Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ

36  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Current status of acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) and result of  
isolating AHPND-causing strains of farmed shrimp in Mekong Delta Region of  
Vietnam  
Dung H. T. Mai1,2, Binh T. Huynh1,2, Hoa T. M. Nguyen1,2, Hoan P. K. Nguyen1,2  
Toan T. Nguyen3, Lien T. H. Tran4, Ly H. Tien5, Xuyen D. Nguyen6,  
Thuoc L. Tran1,2, & Hieu V. Tran1,2∗  
,
1Faculty of Biology and Biotechnology, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam  
2Vietnam National University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
3Long An Sub-Department of Livestock Production, Veterinary and Aquaculture, Long An, Vietnam  
4Ben Tre Sub-Department of Livestock Production, Veterinary, Ben Tre, Vietnam  
5Faculty of Agriculture, Bac Lieu University, Bac Lieu, Vietnam  
6Kien Giang Sub-Department of Livestock production, Veterinary, Kien Giang, Vietnam  
ARTICLE INFO  
Research Paper  
ABSTRACT  
Early mortality  
syndrome/acute  
hepatopancreatic  
necrosis  
(EMS/AHPND) was first detected in China in 2009. The disease  
spread rapidly to neighboring countries and emerged in almost major  
shrimp-producing regions in the world, including Vietnam. The disease  
has caused serious damage to the global shrimp industry and so far, there  
is no effective cure. In order to understand the current status of AHPND,  
and then to introduce effective prevention and detection measures, we  
collected data and shrimp samples in some provinces in the Mekong Delta  
to analyze and isolate the pathogenic strains. The results of our study  
conducted from 2014 - 2018 in four provinces (Ben Tre, Long An, Bac  
Lieu, Kien Giang) showed that AHPND damaged from 2.0 to 57.2% of the  
total shrimp farming area. In addition, we isolated 10 AHPND-positive  
strains via culturing and PCR. The results of representative sequencing of  
three strains LA1, LA5, and LA8 showed that they were 100% similarity  
with the previously published strain XN89. These isolated strains are used  
as a collection for further studies on the origin and mechanism of the  
disease by whole genome sequencing.  
Received: March 26, 2021  
Revised: April 13, 2021  
Accepted: April 22, 2021  
Keywords  
AHPND  
ToxA  
ToxB  
V. parahaemolyticus  
Whiteleg shrimp  
∗Corresponding author  
Tran Van Hieu  
Email: [email protected].vn  
Cited as: Mai D. H. T., Huynh, B. T., Nguyen, H. T. M., Nguyen, H. P. K., Nguyen, T. T.,  
Tran, L. T. H, Tien, L. H., Nguyen, X. D., Tran, T. L., & Tran, H. V. (2021). Current status of  
acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) and result of isolating AHPND-causing strains  
of farmed shrimp in Mekong Delta Region of Vietnam. The Journal of Agriculture and Development  
20(2), 36-43.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
37  
Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân  
lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ  
Mai Hoàng Thùy Dung1,2, Huỳnh Tuấn Bình1,2, Nguyễn Thị Minh Hòa1,2, Nguyễn Phước  
Khải Hoàn1,2, Nguyễn Thanh Toàn3, Trần Thị Hương Liên4, Tiền Hải Lý5,  
Nguyễn Đình Xuyên6, Trần Linh Thước1,2 & Trần Văn Hiếu1,2∗  
1Khoa Sinh Học - Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh  
2Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh  
3Chi Cục Chăn Nuôi, Thú Y Và Thủy Sản Long An, Long An  
4Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Tỉnh Bến Tre, Bến Tre  
5Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Bạc Liêu, Bạc Liêu  
6Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Tỉnh Kiên Giang, Kiên Giang  
TÓM TẮT  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Bài báo khoa học  
Hội chứng chết sớm/hoại tử gan tụy cấp (EMS/AHPND) là bệnh trên  
tôm được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009. Sau đó, bệnh lây  
lan nhanh chóng ra các nước lân cận và hiện đã có mặt tại hầu hết các  
vùng sản xuất tôm chính trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bệnh gây  
ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành tôm toàn cầu và cho đến nay vẫn  
chưa có phương pháp chữa bệnh hiệu quả. Để nắm rõ thực trạng bệnh  
AHPND từ đó đưa ra các biện pháp phát hiện và phòng ngừa hiệu quả  
thì chúng tôi đã thu thập dữ liệu thực tế ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng  
sông Cửu Long để phân tích cũng như thu thập mẫu tôm để phân lập  
chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh. Nghiên cứu từ năm  
2014 - 2018 ở bốn tỉnh Bến Tre, Long An, Bạc Liêu, Kiên Giang cho thấy  
diện tích thiệt hại của AHPND dao động trong khoảng 2,0 - 57,2% tổng  
diện tích nuôi tôm. Ngoài ra, chúng tôi cũng phân lập được 10 chủng  
dương tính với AHPND thông qua nuôi cấy và PCR. Kết quả giải trình  
tự đại diện ba chủng LA1, LA5, và LA8 cho thấy có độ tương đồng 100%  
với chủng gây bệnh XN89 đã được công bố trước đây. Các chủng phân  
lập này sẽ được sử dụng để tạo bộ sưu tập chủng gây bệnh nhằm nghiên  
cứu sâu hơn cơ chế và nguồn gốc bệnh thông qua giải trình tự toàn bộ bộ  
gen.  
