Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản ở vùng phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CHỦNG VI KHUẨN PHÂN GIẢI TINH BỘT  
TỪ HỒ NUÔI THỦY SẢN Ở VÙNG PHÁ TAM GIANG, THỪA THIÊN HUẾ  
*
Hoàng Dương Thu Hương , Nguyễn Thị Hồng Thảo  
Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
*Email:thuhuongcnk32@gmail.com  
Ngày nhận bài: 26/6/2020; ngày hoàn thành phản biện: 3/7/2020; ngày duyệt đăng: 02/10/2020  
TÓM TẮT  
Từ 12 mẫu đất đã phân lập được 60 chủng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh  
6
6
bột, số lượng vi khuẩn dao động trong khoảng 1,52 x 10 CFU/g – 6,23 x 10 CFU/g.  
Tuyển chọn được hai chủng vi khuẩn T1 và T12 có khả năng phân giải tinh bột  
mạnh với kích thước vòng phân giải đạt 25,33 mm – 25,67 mm. Nghiên cứu về điều  
kiện nuôi cấy đã chỉ ra rằng, hai chủng vi khuẩn này có sự tích lũy sinh khối và  
hoạt tính enzyme mạnh nhất trong môi trường có pH 6,5 – 7,0 sau 48 – 60 giờ.  
Từ khóa: Chủng vi khuẩn, điều kiện nuôi cấy, phân giải tinh bột.  
1. MỞ ĐẦU  
Tam Giang là vùng đầm phá nước lợ lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á, nằm  
trong hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong những  
năm gần đây, nghề nuôi thủy sản ở đây phát triển mạnh mẽ, hàng năm khai thác hàng  
nghìn tấn hải sản, cá, tôm các loại [4]. Tuy nhiên, ảnh hưởng của ngành nuôi trồng  
thủy sản đến môi trường, đặc biệt là nguồn nước nói chung và ao hồ nói riêng đang ở  
tình trạng ô nhiễm đáng báo động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và  
sức khỏe của người dân trong khu vực.  
Hiện nay, việc sử dụng các biện pháp sinh học để xử lí nước thải đã được  
chứng minh là có hiệu suất xử lý cao hơn những biện pháp hóa lý khác [2]. Cơ sở của  
việc xử lý chất thải các ao nuôi bằng vi sinh vật (VSV) là sử dụng VSV để phân giải các  
chất ô nhiễm hữu cơ có trong chất thải, bã thải. Nhờ hoạt động của VSV, các chất ô  
nhiễm được chuyển hóa về nồng độ cho phép, ở mức không gây hại tới môi trường. Để  
tìm hiểu về khả năng phân giải các chất hữu cơ như tinh bột của vi khuẩn trong chất  
thải ao nuôi và tuyển chọn các chủng vi khuẩn có tiềm năng ứng dụng trong các  
phương pháp xử lí sinh học, làm cơ sở cho nghiên cứu tạo chế phẩm VSV hữu ích làm  
107  
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản …  
sạch chất thải và góp phần xử lý ô nhiễm môi trường, chúng tôi tiến hành phân lập các  
chủng vi khuẩn này từ các hồ nuôi thủy sản ở vùng Tam Giang, Thừa Thiên Huế.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian thực hiện  
Các chủng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột phân lập từ mẫu đất ở các  
hồ nuôi thủy sản ở vùng phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.  
Địa điểm thu mẫu: Vùng phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế.  
Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2019 đến tháng 4/2020.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Phương pháp phân lập và đếm số lượng tế bào  
Sử sụng phương pháp Koch để phân lập vi khuẩn có khả năng phân giải tinh  
bột trên môi trường thạch Vinogradski thạch đĩa nhưng thay nguồn carbon bằng tinh  
bột [3].  
Xác định số lượng tế bào vi khuẩn trong mẫu bằng phương pháp đếm gián tiếp  
thông qua số lượng khuẩn lạc mọc trên môi trường thạch đĩa [3].  
