Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo (Pseudapocryptes elongates)

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NĂNG LƯỢNG SINH HỌC ĐỂ XÁC ĐỊNH  
NHU CẦU PROTEIN VÀ NĂNG LƯỢNG CỦA CÁ KÈO (Pseudapocryptes elongates)  
Trần ị Bé1 và Trần ị anh Hiền2  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện để xác định nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo (Pseudapocryptes elongatus)  
bằng mô hình năng lượng sinh học. Nghiên cứu được thực hiện với 3 thí nghiệm: (i) Năng lượng và protein tiêu  
hao (ii) Hiệu quả sử dụng năng lượng và protein và (iii) Nghiên cứu thu mẫu cá qua các giai đoạn phát triển tại  
các ao nuôi công nghiệp để làm căn cứ xây dựng mô hình xác đinh nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo. Kết  
quả tỉ lệ protein tiêu hóa/ năng lượng tiêu hóa (DP/DE) của cá kèo được xác định từ 21,9 đến 24,2. Với mức năng  
lượng thức ăn là 13MJ/kg, nhu cầu protein của cá kèo lần lượt là 31% và 28% tương ứng với kích cỡ cá có khối lượng  
5,0 và 20,0 g.  
Từ khóa: Cá kèo, mô hình năng lượng sinh học, nhu cầu protein, nhu cầu năng lượng  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
nuôi trong những năm gần đây ở Đồng bằng sông  
Cửu Long (ĐBSCL). Cá kèo được nuôi chủ yếu ở  
các tỉnh ven biển như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng  
và Trà Vinh, góp phần đa dạng đối tượng nuôi và  
hạn chế rủi ro trong nuôi trồng thủy sản. Hiện nay  
nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho cá kèo còn  
hạn chế, chưa có nghiên cứu về nhu cầu protein và  
năng lượng cho các giai đoạn nuôi thương phẩm.  
Nghiên cứu này đã ứng dụng mô hình năng lượng  
sinh học để xác định nhu cầu protein và năng lượng  
của cá kèo (Pseudapocrytes elongatus).  
Nhu cầu dinh dưỡng của cá được nghiên cứu  
bằng phương pháp truyền thống được thực hiện  
từ những năm của thập niên 40 (Lê anh Hùng,  
2008). Tuy nhiên đối với phương pháp truyền thống  
sẽ tốn nhiều thời gian và khả năng ứng dụng rộng  
rãi không cao (Lupatsch, 2003). Trong thời gian gần  
đây, các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã  
áp dụng những kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu  
mới nhằm tối ưu hóa thức ăn cho động vật thủy  
sản nói chung và cá nói riêng. Việc ứng dụng mô  
hình hóa (mô hình đa nhân tố, mô hình năng lượng  
sinh học) để xác định nhu cầu dinh dưỡng của loài  
cá đã được sử dụng phổ biến (NRC, 2011). Một số  
loài cá đã được các tác giả áp dụng mô hình này  
trong việc xác định nhu cầu dinh dưỡng như cá tráp  
(Sparus aurata), cá vền (Dicentrarchus labrax) và cá  
mú chấm đen (Epinephelus aeneus) (Lupatsch et al.,  
2003); Cá cam (Seriola lalandi) (Booth et al., 2010);  
cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Glencross  
et al., 2011) và cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus)  
(Trung et al., 2011).  
ông qua phương pháp mới này có thể xác  
định nhu cầu dinh dưỡng của cá trong suốt chu kỳ  
nuôi thương phẩm, giúp tiết kiệm được thời gian  
và chi phí nghiên cứu. Ưu điểm của phương pháp  
này đã được ứng dụng để xác định nhu cầu dinh  
dưỡng cho một số loài cá có giá trị kinh tế trên thế  
giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, việc  
áp dụng nó để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá  
kèo (Pseudapocryptes elongatus, Cuvier 1816) để xây  
dựng công thức thức ăn cho cá là một trong những  
vấn đề cần thiết góp phần hoàn thiện quy trình nuôi  
đối tượng này trong tương lai. Cá kèo là một trong  
những đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế được  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu là cá kèo nuôi thương  
phẩm tại Tỉnh Bạc Liêu. Cá kèo  
được nghiên cứu có kích thước khác nhau và  
được thu từ 30 ao khác nhau.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô hình năng  
lượng sinh học để xác định nhu cầu protein và năng  
lượng của cá kèo được thực hiện với 3 thí nghiệm:  
2.2.1. Sinh trưởng và thành phần hóa học của cá  
kèo nuôi thương phẩm  
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách thu mẫu  
cá kèo ở các ao nuôi thâm canh trên địa bàn tỉnh  
Bạc Liêu. Cá được thu 4 tháng ở 30 ao nuôi. Mẫu cá  
được thu định kỳ hằng tháng với số lượng 30 con/ao  
trong một lần thu. Mẫu cá được cân, đo và giữ lạnh  
chuyển về phòng thí nghiệm của Khoa ủy sản,  
Trường Đại học Cần ơ để phân tích thành phần  
sinh hóa. Từ đó xác định phương trình tương quan  
y = axb giữa tăng trưởng tuyệt đối và khối lượng của  
cá (Lupatsch, 2003).  