Ngày nhận: 26/03/2021  
Ngày chỉnh sửa: 13/04/2021  
Ngày chấp nhận: 22/04/2021  
Từ khóa  
AHPND  
Tôm thẻ chân trắng  
ToxA  
ToxB  
V. parahaemolyticus  
∗Tác giả liên hệ  
Trần Văn Hiếu  
Email: [email protected].vn  
1. Đặt Vấn Đề  
cả nước.  
Với quy mô nuôi tôm công nghiệp mật độ cao  
Ngành công nghiệp nuôi tôm có giá trị không  
nhỏ trong thị trường nuôi trồng thủy sản của  
thế giới và cả ở Việt Nam. Ước tính trong năm  
2019, sản lượng tôm của Việt Nam đạt khoảng  
700 nghìn tấn chiếm khoảng 15% thế giới về tổng  
sản lượng tôm và đứng hai thế giới kể từ 2016 cho  
đến nay theo thống kê của The Global Aquacul-  
ture Alliance (Anderson & ctv., 2019). Diện tích  
tôm nuôi nước lợ cả năm 2018 đạt 712,7 nghìn ha  
chiếm 64,4% diện tích nuôi trồng thủy sản của  
Việt Nam. Khu vực nuôi tôm chủ yếu là Đồng  
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chiếm đến 80,61%  
sản lượng và chiếm 91% diện tích nuôi tôm của  
và dinh dưỡng nhiều, tôm rất dễ bị bệnh nếu  
quản lý mầm bệnh không tốt. Đặc biệt, trong số  
đó bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) với tốc  
độ lây lan nhanh và gây ra thiệt hại kinh tế trầm  
trọng. Bệnh AHPND lần đầu được ghi nhận ở  
Trung Quốc vào năm 2009 sau đó lan ra châu Á  
và các nước ở khu vực khác: Việt Nam (2010),  
Malaysia (2011), Thái Lan (2012), Mexico (2013)  
và Philippines (2015) (Flegel & ctv., 2012; Soto-  
Rodriguez & ctv., 2015). Hoại tử gan tụy cấp đã  
gây thiệt hại nặng cho ngành nuôi tôm châu Á lên  
đến 1 tỷ USD vào năm 2013 theo ước tính của  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
38  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu. Bệnh tỉnh với mục tiêu cung cấp thông tin và cái nhìn  
AHPND có thể xuất hiện và gây chết cho tôm chính xác về mức độ nguy hiểm của AHPND để  
trong vòng 45 ngày sau khi thả, tỉ lệ chết có thể có các biện pháp đề phòng, xét nghiệm và chữa  
lên đến 100% sau khi nhiễm bệnh (GAA, 2013). trị phù hợp là những gì bài báo sẽ thực hiện.  
