Hiệu quả ứng dụng công nghệ micro-nano Bubble Oxygen trong ao ương cá tra từ bột đến hương

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ MICRO-NANO BUBBLE OXYGEN  
TRONG AO ƯƠNG CÁ TRA TỪ BỘT ĐẾN HƯƠNG  
Phùng Thị Hồng Gấm1*, Nguyễn Trọng Huy1, Châu Hữu Trị2, Thới Ngọc Bảo3,  
Đỗ Văn Hoàng3, Phan Thanh Lâm3  
TÓM TẮT  
Ứng dụng công nghệ Micro-nano Bubble Oxygen (MNO) trong ao ương cá tra giai đoạn cá bột lên  
cá hương với mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống cá tra. Nghiên cứu này được thực  
hiện tại Trại nuôi thủy sản Thạnh Phú thuộc Công ty TNHH Đầu tư Thủy sản Huy Thuận từ tháng  
7/2018 đến tháng 2/2019. Các thí nghiệm được bố trí trong ao đất diện tích 2.000m2 với mật độ  
ương 500 và 750 con/m2, mỗi nghiệm thức có 03 ao thí nghiệm ứng dụng công nghệ MNO và 01  
ao đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng oxy hòa tan trong các ao có sử dụng máy  
MNO dao động 7,42 – 8,74 mg/L cao hơn ao đối chứng (5,32-6,85 mg/L). Sau 29 ngày ương nuôi,  
tỷ lệ sống của cá hương ở 02 thí nghiệm loại ao mật độ 500con/m2 và 750con/m2 đạt lần lượt 31,23  
– 32,32% cao hơn ao đối chứng (21,36-22,99%). Tương tự, hệ số chuyển đổi thức ăn FCR của cá ở  
các ao thí nghiệm từ 0,56 -0,62 thấp hơn ao đối chứng (0,71- 0,76). So sánh kết quả giữa 02 mật độ  
ương cho thấy ao thí nghiệm với mật độ 750 con/m2 đạt năng suất trung bình là 285,65 kg/1.000m2  
cao hơn các ao thí nghiệm ở mật độ 500 con/m2 là 193,35kg/1.000m2 và có hiệu quả kinh tế cao hơn  
so với ao đối chứng (P<0,05). Ứng dụng công nghệ MNO đã đảm bảo cung cấp tốt hơn hàm lượng  
oxy hòa tan cho ao nuôi, và cũng góp phần giảm tiêu thụ điện trong vận hành hệ thống cung cấp oxy  
cho ao nuôi từ 5,0-16,14% so với ao đối chứng. Việc ứng dụng công nghệ MNO trong ao ương cá  
tra giai đoạn từ cá bột đến cá hương đã cho thấy những kết quả tích cực. Cần tiếp tục thực hiện ứng  
dụng công nghệ MNO trong ao ương cá tra giai đoạn bột đến hương trong mùa khô từ tháng 1- 6.  
Từ khóa: Micro-nano bubble oxygen, cá tra, DO, hiệu quả sản xuất.  
được cải thiện. Ở Việt Nam, nghiên cứu ứng  
dụng công nghệ Micro-nano trong nuôi tôm  
được Công ty TNHH Công nghệ HTC bắt đầu  
thực hiện năm 2014. Đến nay, Công ty TNHH  
Công nghệ HTC đã nghiên cứu và chế tạo thành  
công thiết bị tạo bọt khí cỡ nhỏ và siêu nhỏ bằng  
nhựa gọi là Micro-Nano bubble Oxygen (MNO)  
và đã được ứng dụng nuôi thử nghiệm tại nhiều  
cơ sở ở một số vùng nuôi và cũng đã thu được  
các kết quả ban đầu rất khả quan (Hoàng Tùng,  
2016). Từ đầu năm 2016, Công ty TNHH Công  
nghệ HTC hợp tác với Công ty TNHH Đầu tư  
Thủy sản Huy Thuận ở Bến Tre để sản xuất và  
giới thiệu sản phẩm này. Khi thử nghiệm ở ao  
nuôi tôm 5.000 m2, sử dụng 3 máy tạo MNO cho  
kết quả tốt, hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu vào  
I. GIỚI THIỆU  
Các nghiên cứu về tác dụng của các bọt  
khí có kích thước nhỏ hoặc siêu nhỏ đang được  
quan tâm nhiều trong những năm gần đây, đặc  
biệt là ở Nhật Bản (Tsuge, 2014). Công nghệ  
Micro-Nano bubble lần đầu tiên được nghiên  
cứu thử nghiệm trong nuôi trồng thủy sản tại  
Nhật Bản tại các mô hình nuôi hàu và điệp quạt  
(Nakayama, 2006). Theo đó, tốc độ tăng trưởng  
của các đối tượng nuôi được cải thiện do đảm  
bảo hàm lượng ôxy hòa tan luôn ở mức tối ưu  
trong suốt quá trình nuôi. Ohnari (2007) đã chế  
tạo thiết bị tạo bọt khí cỡ micro và đem áp dụng  
vào nuôi hàu ở Hiroshima, điệp quạt ở Hokkaido  
và trai ngọc tại Mie Prefecture; và kết quả cho  
thấy tốc độ tăng trưởng của các đối tượng này buổi sáng sớm ở mức trên 6 mg/L so với mức  
1 Công ty TNHH Đầu tư Thủy sản Huy Thuận, Bến Tre  
2 Trung tâm Khuyến Nông Bến Tre, Bến Tre  
3 Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II  
14  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
yêu cầu 4 mg/L. Việc luôn đảm bảo hàm lượng lý tổng hợp đã góp phần nâng cao tỷ lệ sống giai  
đoạn cá bột – cá hương đạt 30-35%. Tuy nhiên,  
kết quả nghiên cứu đề tài vẫn còn thiếu lần lặp  
lại và mới thử nghiệm trên qui mô trang trại lớn.  