1 Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Bạc Liêu; 2 Khoa ủy sản, Trường Đại học Cần ơ  
163  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
2.2.2. Xác định năng lượng và protein tiêu hao cho  
độ, protein, lipid, tro, xơ và NFE (chất bột đường)  
duy trì của cá kèo  
của thức ăn và cá được xác định theo phương pháp  
AOAC (2000) và năng lượng được đo bằng máy  
Calorimeter.  
í nghiệm gồm 4 nghiệm thức tương ứng với  
4 nhóm kích cỡ cá khác nhau (3,63 0,15 g; 5,86  
0,06 g; 14,2 0,06 g và 20,0 0,15 g) được bố trí với  
mật độ 30 con/ bể và mỗi nghiệm thức được lặp lại  
3 lần. Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu  
nhiên với thời gian thí nghiệm là 28 ngày. Cá kèo ở  
tất cả các nghiệm thức không được cho ăn trong suốt  
quá trình thí nghiệm. Nhiệt độ trong các bể sáng  
chiều dao động từ 27,8 - 29,7; pH nước dao động  
từ 7,3 - 7,5. Cá được cân, phân tích thành phần sinh  
hóa trước và sau khi kết thức thí nghiệm. Chỉ tiêu  
cần xác định gồm năng lượng tiêu hao và protein  
tiêu hao. Tương quan giữa năng lượng protein tiêu  
hao và khối lượng của cá theo (Lupatsch et al., 2001)  
được thể hiện bằng phương trình sau: y = axb; Trong  
đó: y là protein hoặc năng lượng tiêu hao; x: khối  
lượng trung bình nhân của cá (Geometric Mean  
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu  
được xử lý theo chương trình excell version 5.0  
và SPSS version 16,0. So sánh trung bình giữa các  
nghiệm thức dựa vào ANOVA một nhân tố và phép  
thử DUNCAN ở mức ý nghĩa (P < 0,05). Mô hình  
năng lượng sinh học sử dụng theo mô hình toán  
học chung của Lupatsch và cộng tác viên (2003),  
Glencross và cộng tác viên (2011) và Trung và cộng  
tác viên (2011).  
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu  
í nghiệm được thực hiện từ tháng 01/2011 đến  
12/2014 tại Khu thí nghiệm thuộc Khoa ủy sản,  
Trường Đại học Cần ơ và Tỉnh Bạc Liêu.  
Body Weight) GMW = (W x W )0,5 ; a: năng lượng,  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
o
protein tiêu hao hàng ngàytcủa cá ; b: hệ số trao đổi  
3.1. Sinh trưởng và thành phần sinh hóa của cá  
kèo nuôi thương phẩm  
năng lượng/protein.  
2.2.3. Xác định hiệu quả sử dụng năng lượng và  
protein của cá kèo  
Kết quả phân tích tương quan giữa tăng trưởng  
tuyệt đối (DWG) và khối lượng của cá kèo thể hiện  
qua phương trình y = 0,10410,2782, cho thấy cá kèo có  
khối lượng càng lớn thì DWG của cá càng cao. Ở một  
số kết quả nghiên cứu trên các loài cá khác cho thấy  
khuynh hướng tăng trưởng của cá cũng xảy ra tương  
tự. Cụ thể, ở cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)  
tương quan giữa khối lượng và tăng trưởng tuyệt  
đối của cá thông qua phương trình y (g/ngày)  
= 0,235x (g)0,53(R2 = 0,77) (Glencross et al., 2010).  
Đối với cá rô phi (O. niloticus) được xác định với  
phương trình y (g/ngày) = 0,276 x (g)0,46 (R2 = 0,73)  
(Trung et al., 2011).  
í nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm  
5 nghiệm thức tương ứng với các mức cho ăn là 0%;  
1,5%; 3,0%; 4,5% và 6,0% khối lượng thân/ngày. Mỗi  
nghiệm thức được lặp lại 3 lần với mật độ cá bố trí  
là 30 con/bể. ời gian tiến hành là 28 ngày. ức ăn  
thí nghiệm có hàm lượng 33,6% protein, năng lượng  
16,3 MJ/kg. Cá thí nghiệm có khối lượng trung  
bình là 3,31 0,01 g/con và được cho ăn 3 lần/ ngày  
(7h30, 11h30, 16h) với các mức cho ăn tương ứng  
với từng nghiệm thức. Trong quá trình thí nghiệm  
cá được thay nước định kỳ 3 ngày/ lần, mỗi lần thay  
30% thể tích nước trong bể. Nhiệt độ nước trong các  
bể thí nghiệm dao động từ 27,5 đến 29,6oC; pH nước  
dao động từ 7,4 - 7,6. Các chỉ tiêu cần xác định như:  
thành phần hóa học thức ăn và cá kèo, tỷ lệ sống,  
tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ  
tăng trưởng tương đối, hệ số thức ăn. Nhu cầu năng  
lượng (E) và nhu cầu protein (P) duy trì, hiệu quả sử  
dụng E và hiệu quả sử dụng P được được xác định  
như sau: Nhu cầu E và P duy trì, hiệu quả sử dụng  
E và P được xác định theo phương pháp của NRC  
(2011) dựa trên phương trình: y = ax + b.  
2.2.4. Phương pháp phân tích mẫu xử lý và phân  
tích số liệu  
Hình 1. Mối tương quan giữa khối lượng  
Phương pháp phân tích mẫu: Các chỉ tiêu về ẩm  
và tăng trưởng tuyệt đối của cá  
164  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Mối tương quan giữa các thành phần hóa học và  
3.2. Protein và năng lượng tiêu hao  
cơ thể cá được thể hiện ở các phương trình như sau:  
3.2.1. Protein của tiêu hao  
Ẩm độ (%) = 79,8 (g)– 0,02 (R2 = 0,72)  
˟
Mối quan hệ giữa protein tiêu hao và khối lượng  
Protein (%) = 0,07 (g)+ 12,7 (R2 = 0,69)  
cơ thể được thể hiện dưới dạng phương trình:  
˟
y = a BW (kg)b (Lupatsch and Kissil, 2005). Đối với  
Lipid (%) = 3,09 (g)0,24 (R2 = 0,93)  
˟
˟
cá kèo thì mối quan hệ này được thể hiện thông qua  
phương trình sau: Y = 0,03 X 0,83 (R2 = 0,77). Trong  
đó: Y = Protein tiêu hao (g/cá); X = khối lượng cá (g).  
Năng lượng (KJ/g) = 4,981 (g)0,103 (R2 = 0,69)  
˟
Ngoài ra, mối tương quan nghịch giữa ẩm độ và  
lipid của cá còn được thể hiện ở phương trình: Ẩm  
độ (%) = 39,8 – 0,46 (lipid) (R2 = 0,70)  
eo kết quả thí nghiệm thì mối quan hệ giữa  
protein tiêu hao và khối lượng cá cho thấy cá kèo  
có số mũ trao đổi chất là 0,83. Số mũ này tương tự  
như ở một số loài cá khác như cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) là 0,83; cá rô phi (O. niloticus) là  
0,85 (Trung et al., 2011). Tuy nhiên, số mũ trao đổi  
protein của 3 loài cá này cao hơn so với các loài ăn  
động vật như cá vền Dicentrarchus labrax là 0,70; cá  
chẽm Châu Âu là 0,70; cá mú Epinephelus aeneus là  
0,70 (Lupatsch, 2003; Lupatsch et al., 2001; Lupatsch  
et al., 2003) và cá chẽm Châu Á là 0,70 (Glencross,  
2008). Sự khác biệt này có thể do đặc tính ăn của  
loài; cá vền, cá chẽm, cá mú là các loài cá ăn thiên về  
động vật còn cá tra, cá kèo, cá rô phi là những loài  
cá ăn tạp (Glencross et al., 2011; Trung et al., 2011).  
eo nhận định của Lupatsch (2003) phần lớn  
năng lượng và protein được cá sử dụng cho tăng  
trưởng, vì vậy việc phân tích thành phần hóa học  
trong cơ thể cá sẽ là yếu tố chính để xác định nhu cầu  
năng lượng cho cá. Qua kết quả phân tích cho thấy  
thành phần hóa học của cá kèo có khuynh hướng  
tương tự như sự biến đổi thành phần hóa học ở  
một số loài cá như cá chẽm Châu Âu (Dicentrarchus  
labrax) (Lupatsch et al., 2001), cá tráp (Sparus aurata)  
Lupatsch (2003) cá mú trắng (Epinephelus aeneus)  
(Lupatsch and Kissil, 2005), cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus) (Glencross et al., 2011) và cá rô phi  
(Oreochromis niloticus) (Trung et al., 2011).  
Hình 4. Mối quan hệ giữa protein tiêu hao (g/cá)  
và khối lượng cá (g).  