Chúng tôi thực hiện thống kê mô tả trên bộ dữ  
Ở Việt Nam, bệnh xảy ra hầu hết các tháng  
liệu về tình hình bệnh AHPND trên tôm của bốn  
trong năm, nhưng tập trung nhiều từ tháng 3  
tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang  
đến tháng 8 dương lịch hằng năm. Triệu chứng  
cho thấy mức độ nhiễm và lượng thiệt hại bởi  
của tôm bệnh thường bỏ ăn, tấp mé, có gan tụy  
bệnh trên quy mô nuôi tôm từng tỉnh. Cùng với  
nhạt màu. Quan sát mô học, các tế bào gan tụy  
đó, đánh giá mức độ nhiễm bệnh trong 150 mẫu  
có đầy đủ các đặc tính hoại tử như các tế bào  
tôm đã thu thập được từ Long An, Bến Tre, Bạc  
bị bong tróc, tập trung rất nhiều tế bào máu ở  
Liêu, Kiên Giang bằng phương pháp phân lập  
xung quanh và khoảng gian giữa ống gan tụy bị  
chủng vi sinh và xác nhận đồng thời sự hiện diện  
tổn thương và xảy ra nhiễm khuẩn thứ cấp nặng ở  
của vector pVA1 và gen mã hóa toxA gây bệnh  
gian đoạn cuối. Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus  
AHPND bằng kỹ thuật PCR.  
(V.p) là nguyên nhân gây bệnh hoại tử gan tụy  
cấp ở tôm. Yang & ctv. (2014) phát hiện plasmid  
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu  
mới trên loài này, đặt tên là pVA1 kích thước  
khoảng 69 kb gồm hai gen độc tố của bệnh gen  
2.1. Thu thập mẫu tôm thẻ chân trắng và  
thông tin chung về tình hình sản lượng  
tôm và thiệt hại do AHPND trên các tỉnh  
pirAvp (336 bp) và pirBvp (1317 bp) nằm trong  
vùng có kích thước 3,5 kb được bao bởi các vùng  
lặp đảo của trình tự mã hóa chuyển vị. Plasmid  
pVA1 đã được chứng minh là nguồn duy nhất sinh  
Thông tin tình hình sản lượng tôm và thiệt hại  
ra độc tố ToxAB gây chết các tế bào gan tụy đặc  
do AHPND trên các tỉnh và hộ nuôi được thu  
điểm của bệnh AHPND (Lee & ctv., 2015).  
thập và tổng hợp bởi các chuyên viên của Chi  
Sau hiểu biết về gen độc tố và plasmid pVA1, cục Chăn nuôi và Thú y của bốn tỉnh Long An,  
hàng loạt các công bố sau đó báo cáo rằng còn Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang dưới dạng báo  
có các loài khác V. p thuộc họ Vibrio khác gây cáo hiện trạng nuôi trồng thủy sản, trong đó có  
ra bệnh AHPND như một loài giống với V. har- phiếu điều tra soạn sẵn gồm ba phần: i) Ngày thả  
veyi, V. campbellii, V. owensii và V. punensis nuôi và thông tin phát hiện dấu hiệu bệnh, ii) Đặc  
(Kondo & ctv., 2015; Liu & ctv., 2015; Restrepo điểm ao nuôi, iii) Xét nghiệm AHPND trên tôm  
& ctv., 2018), cũng như cung cấp bằng chứng về giống và việc dùng kháng sinh khi nuôi và iv) Ước  
chuyển gen ngang giữa chủng V. campbellii gây tính doanh thu và thiệt hại. Các phiếu điều tra  
bệnh AHPND sang chủng V. owensii không gây này sẽ được dùng khảo sát hộ nuôi tôm khi thu  
bệnh AHPND và trở thành chủng gây chết tôm mẫu tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).  
(Dong & ctv., 2019).  
2.2. Phương pháp thống kê mô tả  
Hiện nay, có nhiều phản ứng thiết kế để phát  
hiện bệnh AHPND như PCR, PCR định lượng  
Phương pháp thống kê mô tả với các giá trị  
dùng mẫu dò TaqMan (Han & ctv., 2015) và  
tổng, kết hợp với phần trăm để mô tả thông tin  
kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt qua trung gian  
chung của hộ nuôi, thực trạng của mô hình nuôi  
cấu trúc kẹp tóc (LAMP) (Kongrueng & ctv.,  
tôm. Vai trò của tôm nuôi cũng như tác động của  
2015) được thiết kế để phát hiện bệnh AHPND.  
dịch bệnh trên tôm nuôi đối với kinh tế hộ cũng  
Trong đó, phương pháp AP3 khuếch đại gen  
được trình bày theo cách này.  
toxA (Sirikharin & ctv., 2014) và phương pháp  
multiplex-PCR phát hiện cùng lúc toxA, toxB  
2.3. Phương pháp phân lập, nuôi cấy và định  
bằng cặp mồi VpPirA-284 và VpPirB-392 được  
danh chủng vi khuẩn gây AHPND bằng  
sử dụng phổ biến nhất trong chuẩn đoán bệnh  
EMS/AHPND (Devadas & ctv., 2019).  
