
1
1
1
1
32,562  
34,507  
33,555  
34,192  
Theo phương pháp trực giao ba yếu tố,  
phương trꢀnh hồi quy được biểu diễn theo  
dạng sau:  
x1*x2  
x1*x3  
x2*x3  
-0,44765  
-0,0796  
0,52494  
0,52494  
0,52494  
0,418587  
0,883228  
0,076721  
-1,06623  
Y = b0 + b1x1 + b2x2 + b3x3 + b12x1x2 + b13x1x3  
+ b23x2x3 + b11x12 + b22x22 + b33x33  
Qua bảng trên, ta thấy các biến độc lập đều  
có ảnh hưởng đến mức độ thủy phân (Y), do giá  
trị P < 0,05; ngoại trừ x1 do có P > 0,05. Trong  
đó, thời gian thủy phân (x2) và tỷ lệ enzyme (x3)  
có tác động tích cực và ảnh hưởng dương đến  
mức độ thủy phân, còn x12, x32 có ảnh hưởng  
âm đến mức độ thủy phân.Tác động kép của các  
yếu tố đều không rõ rệt vꢀ p >0,05.  
Giải bài toán quy hoạch thực nghiệm cho  
hàm mục tiêu bằng phần mềm Modde 5.0, ta  
nhận được các kết quả như trong bảng 5.  
Bảng 5. Ảnh hưởng của các biến độc lập  
đến mức độ thủy phân  
Yếu tố  
Hệ số  
Std. Err.  
P
Từ bảng số liệu trên, thu được phương trꢀnh  
hồi quy của mức độ thủy phân như sau:  
Constant 33,7374  
0,741296  
6,00E-11  
x1  
x2  
0,665248 0,401751 0,136341  
Y = 33,73 + 1,06x2 + 2,99x3 – 2,01x12  
–
1,0597  
0,401751 2,98E-02  
0,401751 7,34E-05  
2,86x32  
x3  
2,98873  
Chuyển sang biến số thực thu được phương  
trꢀnh hồi quy theo biến số thực:  
x1*x1  
x2*x2  
x3*x3  
-2,01121 0,417397 0,001324  
-0,76301 0,417397 0,104954  
-2,85976 0,417397 0,000131  
Y= -220,844 + 8,844 Z1 + 0,0176Z2 +  
5,98Z3 - 0,0804Z12 - 1,144Z32  
Bảng 6. Kết quả phân tích phương sai Anova của thí nghiệm tối ưu hóa  
y
DF  
SS  
MS  
F
(variance)  
Total  
18  
1
15926,3  
15624,6  
301,724  
284,088  
17,6359  
884,795  
Constant  
Total Corrected  
Regression  
Residual  
15624,6  
17,7484  
31,5653  
2,20449  
17  
9
14,3186  
8
N = 18  
Q2 =  
R2 =  
0,598 Cond. no. =  
0,942 Y-miss =  
4,3489  
0
DF = 8  
Trong đó R2: hệ số xác định; SS: tổng bꢀnh phương (sum of squares); DF: bậc tự do (degrees  
of freedom); MS: trung bꢀnh bꢀnh phương (mean square); F: F-value. Giá trị F có độ tin cậy ở 95%.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
128  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
Dựa vào kết quả của bảng phân tích (Gabrielsson et al., 2002) và độ sai lệch giữa  
ANOVA, chúng tôi nhận thấy kết quả có ý nghĩa chúng ∈ [0,2 ; 0,3] (Eriksson et al., 2000) cho  
thống kê ở mức P<0,05 vꢀ giá trị F từ kết quả thấy các giá trị hồi quy là có ý nghĩa và mô hꢀnh  
quy hoạch thực nghiệm (14,319) lớn hơn nhiều là đáng tin cậy. Giá trị trong thí nghiệm này, R2  
so với giá trị f tra bảng (3,39). Hai giá trị Q2 = 0,942 và Q2 = 0,598 thỏa mãn tất cả những  
và R2 cho biết mức độ tin cậy của mô hꢀnh thí điều kiện trên, cho thấy các giá trị hồi quy có  
nghiệm, R2 là độ biến thiên thực, còn Q2 là độ ý nghĩa và mô hꢀnh đáng tin cậy. Kết quả biểu  
biến thiên ảo. Trong đó, R2 > 0,8 và Q2 >0,5 diễn dưới dạng không gian ba chiều như sau:  
Hꢀnh 2. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của các yếu tố lên mức độ thủy phân trong không gian  
ba chiều.  