Hình 2. Tương quan giữa ẩm độ (y1), protein (y2)  
3.2.2. Năng lượng tiêu hao  
và lipid (y3) với khối lượng cá (g)  
Tương tự như protein tiêu hao thì việc xác định  
năng lượng tiêu hao của cá kèo ở 4 nhóm kích cỡ sau  
28 ngày bị bỏ đói được trình bày ở hình 5.  
Hình 5. Mối quan hệ giữa năng lượng tiêu hao (KJ/cá)  
Hình 3. Tương quan giữa năng lượng (KJ/g)  
và khối lượng cá (g).  
và khối lượng cá (g)  
165  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Qua hình 5 cho thấy giữa năng lượng tiêu hao và  
khối lượng cá kèo được thể hiện bằng phương trình  
số mũ như sau: Y= 0,02 X0,81 (R2= 0,73) với Y = Năng  
lượng tiêu hao (kJ/cá); X: khối lượng cá (g). eo  
phương trình trên thì cá kèo có năng lượng tiêu hao  
là 0,021 kJ/khối lượng cá (g)0,81 và số mũ năng lượng  
trao đổi chất của cơ thể được xác định là 0,81.  
Kết quả số mũ này có giá trị tương đương với  
một số loài cá ở một số kết quả khác như nghiên  
cứu của Glencross và cộng tác viên (2010) trên cá  
tra (Pangasianodon hypophthalamus) là 0,84; Trung  
và cộng tác viên (2011) trên cá rô phi (O. niloticus)  
là 0,85; Booth và cộng tác viên (2010) trên cá cam  
(Seriola lalandi) là 0,86; Lupatsch và cộng tác  
viên (2003) trên cá tráp (Sparus aurata), cá vền  
(Dicentrarchus labrax) và cá mú (Epinephelus aeneus)  
lần lượt là 0,82, 0,80, 0,79; Cho và Kaushik (1990)  
trên cá hồi là 0,83. Số mũ trao đổi chất của hầu hết  
các loài cá trung bình là 0,8 (NRC, 2011).  
duy trì của cá tra là 0,47 g/ kg0,834/ngày (Glencross  
et al., 2011), cá rô phi là 0,52 g/kg0,80/ngày (Trung  
et al., 2011), cá mú là 0,66 g/ kg0,70/ngày (Lupatsch  
et al., 2001), cá chẽm là 0,45 g/ kg0,70/ngày (Glencross,  
2008). Điều này có thể giải thích protein cần thiết  
cho quá trình tăng trưởng cũng như tích lũy thấp  
đối với cá kèo trong chu kỳ nuôi thương phẩm, cá  
đạt kích cỡ thương phẩm nhỏ hơn so với các loài cá  
kể trên trong cùng thời gian nuôi.  
3.3.2. Hiệu quả sử dụng năng lượng  
Mối quan hệ giữa năng lượng tiêu hóa ăn vào và  
năng lượng trong cơ thể tích lũy được trình bày theo  
Hình 7 và được biểu diễn bằng phương trình sau:  
Năng lượng tăng trưởng = 0,46 (Năng lượng ăn  
˟
vào) − 5,18 (R2 = 0,96)  
Trong đó: Y: Năng lượng tích lỹ (kJ/kg0,84/ngày) và  
X: năng lượng tiêu hóa ăn vào (kJ/khối lượng cá  
0,84  
(kg)/ngày).  
3.3. Hiệu quả sử dụng protein và năng lượng  
3.3.1. Hiệu quả sử dụng protein  
Mối quan hệ giữa protein tăng trưởng và protein  
tiêu hóa ăn vào được thể hiện ở Hình 6 và phương  
trình Protein tăng trưởng = 0,44 x (Protein ăn vào) –  
0,17 (R2 = 0,93)  
Hình 7. Mối quan hệ giữa năng lượng tiêu hóa  
và năng lượng tăng trưởng.  
Tương tự như hiệu quả sử dụng protein, hiệu  
quả sử dụng năng lượng của cá kèo được xác định  
là 46% và nhu cầu năng lượng tiêu hóa cho duy trì là  
11,3 kJ/ kg0,81/ngày. Hiệu quả sử dụng năng lượng của  
cá kèo thấp hơn so với một số loài cá ăn động vật. Cụ  
thể, hiệu quả sử dụng năng lượng của cá vền là 65%,  
cá mú trắng là 66% và cá chẽm là 68% (Lupatsch  
et al., 2003; Lupatsch and Kissil, 2005; Glencross,  
2008). Tuy nhiên hiệu quả sử dụng năng lượng của  
cá kèo tương đương với cá rô phi là 44% (Trung  
et al., 2011) và cá tra là 51% (Glencross et al., 2011).  
