Trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida) trên cơ chất lõi ngô tại trường Đại học Tây Bắc
TẠP CHÍ KHOA HỌC
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Số 16 (6/2019) tr.87 - 93
TRỒNG NẤM SÒ TRẮNG (PLEUROTUS FLORIDA) TRÊN CƠ CHẤT
LÕI NGÔ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Đặng Văn Công, Đoàn Đức Lân, Lý A Khu, Lê Trần Công
Trường Đại học Tây Bắc
Tóm tắt: Nghiên cứu nuôi trồng nấm sò Trắng (Pleurotus florida) trên cơ chất lõi ngô được thực hiện
tại Trường Đại học Tây Bắc từ năm 2007 đến nay. Kết quả các thí nghiệm đã chỉ ra rằng trồng nấm sò Trắng
trên cơ chất lõi ngô có năng suất tăng 11,9%, hiệu quả kinh tế tăng 26,09% so với trồng trên cơ chất rơm rạ;
trồng nấm sò Trắng trên cơ chất lõi ngô bổ sung thêm 10% dinh dưỡng (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương) năng
suất tăng từ 6,4% - 9,6%, hiệu quả kinh tế tăng từ 12,86% - 23,32% so với không bổ sung dinh dưỡng; sử dụng
khối lượng cơ chất lõi ngô trong 1 bịch nấm là 2,5 kg thì năng suất và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất; sử dụng
lượng giống cấy trong 1 bịch nấm (đối với bịch nấm có 2kg cơ chất) là 60g thì năng suất và hiệu quả kinh tế đạt
cao nhất.
Từ khóa: nấm sò, lõi ngô, rơm rạ, bông phế thải, Tây Bắc.
1. Mở đầu
Nấm ăn là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, có hàm lượng aminoaxit tương đối
cao, đặc biệt có đầy đủ 8 loại aminoaxit không thay thế, chứa nhiều loại vitamin A,B,C,D,E
và khoáng chất cũng rất phong phú. Trong số các loại nấm ăn thì nấm sò là loại nấm dễ trồng
và trồng được trên nhiều loại cơ chất khác nhau [1].
Nghề trồng nấm tại Việt Nam được phát triển từ lâu, tại khu vực đồng bằng thường
trồng nấm sò trên cơ chất rơm rạ, mùn cưa và bông phế thải....bởi vì đây là các loại phụ phẩm
sẵn có tại các đại phương. Đối với các tỉnh Tây Bắc, do đặc thù địa hình, thời tiết khí hậu nên
cây ngô được trồng phổ biến, trong đó Sơn La là tỉnh có diện tích trồng ngô lớn nhất. hàng
năm có khoảng 200 nghìn tấn lõi ngô thải ra môi trường, chưa tính một lượng lớn thân, lá cây
ngô bỏ lại ở trên nương. Đây được coi là nguồn nguyên liệu rất tốt cho nuôi trồng nấm ăn
thay thế các loại nguyên liệu truyền thống như rơm rạ, mùn cưa, bông phế thải [2].
Năm 2016 nhóm tác giả Lưu Minh Loan, Mạch Phương Thảo đã có nghiên cứu “Bước
đầu nghiên cứu xử lý lõi ngô làm cơ chất nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida)”, tuy
nhiên nghiên cứu này mới chỉ thực hiện bốn nội dung: Khảo sát ảnh hưởng của kỹ thuật tạo
ẩm đến quá trình nuôi trồng nấm; khảo sát ảnh hưởng của độ mịn cơ chất; khảo sát ảnh hưởng
của tỷ lệ dinh dưỡng bổ sung vào cơ chất đến quá trình trồng nấm (chỉ sử dụng dinh dưỡng
cám gạo với tỷ lệ 0%, 2% và 6%); đánh giá chất lượng bã thải sau trồng nấm [4].