Việc ương nuôi cá tra bột - cá hương trên bể xi  
măng, sau 27 ngày nuôi có thể đạt tỷ lệ sống  
49,6% (Nguyễn Văn Sáng & ctv., 2018). Hiện  
nay, nhu cầu cá tra giống cho nuôi thương phẩm  
của ĐBSCL có thể cần khoảng 3 tỷ cá giống,  
trong khi tỷ lệ sống thấp vào cuối giai đoạn ương  
(Nguyễn Văn Ngô, 2009, Bui & ctv., 2010; Le  
& Le, 2010, Belton & ctv., 2008, 2009; Phan,  
2014, Nguyễn Thanh Phương & Nguyễn Anh  
Tuấn 2016). Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn  
Sáng & ctv., (2011) thì tỷ lệ sống ương từ cá bột  
lên cá hương năm 2008 chỉ đạt 22,6%. Gần đây,  
kết quả điều tra của Lê Đức Liêm & ctv., (2017)  
tỷ lệ sống cá ương trong ao đất đạt 31,5-31,8%  
cá hương 24 ngày tuổi. Việc tỷ lệ sống ương cá  
tra từ bột lên giống còn thấp do tác động của quá  
nhiều yếu tố kỹ thuật, và chúng cần phải được  
kiểm soát và hoàn thiện (Bush & ctv., 2010;  
Nguyễn Văn Sáng & ctv., 2011; Nguyen & ctv.,  
2011; Nguyễn Văn Sáng & ctv., 2011; De Silva  
& Nguyen, 2011). Do đó, việc nghiên cứu cải  
tiến quy trình sản xuất giống và ương cá giống  
là cần thiết nhằm cung cấp đủ cá tra giống có  
chất lượng cho nuôi thương phẩm. Việc sử dụng  
máy MNO để bố trí cải thiện hệ thống ương sẽ  
được xem như một giải pháp tốt cho việc hoàn  
thiện quy trình ương cá bột đến cá hương.  
ôxy hòa tan giúp đối tượng nuôi không bị stress,  
khỏe mạnh và có tốc độ tăng trưởng tốt. Cùng  
đó, khi ứng sử dụng thiết bị MNO thì pH ổn  
định, màu nước ao khá bền trong suốt vụ nuôi.  
Trong thực tiễn, bọt khí cỡ nano có thể giúp tách  
các chất ô nhiễm ra khỏi môi trường nước, đặc  
biệt là chất béo và được cho là ảnh hưởng rất  
nhiều đến độ pH của nước. Theo Marui (2013)  
khi các bọt khí cỡ micro hoặc nano khi bị teo  
nhỏ lại rồi vỡ ra sẽ phóng thích nhiều gốc tự do,  
có khả năng diệt khuẩn, khử mùi hôi. Hơn nữa,  
theo Công ty TNHH Công nghệ HTC thì công  
nghệ MNO khi được ứng dụng vào nuôi thủy  
sản sẽ mang lại một số lợi ích sau: i) tạo ra rất  
nhiều oxy là nhân tố hủy diệt các loại vi khuẩn  
và các loại nấm gây các bệnh nguy hiểm vật  
nuôi; ii) tạo dư oxy làm kết lắng các loại phèn  
trong nước như phèn sắt, phèn nhôm và các kim  
loại nặng; iii) trung hòa amoniac và các loại khí  
độc khác (phản ứng hóa học hoặc sinh hóa với  
sự tham gia của các vi khuẩn hiếu khí); iv) giúp  
phát triển và kéo dài chu kỳ sinh trưởng của các  
loại tảo có lợi; và v) giúp các loại vi khuẩn hiếu  
khí có lợi phát triển tốt. Như vậy, máy MNO có  
nhiều tính ưu việt có thể hỗ trợ và ứng dụng tốt  
cho việc nuôi thủy sản nhằm nâng cao hiệu quả  
sản xuất. Công nghệ bọt khí MNO có thể xem là  
một trong các giải pháp tối ưu giúp người nuôi  
trồng thủy sản thành công.  
Với nghề cá tra thì hiện nay có khoảng trên  
100 trại sản xuất giống, và trên 1.721 hộ ương  
dưỡng cá giống với diện tích khoảng 1.512 ha  
(Tổng cục Thủy sản, 2017ab). Theo đánh giá từ  
Dự án cá tra 3 cấp thì năm 2017 sản lượng cá bột  
sản xuất đạt khoảng 14,77 tỷ con nhưng thực tế  
ương lên cá giống chỉ đạt 1,52 tỷ con, đạt tỷ lệ  
sống <10% (Nguyễn Thanh Tùng, 2019), và tập  
trung tại các địa phương trọng điểm về sản xuất  
giống như Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và  
Vĩnh Long (Phan & ctv., 2009). Trong những  
năm gần đầy một số nghiên cứu nhằm tăng tỷ lệ  
sống cho ương cá giống ở Đồng bằng sông Cửu  
Long đã được thực hiện và đạt kết quả khá khả  
quan. Theo Đinh Thị Thủy (2016), ứng dụng hệ  
thống thổi khí trong ao ương và giải pháp quản  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu  
Cá tra bột được cung cấp bởi Trung tâm  
Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ  
thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.  