Hình 6. Mối quan hệ giữa protein tiêu hoá  
và protein tăng trưởng  
Kết quả của nghiên cứu cho thấy protein tăng  
trưởng (g/kg0,83/ngày) = 0,44 x (Protein ăn vào) −  
0,174. Giá trị 0,44 (44,0%) là hiệu quả sử dụng  
protein của cá kèo, so với một số loài cá thì hiệu  
quả sự dụng protein của cá kèo thấp, hiệu quả sử  
dụng protein của cá chẽm là 0,48; cá vền là 0,53; cá  
chẽm Châu Âu là 0,52 (Glencross, 2008; Lupatsch,  
2003; Lupatsch et al., 2001). Tuy nhiên, hiệu quả sử  
dụng protein của cá kèo cao hơn so với cá tra là 0,32  
(Glencross et al., 2011). Nhu cầu protein tiêu hóa  
cho duy trì của cá kèo là 0,40 g/ kg0,83/ngày, giá trị  
này thấp hơn so với nhu cầu protein tiêu hóa cho  
3.3.3. Xác định nhu cầu protein và năng lượng cho  
cá kèo  
Nhu cầu protein, năng lượng và tỷ lệ protein/  
năng lượng cũng như các chỉ tiêu chi tiết khác trong  
khẩu phần ăn của cá kèo được xây dựng trong Bảng  
1. ức ăn được xây dựng với ba mức năng lượng  
tiêu hóa: 12, 13 và 14 MJ/kg để đáp ứng nhu cầu  
của cá trong thời gian nuôi thương phẩm. Cụ thể,  
166  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
cá khối lượng 5 g/con có thể sử dụng thức ăn với  
thừa từ các kết quả nghiên cứu của một số tác giả  
Lupatsch (2003) xây dựng nhu cầu cho cá Sparus  
aurata, Glencross và cộng tác viên (2011) thực hiện  
trên cá Pangasianodon hypophthalmus và Trung và  
cộng tác viên (2011) nghiên cứu trên cá O. niloticus.  
mức năng lượng tiêu hóa thấp, cá có thể lấy thức  
ăn nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu protein của cá và  
ngược lại cho cá có khối lượng lớn hơn. Việc xây  
dựng nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo kế  
Bảng 1. Nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo dựa  
trên sự tiêu hóa protein và năng lượng trong thức ăn  
Khối lượng cá (g)  
(a) 5,00 10,0 15,0 20,0 5,00 10,0 15,0 20,0 5,00 10,0 15,0 20,0  
(b) 0,15 0,20 0,23 0,25 0,15 0,20 0,23 0,25 0,15 0,20 0,23 0,25  
Tăng trưởng (g/ngày)1  
Nhu cầu năng lượng  
Trao đổi chất cơ sở2  
(c) 0,014 0,024 0,033 0,042 0,014 0,024 0,033 0,042 0,014 0,024 0,033 0,042  
(d) 0,15 0,27 0,38 0,48 0,15 0,27 0,38 0,48 0,15 0,27 0,38 0,48  
Năng lượng tiêu hóa  
duy trì (kJ/cá/ngày)3  
Năng lượng tăng trưởng  
(kJ/cá/ngày)4  
(e) 0,96 1,25 1,45 1,62 0,96 1,25 1,45 1,62 0,96 1,25 1,45 1,62  
(f) 2,08 2,71 3,16 3,53 2,08 2,71 3,16 3,53 2,08 2,71 3,16 3,53  
(g) 2,24 2,98 3,54 4,00 2,24 2,98 3,54 4,00 2,24 2,98 3,54 4,00  
Năng lượng tiêu hóa tăng  
trưởng (kJ/cá/ngày)5  
Tổng năng lượng tiêu hóa  
(kJ/cá/ngày)6  
Nhu cầu Protein  
Protein trao đổi chất cơ  
sở7  
(h) 0,012 0,022 0,031 0,039 0,012 0,022 0,031 0,039 0,012 0,022 0,031 0,039  
(i) 0,005 0,009 0,012 0,016 0,005 0,009 0,012 0,016 0,005 0,009 0,012 0,016  
(j) 0,021 0,026 0,029 0,032 0,021 0,026 0,029 0,032 0,021 0,026 0,029 0,032  
(k) 0,049 0,060 0,067 0,072 0,049 0,060 0,067 0,072 0,049 0,060 0,067 0,072  
Protein tiêu hóa duy trì  
(g/cá/ngày)8  
