Sinh vật mang vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh vi bào tử trùng ở tôm nuôi nước lợ
Trường Đại học Vinh
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 3A/2020, tr. 43-50
SINH VẬT MANG VI BÀO TỬ TRÙNG ENTEROCYTOZOON
HEPATOPENAEI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN BỆNH VI BÀO TỬ TRÙNG Ở TÔM NUÔI NƯỚC LỢ
Lê Thị Mây (1), Trương Thị Mỹ Hạnh (1), Trương Thị Thành Vinh (2)
1 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1
2 Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh
Ngày nhận bài 23/6/2020, ngày nhận đăng 16/9/2020
Tóm tắt: Vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei - EHP) gây nên bệnh có
liên quan đến sự tăng trưởng chậm ở tôm nuôi nước lợ. Bệnh được xác định là có thể
lây truyền theo cả chiều dọc (từ bố mẹ sang con) và chiều ngang (từ cá thể này sang cá
thể khác). Bài báo này tổng hợp các kết quả nghiên cứu được công bố trong và ngoài
nước về các loài sinh vật mang EHP có khả năng lây truyền, gây bệnh cho tôm và một
số yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh EHP. Kết quả đã xác định được 15 loài sinh vật mang
EHP, bao gồm tôm (5 loài), động vật phù du (04 loài), cua, tép trứng, ruốc, ốc đinh,
hàu và giun nhiều tơ (1 loài). EHP đã được ghi nhận có thể tồn tại trong môi trường
nước, bùn đáy và phân tôm nơi không có tế bào vật chủ hay tế bào vật mang. Một số
yếu tố có ảnh hưởng đến EHP đã được ghi nhận bao gồm mùa vụ nuôi, tuổi tôm, loài
tôm và hội chứng đốm trắng.
Từ khóa: Vi bào tử trùng EHP; vật mang; yếu tố ảnh hưởng.
1. Đặt vấn đề
Vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei, gọi tắt là EHP) gây bệnh ở tôm sú
và tôm thẻ chân trắng. Bệnh không có biểu hiện rõ ràng trong giai đoạn đầu thả nuôi, tuy
nhiên bệnh biểu hiện rõ tỷ lệ thuận theo thời gian nuôi thông qua tốc độ tăng trưởng
chậm hơn rất nhiều so với bình thường [18], [26]. Bệnh EHP được phát hiện lần đầu tiên
trên tôm sú tại Malaysia với biểu hiện bệnh lý chậm lớn, dấu hiệu biến đổi mô học và
hình ảnh dưới kính hiển vi điện tử vào năm 1989 [1]. Sau đó, bệnh EHP lần lượt được
báo cáo ở các nước có nền nuôi tôm công nghiệp trên thế giới bao gồm: Úc [8], Thái Lan
[3], Việt Nam [19], Trung Quốc [9], Indonesia và Ấn Độ [23].
Bệnh EHP không gây ra tỷ lệ chết cao trên tôm nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng
đến tốc độ tăng trưởng của tôm. Điều này đã gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế nghề nuôi
tôm nước lợ, thậm chí thiệt hại hơn so với bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) [11]. Năm
2016, ở Andhra Pradesh, một trong những bang ở Đông Nam Ấn Độ, nơi tôm thẻ chân
trắng là đối tượng nuôi chính, năng suất tôm nuôi bỗng nhiên sụt giảm đáng kể mà
nguyên nhân đã được xác định do bệnh EHP [23], [30]. Bên cạnh đó, một khảo sát về
bệnh EHP được thực hiện bởi ICAR - CIBA tại vùng nuôi tôm ở Ấn Độ đã chỉ ra trong
tôm nuôi của 100 hộ có đến 15,6% có kết quả dương tính EHP. Điều đó cho thấy tỷ lệ
xuất hiện bệnh EHP trong vùng nuôi là tương đối cao [4]. Những thiệt hại kinh tế do
bệnh EHP gây ra đã được ghi nhận và EHP hiện nay được coi là một mối đe dọa đáng
chú ý đối với nuôi tôm nước lợ [10], [24].