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của việc trồng nấm sò Trắng
trên cơ chất lõi ngô so với cơ chất rơm rạ và bông phế thải. Ngoài ra đánh giá được hiệu quả của
việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương với tỷ lệ 10%) vào cơ
chất trồng nấm; xác định được khối lượng cơ chất trong một bịch nấm và xác định khối lượng
Ngày nhận bài: 02/11/2017. Ngày nhận đăng: 16/8/2018.
Liên lạc: Đặng Văn Công - mail: dangcongtbu@gmail.com
87
giống nấm cấy trong một bịch nấm để đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
2. Nội dung và phương pháp
2.1. Nội dung
- Nội dung 1: So sánh năng suất và hiệu quả kinh tế khi trồng nấm sò Trắng trên cơ
chất lõi ngô so với cơ chất rơm rạ và bông phế thải.
- Nội dung 2: Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế khi bổ sung thêm 10% cám gạo,
10% bột ngô và 10% bột đậu tương vào cơ chất lõi ngô để trồng nấm sò Trắng.
- Nội dung 3: Xác định khối lượng cơ chất lõi ngô trong 1 bịch nấm khi trồng nấm sò
Trắng để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Nội dung 4: Xác định khối lượng giống nấm cấy trong 1 bịch nấm khi trồng nấm sò
Trắng để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.1. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 1: Bố trí thí nghiệm gồm 3 công thức (công thức
1: 100% cơ chất rơm rạ; công thức 2: 100% cơ chất lõi ngô nghiền; công thức 3: 100% cơ
chất bông phế thải), mỗi công thức gồm 30 bịch nấm, mỗi bịch nấm có khối lượng 2 kg, thí
nghiệm bố trí theo kiểu RCB với 3 lần nhắc lại. Thời gian thực hiện thí nghiệm từ tháng 9 –
12/2007.
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 2: Bố trí thí nghiệm gồm 4 công thức (công thức
1: 100% cơ chất lõi ngô nghiền; công thức 2: 90% cơ chất lõi ngô nghiền và 10% cám gạo;
công thức 3: 90% cơ chất lõi ngô nghiền và 10% bột ngô; công thức 4: 90% cơ chất lõi ngô
nghiền và 10% bột đậu tương), mỗi công thức gồm 30 bịch nấm có khối lượng 2 kg, thí
nghiệm bố trí theo kiểu RCB với 3 lần nhắc lại. Thời gian thực hiện thí nghiệm từ tháng 6 –
11/2008.
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 3: Bố trí thí nghiệm gồm 5 công thức (công thức
1: 2kg cơ chất lõi ngô nghiền/bịch; công thức 2: 2,5kg cơ chất lõi ngô nghiền/bịch; công thức
3: 3kg cơ chất lõi ngô nghiền/bịch; công thức 4: 3,5kg cơ chất lõi ngô nghiền/bịch, công thức
5: 4kg cơ chất lõi ngô nghiền/bịch), mỗi công thức gồm 30 bịch nấm (túi đóng bịch có kích
thước 25 x 35cm), thí nghiệm bố trí theo kiểu RCB với 3 lần nhắc lại. Thời gian thực hiện thí
nghiệm từ tháng 7 – 10/2016.
- Phương pháp nghiên cứu nội dung 4: Bố trí thí nghiệm gồm 4 công thức (công thức
1: 40g giống/bịch; công thức 2: 50g giống/bịch; công thức 3: 60g giống/bịch; công thức 4:
70g giống/bịch), mỗi công thức gồm 30 bịch nấm, mỗi bịch nấm có khối lượng 2 kg, thí
nghiệm bố trí theo kiểu RCB với 3 lần nhắc lại. Thời gian thực hiện thí nghiệm từ tháng 7 –
10/2016.
- Quy trình kỹ thuật: Theo Nguyễn Lân Dũng (2004) [1].
- Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi:
+ Kích thước quả thể nấm sò Trắng: Mỗi công thức theo dõi 30 quả thể, đo chiều dài
cuống và đường kính mũ nấm khi thu hoạch.
+ Năng suất: Mỗi công thức theo dõi 30 bịch, cân toàn bộ khối lượng nấm tươi thu
được trên 1 bịch nấm, sau đó quy đổi từ năng suất/bịch ra năng suất/tấn nguyên liệu.