Protein tăng trưởng  
(g/cá/ngày)9  
Protein tiêu hóa tăng  
trưởng (g/cá/ngày)10  
Tổng protein tiêu hóa  
(g/cá/ngày)11  
(l) 0,054 0,068 0,079 0,088 0,054 0,068 0,079 0,088 0,054 0,068 0,079 0,088  
ức ăn  
5,00 10,0 15,0 20,0 5,00 10,0 15,0 20,0 5,00 10,0 15,0 20,0  
Năng lượng tiêu hóa  
(m) 12  
12  
12  
12  
13  
13  
13  
13  
14  
14  
14  
14  
trong thức ăn (MJ/kg)12  
% thức ăn khối lượng cơ  
thể ăn vào13  
(n) 3,7% 2,5% 2,0% 1,7% 3,4% 2,3% 1,8% 1,5% 3,2% 2,1% 1,7% 1,5%  
(o) 0,19 0,25 0,29 0,33 0,17 0,23 0,28 0,31 0,16 0,21 0,25 0,29  
Lượng thức ăn ăn vào  
(g/ngày)14  
Protein tiêu hóa (%)15  
FCR16  
Tỷ lệ DP - DE (g/MJ)17  
(p) 29% 28% 27% 26% 31% 30% 29% 29% 34% 32% 31% 31%  
(q) 1,14 1,26 1,34 1,39 1,06 1,16 1,23 1,29 0,98 1,04 1,14 1,20  
(r) 24,2 22,9 22,3 21,9 22,9 22,9 22,3 21,9 22,9 22,9 22,3 21,9  
Ghi chú: (1) = 0,1041*(a)^0,2782; (2) = (a)* số mũ năng lượng trao đôi chất/1000; (3) = Nhu cầu năng lượng  
duy trì * (2); (4) = (b)* 4,981 (a)0,103; (5) = (4)/ hiệu quả sử dụng năng lượng; (6) = (5) + (3); (7) = (a)* số mũ protein  
trao đôi chất/1000; (8) = Nhu cầu protein duy trì * (7); (9) = (b)*hàm lượng protein trung bình của cơ thể (13,3%);  
(10) = (9)/ hiệu quả sử dụng protein; (11) = (i) + (k); (12) = ( l) *1000/ (g); (13) = (o)/ (a); (14) = (g)/ (m); (15) = (l)/ (o);  
(16) = (o)/ (b); (17) = (l) * 1000/ (g).  
167  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
Kết quả số liệu trong bảng 1 cho thấy có thể cung  
cấp năng lượng và protein phù hợp với nhu cầu của  
cá kèo trong khẩu phần ăn dựa trên mức năng lượng  
có trong thức ăn hay kích cỡ cá khác nhau. Ngoài ra,  
sự lựa chọn khẩu phần ăn của cá tương ứng với mức  
năng lượng có trong thức ăn nó sẽ tác động đến FCR  
và hàm lượng protein có trong thức ăn. Khi cung cấp  
thức ăn cho cá kèo chọn mức năng lượng cao, FCR  
thấp nhưng hàm lượng protein trong thức ăn sẽ cao.  
Nhu cầu protein của cá kích cỡ 5 g cao hơn so với ba  
kích cỡ cá còn lại (10, 15 và 20 g) do sự thay đổi về  
năng lượng trong cơ thể và cá nhỏ cần nhiều năng  
lượng cho quá trình sinh trưởng cũng như tổng hợp  
protein. Điều này cũng tương tự như ở một số loài  
khác như cá chẽm Lates calcarifer (Glencross, 2006),  
cá tra P. hypophthalmus (Glencross et al., 2011), cá rô  
phi O. niloticus (Trung et al., 2011).  
Khi cho cá ăn thức ăn với mức năng lượng tiêu  
hóa 12 MJ/kg thức ăn thì hàm lượng protein tiêu hóa  
cần cung cấp trong thức ăn từ khoảng 26 - 29%, FCR  
từ 1,15 đến 1,39 (Bảng 1). Tuy nhiên, nếu thức ăn  
chứa năng lượng tiêu hóa ở mức cao hơn (14 MJ/ kg  
thức ăn) thì kết quả FCR thấp hơn so với cá sử dụng  
thức ăn chứa năng lượng tiêu hóa thấp (12 MJ/kg),  
nhưng protein tiêu hóa cần thiết cung cấp trong  
khẩu phần ăn tương ứng từ 31 đến 34%. Tỷ lệ protein  
tiêu hóa/ năng lượng tiêu hóa (P/E) không thay đổi ở  
cùng kích cỡ cá khi cho ăn thức ăn với các mức năng  
lượng tiêu hóa khác nhau, dao động từ 21,4 đến 22,9.  