Máy Micro-Nano Bubble Oxygen công  
nghệ Nhật Bản được cung cấp bởi Công ty  
TNHH Đầu tư Thủy sản Huy Thuận.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm ương cá tra  
bột đến cá hương ứng dụng công nghệ Micro-  
Nano Bubble Oxygen theo mật độ ương. Sử  
dụng máy MNO (4HP; 3phase; Công suất: 70  
15  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
m3/giờ) với khả năng cung cấp 20,5kg Oxy/ sáng và chiều từ 14-15 giờ. Tùy theo tuổi cá,  
ngày trong ao đất diện tích 2.000 m2, cụ thể:  
tình hình thời tiết, mật độ thả, sức khỏe cá mà  
điều chỉnh số giàn quạt, giờ chạy quạt hợp lý,  
tránh để hàm lượng oxy <4 mg/L. Bên cạnh đó  
các yếu tố môi truờng ao nuôi luôn được duy trì:  
pH 7,5-8,5; độ kiềm ≥ 85mgCaCO3/L; ammonia  
tổng nhỏ hơn 0,3mg/L; Nitrite ≤ 0,3mg/L và  
H2S ≤ 0,03 mg/L.  
o Mật độ 500 con/m2: gồm 3 ao nuôi thí  
nghiệm công nghệ Micro-nano Bubble Oxygen  
và 1 ao nuôi đối chứng.  
o Mật độ 750 con/m2: gồm 3 ao nuôi thí  
nghiệm công nghệ Micro-nano Bubble Oxygen  
và 1 ao nuôi đối chứng.  
o Quản lý nước ao: Thường xuyên quan  
trắc và kịp thời bổ sung bù lượng nước mất đi  
(mức nước tối thiểu đảm bảo đạt 1,2m). Định kỳ  
sử dụng men vi sinh Pro W từ 1 - 30 ngày tuổi  
thì sử dụng vào ngày thứ 5, 10, 15, 20 , 25 với  
liều lượng sử dụng 30g/1000 m3. Ngày tuổi 12,  
13, 14, 15, 16 sử dụng liều lượng 100g/1000 m3  
kết hợp Bicacbonat + Dolomite để tăng kiềm  
trên 100 kH, và duy trì đến ngày thứ 30. Bên  
cạnh đó, sử dụng định kỳ mật rỉ đường + EM từ  
13 - 30 ngày tuổi, sử dụng vào ngày 13, 18, 23,  
28 với liều lượng 10 lít/1000 m2 và sử dụng lúc  
20 - 21 giờ.  
Thời gian thực hiện: tháng 7/2018-2/2019  
tại Trang trại nuôi thủy sản Thạnh Phú – Công  
ty TNHH Đầu tư Thủy sản Huy Thuận.  
Kỹ thuật áp dụng giai đoạn ương từ cá bột  
đến cá hương: Các bước thực hiện quy trình  
công nghệ ương cá bột lên cá hương, gồm:  
o Cải tạo và chuẩn bị ao ương: Thực hiện  
quy trình cải tạo, xử lý đáy ao, chuẩn bị nước  
ao trước khi thả giống, chuẩn bị vật tư tiến hành  
vụ nuôi. Tiến hành nạo vét để loại bỏ hết chất  
thải (bùn đen) ở đáy ao, tiến hành diệt tạp và  
khử trùng đáy ao với vôi CaO và Chlorine. Lắp  
hệ thống cung cấp oxy hòa tan cho mỗi ao thí  
nghiệm (2.000m2), lắp 01 dàn quạt 15 cánh (2  
typ, moto 3HP) và 1 máy MNO (4HP, 3 phase,  
70m3/giờ ); ao đối chứng (2.000m2) lắp 01 dàn  
quạt 15 cánh (2 typ, moto 3HP).  
Quan trắc môi trường nước và sức khỏe cá  
nuôi: Theo dõi các yếu tố hiện trường pH, nhiệt  
độ, hàm lượng oxy hòa tan do cán bộ kỹ thuật  
đo hàng ngày vào lúc sáng sớm và chiều bằng  
phương pháp truyền thống (testkit pH: testkit  
SERA; và Nhiệt độ: Nhiệt kế rượu 0-50oC) và  
DO đo bằng máy cầm tay. Bên cạnh đó, để hỗ  
trợ cho việc quản lý chăm sóc ao nuôi trong  
suốt vụ nuôi, tiến hành thu mẫu môi trường và  
mẫu cá với tần suất thu mẫu 1 tuần/lần, gồm  
các chỉ tiêu: N-NH3; N-NO2; N-NO3 (phương  
pháp: 4500-NH3 F-APHA); Độ kiềm (phương  
pháp: TCVN 6636-1-2000); Aeromonas tổng số  
(phương pháp: Trải đĩa trên RS), Edwardsiella  
ictaluri (phương pháp: Trải đĩa BA, tăng sinh  
dịch lỏng và chạy PCR) và Salmonella sp.  
(phương pháp: Trải đĩa trên Salmonella chrome  
agar). Tất cả các mẫu này được thu mẫu chuyển  
về Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II để  
phân tích.  
o Chuẩn bị nước trước khi thả giống:  
Nước được lấy vào ao nuôi bằng máy MNO qua  
túi lọc 2 lớp vải kate trước lúc thả giống 4 ngày,  
mực nước cấp đạt 1,2 -1,4m. Các yếu tố môi  
trường cần đạt trước khi thả giống (pH 7,5-8,5;  
độ trong 30-50cm; độ kiềm ≥ 85mgCaCO3/L).  
o Chăm sóc và quản lý: Sử dụng hỗn  
hợp thức ăn tự chế, trứng vịt tươi (chỉ lấy lòng  
đỏ luộc, xay nhuyễn), S-pak 2/5, S-pak 8/5,  
Tomking 1s, thức ăn cá giống cỡ 0,4 li 40%  
protein trở lên. Cách cho cá bột ăn: Tính theo  
1triệu cá tra bột/ngày, cho ăn bằng tay, sử dụng  
hỗn hợp ủ tạt đều. Từ 01-04 ngày tuổi, cho ăn  
01 lần/ngày vào lúc 9-10 giờ sáng và từ 05-30  
ngày tuổi cho ăn 02 lần/ngày vào 7-8 giờ sáng  
và chiều 15-16 giờ.  