PCR  
Với tốc độ lây lan và thiệt hại kinh tế gây ra  
bởi AHPND, tuy nhiên dữ liệu về tình hình dịch  
bệnh này trên vùng ĐBSCL chỉ mới cập nhật đến  
năm 2017 và chỉ ở mức có hay không có dịch ở  
các tỉnh. Đánh giá thực trạng bệnh trên tôm các  
Các mẫu từ cá thể tôm tôm thẻ chân trắng  
(Litopenaeus vannamei) ở Long An, Bến Tre, Bạc  
Liêu và Kiên Giang được thu thập từ 150 ao thuộc  
các hộ nuôi thâm canh tôm xuất hiệu các dấu hiệu  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
39  
lâm sàng của bệnh AHPND được nghiền nát đầu  
và tăng sinh qua đêm trong môi trường Tryptic  
Soy Broth (TSB) có bổ sung 1,5% NaCl. Dịch  
tăng sinh sau đó được pha loãng liên tiếp bậc 10  
tới 10−3 rồi trải 50 L dịch pha loãng lên môi  
trường Hicrome Vibrio agar và để tăng sinh ở  
37oC qua đêm. Chọn 5-10 khuẩn lạc dự tuyển  
có màu xanh ngọc lam đem thực hiện multiplex  
PCR với cặp mồi AP2 và mồi AP3 để xác định  
tương ứng chủng có vector (pVA1) và gen (toxA)  
gây bệnh. Khuẩn lạc cho kết quả dương tính sẽ  
được hoạt hóa trong TSB có bổ sung 1,5% NaCl  
qua đêm để tiến hành bảo quản với glycerol nhằm  
chuẩn bị cho giải trình tự mã hóa độc tố toxA,  
toxB gây AHPND trên tôm.  
2.4. Giải trình tự hai gen mã hóa độc tố toxA  
và toxB  
Khuẩn lạc cho kết quả dương tính cặp mồi AP3  
từ ống trữ chủng chứa glycerol 20% sẽ được hoạt  
hóa bằng cách thêm vào ống nghiệm chứa 5 mL  
TSB có bổ sung 1,5% NaCl lắc ở 37oC qua đêm  
và thực hiện PCR thu gen giải trình tự. Để thu  
được trình tự mã hóa đồng thời độc tố toxA và  
toxB, chúng tôi thiết kế cặp mồi GMIF3-4 (Bảng  
1) nằm bên ngoài vùng gen mã hóa tương ứng cho  
toxA và toxB về phía thượng nguồn và hạ nguồn.  
Sản phẩm PCR từ cặp mồi này (1806 bp) được  
gửi giải trình tự tại công ty KTest, Việt Nam  
bằng kỹ thuật Sanger. Kết quả trình tự được xử  
lý bằng phần mềm BioEdit phiên bản 7.2 và sắp  
giống cột bằng Clustal Omega (EMBL-EBI, UK).  
Các trình tự sau khi sắp gióng cột được chú giải  
và công bố trên Ngân hàng gen.  
3. Kết Quả và Thảo Luận  
3.1. Thông tin chung về tình hình sản lượng  
tôm và thiệt hại do AHPND trên các tỉnh  
và hộ nuôi  
Từ năm 2014 đến năm 2018, bốn tỉnh thuộc  
ĐBSCL gồm Long An, Bến Tre, Bạc Liêu và  
Kiên Giang có tổng diện tích nuôi tôm trung  
bình trong bốn năm lần lượt là: 6.600, 35.000,  
135.319, 123.859 ha và về mặt tổng sản lượng tôm  
là: 11.500, 55.900, 126.358, 73.390 tấn (Bảng 2).  