88
+ Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế = Tổng thu (năng suất x giá bán) – Tổng chi (chỉ
tính các vật tư tiêu hao và công lao động, không tính khấu hao nhà xưởng, dụng cụ).
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel và Irristat 4.0.
3. Kết quả
3.1. Hiệu quả trồng nấm sò Trắng trên cơ chất lõi ngô so với rơm rạ và bông phế thải
Bảng 1. Kích thước quả thể, năng suất và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm sò Trắng
trên một số cơ chất khác nhau (tháng 12/2007)
Chiều dài Đường kính
Năng suất
(kg/tấn
nguyên liệu)
Tổng thu
(đồng/tấn
nguyên liệu)
Hiệu quả kinh
tế (đồng/tấn
nguyên liệu)
Công
thức
cuống nấm
mũ nấm
(cm)
(cm)
4,02a
4,16a
3,98a
0,21
6,15b
6,37ab
6,79a
0,56
318c
437b
497a
10,1
9,7
9.540.000
13.110.000
14.910.000
7.457.000
8.308.000
7.733.000
CT 1
CT 2
CT 3
LSD0,05
CV%
11,2
13,5
Kết quả ở bảng 1 cho thấy chiều dài cuống nấm và đường kính mũ nấm ở công thức
trồng nấm sò Trắng trên cơ chất lõi ngô nghiền tương đương với khi trồng trên cơ chất rơm rạ
và bông phế thải. Điều này chứng tỏ cơ chất lõi ngô hoàn toàn phù hợp với sinh trưởng, phát
triển của nấm sò Trắng. Năng suất nấm sò Trắng trên các công thức dao động từ 318 – 497
kg/tấn nguyên liệu, trong đó trồng nấm sò Trắng trên cơ chất lõi ngô nghiền và bông phế thải
đạt năng suất tương đương nhau và cao hơn có ý nghĩa so với cơ chất rơm rạ. Hiệu quả kinh
tế của các công thức dao động từ 7.457.000 – 8.308.000 đồng/tấn nguyên liệu, trong đó trồng
nấm sò Trắng trên cơ chất lõi ngô nghiền đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Do cơ chất bông phế
thải không sẵn có tại địa phương nên tốn nhiều chi phí mua và vận chuyển; cơ chất rơm rạ sẵn
có tại địa phương nhưng năng suất thấp.
Theo Badshah (1992) đã thử nghiệm trồng nấm sò Trắng trên một số cơ chất bã mía,
lõi ngô, mùn cưa, rơm lúa mì năng suất đạt 18,5 – 432,8g/2kg cơ chất (tương đương 9,25 –
216,5 kg/tấn cơ chất), trong đó cơ chất rơm lúa mì cho năng suất cao nhất, sau đó đến lõi ngô
và thấp nhất là mùn cưa [5].
Theo Ponmurugan et al (2007), đã nghiên cứu ảnh hưởng của cơ chất rơm rạ và bã
mía lên sự phát triển của nấm Bào ngư Trắng (nấm sò Trắng Trắng). Kết quả cho thấy năng
suất nấm sò Trắng đạt từ 124,35 – 268,94g/kg cơ chất (tương đương 124,35 – 268,94 kg/tấn
cơ chất), trong đó nấm sò Trắng phát triển và cho năng suất cao nhất trên cơ chất rơm rạ [6].
Như vậy, lõi ngô thích hợp làm cơ chất trồng nấm sò Trắng. Tại Sơn La có thể sử
dụng lõi ngô làm cơ chất trồng nấm sò Trắng thay thế cho cơ chất rơm rạ và bông phế thải.