Kết quả chiếu xuống bề mặt đáp ứng như sau:  
Hꢀnh 3. Đồ thị vòng dự đoán kết quả quy hoạch thực nghiệm  
Điều kiện tối ưu cho quá trꢀnh thu nhận mẫu thí nghiệm lặp lại độc lập dựa trên các giá  
collagen được xác định bằng phần mềm Modde trị tối ưu như đã nêu ở trên. Mức độ thủy phân  
5.0. Tương tác giữa nhiệt độ, thời gian và tỉ lệ DH% thu được là 34,20 ± 0,58 (%). Kết quả  
E/S là đường cong có cực đại. Cả ba yếu tố này gần với kết quả dự đoán từ phương trꢀnh  
ảnh hưởng trực tiếp lên hiệu suất thủy phân. hồi quy nêu trên.  
Tại điều kiện tối ưu thời gian thủy phân là 260  
(phút) nhiệt độ 55,5oC, tỷ lệ E/S 1,25% mức độ  
thủy phân đạt cực đại là 34,64 (%). Để kiểm  
chứng tính chính xác của giá trị nhận được từ  
phương trꢀnh hồi quy chúng tôi đã tiến hành 3  
Từ các khảo sát trên, chúng tôi có thể chọn  
ra thông số công nghệ cho quá trꢀnh thủy phân  
bằng Corolase 7089 như sau: nhiệt độ 55,50C  
pH: 8, thời gian: 260 phút, tỷ lệ E/S: 1,25%.  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
129  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
3.3. Đánh giá kích thước phân tử của sản  
collagen trong da trở nên lỏng lẻo sau đó dùng  
nước để chiết ở nhiệt độ cao để phá vỡ cấu  
trúc triple helix tạo những phân tử gelatin kích  
thước nhỏ hơn. Tuy nhiên, theo phương pháp  
này dịch chiết có pH thấp thường <4 không phù  
hợp với khâu tiếp theo khi sử dụng các endo và  
exo-protease cho mức độ thuỷ phân cao vꢀ các  
enzyme này thường có khoảng pH hoạt động  
kiềm hoặc trung tính. Các nghiên cứu trước  
đây khẳng định tăng thời gian và nhiệt độ chiết  
sẽ tăng hiệu suất chiết collagen. Khi nhiệt độ  
chiết tăng trên 500C, các liên kết hydro trong  
chuỗi xoắn ốc bậc ba bền vững của collagen  
sẽ bị phá hủy, dẫn đến thay đổi cấu trúc xoắn  
cuộn (helix-to-coil). Điều này giúp collagen dễ  
dàng thoát ra ngoài dung dịch (Benjakul et al.,  
2007). Thêm vào đó, một số liên kết peptide  
cũng bị phá hủy. Hiệu suất càng cao khi thời  
gian chiết kéo dài đủ để phá vỡ các liên kết của  
collagen. Như vậy việc chiết bằng nước nóng  
tạo sự thủy phân bằng nhiệt và hệ quả là hòa  
tan collagen.  
phẩm thuỷ phân  
Để đánh giá hai quá trꢀnh thủy phân, dịch  
sau thuỷ phân của từng giai đoạn được lọc qua  
màng lọc cut-off 30, 10 và 3kDa (Amicon –  
Milipore) để so sánh kích thước sản phẩm thủy  
phân kết quả trꢀnh bày trong bảng 7.  