2.2.2. Sơ tuyển các chủng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột  
Các chủng vi khuẩn được cấy vạch lên bề mặt thạch đĩa, nuôi cấy ở thời gian và  
nhiệt độ thích hợp sau đó nhuộm màu bằng thuốc nhuộm Lugol [1].  
2.2.3. Xác định hoạt tính enzyme bằng phương pháp khuếch tán trên thạch  
Các chủng vi khuẩn tuyển chọn được nuôi cấy lắc tốc độ 120 rpm ở nhiệt độ  
phòng với thời gian thích hợp. Ly tâm dịch nuôi bằng máy ly tâm lạnh, tốc độ 8000  
rpm trong 10 phút để thu phần dịch nổi.  
Chuẩn bị các đĩa petri chứa thạch - cơ chất: gồm 2% thạch và 0,5% cơ chất là  
tinh bột.  
Tạo giếng thạch có đường kính 12 mm, dùng micropipette hút 0,7 ml dịch  
enzyme vào giếng. Làm lạnh trong 12 giờ (4 - 6ᵒC) rồi đưa vào tủ ấm 28 - 30ᵒC ủ trong  
36 giờ. Nhuộm màu bằng Lugol và đo đường kính vòng phân giải cơ chất [1].  
2.2.4. Xác định sinh khối vi khuẩn  
Phần sinh khối được tái huyền phù để tiến hành đo OD bằng máy quang phổ  
kế ở bước sóng 610 nm, dựa vào đồ thị chuẩn để xác định sinh khối tạo thành.  
108  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
2.2.5. Xác định một số đặc điểm hình thái  
Quan sát đại thể trên môi trường thạch đĩa, sử dụng phương pháp làm tiêu bản  
phiến kính để quan sát hình thái tế bào [3].  
2.2.6. Thăm dò một số điều kiện nuôi cấy thích hợp cho sinh tổng hợp enzyme amylase  
của vi khuẩn  
Tối ưu hóa một số điều kiện nuôi cấy: thời gian, pH thích hợp cho sinh trưởng  
phát triển và sinh tổng hợp enzyme của vi khuẩn bằng phương pháp “ một lúc – một  
biến” (one – variable – at – a – time – method)  
2.2.7. Xử lý số liệu  
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel 2016 và phân tích ANOVA (Duncan’s  
test p < 0,05) bằng chương trình SPSS 20.0.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột  
3.1.1. Tìm hiểu số lượng vi khuẩn  
Từ 12 mẫu đất ở đáy hồ nuôi thủy sản ở vùng phá Tam Giang - Thừa Thiên  
Huế đã tiến hành phân lập và đếm số lượng khuẩn lạc vi khuẩn có khả năng phân giải  
tinh bột trên môi trường thạch cơ bản (chứa tinh bột). Kết quả về số lượng vi khuẩn  
phân giải tinh bột được trình bày ở bảng 1.  
Bảng 1. Số lượng vi khuẩn trong các mẫu đất hồ nuôi thủy sản  
Số lượng vi  
Ký hiệu  
mẫu  
Địa điểm thu mẫu  
Thời gian  
thu mẫu  
STT  
pH  
khuẩn  
6
CFU/g (x10 )  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
CT5  
CT6  
RC1  
RC2  
RC3  
RC4  
CT7  
CT8  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở Rú Chá  
Hồ nuôi thủy sản ở Rú Chá  
Hồ nuôi thủy sản ở Rú Chá  
Hồ nuôi thủy sản ở Rú Chá  
Hồ nuôi thủy sản ở Cồn Tè  
Hồ nuôi thủy sản ở Cồn Tè  
6,8  
4,2  
5,0  
4,1  
4,2  
4,0  
5,5  
5,3  
4,2  
4,2  
3,7  
4,1  
6/12/2019  
6/12/2019  
6/12/2019  
6/12/2019  
6/12/2019  
6/12/2019  
7/1/2020  
7/1/2020  
7/1/2020  
7/1/2020  
3/2/2020  
3/2/2020  
6,26  
3,45  
6,32  
3,75  
2,98  
3,31  
4,14  
3,56  
2,88  
3,11  
1,52  
3,37  
10  
11  
12  
Từ kết quả bảng 1 cho thấy, số lượng vi khuẩn có sự khác biệt và dao động tùy  
từng vị trí lấy mẫu. Số lượng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột cao nhất là mẫu  
109  
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản …  
CT3 (6,23 x106 CFU/g đất khô) được lấy từ hồ nuôi thủy sản ở Cồn Tè, số lượng vi  
khuẩn có khả năng phân giải tinh bột thấp nhất là mẫu CT7 (1,52 x106 CFU/g đất khô)  
cũng được lấy tại địa điểm này. Như vậy, trên cùng một địa điểm lấy mẫu nhưng ở các  
thời điểm khác nhau thì số lượng vi khuẩn không giống nhau, điều này có thể phụ  
thuộc vào nhiệt độ, pH và thời gian thu mẫu khác nhau.  