3.2. Hiệu quả bổ sung một số loại dinh dưỡng vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng
Bảng 2. Kích thước quả thể, năng suất và hiệu quả kinh tế của việc bổ sung dinh dưỡng
vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng (tháng 11/2008)
Công
Chiều dài Đường kính Năng suất
Tổng thu
Hiệu quả kinh
89
thức
cuống nấm
mũ nấm
(cm)
(kg/tấn
nguyên liệu)
(đồng/tấn
nguyên liệu)
tế (đồng/tấn
nguyên liệu)
(cm)
4,16a
4,12a
4,35a
4,25a
0,27
6,37b
6,75ab
6,65ab
7,37a
0,75
437c
516ab
501b
533a
31,6
14,2
13.110.000
15.480.000
15.030.000
15.990.000
8.308.000
9.077.000
8.913.000
8.743.000
CT 1
CT 2
CT 3
CT 4
LSD0,05
CV%
12,7
15,4
Kết quả ở bảng 2 cho thấy khi bổ sung thêm 10% cám gạo, 10% bột ngô hay 10% bột
đậu tương vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng không làm tăng hoặc giảm kích thước quả
thể nấm sò Trắng khi thu hoạch. Tuy nhiên, năng suất nấm sò Trắng ở các công thức có bổ
sung thêm dinh dưỡng đều cao hơn có ý nghĩa so với công thức đối chứng, năng suất các công
thức dao động từ 437 – 533 kg/tấn nguyên liệu, trong đó công thức bổ sung thêm 10% bột đậu
tương vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng đạt năng suất cao nhất. Hiệu quả kinh tế các
công thức dao động từ 8.308.000 – 9.077.000 đồng/tấn nguyên liệu, trong đó công thức bổ
sung thêm 10% cám gạo vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Do chi phí mua bột đậu tương cao hơn chi phí mua cám gạo.
Theo Lưu Minh Loan, Mạch Phương Thảo (2016): khi bổ sung 2% cám gạo vào cơ
chất lõi ngô nghiền thì năng suất nấm sò đạt 0,46 kg/kg nguyên liệu khô (tương đương 460
kg/tấn nguyên liệu), khi bổ sung 6% cám gạo vào cơ chất lõi ngô nghiền thì năng suất nấm sò
đạt 0,36 kg/kg nguyên liệu khô (tương đương 360 kg/tấn nguyên liệu) [4].
Như vậy, có thể thấy việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng (cám gạo, bột ngô, bột
đậu tương với tỷ lệ 10%) vào cơ chất lõi ngô trồng nấm sò Trắng đều làm tăng năng suất và
hiệu quả kinh tế so với đối chứng. Bổ sung 10% cám gạo cho năng suất và hiệu quả kinh tế
cao hơn bổ sung 10% bột ngô hoặc đậu tương.
3.3. Xác định khối lượng cơ chất trong một bịch nấm thích hợp nhất
Bảng 3. Ảnh hưởng của khối lượng cơ chất lõi ngô trong một bịch nấm đến kích thước
quả thể, năng suất và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm sò Trắng (tháng 10/2016)
Chiều dài
cuống nấm
(cm)
Đường kính
mũ nấm
(cm)
Năng suất
(kg/tấn
nguyên liệu)
Tổng thu
(đồng/tấn
nguyên liệu)
Hiệu quả kinh
tế (đồng/tấn
nguyên liệu)
Công
thức
4,07a
3,53b
3,73ab
3,07c
11,57a
11,35a
10,30b
9,97bc
430a
424a
21.500.000
21.200.000
12.665.000
13.000.000
17.329.000
17.371.000
9.073.667
9.569.000
CT 1
CT 2
CT 3
CT 4
253,3c
260b
90
2,80c
0,35
5,4
9,51c
0,62
3,1
252,5c
6,19
6,5
12.625.000
9.316.000
CT 5
LSD0,05
CV%
Kết quả bảng số liệu 3 cho thấy chiều dài cuống nấm dao động từ 2,8 – 4,07 cm và
không có sự sai khác ý nghĩa giữa các công thức. Đường kính mũ nấm dao động từ 9,51 –
11,57 cm, trong đó công thức sử dụng khối lượng cơ chất trong 1 bịch là 2 kg và 2,5 kg có
đường kính mũ nấm đạt lớn nhất (sai khác có ý nghĩa). Năng suất nấm sò Trắng dao động từ
252,5 – 430 kg/tấn nguyên liệu, trong đó công thức sử dụng khối lượng cơ chất trong 1 bịch là
2 kg và 2,5 kg có năng suất đạt lớn nhất (sai khác có ý nghĩa). Hiệu quả kinh tế của các công
thức dao động từ 9.316.000 – 17.371.000 đồng/tấn nguyên liệu, trong đó công thức sử dụng
khối lượng cơ chất trong 1 bịch là 2 kg và 2.5 kg có hiệu quả kinh tế đạt lớn nhất.