2.3. Thu thập và xử lý số liệu  
o Thời gian chạy quạt và máy MNO: từ  
10-30 ngày tuổi bắt đầu vận hành hệ thống cung  
cấp oxy cho cá ương. Thời gian chạy từ 3-7 giờ  
Quản lý số liệu và cơ sở dữ liệu: Các số liệu  
đo môi trường nước (pH, nhiệt độ, DO) được  
lưu trữ bằng sổ nhật ký của trang trại nuôi. Các  
16  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
o Phương pháp phân tích kinh tế: Sử dụng  
số liệu kiểm tra về sức khỏe cá nuôi và yếu tố  
môi trường khác NH3-N, NO2-N, Độ kiềm được  
thu định kỳ 1 tuần/lần để hỗ trợ cho việc chăm  
sóc cá nuôi. Các thông tin về sử dụng nguyên,  
nhiên liệu, thu hoạch cũng được lưu trữ bằng  
sổ nhật ký của trang trại nuôi. Tất cả các số liệu  
liên quan trong sổ nhật ký từng ao nuôi (6 ao thí  
nghiệm, 2 ao đối chứng) đều được lưu trữ trong  
sổ nhật ký, được nhập vào cơ sở dữ liệu trên  
MS. Excel 2010 để phục vụ cho việc phân tích  
đánh giá tổng kết mô hình.  
phân tích các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi  
nhuận và tỷ suất lợi nhuận để so sánh hiệu quả  
kinh tế giữa các ao thí nghiệm và ao đối chứng.  
III. KẾT QUẢ  
3.1. Kết quả ứng dụng công nghệ MNO  
trong ương cá tra bột-hương ở mật độ 500  
con/m2  
3.1.1. Đánh giá diễn biến một số chỉ tiêu  
môi trường  
Diễn biến nhiệt độ nước: Nhiệt độ nước  
dao động trong khoảng 26,67-28,930C vào buổi  
sáng và 28,93-31,030C vào buổi chiều (Hình  
1), nhưng vẫn phù hợp cho phát triển của cá  
tra trong quá trình ương nuôi. Theo QCVN 02-  
20:2014/BNNPTNT thì nhiệt độ thích hợp cho  
nuôi cá tra là 25-320C. Không có sự chênh lệch  
lớn về nhiệt độ giữa ao đối chứng ao thí nghiệm.  
Phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm MS.  
Excel 2010 và SPSS 20 để nhập và xử lý số liệu.  
Áp dụng một số phương pháp phân tích số liệu  
cơ bản sau:  
o Phương pháp phân tích thống kê: Sử  
dụng các chỉ tiêu số trung bình, độ lệch chuẩn,  
phân tích One-way Anova nhằm đánh giá và so  
sánh các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật và môi trường  
giữa các ao thí nghiệm và ao đối chứng.  
Hình 1. Diễn biến nhiệt độ nước các ao ương cá tra với mật độ 500 con/m2  
Diễn biến độ pH nước: Độ pH của các ao các ao thí nghiệm và ao đối chứng không dao  
ương biến động trong phạm vi 7,70 – 8,23 trong động lớn và nằm trong ngưỡng cho phép cá tra  
suốt quá trình ương, riêng ao đối chứng chỉ sinh trưởng và phát triển, giá trị cho phép theo  
xuất hiện 01 giá trị pH 6,3 vào buổi sáng nhưng QCVN 02-20:2014/BNNPTNT với chỉ tiêu pH  
với các giải pháp kỹ thuật đã nâng và ổn định là 7-9.  
pH trong các ao ương (Hình 2). Chỉ số pH ở  
17  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Hình 2. Diễn biến pH nước các ao ương cá tra với mật độ 500con/m2  
Diễn biến độ hàm lượng oxy hòa tan (DO): hòa tan buổi chiều của các ao đối chứng trung  
Ở các ao đối chứng, hàm lượng oxy hòa tan bình là 6,85mg/L thấp hơn có ý nghĩa thống kê  
trong các ao ương biến động trong phạm vi (P<0,05) so với trung bình các ao sử dụng thiết  
4-7,6 mg/L (theo ngày) hơi thấp hơn so với các bị MNO từ 8,54-8,63mg/L.  
ao thí nghiệm nhưng chưa ảnh hưởng đến cá  
ương (Hình 3).  
Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy, để vận  
hành quạt nước cho ao nuôi đối chứng đã sử  
Hàm lượng oxy hòa tan ở ao đối chứng dụng 285kWh cao hơn các ao thí nghiệm ứng  
buổi sáng trung bình là 5,32mg/L thấp hơn có dụng MNO từ 11,58-16,74%. Điều này cho thấy  
ý nghĩa thống kê (P<0,05) so với trung bình tính tối ưu của thiết bị MNO trong tiết kiệm  
các ao thí nghiệm có sử dụng thiết bị MNO năng lượng và cung cấp hàm lượng oxy hòa tan  
là 7,36-7,48mg/L. Tương tự, hàm lượng oxy cho các ao ương từ cá bột lên cá hương.  
Hình 3. Diễn biến DO nước các ao ương cá tra với mật độ 500 con/m2  
18  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.1.2. Đánh giá thông số kinh tế-kỹ thuật  
chính  
các ao thí nghiệm là 0,57 (giảm so đối chứng  
19,07%). Bên cạnh đó, một số chỉ số kinh tế (lợi  
nhuận, tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư) cũng  
cho thấy hiệu quả sản xuất của ao thí nghiệm  
cao hơn so với ao đối chứng (Bảng 1).  
Sau 28 ngày ương, tỷ lệ sống của cá ở ao  
đối chứng là 22,99% thấp hơn so với trung bình  
của các ao thí nghiệm là 31,23%. Hệ số FCR của  
ao đối chứng là 0,71 cao hơn so với trung bình  
Bảng 1. Thông số kinh tế - kỹ thuật chính của ao ương cá tra với mật độ 500 con/m2  
Hệ số  
FCR  
Tỷ lệ sống  
(%)  
Năng suất  
(kg/1.000m2)  
134,30  
Lợi nhuận  
(triệu đ/ao)  
Tỷ suất lợi  
nhuận (lần)  
Loại ao  
Ao đối chứng  
Ao thí nghiệm  
Ao A3  
0,71  
22,99  
6,90  
0,18  
0,60  
0,55  
32,15  
31,05  
193,45  
196,50  
24,33  
25,56  
0,61  
0,64  
Ao A4  
Ao A5  
0,57  
30,49  
190,10  
24,40  
0,62  
TB ao TN  
0,57±0,02  
31,23±0,69  
193,35±2,61  
24,76±0,57  
0,62±0,01  
Ghi chú: TB: Trung bình; TN: Thí nghiệm  
động trong khoảng 26,7 – 320C (Hình 4), với  
khoảng biến động nhiệt độ như hiện nay cũng  
phù hợp với giá trị cho phép trong QCVN 02-  
20:2014/BNNPTNT để cá tra sinh trưởng và  
phát triển.  
