Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ
36
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Current status of acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) and result of
isolating AHPND-causing strains of farmed shrimp in Mekong Delta Region of
Vietnam
Dung H. T. Mai1,2, Binh T. Huynh1,2, Hoa T. M. Nguyen1,2, Hoan P. K. Nguyen1,2
Toan T. Nguyen3, Lien T. H. Tran4, Ly H. Tien5, Xuyen D. Nguyen6,
Thuoc L. Tran1,2, & Hieu V. Tran1,2∗
,
1Faculty of Biology and Biotechnology, University of Science, Ho Chi Minh City, Vietnam
2Vietnam National University, Ho Chi Minh City, Vietnam
3Long An Sub-Department of Livestock Production, Veterinary and Aquaculture, Long An, Vietnam
4Ben Tre Sub-Department of Livestock Production, Veterinary, Ben Tre, Vietnam
5Faculty of Agriculture, Bac Lieu University, Bac Lieu, Vietnam
6Kien Giang Sub-Department of Livestock production, Veterinary, Kien Giang, Vietnam
ARTICLE INFO
Research Paper
ABSTRACT
Early mortality
syndrome/acute
hepatopancreatic
necrosis
(EMS/AHPND) was first detected in China in 2009. The disease
spread rapidly to neighboring countries and emerged in almost major
shrimp-producing regions in the world, including Vietnam. The disease
has caused serious damage to the global shrimp industry and so far, there
is no effective cure. In order to understand the current status of AHPND,
and then to introduce effective prevention and detection measures, we
collected data and shrimp samples in some provinces in the Mekong Delta
to analyze and isolate the pathogenic strains. The results of our study
conducted from 2014 - 2018 in four provinces (Ben Tre, Long An, Bac
Lieu, Kien Giang) showed that AHPND damaged from 2.0 to 57.2% of the
total shrimp farming area. In addition, we isolated 10 AHPND-positive
strains via culturing and PCR. The results of representative sequencing of
three strains LA1, LA5, and LA8 showed that they were 100% similarity
with the previously published strain XN89. These isolated strains are used
as a collection for further studies on the origin and mechanism of the
disease by whole genome sequencing.
Received: March 26, 2021
Revised: April 13, 2021
Accepted: April 22, 2021
Keywords
AHPND
ToxA
ToxB
V. parahaemolyticus
Whiteleg shrimp
∗Corresponding author
Tran Van Hieu
Email: [email protected].vn
Cited as: Mai D. H. T., Huynh, B. T., Nguyen, H. T. M., Nguyen, H. P. K., Nguyen, T. T.,
Tran, L. T. H, Tien, L. H., Nguyen, X. D., Tran, T. L., & Tran, H. V. (2021). Current status of
acute hepatopancreatic necrosis disease (AHPND) and result of isolating AHPND-causing strains
of farmed shrimp in Mekong Delta Region of Vietnam. The Journal of Agriculture and Development
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
37
Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân
lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ
Mai Hoàng Thùy Dung1,2, Huỳnh Tuấn Bình1,2, Nguyễn Thị Minh Hòa1,2, Nguyễn Phước
Khải Hoàn1,2, Nguyễn Thanh Toàn3, Trần Thị Hương Liên4, Tiền Hải Lý5,
Nguyễn Đình Xuyên6, Trần Linh Thước1,2 & Trần Văn Hiếu1,2∗
1Khoa Sinh Học - Công Nghệ Sinh Học, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh
2Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
3Chi Cục Chăn Nuôi, Thú Y Và Thủy Sản Long An, Long An
4Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Tỉnh Bến Tre, Bến Tre
5Khoa Nông Nghiệp, Trường Đại Học Bạc Liêu, Bạc Liêu
6Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Tỉnh Kiên Giang, Kiên Giang
TÓM TẮT
THÔNG TIN BÀI BÁO
Bài báo khoa học
Hội chứng chết sớm/hoại tử gan tụy cấp (EMS/AHPND) là bệnh trên
tôm được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009. Sau đó, bệnh lây
lan nhanh chóng ra các nước lân cận và hiện đã có mặt tại hầu hết các
vùng sản xuất tôm chính trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Bệnh gây
ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành tôm toàn cầu và cho đến nay vẫn
chưa có phương pháp chữa bệnh hiệu quả. Để nắm rõ thực trạng bệnh
AHPND từ đó đưa ra các biện pháp phát hiện và phòng ngừa hiệu quả
thì chúng tôi đã thu thập dữ liệu thực tế ở một số tỉnh thuộc Đồng bằng
sông Cửu Long để phân tích cũng như thu thập mẫu tôm để phân lập
chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh. Nghiên cứu từ năm
2014 - 2018 ở bốn tỉnh Bến Tre, Long An, Bạc Liêu, Kiên Giang cho thấy
diện tích thiệt hại của AHPND dao động trong khoảng 2,0 - 57,2% tổng
diện tích nuôi tôm. Ngoài ra, chúng tôi cũng phân lập được 10 chủng
dương tính với AHPND thông qua nuôi cấy và PCR. Kết quả giải trình
tự đại diện ba chủng LA1, LA5, và LA8 cho thấy có độ tương đồng 100%
với chủng gây bệnh XN89 đã được công bố trước đây. Các chủng phân
lập này sẽ được sử dụng để tạo bộ sưu tập chủng gây bệnh nhằm nghiên
cứu sâu hơn cơ chế và nguồn gốc bệnh thông qua giải trình tự toàn bộ bộ
gen.