43
L. T. Mây, T. T. M. Hạnh, T. T. T. Vinh / Sinh vật mang vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei)…
Ngoài việc gây thiệt hại kinh tế lớn cho nghề nuôi tôm thì điều đáng lo ngại đối với
bệnh EHP là chưa có biện pháp phòng bệnh hiệu quả và khó khống chế bệnh do tác nhân
gây bệnh lây truyền theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Lây truyền theo chiều dọc từ tôm
bố mẹ sang ấu trùng tôm con (Nauplius) được ghi nhận qua nghiên cứu của nhóm tác giả
Vũ Khắc Hùng [32]. Lây truyền theo chiều ngang được xác nhận thông qua môi trường
nước nuôi có nhiễm EHP [25], sinh vật khỏe ăn sinh vật nhiễm bệnh hay sự tiếp xúc trực
tiếp của sinh vật mang bệnh và sinh vật không mang bệnh [20], [7], [21]. Chính bởi hình
thức lan truyền phức tạp này mà bệnh EHP được dự báo sẽ trở thành thách thức lớn đối với
ngành công nghiệp nuôi tôm nước lợ bên cạnh các bệnh WSSV và AHPND [24].
Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây, sản lượng nuôi sụt giảm đáng kể bởi
tôm chậm lớn mà nguyên nhân được xác định là do bệnh EHP. Báo cáo của Cục Thú Y
tại hội thảo “Giải pháp phát triển nuôi tôm nước lợ hiệu quả, bền vững” diễn ra tại Sóc
Trăng ngày 17/9/2019 cho biết bệnh EHP trên tôm nước lợ đang có chiều hướng gia
tăng, ảnh hưởng rất lớn về kinh tế đối với nghề nuôi tôm do khi tôm bị bệnh này sẽ chậm
lớn, thậm chí không lớn, mặc dù vẫn tiêu tốn rất nhiều thức ăn [2]. Nghiên cứu của Lê
Hồng Phước cho thấy tỷ lệ tôm nuôi nhiễm EHP khá cao, trung bình 41% ở 3 tỉnh Sóc
Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu [13]. Trước thực trạng đó, để công tác phòng bệnh EHP hiệu
quả, hạn chế được thiệt hại do lan truyền bệnh thì các thông tin tổng quát về vật chủ/vật
mang EHP và yếu tố ảnh hưởng liên quan đến bệnh là rất quan trọng. Chúng là cơ sở
khoa học để đưa ra các biện pháp phòng bệnh mang tính thân thiện môi trường. Việc
ngăn ngừa hay loại bỏ sự có mặt của các vật chủ/vật mang mầm bệnh EHP trong quá
trình nuôi, cũng chính là cắt bỏ con đường lan truyền bệnh EHP, góp phần khống chế
hiệu quả bệnh EHP cho nghề nuôi thủy sản nói chung và nghề nuôi tôm nói riêng.
2. Sinh vật mang vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei
2.1. Giáp xác
Đến nay đã có 09 nước trên thế giới công bố loài giáp xác mang EHP, trong đó
Ấn Độ là quốc gia đã quan tâm và có nhiều báo cáo hơn cả (5 loài); tiếp đến là Trung
Quốc, Thái Lan và Việt Nam (4 loài), Úc (3 loài), Indonesia và Malaysia (2 loài); cuối
cùng là Brunei, Anh (1 loài) (Bảng 1). Ngoài ý nghĩa xác định loài mang EHP thì quan
trọng hơn hết là chỉ ra loài có khả năng lây truyền bệnh EHP cho tôm nuôi nước lợ theo
phương thức lan truyền ngang.
EHP được xác định có mặt trên 12 loài thuộc giáp xác trong đó chiếm ưu thế nhất
là tôm với 5 loài; tiếp đến là động vật phù du với 04 loài; cuối cùng là cua, tép trứng và
ruốc mỗi nhóm 1 loài (Bảng 1). Trong số 5 loài tôm được chỉ ra thì có 2 loài được nuôi
phổ biến ở Việt Nam là tôm chân trắng (Penaeus vannamei) và tôm sú (P. monodon).