3.2. Kết quả ứng dụng công nghệ MNO  
trong ương cá tra bột-hương ở mật độ 750  
con/m2  
3.2.1. Đánh giá diễn biến một số chỉ tiêu  
môi trường  
Diễn biến nhiệt độ nước: Nhiệt độ nước dao  
Hình 4. Diễn biến nhiệt độ nước các ao ương cá tra với mật độ 750con/m2  
19  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Diễn biến độ pH nước: Mức biến động giá không lớn so với ao ương với mật độ 500 con/  
trị pH của các ao ương trong khoảng 7,77-8,13 m2, giá trị pH vẫn nằm trong ngưỡng cho phép  
trong suốt quá trình ương (Hình 5). Chỉ số pH ở của QCVN 02-20:2014/BNNPTNT để cá tra  
các ao ương của thí nghiệm này cũng biến động sinh trưởng và phát triển.  
Hình 5. Diễn biến pH nước các ao ương cá tra với mật độ 750con/m2  
Diễn biến độ hàm lượng oxy hòa tan (DO): nghiệm trung bình là 8,45-8,74mg/L (P<0.05).  
Giống như ao ương với mật độ 500 con/m2  
thì ở thí nghiệm này việc tiêu thụ điện cho vận  
hành quạt nước của ao nuôi đối chứng là 303  
kWh cao hơn các ao sử dụng thiết bị MNO từ  
5,0-16,14%. Việc ứng dụng công nghệ MNO đã  
cung cấp tốt hơn hàm lượng oxy cho ao ương,  
và lượng điện năng tiêu thụ cho việc vận hành  
thiết bị cũng ít hơn so với ao đối chứng.  
Hàm lượng oxy hòa tan của ao đối chứng vào  
buổi sáng có những thời điểm xuống mức  
4mg/L và chỉ số này khá thấp so với các ao thí  
nghiệm, đạt từ 5,9-6mg/L (Hình 6). Trung bình  
hàm lượng oxy hòa tan ở ao đối chứng là 5,2  
mg/L thấp hơn so với các ao thí nghiệm là 7,42-  
7,54mg/L (P<0,05). Tương tự, hàm lượng oxy  
hòa tan vào buổi chiều của ao đối chứng trung  
bình là 6,63mg/L cũng thấp hơn so với các ao thí  
Hình 6. Diễn biến DO nước các ao ương cá tra với mật độ 750con/m2  
20  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.2.2. Đánh giá thông số kinh tế-kỹ thuật đối chứng là 0,76 cao hơn trung bình các các ao  
chính  
thí nghiệm là 0,62 (18,42%). Hiệu quả sản xuất  
của ao thí nghiệm cũng cho thấy năng suất, lợi  
nhuận, tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư cũng  
cao hơn so với ao đối chứng (Bảng 2).  
Phân tích một số chỉ số kỹ thuật chính cho  
thấy sau 29 ngày ương thì tỷ lệ sống của ao đối  
chứng là 21,36% thấp hơn so với trung bình của  
các ao thí nghiệm là 32,32%. Hệ số FCR của ao  
Bảng 2. Thông số kinh tế - kỹ thuật chính của ao ương cá tra với mật độ 750 con/m2  
Hệ số  
FCR  
Tỷ lệ sống  
(%)  
Năng suất  
(kg/1.000m2)  
178,00  
Lợi nhuận  
(triệu đ/ao)  
Tỷ suất lợi  
nhuận (lần)  
Loại ao  
Ao đối chứng  
Ao thí nghiệm  
Ao B19  
0,76  
21,36  
18,28  
0,40  
0,59  
0,65  
32,99  
31,91  
292,50  
271,95  
51,52  
48,09  
1,09  
1,01  
Ao B21  
Ao B23  
0,61  
32,06  
292,50  
48,56  
1,02  
TB ao TN  
0,62±0,03  
32,32±0,48  
285,65±9,69  
49,39±1,52  
1,04±0,03  
Ghi chú: TB: Trung bình; TN: Thí nghiệm  
3.3. So sánh kết quả về ứng dụng công  
nghệ MNO trong ương cá tra bột đến cá  
hương giữa 2 mật độ ương  
Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy các chỉ  
số chính về hiệu quả sản xuất như năng suất, lợi  
nhuận và tỷ suất lợi nhuận có sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê giữa các ao thí nghiệm và ao đối  
chứng (P<0,05), ao thí nghiệm ứng dụng MNO  
với mật độ ương 750 con/m2 cho các thông số  
tốt hơn hai loại ao còn lại (Bảng 3). Khi so sánh  
từng loại ao riêng lẻ với nhau thì kết quả cũng  
cho thấy đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
giữa các loại ao thí nghiệm với nhau và giữa ao  
thí nghiệm với ao đối chứng (P<0,05).  
So sánh các chỉ tiêu kỹ thuật chính như hệ  
số FCR và tỷ lệ sống đã cho thấy có sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê giữa các ao thí nghiệm và  
ao đối chứng (P<0,05), tuy nhiên khi so sánh  
từng loại ao riêng lẻ với nhau thì sự khác biệt  
giữa ao ương ứng dụng MNO với mật độ 500  
con/m2 và ao ương ứng dụng MNO với mật độ  
750 con/m2 là không có ý nghĩa thống về chỉ số  
FCR và tỷ lệ sống (P>0,05).  