3.1.2. Đánh giá khả năng phân giải tinh bột của vi khuẩn  
Bảng 2. Khả năng phân giải tinh bột của các chủng phân lập  
Khả năng phân giải  
Yếu  
Chiều rộng vạch phân giải  
w < 10  
Số chủng  
Tỷ lệ (%)  
15,00  
43,33  
30,00  
11,67  
9
26  
18  
7
Trung Bình  
Mạnh  
Rất mạnh  
10 ≤ w < 15  
15 ≤ w < 20  
w ≥ 20  
Từ kết quả ở bảng 2 cho thấy, tất cả các chủng vi khuẩn phân lập được đều có  
khả năng phân giải tinh bột nhưng ở các mức độ khác nhau. Có 26 chủng có khả năng  
phân giải tinh bột trung bình, chiếm tỷ lệ cao nhất (43,33%). Các chủng có khả năng  
phân giải tinh bột mạnh chiếm tỷ lệ khá lớn (30,00%). Thông qua sơ tuyển phát hiện  
được 7 chủng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột rất mạnh chiếm tỷ lệ 11,67%.  
Hình 1. Vạch phân giải tinh bột của một số chủng vi khuẩn mạnh  
3.1.3. Hoạt lực phân giải tinh bột của các chủng vi khuẩn tuyển chọn  
Trong số các chủng vi khuẩn phân lập được, chúng tôi chọn ra 10 chủng có kích  
thước vạch phân giải lớn nhất để tiến hành tuyển chọn bằng phương pháp khuếch tán  
thạch đĩa. Kết quả được trình bày ở bảng 3.  
110  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
Bảng 3. Kích thước vòng phân giải tinh bột của các chủng vi khuẩn  
STT  
1
2
3
4
5
6
7
8
Chủng  
T1  
T6  
Kích thước (mm)  
a
25,33  
bc  
20,67  
a
T12  
T14  
T15  
T17  
T30  
T43  
T47  
T55  
25,67  
21,33  
b
de  
16,33  
18,67  
cd  
b
21,00  
de  
16,67  
d
9
10  
17,33  
c
19,67  
Ghi chú: Sự sai khác giữa các chữ cái trên cùng một cột biểu hiện sai khác có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,05 (Ducans’ test)  
Trong 10 chủng đã xác định hoạt tính enzyme, chủng T1 và T12 có vòng phân  
giải lớn nhất, kích thước vòng phân giải lần lượt là 25,33 mm và 25,67 mm. Do đó  
chúng tôi chọn chủng T1 và T12 làm đối tượng cho các nghiên cứu tiếp theo.  
Hình 2. Vòng phân giải tinh bột của các chủng vi khuẩn mạnh  
3.2. Đặc điểm hình thái của các chủng vi khuẩn  
3.2.1. Chủng T1  
- Khuẩn lạc hình tròn, kích thước 2-3 mm, bề mặt trơn, nhẵn, màu trắng sữa, độ  
dày 1-2 mm.  
111  
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản …  
- Tiến hành nhuộm Gram âm chủng T1 và quan sát trên kính hiển vi với độ  
phóng đại x100, cho thấy tế bào chủng T1 bắt màu hồng, có hình que dài và đứng riêng  
lẻ.  