Đây cũng là 2 trong số 12 loài giáp xác nhiễm EHP được xác định trong cả tự nhiên và
thí nghiệm gây nhiễm. Thiệt hại kinh tế do EHP gây ra trên tôm sú và tôm thẻ chân trắng
đã được ghi nhận trên thực địa ở các hộ/doanh nghiệp nuôi tôm nước lợ trong nước cũng
như trên thế giới. Trong điều kiện gây nhiễm, thí nghiệm được thiết kế để khẳng định
bệnh EHP hoàn toàn có thể lây nhiễm trực tiếp từ cá thể nhiễm bệnh sang cá thể không
nhiễm bệnh. Khi nuôi tôm chân trắng bị nhiễm bệnh EHP có cỡ 10-15g trong lồng nhỏ
rồi đặt trong bể nuôi tôm chân trắng khỏe cỡ 2-4g (âm tính EHP), kết quả cho thấy sau 7
44
Trường Đại học Vinh
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 3A/2020, tr. 43-50
ngày tôm khỏe sống trong cùng môi trường nước nuôi với tôm bị nhiễm bệnh cũng đã bị
nhiễm bệnh EHP [25]. Thí nghiêm này cũng khẳng định nước nuôi và phân tôm đã có
chứa mầm bệnh EHP bằng phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử [25].
Bảng 1: Danh sách các loài giáp xác mang EHP
Hình thức
Tên loài giáp xác
nhiễm
Thí
nhiên nghiệm
Vùng nghiên
TT
Nguồn
cứu
Tự
Tiếng Việt
Khoa học
Tôm chân Penaeus
Ấn Độ, Trung
Quốc, Thái Lan,
Việt Nam,
1
x
x
[12], [14], [17],
[20], [21], [22],
[24]
trắng
vannamei
Indonesia,
2 Tôm sú
P. monodon
x
x
Malaysia
Tôm
3
thẻ
[16], [28]
P. stylirostris
P. japonicas
P. merquiensis
x
x
x
x
Úc, Brunei
xanh
[16], [17],
[20]
4 Tôm vằn
5 Tôm bạc
Ấn Độ, Úc
Ấn Độ
Thái Lan
[17], [21]
Eriocheir
sinensis
6 Cua
Anh
[27]
[13]
7 Ruốc
NA
x
x
x
x
x
Việt Nam
Việt Nam
8 Tép trứng NA
9
Artemia sp.
Ấn Độ, Thái Lan
Úc
[20], [28]
[16]
10
11
Artemia salina
Động vật
phù du
Crangonyx sp.
Trung Quốc
[27]
Macrocyclops
distinctus
12
x
Trung Quốc
[27]
Ghi chú: “NA”- không có thông tin
2.2. Sinh vật mang EHP ngoài giáp xác
Có 03 loài sinh vật khác nhóm giáp xác được xác định có mang EHP, bao gồm 01
loài giun nhiều tơ, 02 loài nhuyễn thể (hàu và ốc đinh) (Bảng 2). Trong đó, ốc đinh và
giun nhiều tơ là loài bắt gặp phổ biến trong các ao nuôi tôm thương phẩm tại Việt Nam,
còn hàu và giun nhiều tơ được sử dụng làm nguồn thức ăn tự nhiên cho nuôi vỗ tôm bố
mẹ, trong đó giun nhiều tơ được sử dụng phổ biến hơn cả do đây là loài có thể nuôi và
chủ động ngay cả khi cần số lượng lớn. Bên cạnh đó, trong hệ sinh thái thủy vực, giun
nhiều tơ là một mắt xích trong chuỗi thức ăn [30]. Qua đó cho thấy, giun nhiều tơ hiện
diện ở nhiều vai trò quan trọng trong thủy sản, đặc biệt là trong sản xuất tôm. Đây cũng
là loài được xác định mang EHP [16], [20], [30] và mang WSSV [31], nguồn lây truyền
bệnh cho tôm nuôi theo phương thức lây truyền ngang.
45
L. T. Mây, T. T. M. Hạnh, T. T. T. Vinh / Sinh vật mang vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei)…
Bảng 2: Sinh vật mang EHP ngoài giáp xác
Tên gọi tiếng
Việt
Hình thức Vùng nghiên
TT
Tên khoa học
Nguồn
nhiễm
cứu
1 Giun nhiều tơ Polychaeta sp.
TN
Ấn Độ, Úc [20], [30],[16]
2
3
Ốc đinh
NA
NA
TN
Việt Nam
[13]
Hàu
TN
Việt Nam
Ghi chú: TN - nhiễm tự nhiên; NA - không có thông tin
2.3. Yếu tố vô sinh mang EHP
EHP được tìm thấy trong môi trường nước ao nuôi khi ao có tôm nhiễm bệnh.