Bảng 7. Kết quả đánh giá chất lượng dịch  
thủy phân bằng màng lọc cut - off  
Kích thước phân tử  
(kDa)  
Tỷ lệ phân đoạn  
(%)  
> 30  
< 30  
5,17  
94,83  
7,62  
10< x< 30  
<10  
87,21  
30,08  
57,13  
3< x< 10  
< 3  
Kết quả nghiên cứu cho thấy collagen được  
chiết từ da cá Tra bốn lần trong nước đạt hiệu  
suất trên 85%. Hiệu suất này khá cao so với  
kết quả của Krijroongrojana et al., 2011 trong  
nghiên cứu chiết gelatin từ da cá Priacanthus  
tayenus. Trong nghiên cứu này, hiệu suất chiết  
trong 3 giờ đạt 53,36% ở nhiệt độ 80oC, 55,01%  
ở 90oC và 68,24% ở 100oC. Ngoài ra, khi được  
gia nhiệt trong 0,5 giờ ở nhiệt độ 110oC hiệu  
suất chiết đạt 60,77%, ở 120oC đạt 76,36% và  
ở 130oC đạt 68,44%. Như vậy, việc chiết nhiều  
lần theo nghiên cứu của đề tài sẽ cải thiện hiệu  
suất chiết và cho hiệu suất cao hơn khi chiết 1  
lần bằng nước nóng. Bên cạnh đó, việc chiết  
collagen bằng nước cho dịch chiết có pH kiềm  
phù hợp với quá trꢀnh thủy phân bằng enzyme  
kiềm sau này khi so với việc chiết trong axit  
acetic rồi bổ sung pepsin như các nghiên cứu  
trước đây.  
Kết quả cho thấy dịch thủy phân chủ  
yếu chứa các phân tử có kích thước nhỏ hơn  
10kDa với khoảng 87%. Như vậy quy trꢀnh  
thủy phân dịch chiết collagen dùng enzyme  
Corolase rất thích hợp để thu nhận sản phẩm  
collagen thủy phân.Tùy theo mục đích sử  
dụng mà tiếp tục dùng thiết bị lọc với kích  
thước màng lọc khác nhau để thu nhận colla-  
gen có kích thước phù hợp.  
THẢO LUẬN  
Hiệu suất thu nhận collagen phụ thuộc  
vào cả quá trꢀnh tiền xử lý (xử lý kiềm, acid)  
và quá trꢀnh trích ly collagen. Trong đó pH,  
nhiệt độ và thời gian là ba yếu tố ảnh hưởng  
chính (Gomez – Guillen et al., 2001; Zhou  
và Regenstein, 2004). Những nghiên cứu thu  
nhận collagen thường dùng axit acetic để thẩm  
thấu vào lớp da cắt đứt các liên kết ngang tại  
vùng telopeptide và các liên kết giữa các phân  
tử trong cấu trúc xoắn bậc ba làm cho mạng  
Quá trꢀnh thủy phân collagen sử dụng  
endoprotease Corolase 7089 có hiệu quả cao khi  
DH% đạt 34% và thu được collagen thủy phân  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
130  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
có gần 90% protein có khối lượng <10kDa. Công nghệ Sau thu hoạch, Bộ môn Công nghệ  
Điều này cũng thấy được ở những nghiên cứu Thực phẩm Trường ĐH Bách khoa TP Hồ Chí  
của Gilmartin & Jervis., 2002 về thủy phân cơ Minh, các nhà máy chế biến cá Tra tại Đồng  
thịt cá tuyết bằng Alcalase cho DH đạt 32,59%, bằng sông Cửu Long đã hỗ trợ chúng tôi về kinh  
Corolase 7089 kết hợp Alcalase đạt 35,02% còn phí, trang thiết bị, nguyên vật liệu để thực hiện  
Alcalase kết hợp Flavourzyme có DH cao nhất nghiên cứu này.  
đạt 39,86%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
5.1. Kết luận  
Eriksson L., Johansson E., Kettaneh N., Wikstrom C.,  
Wold S., 2000. Design of experiments- Principles  
and applications, Umetrics. 329pp.  
Collagen được chiết từ da cá Tra bốn lần  
trong nước lần lượt ở 600C trong 120 phút, 75oC Benjakul S., Nalinanon S., Visessanguan W., Kishimura  
H., 2007. Use of pepsin for collagen extraction  
from the skin of bigeye snapper (Priacanthus  
tayenus). Food chemistry, 104, 593-601.  
trong 90 phút, tỷ lệ da/nước: 1/2 (w/v), lần thứ  
ba da cá được gia nhiệt ở 90oC trong thời gian  
120 phút và lần cuối ở 100oC trong 45 phút với  
Gilmatin L., Jervis J., 2002. Production of Cod (Gadus  
tỷ lệ da:nước là 1:1. Hiệu suất chiết collagen sau  
4 lần chiết đạt trên 85%.  
morhua) Muscle hydrolysate. Influence of  
combinations of commercial enzyme preparations  
on hydrolysate peptide size range, J .Aric. Food  
Chem, 50, 5417-5423.  