Trong sản xuất thức ăn cho cá, protein giữ vai trò  
quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng và  
là nguồn dinh dưỡng đắc tiền nhất trong các nguyên  
liệu xây dựng công thức thức ăn. Do đó để tối ưu  
hóa thức ăn và giá thành sản xuất thức ăn hợp lý  
cần xác định tỷ lệ P/E phù hợp. Tối ưu hóa tỷ lệ P/E  
nhằm góp phần chia sẻ năng lượng cho protein và  
góp phần tăng protein tích lũy cho cơ thể (oman  
et al., 1999). Tỷ lệ P/E của cá kèo trong nghiên  
cứu này thấp hơn so với một số loài cá khác như  
cá chẽm Lates calcarifer (Glencross, 2006), cá tra  
P. hypophthalmus (Glencross et al., 2011), cá rô phi  
O. niloticus (Trung et al., 2011). Đối với một số loài  
cá ăn tạp như cá tra và cá rô phi, ở kích cỡ cá có  
khối lượng là 10 g/cá được thiết kế cho ăn với mức  
năng lượng tiêu hóa cao (14 MJ/kg) thì tỷ lệ DP/  
DE và lượng thức ăn ăn vào hàng ngày lần lượt là  
29,9 - 1,46 g và 32,7 - 0,55 g. Tuy nhiên, FCR mong  
đợi của 2 loài cá này trong mô hình được ước lượng  
đều thấp hơn so với cá kèo, FCR của cá tra là 0,98 và  
cá rô phi là 0,70 (Glencross et al., 2011; Trung et al.,  
2011). Ở một số loài cá ăn động vật như cá mú trắng  
(Epinephelus aeneus) có khối lượng 5 g/con, thức ăn  
được ước lượng từ mô hình hóa có năng lượng tiêu  
hóa là (14 MJ/kg) thì tỷ lệ DP/DE, lượng thức ăn ăn  
vào hàng ngày và FCR của cá lần lượt là 33,0; 0,31 g  
và 1 (Lupatsch and Kissill, 2005). Kết quả nghiên cứu  
của Lupatsch (2003) khi sử dụng mô hình hóa để  
ước lượng nhu cầu dinh dưỡng của cá tráp (Sparus  
aurata) cho thấy cá có khối lượng 10 g/con được cho  
ăn với mức năng lượng là 15 MJ/kg thì lượng thức  
ăn ăn vào hàng ngày của cá là 0,28 g và FCR của  
cá được xác định là 1,09 (tỷ lệ DP/DE trong thức  
ăn là 29,9). Cá trống đỏ Đại Tây Dương (Sciaenops  
ocellatus) giai đoạn giống sử dụng tốt thức ăn chứa  
tỷ lệ P/DE là 27,5 (oman et al., 1999). Tỷ lệ DE/DP  
của cá vền (D. labrax) trong trong mô hình hóa  
được xác định với các giá trị dao động từ 20,8 - 25,2  
(Lupatsch et al., 2001). Nghiên cứu của Ai và cộng  
tác viên (2004) ở cá chẽm Nhật Bản (Lateolabrax  
japonicus) giai đoạn giống đã xác định tỷ lệ P/E thích  
hợp cho tăng trưởng của cá là 25,9 mg protein/KJ.  
Cá mú (Epinephelus malabaricus) giai đoạn giống  
tăng trưởng tối ưu khi sử dụng thức ăn chứa 55%  
protein, 12% lipid và tỷ lệ P/E là 28 mg protein/KJ  
(Tuan and Williams, 2007).  
IV. KẾT LUẬN  
Nhu cầu protein tiêu hóa/ năng lượng tiêu hóa  
(DP/DE) của cá kèo được xác định với các kích cỡ cá  
5 g, 10 g, 15 g và 20 g trong suốt chu kỳ nuôi thương  
phẩm lần lượt là: 24,2; 22,9; 22,3 và 21,9. Với từng  
mức năng lượng sẽ tương ứng với nhu cầu protein  
tương ứng. Với mức năng lượng thức ăn là 13 MJ/kg,  
nhu cầu protein của cá kèo lần lượt là 31 và 28%  
tương ứng với kích cỡ cá có khối lượng 5,00 và 20,0 g.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Lê anh Hùng, 2008. ưc ăn và dinh dưỡng thủy sản.  
Nhà xuất bản Nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh, 300  
trang.  
Ai, Q., K. Mai, H. Li, C. Zhang, L. Zhang, Q. Duan,  
B. Tan, W. Xu, H. Ma, W. Zhang & Z. Liufu, 2004.  
Effects of dietary protein to energy ratios on growth  
and body composition of juvenile Japanese seabass,  
Lateolabrax japonicas. Aquaculture, 230: 507-516.  
AOAC, 2000. Official Methods of Analysis. Association  
of Official Analytical Chemists Arlington.  
Booth, M.A., G.L. Allan & I. Pirozzi, 2010. Estimation  
of digestible protein and energy requirements of  
168  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(117)/2020  
yellowtail kingfish Seriola lalandi using a factorial  
Lupatsch, I., G.W. Kissil & D. Sklan, 2003. Comparison  
of energy and protein efficiency among three  
fish species gilthead sea bream (Sparus aurata),  
European sea bass (Dicentrarchus labrax) and white  
grouper (Epinephelus aeneus): energy expenditure  
for protein and lipid deposition. Aquaculture,  
225 (1-4): 175-189.  
approach. Aquaculture, 307 (3-4): 247-259.  