Tỉ lệ diện tích tôm nuôi luôn chiếm một tỉ lệ cao  
trên tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của bốn  
tỉnh (thấp nhất là Kiên Giang với 50,38% và cao  
nhất là Bạc Liêu với 96,94%) (Bảng 3). Cùng với  
tỉ lệ này, bốn tỉnh này tỉnh đang xu hướng chuyển  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
 
40  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
Bảng 2. Kết quả nuôi tôm ở bốn tỉnh Bến Tre, Long An, Bạc Liêu, Kiên Giang trung bình  
của năm 2014 - 2018∗  
Tỉnh  
Bến Tre Long An Bạc Liêu Kiên Giang  
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)  
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn)  
Diện tích nuôi tôm (ha)  
Sản lượng tôm (tấn)  
46,7  
256,6  
35,2  
10,0  
42,1  
6,4  
134,7  
203,5  
130,8  
54,5  
215,9  
199,1  
108,3  
59,8  
52,5  
1,8  
Diện tích thiệt hại do AHPND (ha)  
354,0  
21,0  
16,2  
26,4  
∗Nguồn: Nguyen (2019); Nguyen (2019); Tien (2019); Tran (2019).  
Bảng 3. Kết quả nuôi tôm có ảnh hưởng của AHPND trung bình ở bốn tỉnh Long  
An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang qua các năm∗  
Thời gian  
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)  
2014 2015 2016 2017 2018  
89,1 97,6 103,2 142,0 110,4  
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn) 159,4 166,6 171,4 236,2 191,5  
Diện tích nuôi tôm (ha)  
Sản lượng tôm (tấn)  
64,5  
54,9  
4,2  
67,5  
54,0  
6,1  
69,8  
56,9  
39,9  
57,2  
96,4  
64,0  
2,0  
75,2  
66,8  
1,5  
Diện tích thiệt hại do AHPND (ha)  
Tỉ lệ diện tích thiệt hại (%)  
6,5  
9,0  
2,1  
2,0  
∗Nguồn: Nguyen (2019); Nguyen (2019); Tien (2019); Tran (2019).  
Hình 1. Biểu đồ ảnh hưởng của AHPND qua các năm của bốn tỉnh.  
dịch từ nuôi tôm sú (Penaeus monodon) dần sang trường như các loài thuộc chi Vibrio (Sanathku-  
nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) mar & ctv., 2014).  
giống như xu hướng thế giới. Xu hướng này được  
3.2. Tình hình dịch bệnh AHPND trên tôm  
thúc đẩy vào khoảng năm 2000, tôm thẻ chân  
trắng với ưu thế ngưỡng chịu mặn rộng và các  
thông số môi trường tốt được giới thiệu là loài  
nuôi 4 tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu,  
và Kiên Giang từ năm 2014 đến năm 2018  
thay thế tôm sú sau đợt tàn phá nặng nề bởi  
Bốn tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên  
Giang có diện tích thiệt hại của AHPND dao  
động trong khoảng 2,0 - 57,2% tổng diện tích nuôi  
tôm trong giai đoạn 2014 - 2018. Tỉ lệ thiệt hại  
dịch bệnh virus trước đó. Nhưng thực sự tôm thẻ  
chân trắng có ít bệnh hơn tôm sú hay không thì  
vẫn chưa được làm rõ, bởi mầm bệnh nguy hiểm  
của loại tôm này luôn tồn tại tiềm ẩn trong môi  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
     
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
41  
Bảng 4. Kết quả điều tra hộ nuôi trung bình ở các tỉnh khảo sát  
Kết quả  
Bến Tre Bạc Liêu  
42 32  
Nội dung điều tra  
Long An  
49  
Kiên Giang  
47  
Số ngày nuôi đến khi phát hiện dấu  
hiệu bệnh (ngày)  
Xét nghiệm AHPND trên tôm giống  
Tổn thất ao nuôi (đồng)  
100%  
24.564.710,0 40.833.333,0 26.620.690,0 36.037.037,0  
tập trung vào hai tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang, tôm dương tính với AHPND trong các mẫu thu  
cũng là hai tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn.  
thập được là 6,7% (Bảng 5). Đại diện ba chủng  
Từ Hình 1 cho thấy mức độ thiệt hại do bệnh  
AHPND từ năm 2014 - 2018 lập đỉnh vào năm  
2016 và có xu hướng giảm dần sau đó. Qua đó  
cho thấy rằng việc phòng ngừa và ngăn chặn dịch  
bệnh AHPND đã và đang rất được người dân  
và các cấp chính quyền địa phương quan tâm.  