Hình 3. Hình thái khuẩn lạc và tế bào của chủng T1 (x100).  
3.2.2. Chủng T12  
- Khuẩn lạc hình tròn, kích thức 2-3 mm, bề mặt trơn, nhẵn, màu trắng trong,  
dộ dày 1-2 mm.  
- Tiến hành nhuộm Gram âm chủng T12 và quan sát trên kính hiển vi với độ  
phóng đại x100, cho thấy tế bào chủng T12 bắt màu hồng có hình tròn và đứng riêng lẻ.  
Hình 4. Hình thái khuẩn lạc và tế bào của chủng T12 (x100)  
3.3. Ảnh hưởng của thời gian đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hoạt tính  
enzyme của vi khuẩn  
Để thăm dò ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến sinh trưởng phát triển và  
hoạt tính enzyme của vi khuẩn, tiến hành nuôi cấy lắc hai chủng vi khuẩn trong môi  
112  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
trường Vinogradski dịch thể. Sau các mốc thời gian 12, 24, 36, 48, 60, 72 giờ xác định  
hoạt tính amylase và sinh khối 2 chủng vi khuẩn.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 12 giờ, sự tích lũy sinh khối và hoạt tính  
amylase bắt đầu tăng mạnh ở cả hai chủng vi khuẩn và đạt cực đại ở 48 giờ đối với  
chủng T1 và 60 giờ đối với chủng T12. Sau các khoảng thời gian này, hoạt tính amylase  
và sinh khối bắt đầu giảm.  
Bảng 4. Ảnh hưởng của thời gian nuôi cấy đến sinh trưởng, phát triển  
và hoạt tính amylase của hai chủng T1 và T12  
T1  
T12  
Đường kính vòng  
Thời gian  
Sinh khối  
khô  
(mg/ml)  
Đường kính vòng  
phân giải (mm)  
Sinh khối khô  
nuôi cấy  
(giờ)  
12  
(mg/ml)  
phân giải (mm)  
f
f
f
e
1,31  
1,66  
1,83  
2,03  
1,72  
1,50  
13,67  
23,00  
25,33  
27,00  
20,33  
14,67  
0,41  
4,45  
0,87  
1,51  
2,07  
1,39  
17,33  
19,67  
20,00  
22,33  
d
c
e
d
24  
36  
48  
60  
b
b
d
cd  
a
a
b
b
c
d
a
a
25,67  
e
e
c
c
72  
20,33  
Ghi chú: Sự sai khác giữa các chữ cái trên cùng một cột biểu hiện sai khác có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,05 (Ducans’ test)  
3.3. Ảnh hưởng của pH đến khả năng sinh trưởng, phát triển và hoạt tính enzyme  
của vi khuẩn  
pH môi trường được điều chỉnh ở các mức 5,0; 5,5; 6,0; 6,5; 7,0; 7,5; 8,0 bằng  
đệm phosphate; sau thời gian nuôi cấy thích hợp (48 giờ đối với chủng T1 và 60 giờ đối  
với chủng T12) xác định hoạt tính amylase và sinh khối 2 chủng vi khuẩn.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả hai chủng vi khuẩn đều có khả năng sinh  
trưởng và phát triển ở khoảng pH khá rộng trong đó chủng T1 thích hợp nhất ở pH 6,5  
và chủng T12 thích hợp nhất ở pH 7. Khi pH môi trường tăng lên, sinh khối và hoạt  
tính enzyme của 2 chủng vi khuẩn đều giảm.  