Cho, C.Y. and S.J. Kaushik, 1990. Nutritional energetics  
in fish: energy and protein utilization in rainbow  
trout (Salmo gairdneri). In Aspects of food production,  
consumption and energy values, 61: 132-172. Karger  
Publishers.  
Lupatsch, I., G.W. Kissil, D. Sklan & E. Pfeffer, 2001.  
Effects of varying dietary protein and energy supply  
on growth, body composition and protein utilization  
in gilthead seabream (Sparus aurata L.). Aquaculture  
Nutrition, 7 (2): 71-80.  
Lupatsch, I., G.W. Kissil & D. Sklan, 2001.  
Optimization of feeding regimes for European sea  
bass Dicentrarchus labrax: a factorial approach.  
Aquaculture, 202: 289-302.  
NRC (National Research Council), 2011. Nutrient  
Requirements of Fish and Shrimp. e National  
Academy Press, Washington, D.C., USA. 375 pp.  
oman, E.S., D.A. Davis & C.R. Arnold, 1999.  
Evaluation of growout diets with varying protein  
and energy levels for red drum (Sciaenops  
ocellatus). Aquaculture, 176 (3-4): 343-353.  
Glencross, B., T.T.T. Hien, N.T. Phuong & T.L.C. Tu,  
2011. A factorial approach to defining the energy and  
protein requirements of Tra Catfish, Pangasianodon  
hypothalamus. Aquaculture Nutrition, 17 (2): 396-405.  
Glencross, B.D., 2006. Nutritional management of  
barramundi, Lates calcarifer - a review. Aquacult.  
Nutr., 12: 291-309.  
Glencross, B.D., 2008. A factorial growth and feed  
utilisation model for barramundi, Lates calcarifer  
based on Australian production conditions.  
Aquacult. Nutr., 14: 360-373.  
Glencross, B.D., N.T. Phuong, T.T.T. Hien, T.T.C.  
Tu & T.M. Phu, 2010. A factorial growth and feed  
utilisation model for Tra catfish, Pangasianodon  
hypophthalmus. Aquaculture Nutrition, 17: 396-405.  
Lupatsch, I., 2003. Factorial Approach to Determining  
Energy and Protein Requirements of Gilthead  
seabream (Sparus aurata) for Optimal Efficiency  
of Production. Degree of Doctor of Philosophy in  
Agriculture, 123pp.  
Trung, V.D., N.T. Diu, N.T. Hao & B. Glencross,  
2011. Development of a nutritional model to define  
the energy and protein requirements of tilapia,  
Oreochromis niloticus. Aquaculture, 320 (1-2): 69-75.  
Tuan, L.A. & K.C. William, 2007. Optimum dietary  
protein and lipid specifications for juvenile malabar  
grouper (Epinephelus malabaricus). Aquaculture,  
267: 129-138.  
Lupatsch, I. & G.W. Kissil, 2005. Feed formulations  
based on energy and protein demands in white  
grouper (Epinephelus aeneus). Aquaculture, 248  
(1-4): 83-95.  
Aplication of bioenergic modelling to define the energy  
and protein requirements of mudskipper (Pseudapocryptes elongatus)  
Tran i Be and Tran i anh Hien  
Abstract  
e study was conducted to determine the protein and energy requirements of mudskipper (Pseudapocryptes  
elongatus) following application of bioenergy model. e study was conducted with 3 experiments: (i) Determination  
of maintaining protein and energy of mudskipper, (ii) Evaluation of energy and protein efficiency utilization of  
mudskipper and (iii) survey on the feed use, growth and body composition in grow-out mudskipper aquaculture.  
e results showed that digestible protein/ digestible energy (DP/ DE) requirement for mudskipper were determined  
from 24.3 to 21.5 during the grow-out cycle. Digestible protein content (%) at 13Mj/kg DE in feed were from 31% to  
28% DP for fish sizes 5g and 20g, respectively.  
Keywords: Bioenergic modelling, energy requirement, mudskipper, protein require  
Ngày nhận bài: 07/8/2020  
Ngày phản biện: 18/8/2020  
Người phản biện: TS. Ngô Minh Dung  
Ngày duyệt đăng: 28/8/2020  
169  
pdf 7 trang yennguyen 7420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu protein và năng lượng của cá kèo (Pseudapocryptes elongates)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_mo_hinh_nang_luong_sinh_hoc_de_xac_dinh_nhu_cau_pro.pdf