Dùng enzyme Corolase 7089 thủy phân  
dịch chiết trong thời gian 260 phút ở nhiệt độ  
55,50C pH 8 với tỷ lệ E/S là 1,25% sẽ thu được  
sản phẩm có 87% là collagen có kích thước  
<10kDa.  
Gomez-Guillen, M.C., Sarabia,A.L., Montero, P., 2001.  
Extraction gelatine from megrim (Lepidorhombus  
boscii) skins with several organic acid. Journal of  
Food Science, 66, 213-216.  
Kijroongrojana K., Sukkwai S., Benjakul S., 2011.  
Extraction of gelatine from bigeye snapper  
(Priacanthus tayenus) skin for gelatine hydrolysate  
production. International Food Reasearch Journal  
18(3), 1129-1134  
5.2. Kiến nghị  
Sản phẩm collagen thủy phân với những  
mục đích sử dụng khác nhau có những yêu  
cầu khác nhau về khối lượng phân tử, thông  
thường <10kDa, do vậy cần có giải pháp thu  
Liu H.Y., Li D., Guo S.D., 2007. Studies on collagen  
from the skin of channel catfish (Ictalurus  
punctaus), Food Chemistry, 101, 621-625.  
những phân đoạn này trong sản phẩm thuỷ  
phân. Cần tiếp tục nghiên cứu hướng ứng  
dụng cho phần bã thải ra sau quá trꢀnh trích  
ly collagen nhằm tận thu hoàn toàn lượng phụ  
phẩm từ nguồn nguyên da cá vốn rất dồi dào  
ở nước ta, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng sông  
Cửu Long.  
Nagai, T., & Suzukib, N., 2000. Isolation of collagen  
from fish waste material – skin, bone and fins.  
Food Chemistry, 68 (3), 277 -281.  
Nalinanon S., Benjakul S., Visessanguan W., Kishimura  
H., 2007. Use of pepsin for collagen extraction  
from the skin of bigeye snapper (Priacanthus  
tayenus), Food Chemistry, 104, 593-601.  
CẢM ƠN  
Singh P., Benjakul S., Maqsood S., Kishimura H., 2011.  
Isolationandcharacterisationofcollagenextracted  
from the skin of triped catfish (Pangasianodon  
hypophthalmus). Food Chemistry, 124, 97-105.  
Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn đến  
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Viện  
Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, Trung tâm  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
131  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2  
STUDY ON EXTRACTION AND HYDROLYSIS OF COLLAGEN FROM TRA  
CATFISH SKIN (Pangasianodon hypophthalmus)  
Nguyen Thi Huong Thao1, Dinh Thi Men1, Nguyen Thi My Thuan1  
ABSTRACT  
Collagen was extracted from the pretreated Tra catfish (Pangasianodon hypophthalmus) skin then  
hydrolyzed by enzyme to isolate collagen hydrolysate. The results showed that collagen was ex-  
tracted four times in water with the yield of over 85%. Hydrolysis conditions were optimized by  
using a response surface methodology (RSM). An enzyme to substrate level of 1.25% (v/w), tem-  
perature of 55.5oC the time of 260 minutes and pH of 8.0 were found to be the optimum conditions  
to obtain the highest degree of hydrolysis (over 34%) using Corolase 7089. The collagen hydroly-  
sate produced contained 87% collagen with molecular weight below 10kDa in which the fraction  
below 3kDa occupied 60%.This process is suitable to produce collagen hydrolysate for cosmetic  
and food application.  
Key words: collagen hydrolysate, Corolase, degree of hydrolysis, response surface methodology  
(RSM), Tra catfish skin.  
N g ư ờ i p h ả n b i ệ n : T h S . N g u y ễ n T h ị L a n C h i  
N g à y n h ậ n b à i : 6 / 6 / 2 0 1 3  
N g à y t h ô n g q u a p h ả n b i ệ n : 2 0 / 6 / 2 0 1 3  
Ngày duyệt đăng: 8/7/2013  
1
Center for Fisheries Post Harvest Technology, Research Institute for Aquacutute No2  
Email: nthuongth[email protected]  
TAÏP CHÍ NGHEÀ CAÙ SOÂNG CÖÛU LONG - 1 - THAÙNG 7/2013  
132  
pdf 9 trang yennguyen 18362 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tách chiết và thủy phân collagen từ da cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tach_chiet_va_thuy_phan_collagen_tu_da_ca_tra_pan.pdf