Người nông dân đã tiếp cận được với các phương  
pháp phòng ngừa dịch bệnh và có đầu tư ao nuôi,  
các phương pháp phát hiện bệnh cũng được triển  
khai. Vì thế, diện tích thiệt hại do AHPND có xu  
hướng giảm trong năm 2017 - 2018.  
Bảng 5. Tần suất xuất hiện của V. parahaemolyticus  
gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) của bốn tỉnh  
trong năm 2018 - 2020  
Mẫu có khuẩn  
Mẫu nghi ngờ  
Tỉnh  
lạc dương  
bệnh  
tính AHPND  
Long An  
Bến Tre  
6
4
50  
40  
Bạc Liêu  
Kiên Giang  
Tổng mẫu  
Tần suất  
xuất hiện  
0
0
10  
30  
30  
150  
3.3. Thông tin chung về tình hình nuôi tôm và  
thiệt hại do AHPND trên các hộ nuôi  
6,7%  
Hầu hết các hộ nuôi tôm được khảo sát ở Long  
An, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang có mức độ  
đầu tư ao nuôi chưa thể cách ly hoàn toàn mầm  
bệnh là đa số mới chỉ có lưới xung quanh, có dụng  
cụ riêng cho từng ao, có lót bạt bờ và một số ít  
lót hoàn toàn hoặc đầu tư kỹ càng hơn. Tất cả  
hộ nuôi không thực hiện xét nghiệm lại do tốn  
chi phí và thời gian, dù đã xét AHPND trên tôm  
giống trước khi thả nuôi. Số ngày nuôi đến khi  
phát hiện bệnh của các tỉnh từ 32 - 49 ngày là  
phát hiện dấu hiệu bệnh trong vòng 45 ngày sau  
khi thả nuôi và tổn thất trên một ao nuôi trong  
khoảng 24 đến 36 triệu (GAA, 2013). Trong đó,  
Bạc Liêu có số ngày nuôi đến khi phát hiện dấu  
hiệu bệnh ngắn nhất là 32 ngày, ngược lại, Long  
An có số ngày dài nhất là 49 ngày nhưng do có  
quy mô nuôi tôm trung bình nhỏ nhất nên có thể  
là lý do cho việc có tổn thất ao nuôi ít nhất (Bảng  
4).  
Bảng 6. Thông tin gen mã hóa độc tố toxA và toxB  
từ một số chủng V. parahaemolyticus gây bệnh hoại  
tử gan tụy cấp (AHPND) đại diện phân lập được  
Mã số đăng ký trên  
Tên chủng  
LA1  
Gen  
ngân hàng gen  
MW355905  
MW355906  
MW355907  
MW355908  
MW355909  
MW355910  
ToxA  
ToxB  
ToxA  
ToxB  
ToxA  
ToxB  
LA5  
LA8  
dương tính đặc trưng về gen của AHPND (dương  
tính với plasmid và gen toxA) được gửi giải trình  
tự cả gen toxA và toxB (Hình 2). Các kết quả về  
trình tự này được công bố trên ngân hàng gen  
với các thông tin và mã số tương ứng (Bảng 6).  
Kết quả giải trình tự đại diện cho ba chủng LA1,  
LA5, LA8 được thể hiện trong Hình 3 cho thấy  
các chủng này có độ tương đồng cao với chủng  
XN89 là chủng gây bệnh AHPND đã được công  
bố trên Ngân hàng gen. Để tìm hiểu rõ hơn về  
nguồn gốc bệnh và cơ chế lây lan của bệnh AH-  
PND thông qua chuyển gen, giải trình tự toàn  
bộ plasmid chứa gen toxA/toxB từ những chủng  
3.4. Phân lập chủng AHPND trên tôm nuôi  
(Litopenaeus vannamei) của bốn tỉnh Tây  
Nam Bộ  
Tổng số 10 chủng V. parahaemolyticus dương  
tính với AHPND trong 150 mẫu tôm (Litope-  
naeus vannamei) đã được phân lập. Tỉ lệ mẫu  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
     
42  
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
dương tính đã phân lập là một điều cần thiết.  