Ngoài ra, mầm bệnh cũng được phát hiện trong phân tôm và trong bùn đáy ao nuôi tôm.
Theo nghiên cứu của Otta, động vật bị nhiễm bệnh EHP có thể giải phóng vi bào tử ra
môi trường thông qua sự phân hủy của con chết hoặc các tế bào gan, biểu mô ruột bong
ra được chuyển xuống hệ tiêu hóa và ra ngoài theo phân [20]. EHP đã được ghi nhận có
thể tồn tại trong môi trường nước hoặc bùn đáy từ sáu tháng đến một năm, tùy thuộc vào
điều kiện môi trường ao nuôi [7].
Bảng 3: Yếu tố vô sinh mang EHP
Yếu tố vô
TT sinh mang
EHP
Hình thức nhiễm
Vùng nghiên
Nguồn
cứu
Tự nhiên Thí nghiệm
X
X
1
Nước
Ấn Độ, Thái
[7], [20], [25], [28]
[20]
X
X
X
Lan
2
3
Phân tôm
Bùn đáy ao
Ấn Độ
3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh EHP
3.1. Tuổi tôm và loài tôm
Tôm nuôi có thể bị nhiễm bệnh EHP ở tất cả các giai đoạn phát triển, từ tôm post
đến tôm trưởng thành và tôm bố mẹ. Nghiên cứu ở tôm trong trang trại và tôm ở ngoài
mô hình nuôi thương phẩm cho thấy tỷ lệ tôm nhiễm EHP trong trại giống (10%) thấp
hơn so với tỷ lệ tôm nhiễm EHP ở ao nuôi (60%) [22]. Nếu chỉ tính riêng trong giai đoạn
nuôi thương phẩm tại ao thì giai đoạn tôm nhỏ tỷ lệ nhiễm EHP cao hơn giai đoạn lớn
đối với vùng nuôi ở 3 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng và Cà Mau [13]. Một nghiên cứu khác đã
ghi nhận thêm tỷ lệ nhiễm cao ở giai đoạn 31-50 ngày tuổi; giai đoạn trước 30 ngày tuổi
và sau 51 ngày tỷ lệ nhiễm thấp hơn [22].
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm EHP cũng có thể có liên quan đến loài tôm. Theo Lê
Hồng Phước, tỷ lệ nhiễm EHP trên tôm sú giống (6%) thấp hơn so với tôm thẻ chân trắng
giống (9%) [13]. Tuy nhiên, đây là kết quả nghiên cứu ban đầu, nhóm tác giả cũng cho
rằng cần có thêm nghiên cứu với số lượng mẫu nhiều và thời gian nghiên cứu trải dài hơn
để kiểm chứng kết quả ban đầu.
46
Trường Đại học Vinh
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 3A/2020, tr. 43-50
3.2. Mùa vụ
Tần suất xuất hiện của bệnh EHP có liên quan đến mùa vụ nuôi. Bệnh xuất hiện
với tần xuất cao hơn trong vụ hè và thấp hơn trong vụ đông. Theo nghiên cứu của
Prathisha và cộng sự tiến hành ở Tamil Nadu, Ấn Độ trên các trang trại tôm nuôi, vào vụ
hè (tháng 1 đến tháng 5), tỷ lệ tôm nhiễm EHP ở tháng cao điểm là gần 35% (tháng 4);
trong khi đó, vào vụ đông (tháng 9 đến tháng 12), tháng cao điểm nhất là gần 15% (tháng
9 và tháng 11) [22]. Đối với tôm giống, theo nghiên cứu của Lê Hồng Phước và cộng sự,
ở miền Nam Việt Nam, mùa mưa bắt gặp mẫu tôm giống dương tính với EHP cao gấp
hai lần mùa khô [13].