Như vậy, khi sử dụng khối lượng cơ chất lõi ngô trong một bịch là 2 kg hoặc 2,5 kg thì
nấm sò Trắng sinh trưởng, phát triển tốt nhất, năng suất và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất. Do
khối lượng cơ chất thích hợp nên sợi nấm phát triển tốt.
3.4. Xác định khối lượng giống nấm cấy trong một bịch nấm thích hợp nhất
Bảng 4. Ảnh hưởng của khối lượng giống nấm cấy trong một bịch nấm đến kích thước quả
thể, năng suất và hiệu quả kinh tế của việc trồng nấm sò Trắng (tháng 10/2016)
Chiều dài
cuống nấm
(cm)
Đường kính
mũ nấm
(cm)
Năng suất
(kg/tấn
nguyên liệu)
Tổng thu Hiệu quả kinh
(đồng/tấn tế (đồng/tấn
nguyên liệu) nguyên liệu)
Công
thức
3,09bc
2,67c
3,49ab
3,90a
0,43
9,30b
8,57c
8,33c
9,65a
0,26
4,4
250,67c
247,44c
318,33a
294,44b
5,4
12.533.500
12.372.000
15.916.500
14.722.000
7.283.500
6.972.000
10.366.500
9.022.000
CT 1
CT 2
CT 3
CT 4
LSD0,05
CV%
6,6
11
Kết quả bảng số liệu 4 cho thấy chiều dài cuống nấm dao động từ 2,67 – 3,9 cm và
không có sự sai khác ý nghĩa giữa các công thức, tuy nhiên khi sử dụng khối lượng giống cấy
trong 1 bịch là 70g thì đường kính mũ nấm đạt cao nhất (9,65 cm) và có sự sai khác ý nghĩa
với các công thức khác. Năng suất nấm sò Trắng thu được dao động từ 247,44 – 318,33
kg/tấn nguyên liệu, trong đó công thức sử dụng khối lượng giống nấm cấy trong 1 bịch là 60g
có năng suất đạt lớn nhất (sai khác có ý nghĩa). Hiệu quả kinh tế của các công thức dao động
từ 6.972.000 – 10.366.000 đồng/tấn nguyên liệu, trong đó công thức sử dụng khối lượng
giống nấm cấy trong 1 bịch là 60g có hiệu quả kinh tế đạt lớn nhất.
Như vậy, khi sử dụng khối lượng giống nấm cấy trong một bịch là 60g thì năng suất
và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất. Do khối lượng giống thích hợp so với lượng cơ chất trong
bịch nấm nên sợi nấm phát triển tốt.
91
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
- Lõi ngô thích hợp làm cơ chất trồng nấm sò Trắng, năng suất đạt 437 kg/tấn nguyên
liệu, hiệu quả kinh tế đạt 8.308.000 đồng/tấn nguyên liệu (năng suất tăng 11,9%, hiệu quả
kinh tế tăng 26,09% so với trồng trên cơ chất rơm rạ).
- Bổ sung thêm các chất dinh dưỡng (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương) vào cơ chất lõi
ngô trồng nấm sò Trắng đều làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế so với đối chứng. Trong
đó, bổ sung 10% cám gạo cho năng suất (516 kg/tấn nguyên liệu) và hiệu quả kinh tế
(9.077.000 đồng/tấn nguyên liệu) đạt cao nhất, năng suất tăng 9,6%, hiệu quả kinh tế tăng
23,32% so với không bổ sung dinh dưỡng.