4. Kết Luận  
Các tỉnh thuộc ĐBSCL là những khu vực nuôi  
tôm chủ yếu của cả nước tuy nhiên vẫn còn bị  
thiệt hại do AHPND qua mỗi năm. Diện tích nuôi  
tôm luôn chiếm ở mức cao trong diện tích nuôi  
trông thủy sản ở bốn tỉnh.  
Dịch bệnh APHND luôn xuất hiện qua các năm  
với đỉnh điểm gây thiệt hại nặng vào năm 2016.  
Sau đó diện tích bị bệnh suy giảm về mức gần  
như lúc đầu và diện tích nuôi tôm có tăng dù cho  
đợt ảnh hưởng nặng 2016.  
Nhờ vào ý thức của các hộ dân khi bệnh càng  
ngày càng phổ biến hơn thì mức độ thiệt hại có  
giảm nhẹ từ năm 2017 - 2018. Dù có thực hiện  
xét hiện con giống nhưng các thành phần khác  
của ao nuôi và các giai đoạn sau chưa được quan  
tâm xét nghiệm bệnh AHPND, cũng như là mức  
độ đầu tư ao nuôi chưa đủ cách ly với mầm bệnh  
hiệu quả.  
Chúng tôi cũng đã phân lập được 10 chủng  
dương tính với độc tố toxA thông qua nuôi cấy  
và PCR cũng như lần đầu tiên công bố trình tự  
các gen mã hóa cho hai độc tố toxA và toxB từ  
các một số chủng đại diện trên Ngân hàng gen.  
Dự kiến, chúng tôi sẽ phân lập thêm chủng dương  
tính mới tiến hành giải trình tự toàn bộ plasmid  
chứa gen toxA/toxB để tìm hiểu rõ hơn về nguồn  
gốc bệnh và cơ chế lây lan của bệnh AHPND  
thông qua chuyển gen.  
Hình 2. Kết quả PCR kiểm tra đại diện ba chủng  
dương tính với bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND)  
đã phân lập với các cặp mồi AP3 và AP2. Các ký  
hiệu M, Thang 1 kb; giếng 1 đến 3, kết quả đại diện  
cho các chủng dương tính AHPND; (-), chứng âm.  
Lời Cảm Ơn  
Đề tài nghiên cứu được tài trợ từ Chương trình  
khoa học và công nghệ cấp quốc gia phục vụ phát  
triển bền vững vùng Tây Nam Bộ, mã số KHCN-  
TNB.ĐT/14-19/C31.  
Tài Liệu Tham Khảo (References)  
Anderson, J. L., Valderrama, D.,  
& Jory, D. E.  
(2019). GOAL 2019: Global shrimp produc-  
tion review. Retrieved November 4, 2019, from  
Devadas, S., Banerjee, S., Yusoff, F. M., Bhassu, S.,  
&
Shariff, M. (2019). Experimental methodologies  
and diagnostic procedures for acute hepatopancreatic  
Hình 3. Kết quả giải trình tự đại diện của chủng  
LA1.  
necrosis disease (AHPND). Aquaculture 499, 389-400.  
Dong, X., Chen, J., Song, J., Wang, H., Wang, W., Ren,  
Y., & Huang, J. (2019). Evidence of the horizontal  
transfer of pVA1-type plasmid from AHPND-causing  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
     
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh  
43  
V. campbellii to non-AHPND V. owensii. Aquaculture  
503, 396-402.  
Restrepo, L., Bayot, B., Arciniegas, S., Bajan˜a, L., Be-  
tancourt, I., Panchana, F., & Mun˜oz, A. R. (2018).  
PirVP genes causing AHPND identified in a new Vib-  
rio species (Vibrio punensis) within the commensal  
Orientalis clade. Scientific Reports 8(1), 1-14.  
Flegel, T. W. (2012). Historic emergence, impact and cur-  
rent status of shrimp pathogens in Asia. Journal of  
Invertebrate Pathology 110(2), 166-173.  
Sanathkumar, H., Ravi, C., Padinhatupurayil, S. B., Mol,  
M., Prasad, J. K., & Nayak, B. B. (2014). Microbio-  
logical investigation of persistent mortalities in Litope-  
naeus vannamei grown in low saline waters in India.  
Journal of Aquatic Animal Health 26(3), 154-159.  