3.3. Sự xuất hiện của hội chứng phân trắng
Mặc dù EHP được khẳng định không phải là nguyên nhân gây hội chứng phân
trắng (WFS) ở tôm nuôi nhưng có sự liên quan giữa EHP và WFS [29]. Nghiên cứu chỉ
ra rằng ao nuôi chưa bị bệnh phân trắng có thể âm tính với EHP, nhưng ngược lại, ao đã
bị bệnh phân trắng thường bắt gặp EHP, thậm chí bắt gặp với tỷ lệ tôm nhiễm cao. Theo
Rajendran, tỷ lệ mẫu nhiễm EHP trong ao nuôi bị bệnh phân trắng (96,4%) cao hơn
nhiều so với ao không bị WFS (39,4%) [23]. Kết quả nghiên cứu tương tự cũng được báo
cáo bởi Hà [19].
4. Kết luận
Các nghiên cứu đã xác định có 15 loài sinh vật mang EHP, trong đó chiếm ưu thế
nhất là tôm (5 loài), tiếp đến là động vật phù du (04 loài), nhuyễn thể (2 loài), cuối cùng
là cua, tép trứng, ruốc và giun nhiều tơ (1 loài). EHP đã được ghi nhận có thể tồn tại
trong môi trường nước, bùn đáy và phân tôm nơi không có tế bào vật chủ hay tế bào vật
mang.
Một số yếu tố được xác định là có ảnh hưởng đến bệnh EHP bao gồm tuổi tôm,
loài tôm, mùa vụ nuôi và sự xuất hiện của hội chứng phân trắng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Anderson, I. G., Shariff, M., & Nash, G., “A hepatopancreatic microsporidian in
pond-reared tiger shrimp, Penaeus monodon, from Malaysia”, Journal of
Invertebrate Pathology, 1989. https://doi.org/10.1016/0022-2011(89)90020-7.
[2] Cục Thú Y, Hội thảo Giải pháp phát triển nuôi tôm nước lợ hiệu quả, bền vững, Sóc
[3] Chayaburakul, K., Nash, G., Pratanpipat, P., Sriurairatana, S., Withyachumnarnkul, B.,
“Multiple pathogens found in growth-retarded black tiger shrimp Penaeus monodon
cultivated in Thailand”, Diseases of Aquatic Organisms, 60(2), 89-96, 2004.
[4] CIBA, Annual report 2015-16, Chennai: Central Institute of Brackish Water
Aquaculture, 2016.
[5] FAO, Health management and biosecurity maintenance in white shrimp (Penaeus
Vannamei) hatcheries in Latin America, FAO Fisheries Technical Paper, pp. 450,
2003.
47
L. T. Mây, T. T. M. Hạnh, T. T. T. Vinh / Sinh vật mang vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei)…
[6] Flegel, T. W., “The shrimp response to viral pathogens”, In The New Wave,
Proceedings of the Special Session on Sustainable Shrimp Culture, Aquaculture
2001, Browdy, C.L., Jory, D.E. (Eds.), LA: World Aquaculture Society, pp. 254-
278, 2001.
[7] Giridharan, M., and Uma, A., “A Report on the Hepatopancreatic Microsporidiosis
Caused by Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) in Penaeus vannamei (Pacific White
Shrimp) Farms in Thiruvallur District, Tamilnadu, India”, International Journal of
Current Microbiology and Applied Sciences, 6(6): 147-152, 2017.
[8] Hudson, D. A., Hudson, N. B., & Pyecroft, S. B., “Mortalities of Penaeus japonicus
prawns associated with microsporidean infection”, Australian Veterinary Journal,
[9] Joshi, J., Srisala, J., Truong, V. H., Chen, I. T., Nuangsaeng, B., Suthienkul, O., Lo,
C. F., Flegel, T. W., Sritunyalucksana, K., and Thitamadee, S., “Variation in Vibrio
parahaemolyticus isolates from a single Thai shrimp farm experiencing an outbreak
of acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND)”, Aquaculture. 428-429, 297-
302, 2014.
[10] Kalaimani, N., Ravisankar, T., Chakravarthy, N., Raja, S., Santiago, T.C. and
Ponniah, A. G., “Economic Losses due to Disease Incidences in Shrimp Farms of
India”, Fish. Techn., 50: 80-86, 2013.