Bảng 3. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật các ao ương cá tra bột đến hương  
Hệ số  
FCR  
Tỷ lệ sống  
(%)  
Năng suất  
(kg/1.000m2)  
Lợi nhuận  
Tỷ suất lợi  
Loại ao  
(triệu đ/ao) nhuận (lần)  
Ao đối chứng  
0,73±0,03a 0,22±0,01a  
156,15±21,85a  
12,59±5,69a  
0,29±0,11a  
Ao TN -500 con/m2  
Ao TN -750 con/m2  
0,57±0,02b 0,31±0,01b  
0,62±0,03b 0,32±0,01b  
193,35±2,6b  
285,65±9,69c  
24,76±0,57b 0,62±0,02b  
49,39±1,52c 1,04±0,03c  
Các giá trị trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức α=0,05.  
IV. THẢO LUẬN  
mg/L thấp hơn so với các ao thí nghiệm 7,36-  
8,74mg/L (P<0.05) nhưng chưa ảnh hưởng đến  
cá ương nuôi và vẫn còn vượt xa so với giá trị  
cho phép là ≥2 mg/L của QCVN 02-20:2014/  
Hàm lượng oxy hòa tan trong các ao ương  
đối chứng biến động trong phạm vi 4,01-7,60  
21  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
BNNPTNT. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn biệt có ý nghĩa thống kê giữa các ao thí nghiệm  
và ao đối chứng (P<0,05), ao thí nghiệm ứng  
dụng MNO với mật độ ương 750 con/m2 cho  
các thông số tốt hơn hai loại ao còn lại. Khi so  
sánh từng loại ao riêng lẻ với nhau thì kết quả  
cũng cho thấy đều có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa các loại ao thí nghiệm với nhau và  
giữa ao thí nghiệm với ao đối chứng (P<0,05).  
Mặc dù, tỷ lệ sống của cá bột không có sự khác  
biệt giữa hai loại mật độ thí nghiệm, nhưng xem  
xét các yếu tố khác về kinh tế thì mật độ ương  
750 con/m2 cho các thông số tốt hơn. Tuy nhiên,  
theo Nguyễn Văn Sáng & ctv., (2018) thì người  
sản xuất có thể lựa chọn ương mật độ cao để có  
sản lượng cá hương nhiều hơn, nhưng với mật  
độ dày thì sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá,  
và liệu tăng trưởng chậm ở giai đoạn cá hương  
có ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển của  
cá ở giai đoạn sau thì cần phải có nghiên cứu  
tiếp theo. Quy trình công nghệ nuôi ương cá  
tra bột lên cá hương khi ứng dụng công nghệ  
MNO sẽ có thể tăng tỷ lệ sống (tăng >43% so  
với ao không ứng dụng MNO), con giống sạch  
bệnh và không nhiễm kháng sinh. Như vậy, lợi  
nhuận của người sản xuất giống và người nuôi  
cá sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, khi ứng dụng công  
nghệ MNO vào nuôi thủy sản, các chất cặn bẩn  
được đẩy lên trên bề mặt ao nuôi giúp dễ dàng  
loại bỏ, tăng độ trong của nước. Cùng đó, tảo  
khuê phát triển tốt, làm nguồn thức ăn tự nhiên  
cho vật nuôi. Việc áp dụng công nghệ này cũng  
góp phần giảm đáng kể việc thay nước cho ao  
nuôi, và gián tiếp giảm ô nhiễm môi trường và  
bảo vệ môi trường nước vùng nước xung quanh  
(Hoàng Tùng, 2016).  
Sáng & ctv., (2018) thì ương cá tra trên bể xi  
măng được lắp ống khí nano dọc chính giữa bể  
ương và sục khí đã luôn đảm bảo hàm lượng  
oxy trong mức 4-6mg/L, trong khi nghiên cứu  
sử dụng hệ thống thổi khí của Đinh Thị Thủy  
(2016) thì hàm lượng DO ở mức 4,0-6,7 mg/L.  
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả  
cũng khá tương đồng với kết quả nghiên cứu  
này như ao đối chứng, nhưng thấp hơn ao thí  
nghiệm ứng dụng MNO. Khả năng cung cấp  
oxy của máy MNO (4HP; 3phase; Công suất:  
70 m3/giờ) trong 01 ngày là 14.400 lít (20,5 kg  
Oxy), và lượng oxy cung cấp cho ao nuôi đảm  
bảo 6 ppm/m3/ngày là 0,006 kg. Ao diện tích  
với 2.000m2 (độ sâu ≥1,2m) yêu cầu hàm lượng  
oxy hòa tan là khoảng 18 kg/ngày (tương đương  
01 máy MNO), như vậy máy MNO của ao thí  
nghiệm đã cung cấp hàm lượng oxy hòa tan cao  
hơn so với các nghiên cứu trước đây.  
Những điều tra phỏng vấn cơ sở sản xuất  
giống gần đây cũng cho thấy tỷ lệ sống cá bột  
– cá hương dao động từ 20,25-42,4% (Phan  
& ctv., 2009; Nguyễn Văn Ngô, 2009; Bui &  
ctv., 2010; Nguyễn Văn Sáng & ctv., 2011;  
Phan, 2014; Lê Đức Liêm & ctv., 2017), trong  
khi những nghiên cứu thực nghiệm thì tỷ lệ này  
đạt trên 30% với ao ương có sử dụng hệ thống  
thổi khí (Đinh Thị Thủy, 2016) và đạt khoảng  
49,6% khi ương nuôi cá tra bột - cá hương trên  
bể xi măng (Nguyễn Văn Sáng & ctv., 2018).  
Với nghiên cứu này, sau 28-29 ngày ương tỷ lệ  
sống của ao đối chứng là 22,18% thấp hơn so  
với ao thí nghiệm là 31,782%. Tỷ lệ sống của cá  
không có sự khác biệt giữa ao thí nghiệm ứng  
dụng MNO với mật độ 500 và 750 con/m2, như  
vậy cần cân nhắc lựa chọn loại mật độ phù hợp.  