GAA (Global Aquaculture Alliance). (2013). Cause  
of EMS shrimp disease identified. GAA’s GOAL  
2013 conference. Paris, France: Global Aquacul-  
ture Alliance. Retrieved February 25, 2015, from  
Sirikharin, R., Taengchaiyaphum, S., Sritunyalucksana,  
K., Thitamadee, S., Flegel, T. W., Mavichak, R., &  
Proespraiwong, P. (2014). A new and improved PCR  
method for detection of AHPND bacteria. Retrieved  
June 18, 2014, from https://enaca.org/?id=96.  
Han, J. E., Tang, K. F., Pantoja, C. R., White, B. L., &  
Lightner, D. V. (2015). qPCR assay for detecting and  
quantifying a virulence plasmid in acute hepatopan-  
creatic necrosis disease (AHPND) due to pathogenic  
Vibrio parahaemolyticus. Aquaculture 442, 12-15.  
Soto-Rodriguez, S. A., Gomez-Gil, B., Lozano-Olvera,  
R., Betancourt-Lozano, M., & Morales-Covarrubias,  
M. S. (2015). Field and experimental evidence of Vib-  
rio parahaemolyticus as the causative agent of acute  
hepatopancreatic necrosis disease of cultured shrimp  
(Litopenaeus vannamei) in Northwestern Mexico. Ap-  
plied and Environmental Microbiology 81(5), 1689-  
1699.  
Kondo, H., Van, P. T., Dang, L. T., & Hirono, I. (2015).  
Draft genome sequence of non-Vibrio parahaemolyti-  
cus acute hepatopancreatic necrosis disease strain  
KC13. 17.5, isolated from diseased shrimp in Vietnam.  
Genome Announcements 3(5): e00978-15.  
Kongrueng, J., Tansila, N., Mitraparp-arthorn, P.,  
Nishibuchi, M., Vora, G. J., & Vuddhakul, V. (2015).  
LAMP assay to detect Vibrio parahaemolyticus caus-  
ing acute hepatopancreatic necrosis disease in shrimp.  
Aquaculture International 23(5), 1179-1188.  
Tien, H. L. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis dis-  
ease on shrimp cultured in Bac Lieu province (research  
report). Bac Lieu University, Bac Lieu, Vietnam.  
Tran, T. H. L. (2019). Acute hepatopancreatic necro-  
sis disease on shrimp cultured in Ben Tre province  
(research report). Ben Tre Sub-Department of Live-  
stock Production, Veterinary and Aquaculture, Ben  
Tre, Vietnam.  
Lee, C. T., Chen, I. T., Yang, Y. T., Ko, T. P., Huang,  
Y. T., Huang, J. Y., & Lo, C. F. (2015). The oppor-  
tunistic marine pathogen Vibrio parahaemolyticus be-  
comes virulent by acquiring a plasmid that expresses  
a deadly toxin. Proceedings of the National Academy  
of Sciences 112(34), 10798-10803.  
Yang, Y. T., Chen, I. T., Lee, C. T., Chen, C. Y., Lin,  
S. S., Hor, L. I., & Lo, C. F. (2014). Draft genome  
sequences of four strains of Vibrio parahaemolyticus,  
three of which cause early mortality syndrome/acute  
hepatopancreatic necrosis disease in shrimp in China  
and Thailand. Genome Announcements 2(5), e00816-  
14.  
Liu, L., Xiao, J., Xia, X., Pan, Y., Yan, S., & Wang,  
Y. (2015). Draft genome sequence of Vibrio owensii  
strain SH-14, which causes shrimp acute hepatopan-  
creatic necrosis disease. Genome Announcements 3(6),  
e01395-15.  
Nguyen, D. X. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis  
disease on shrimp cultured in Kien Giang province (re-  
search report). Kien Giang Sub-Department of Live-  
stock Production, Veterinary and Aquaculture, Kien  
Giang, Vietnam.  
Nguyen, T. T. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis  
disease on shrimp cultured in Long An province (re-  
search report). Long An Sub-Department of Livestock  
production, Veterinary and Aquaculture, Long An,  
Vietnam.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)  
pdf 8 trang yennguyen 19920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_benh_hoai_tu_gan_tuy_cap_tinh_ahpnd_tren_tom_nuoi.pdf