- Sử dụng khối lượng cơ chất lõi ngô trong một bịch là 2 kg hoặc 2,5 kg thì nấm sò
Trắng sinh trưởng, phát triển tốt nhất, năng suất và hiệu quả kinh tế đạt cao nhất.
- Sử dụng khối lượng giống nấm cấy trong một bịch là 60g thì năng suất (318,33
kg/tấn nguyên liệu) và hiệu quả kinh tế (10.366.500 đồng/tấn nguyên liệu) đạt cao nhất.
4.2. Đề nghị
- Tại Sơn La có thể sử dụng lõi ngô làm cơ chất trồng nấm sò Trắng thay thế cho cơ
chất rơm rạ và bông phế thải.
- Nên bổ sung thêm 10% cám gạo vào cơ chất lõi ngôt rồng nấm sò Trắng để đạt được
năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Chỉ nên sử dụng khối lượng cơ chất lõi ngô trong 1 bịch nấm là 2kg hoặc 2,5 kg và
sử dụng khối lượng giống nấm cấy trong 1 bịch là 60g để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế
cao nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
Nguyễn Lân Dũng (2004), Công nghệ nuôi trồng nấm ăn (tập 2). Nhà xuât bản Nông
nghiệp Hà Nội.
Đoàn Đức Lân, Đặng Văn Công, Trần Quang Khải, Nguyễn Thị Quyên, Vũ Phương
Liên (2014), Nuôi trồng nấm sò trên phế thải cây ngô. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Đoàn Đức Lân, Đặng Văn Công, Hoàng Văn Thảnh, Trần Quang Khải, Vũ Phương
Liên, Nishimura Yoshihiko (2014), Study on the cultivation of Oyter Mushroom
using maize residues in Son La province Vietnam. Kỷ yếu hội thảo quốc tế tại Đại học
Kyushu Nhật Bản: Research for Tropical Agriculture Vol.7.
[4]
Lưu Minh Loan, Mạch Phương Thảo (2016), Bước đầu nghiên cứu xử lý lõi ngô làm
cơ chất nuôi trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida). Tạp chí Khoa học HQGHN: Các
Khoa học Trái đất và Môi trường, Tập 32, Số 1S (2016) 254-259.
[5]
[6]
Badshah. N, N. Ur-Rehman and M.Wahid (1992), Yield and quality of mushroom
grown on different substrates. Sarhah J.Agriculture, 8 (6): 631-635.
Ponmurugan P., Y. Nataraja Shekhar and T.R. Sreesakathi (2007), Effect of various
substrate on the growth and quality of mushroom. Pakistan Journal of Biological
Sciences 10 (1): 171-173.
92
CULTIVATION OF OYSTER MUSHROOMS (PLEUROTUS FLORIDA)
USING CORN COB MEDIA IN TAY BAC UNIVERSITY
Dang Van Cong, Doan Duc Lan, Ly A Khu, Le Tran Cong
Tay Bac University
Abstract: Study on Oyster mushrooms (Pleurotus florida) using corncob has been conducted in Tay Bac
University since 2007. The study results showed that there was an increase of 11.9% in productivity and of
26.9% in economic efficiency from growing oyster mushroom using corncob compared to rice straw. Besides,
the use of a further amount of 10% nutrition when growing mushroom (such as rice bran, corn flour, soybean
flour) can help increase the productivity of the mushroom by 6.4%-9.6%, and the economic efficiency by
12,86%-23,32%, and mushroom can reach its highest productivity and economic efficiency if an amount of 2.5
kg of corncob and 60g of spawn is used for each of bag.
Keywords: Oyster mushrooms, corncob, rice straw, cotton waste, North-West
93
Bạn đang xem tài liệu "Trồng nấm sò trắng (Pleurotus florida) trên cơ chất lõi ngô tại trường Đại học Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trong_nam_so_trang_pleurotus_florida_tren_co_chat_loi_ngo_ta.pdf