[11] Kummari, S., V. Haridas, D., Handique, S., Peter, S., Rakesh, C. G., Sneha, K. G.,
Pillai, D., “Incidence of Hepatopancreatic Microsporidiasis, by Enterocytozoon
hepatopenaei (EHP) in Penaeus vannamei Culture in Nellore District, Andhra
Pradesh, India and the Role of Management in its Prevention and Transmission”,
International Journal of Current Microbiology and Applied Sciences, 2018.
[12] Laisutisan K, Prasertsri S, Chuchird N, Limsuwan C., “Ultrastructure of the
microsporidian Thelohania (Agmasoma) penaei in the pacific white shrimp
(Litopenaeus vannamei)”, Kasetsart Journal: Natural Science, 33:41-8, 2009.
[13] Lê Hồng Phước; Đặng Ngọc Thùy; Thới Ngọc Bảo; Nguyễn Thanh Trúc; Trần
Minh Thiện; Trương Hồng Việt; Đoàn Văn Cường, Đánh giá một số yếu tố nguy cơ
liên quan đến bệnh vi bào tử trùng (EHP) trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
tại một số tỉnh trọng điểm Đồng bằng Sông Cửu Long và đề xuất giải pháp kiểm
soát ô nhiễm môi trường, hạn chế phát sinh bệnh trong thời gian tới, Báo cáo tổng
kết nhiệm vụ, 2019.
[14] Limsuwan, C., Chuchird, N., Laisutisan, K., “Efficacy of calcium hypochlorite on
the prevalence of microsporidiosis (Thelohania) in pond-reared Litopenaeus
vannamei”, Kasetsart Journal: Natural Science, 42(2), 282-288, 2008.
[15] Luis. F. A, Jee E. H, D. V. M. and Kathy F. J. Tang, “Enterocytozoon
hepatopenaei (EHP) is a risk factor for acute hepatopancreatic necrosis disease
(AHPND) and septic hepatopancreatic necrosis (SHPN) in the Pacific white
shrimp Penaeus vannamei”, Aquaculture, 2017.
48
Trường Đại học Vinh
Tạp chí khoa học, Tập 49 - Số 3A/2020, tr. 43-50
[16] Mark S., Aquatic Animal Diseases Significant to Australia: Identification Field
Guide, 5th Edition, Canberra: Australian Government Department of Agriculture,
CC BY 4.0. 295-300, 2019.
[17] Mukta S and Paramveer S., “Enterocytozoon hepatopenaei: A microsporidian in the
midst of serious threat to shrimp aquaculture”, Journal of Entomology and Zoology
Studies, 6(6): 936-939, 2018.
[18] Newman S. G., “Microsporidian Impacts shrimp production - industry efforts
address control, not eradication”, Glob Aquac Advocate, 16-17, 2015.
[19] Nguyễn Thị Hà, Đồng Thanh Hà, Nguyễn Thị Thủy, Vũ Thị Kim Liên, “Phát hiện
Enterocytozoon hepatopenaei ký sinh trên tôm sú (Penaeus monodon) nuôi ở Việt
Nam và liên quan đến hội chứng phân trắng”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, 12:45-50, 2010.
[20] Otta S. K., P. K. Patil, K. P. Jithendran, K. V. Rajendran, S. V. Alavandi, and K. K.
Vijayan, “Managing Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), microsporidial infections
in vannamei shrimp farming: An Advisory”, CIBA e-publication, No. 29, 2016.
[21] Prasertsri S, Limsuwan L, Chuchird N., “The effects of microsporidian (Thelohania)
infection on the growth and histopathological changes in pond-reared Pacific white
shrimp (Litopenaeus vannamei)”, Kasetsart Journal: Natural Science, 43:680-8,
2009.
[22] Prathisha R, Dr. M Rosalind George and Dr. K Riji John, “Assessment of
occurrence of Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) in South Tamil Nadu”, Journal
of Entomology and Zoology Studies, 7(1): 137-142, 2019.
[23] Rajendran, K. V., Shivam, S., Ezhil Praveena, P., Joseph Sahaya Rajan, J., Sathish
Kumar, T., Avunje, S., Vijayan, K. K., “Emergence of Enterocytozoon hepatopenaei
(EHP) in farmed Penaeus (Litopenaeus) vannamei in India”, Aquaculture, 454, 272-
280, 2016.