Bảng 5. Ảnh hưởng của pH đến sinh trưởng phát triển và hoạt tính amylase  
của hai chủng T1 và T12  
T1  
T12  
Đường kính vòng  
Sinh khối  
khô  
pH  
Đường kính vòng  
phân giải (mm)  
Sinh khối khô  
(mg/ml)  
phân giải (mm)  
(mg/ml)  
g
g
e
f
5,0  
5,5  
6,0  
1,00  
1,35  
12,33  
21,00  
1,95  
2,16  
2,51  
17,33  
19,00  
24,00  
f
d
d
e
c
c
bc  
d
3,05  
24,67  
113  
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản …  
T1  
T12  
Đường kính vòng  
Sinh khối  
pH  
Đường kính vòng  
phân giải (mm)  
Sinh khối khô  
khô  
(mg/ml)  
phân giải (mm)  
(mg/ml)  
a
a
b
c
6,5  
7,0  
7,5  
8,0  
5,34  
28,00  
26,33  
2,73  
26,67  
45,00  
27,33  
13,67  
b
b
a
a
4,24  
2,31  
3,30  
d
e
ab  
b
18,33  
3,06  
e
f
c
g
1,63  
15,67  
2,37  
Ghi chú: Sự sai khác giữa các chữ cái trên cùng một cột biểu hiện sai khác có ý nghĩa thống kê  
với p < 0,05 (Ducans’ test)  
4. KẾT LUẬN  
Số lượng vi khuẩn có khả năng phân giải tinh bột phân lập từ mẫu đất của các  
6
6
hồ nuôi ở vùng phá Tam Giang dao động trong khoảng từ 1,52 x 10 CFU/g - 6,32 x 10  
CFU/g.  
Trong 60 chủng vi khuẩn phân giải tinh bột phân lập được từ 12 mẫu đất, đã  
tuyển chọn được 2 chủng T1 và T12 có khả năng phân giải tinh bột mạnh.  
Điều kiện tối ưu cho sinh trưởng phát triển và hoạt tính enzyme mạnh của 2  
chủng vi khuẩn:  
- Chủng T1: thời gian nuôi cấy là 48 giờ, pH môi trường 6,5.  
- Chủng T12: thời gian nuôi cấy là 60 giờ, pH môi trường 7.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Nguyễn Lân Dũng, Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn Thanh Hiền, Lê Đình Lương, Đoàn Xuân  
Mượu, Phạm Văn Ty, 1978. Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật, Tập 2. Nxb Khoa học và  
Kỹ thuật, Hà Nội.  
[2]. K. Selvam, T. Selvankumar, R. Rajiniganth, P. Srinivasan, C. Sudhakar, B. Senthilkumar, M.  
Govarthanan (2016), "Enhanced production of amylase from Bacillus sp. using groundnut  
shell and cassava waste as a substrate under process optimization: Waste to wealth  
approach", Biocatalysis and Agricultural Biotechnology, Vol.7, pp. 250 - 256.  
[3]. Phạm Thị Ngọc Lan, 2012. Giáo trình thực tập Vi sinh vật học, Nxb Đại học Huế.  
114  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 17, Số 2 (2020)  
ISOLATION AND SELECTION OF AMYLOLYTIC BACTERIA FROM  
AQUACULTURE PONDS IN TAM GIANG LAGOON ,  
THUA THIEN HUE PROVINCE  
Hoang Duong Thu Huong*, Nguyen Thi Hong Thao  
Faculty of Biology, University of Sciences, Hue University  
ABSTRACT  
In this study, sixty strains of amylolytic bacteria were isolated from 12 soil samples  
6
of aquaculture ponds. The number of bacteria strains is around 1,52 x 10 CFU/g -  
6
6,32 x 10 CFU/g. Among this number, two strains called T1 and T12 with strong  
starch hydrolysis ability with enzyme activity at 25,33 mm - 25,67 mm were  
seclected. This study indicates that these two amylolytic bacteria strains have the  
best rise of biomass and enzyme at pH 6,5 - 7,0, after 48-60 hours.  
Keywords: Amylolytic, bacteria strains, cultural conditions.  
Hoàng Dương Thu Hương sinh ngày 30/04/1990. Bà tốt nghiệp chuyên  
ngành Công nghệ sinh học năm 2013, tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành  
Công nghệ sinh học năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Từ năm 2013 đến nay là cán bộ giảng dạy tại Bộ môn Công nghệ sinh học,  
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
115  
pdf 10 trang yennguyen 18780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn phân giải tinh bột từ hồ nuôi thủy sản ở vùng phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_lap_va_tuyen_chon_chung_vi_khuan_phan_giai_tinh_bot_tu.pdf