Theo Nguyễn Văn Sáng & ctv., (2018) trong  
nghiên cứu về ương nuôi cá trên bể xi măng thì  
cá bột ương ở mật độ 1.335 con/m2 không khác  
biệt có ý nghĩa với mật độ 2.000 con/m2, tỷ lệ  
sống lần lượt là 56,19% và 42,99%.  
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
5.1. Kết luận  
Việc ứng dụng công nghệ Micro-Nano  
Bubble Oxygen trong ao ương cá tra giai đoạn  
từ cá bột đến cá hương đã cho thấy những kết  
quả tích cực. Thiết bị MNO đã cũng cấp và  
đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan ở mức khá cao  
khoảng 7,42-8,74 mg/L và góp phần nâng cao  
tỷ lệ sống của cá trong các ao ứng dụng MNO  
so với ao không ứng dụng. Sau thời gian 28-29  
Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy các chỉ  
số chính về hiệu quả sản xuất như năng suất,  
lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận đã có sự khác  
22  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
ngày ương nuôi, hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng công nghệ MNO cũng góp phần giảm tiêu  
dụng MNO đã cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thụ điện trong vận hành hệ thống cung cấp oxy  
thống kê rõ ràng giữa ao đối chứng và ao thí cho ao nuôi từ 5,0-16,14% so với ao đối chứng.  
nghiệm. Ao ương ứng dụng MNO thả với mật  
độ 750 con/m2 đạt được các chỉ số FCR, tỷ lệ  
sống, năng suất, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận  
cao hơn các ao còn lại; với lần lượt là 0,62, 0,32,  
285,65, 49,39 và 1,04. Bên cạnh cung cấp tốt  
hơn hàm lượng oxy cho ao nuôi, thì việc ứng  
5.2. Đề xuất  
Cần tiếp tục thực hiện ứng dụng công nghệ  
MNO trong ương cá tra giai đoạn bột đến hương  
trong mùa khô từ tháng 1-tháng 6 và thực hiện  
mô hình tại vùng sản xuất giống trọng điểm tại  
Đồng Tháp, An Giang và Long An.  
cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo  
khoa học tổng kết dự án, Viện Nghiên cứu Nuôi  
trồng Thủy sản II, Hồ Chí Minh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
Đinh Thị Thủy, 2016. Báo cáo tổng kết đề tài  
“Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nâng cao  
tỷ lệ sống và chất lượng cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) từ bột lên giống ở vùng ĐBSCL,  
giai đoạn 2014 – 2016”. Báo cáo khoa học, Viện  
Nghiên nuôi trồng Thủy sản II, Hồ Chí Minh.  
NguyễnVănSáng,TrầnHữuPhúc, HàThịNgọcNga,  
Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Huỳnh Duy ,  
Nguyễn Thế Vương, Đặng Văn Trường, 2018.  
Tăng trưởng và tỷ lệ sống cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) ương trên bể xi măng từ cá bột  
đến cá hương 27 ngày tuổi. Tạp chí Nghề cá sông  
Cửu Long, số 12 – tháng 12/2018, 3-12.  
Hoàng Tùng, 2016. Công nghệ Micro Nano Buble:  
giải pháp cho nghề nuôi tôm. Mekongshrimp.  
com.  
Tổng cục Thủy sản, 2017a. Tổng quan nghề nuôi  
cá tra giai đoạn 2010-2017, định hướng và giải  
pháp phát triển bền vững. Tài liệu phục vụ Hội  
nghị Phát triển chuỗi sản xuất cá tra bền vững.  
Bộ NN&PTNT, Hà Nội.  
Lê Đức Liêm, Bùi Đức Hồng, Phan Thị Thu, Nguyễn  
Phương Thảo, Huỳnh Kim Anh, 2018. Báo cáo  
tổng kết nhiệm vụ “kiểm tra chất lượng đàn cá  
tra bố mẹ chọn giống”. Bộ NN&PTNT, Hà Nội.  
Tổng cục Thủy sản, 2017b. Báo cáo hiện trạng sản  
xuất giống cá tra. Bộ NN&PTNT, Hà Nội.  
Nguyễn Thanh Phương & Nguyễn Anh Tuấn, 2016.  
Nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)  
ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thành công và  
Thách thức trong phát triển bền vững. Nhà xuất  
bản Đại học Cần Thơ, Cần Thơ.  
Tài liệu tiếng Anh  
Belton, B., Le, S.X., Little, D.C., 2008. The  
Development and Status of Catfish Seed  
Production Systems in Vietnam. PMI2 project  
report. (p. 49). Institute of Aquaculture, The  
University o Stirling, Stirling.  
Nguyễn Thanh Tùng, 2019. Liên kết sản xuất giống  
cá tra 3 cấp chất lượng cao bước thay đổi lớn  
về chất lượng cá tra vùng đồng bằng sông Cửu  
Long. Tạp Chí Khoa học Trường Đại học An  
Giang (đã được chấp nhận đăng trên Tạp chí  
Khoa học Trường Đại học An Giang, số tháng  
10/2019).  
Belton, B., Little, D.C., Sinh, L.X., 2009. User and  
producer perceptions of Pangasius seed quality  
in Vietnam. Master thesis, in writing, p.12.  
Nguyễn Văn Ngô, 2009. Phân tích ngành hàng cá  
tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở tỉnh Đồng  
Tháp. Luận văn Cao học, chuyên ngành NTTS,  
Đại học Cần Thơ, Cần Thơ.  
Bui, T.M., Phan, T.L., Ingram, B.A., Nguyen, T.T.T.,  
Gooley, G.J., Nguyen, H.V., De Silva, S.S., 2010.  
Seed production practices of striped catfish,  
Pangasianodon hypophthalmus in the Mekong  
Delta region, Vietnam. Aquaculture 306 (1-4),  
92–100.  
Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Văn Hảo, Phạm Đình  
Khôi, Trịnh Quốc Trọng, Ngô Hồng Ngân,  
Nguyễn Thế Vương, Nguyễn Thị Đang, Nguyễn  
Quyết Tâm, Trịnh Quang Sơn, 2011. Chuyển  
giao công nghệ sản xuất giống cá tra có chất  
lượng di truyền cao về tính trạng tăng trưởng  
Bush, S. R., Khiem, N. T., & Chau, N. M., 2010.  
Is there a business case for small-holders in  
Vietnamese Pangasius? Aquaculture Asia  
Magazine, XV(4), 18–23  
23  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
De Silva, S. S., & Nguyen, P. T., 2011. Striped in the Mekong Delta, Vietnam. Aquaculture,  
catfish farming in the Mekong Delta, Vietnam: a  
tumultuous path to a global success. Reviews in  
Aquaculture, 3(2), 45–73.  
296(3-4), 227–236  
Phan, T.L., 2014. Sustainable development of  
export-orientated farmed seafood in Mekong  
Delta, Vietnam. PhD thesis, The University of  
Stirling, Stirling.  
Le, S.X., Le, H.L., 2010. Supply and use of catfish  
(Pangasianodon hypophthalmus) seed in the  
Mekong Delta of Vietnam. Aquacuture Asia  
Magazine XV(1), 26–33.  
Hideki Tsuge, 2014. Micro- and Nanobubbles:  
Fundamentals and Applications. 1st Edition.  
Jenny Stanford Publishing, Singapore.  
Nguyen, P.T., Hao, N.V, Tam, B.M., Lam, P.T.,  
Son, V.M., Nhut, N., De Silva, S.S., 2011.  
Better Management Practices for Striped  
Catfish Farming in the Mekong Delta-Viet  
Nam. Collaboration for Agriculture and Rural  
Development (CARD) project (001/07VIE).  
Aquaculture (p. 92). Bangkok. Retrieved from  
catfish_bmp_version3_final.pdf.  
Ohnari, H., 2007. Micro bubble technology, its  
Characteristics and Possibilities, Journal of  
MMIJ Vol. 123 (2007), No.3 pp.89-96  
Nakayama, T., 2006. Improvement of Oyster  
Cultivation by Micro-Bubbles, session-.14,  
5th Conference on Symbiotic Environmental  
Systems Engineering of Yamaguchi University  
(2006)  
Marui, T., 2013. An Introduction to Micro/nano-  
Bubbles and their Applications. Systemics,  
cybernetics and informatics volume 11-  
number 4 – year 2013, ISSN: 1690-4524.  
Phan, T. L., Bui, T. M., Nguyen, T. T. T., Gooley,  
G. J., Ingram, B. A., Nguyen, H. V., De Silva, S.  
S., 2009. Current status of farming practices of  
striped catfish, Pangasianodon hypophthalmus  
24  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
APPLICATION EFFICIENCY OF MICRO-NANO BUBBLE OXYGEN  
TECHNOLOGY IN THE STRIPED CATFISH NURSING POND  
FROM FRY TO JUVENILE STAGE  
Phung Thi Hong Gam1*, Nguyen Trong Huy1, Chau Huu Tri2,  
Thoi Ngoc Bao3, Do Van Hoang3, Phan Thanh Lam3  
ABSTRACT  
Application of Micro-nano Bubble Oxygen (MNO) technology in striped catfish nursing pond from  
fry to juvenile stage is to improve the production efficiency of striped catfish seed sector. This  
study was conducted at Thanh Phu Farm of the Huy Thuan Aquaculture Investment Ltd. from July  
2018 to February 2019. The experiments were implemented in the 2,000m2 of earth pond with a  
density of 500 and 750 fry/m2, each treatment had 03 experimental ponds using MNO technology  
and 01 control pond. The study results showed that the concentration of dissolved oxygen in the  
experimental ponds using the MNO machine ranged from 7.42 to 8.74mg/L higher than that of the  
control pond (5.32-6.85 mg/L). After 29 days of nursing stage, the survival rate in both experiments  
using MNO machine with the density of 500 fry/m2 and 750 fry/m2 reached 31.23-32.32% higher  
than that of the control pond (21.36-22.99%). Similarly, FCR of the experimental ponds ranged  
from 0.56 to 0.62 lower than that of the control pond (0.71- 0.76). A comparison between two  
stocking densities, experiments using MNO machine with the density of 750 fry/m2 reached an  
average yield of 285.65 kg/1,000 m2, which is higher than that of the ponds at the density of 500 fry/  
m2 (193.35 kg/1,000 m2), and it also had higher economic efficiency than that of the control pond (P  
<0.05). Application of MNO technology has ensured better supply of oxygen content into the pond,  
and also contributes to reducing electricity consumption in operating the oxygen supply system for  
ponds from 5.0 to 16.14% compared to the control pond. Application of MNO technology in striped  
catfish ponds from fry to juvenile stage has shown positive results. It is necessary to be continued  
applying MNO technology in the raising of striped catfish nursing stages in the dry season from  
January to June.  
Keywords: Micro-nano bubble oxygen, striped-catfish, DO, production efficiency.  
Người phản biện: TS. Nguyễn Thanh Tùng  
Ngày nhận bài: 19/9/2019  
Người phản biện: TS. Thái Thanh Bình  
Ngày nhận bài: 19/9/2019  
Ngày thông qua phản biện: 10/10/2019  
Ngày duyệt đăng: 27/10/2019  
Ngày thông qua phản biện: 10/10/2019  
Ngày duyệt đăng: 27/10/2019  
1 Huy Thuan Aquaculture Investment Ltd., Ben Tre  
2 Center for Agriculture Extension of Ben Tre, Ben Tre  
3 Research Institute for Aquaculture No. 2  
25  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 14 - THÁNG 10/2019  
pdf 12 trang yennguyen 19560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả ứng dụng công nghệ micro-nano Bubble Oxygen trong ao ương cá tra từ bột đến hương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_ung_dung_cong_nghe_micro_nano_bubble_oxygen_trong_a.pdf