[24] Raveendra, M., Suresh, G., Nehru, E., Pamanna, D., Venkatesh, D., Yugandhar
Kumar, M., Neeraja, T., “Effect of Microsporidian Parasite Enterocytozoon
hepatopenaei (EHP) on Pond Profitability in Farmed Pacific White Leg Shrimp
Litopenaeus vannamei”, International Journal of Current Microbiology and Applied
[25] Salachan, P. V., Jaroenlak, P., Thitamadee, S., Itsathitphaisam, O., and
Sritunyalucksana, K., “Laboratory cohabitation challenge model for shrimp
hepatopancreatic microsporidiosis (HPM) caused by Enterocytozoon hepatopenaei
(EHP)”, BMC Veterinary Research, 13:9, 2017.
[26] Sritunyalucksana, K., Sanguanrut, P., Salachan, P. V., Thitamadee, S., Flegel, T. W.,
“Urgent appeal to control sprad of the shrimp microsporididian parasite
Enterocytozoon hepatopenaei (EHP)”, Network of Aquaculture Centres in Asia-
Pacific (NACA), 4-6, 2015.
49
L. T. Mây, T. T. M. Hạnh, T. T. T. Vinh / Sinh vật mang vi bào tử trùng (Enterocytozoon hepatopenaei)…
[27] Stentiford G. D., Dunn A. M., Microsporidian in Aquatic Invertebrates. In: Weiss L,
Becnel JJ (eds) Microsporidia: Pathogens of Opportunity, New York: John Wiley &
Son, Inc., 2014.
[28] Tang, K. F., Pantoja, C. R., Redman, R. M., Han, J. E., Tran, L. H., and Lightner, D.
V., “Development of in situ hybridization and PCR assays for the detection of
Enterocytozoon hepatopenaei (EHP), a microsporidian parasite infecting penaeid
shrimp”, Journal of Invertebrate Pathology. 130: 37-41, 2015.
[29] Tangprasittipap A., Srisala J., Chouwdee S., Somboon M., Chuchird N., Limsuwan
C., Srisuvan T., Timothy W. F. and Sritunyalucksana K., “The microsporidian
Enterocytozoon hepatopenaei is not the cause of white feces syndrome in whiteleg
shrimp Penaeus (Litopenaeus) vannamei Tangprasittipap et al.”, BMC Veterinary
Research, 9:139, 2013.
[30] Thitamadee S, Prachumwat A, Srisala J, Jaroenlak P, Salachan PV,
Sritunyalucksana K., “Review of current disease threats for cultivated penaeid
shrimp in Asia”, Aquaculture, 452:69-87, 2016.
[31] Trương Thị Mỹ Hạnh, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Đặng Thị Lụa, Lê Thị Mây, Phan Thị
Vân, “Sinh vật mang virus gây bệnh trên tôm”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Số 10/2016, tr. 85-94, 2016.
triển nông thôn, số 9, tr. 87-92, 2018.
SUMMARY
ORGANISMS CARRYING THE MICROSPORIDIAN PARASITE
ENTEROCYTOZOON HEPATOPENAEI AND SOME FACTORS AFFECT
THE MICROSPORIDIAN DISEASE IN BRACKISH WATER SHRIMP
The microsporidian parasite (Enterocytozoon hepatopenaei - EHP) causes disease
related to slow growth in the brackish water shrimp. The disease is determined to be
transmitted both vertically (from broodstock to offspring) and horizontally (from infected
individuals to heathy ones). This paper reviewed informations from both national and
international publications reporting to the EHP cariers which could transmitte EHP to
shrimp and some factors that affect EHP disease. The results showed that 15 species
could be EHP carriers; those were shrimp (5 species), zooplankton (04 species), crab,
eggs shrimps, small shrimps, snail, oysters and polychaete (1 species). EHP has been
reported to exist in water, pond bottom and shrimp feces where there was not the present
of host or carrier cell. Several factors affecting EHP have been recorded including
farming season, age of shrimp, species of shrimp and white feces syndrome.
Keywords: Enterocytozoon hepatopenaei (EHP); organism carrier; influence
factor.
50
Bạn đang xem tài liệu "Sinh vật mang vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh vi bào tử trùng ở tôm nuôi nước lợ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
sinh_vat_mang_vi_bao_tu_trung_enterocytozoon_hepatopenaei_va.pdf