Ngày nhận: 26/03/2021
Ngày chỉnh sửa: 13/04/2021
Ngày chấp nhận: 22/04/2021
Từ khóa
AHPND
Tôm thẻ chân trắng
ToxA
ToxB
V. parahaemolyticus
∗Tác giả liên hệ
Trần Văn Hiếu
Email: [email protected].vn
1. Đặt Vấn Đề
cả nước.
Với quy mô nuôi tôm công nghiệp mật độ cao
Ngành công nghiệp nuôi tôm có giá trị không
nhỏ trong thị trường nuôi trồng thủy sản của
thế giới và cả ở Việt Nam. Ước tính trong năm
2019, sản lượng tôm của Việt Nam đạt khoảng
700 nghìn tấn chiếm khoảng 15% thế giới về tổng
sản lượng tôm và đứng hai thế giới kể từ 2016 cho
đến nay theo thống kê của The Global Aquacul-
ture Alliance (Anderson & ctv., 2019). Diện tích
tôm nuôi nước lợ cả năm 2018 đạt 712,7 nghìn ha
chiếm 64,4% diện tích nuôi trồng thủy sản của
Việt Nam. Khu vực nuôi tôm chủ yếu là Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chiếm đến 80,61%
sản lượng và chiếm 91% diện tích nuôi tôm của
và dinh dưỡng nhiều, tôm rất dễ bị bệnh nếu
quản lý mầm bệnh không tốt. Đặc biệt, trong số
đó bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) với tốc
độ lây lan nhanh và gây ra thiệt hại kinh tế trầm
trọng. Bệnh AHPND lần đầu được ghi nhận ở
Trung Quốc vào năm 2009 sau đó lan ra châu Á
và các nước ở khu vực khác: Việt Nam (2010),
Malaysia (2011), Thái Lan (2012), Mexico (2013)
và Philippines (2015) (Flegel & ctv., 2012; Soto-
Rodriguez & ctv., 2015). Hoại tử gan tụy cấp đã
gây thiệt hại nặng cho ngành nuôi tôm châu Á lên
đến 1 tỷ USD vào năm 2013 theo ước tính của
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
38
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu. Bệnh tỉnh với mục tiêu cung cấp thông tin và cái nhìn
AHPND có thể xuất hiện và gây chết cho tôm chính xác về mức độ nguy hiểm của AHPND để
trong vòng 45 ngày sau khi thả, tỉ lệ chết có thể có các biện pháp đề phòng, xét nghiệm và chữa
lên đến 100% sau khi nhiễm bệnh (GAA, 2013). trị phù hợp là những gì bài báo sẽ thực hiện.
Chúng tôi thực hiện thống kê mô tả trên bộ dữ
Ở Việt Nam, bệnh xảy ra hầu hết các tháng
liệu về tình hình bệnh AHPND trên tôm của bốn
trong năm, nhưng tập trung nhiều từ tháng 3
tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang
đến tháng 8 dương lịch hằng năm. Triệu chứng
cho thấy mức độ nhiễm và lượng thiệt hại bởi
của tôm bệnh thường bỏ ăn, tấp mé, có gan tụy
bệnh trên quy mô nuôi tôm từng tỉnh. Cùng với
nhạt màu. Quan sát mô học, các tế bào gan tụy
đó, đánh giá mức độ nhiễm bệnh trong 150 mẫu
có đầy đủ các đặc tính hoại tử như các tế bào
tôm đã thu thập được từ Long An, Bến Tre, Bạc
bị bong tróc, tập trung rất nhiều tế bào máu ở
Liêu, Kiên Giang bằng phương pháp phân lập
xung quanh và khoảng gian giữa ống gan tụy bị
chủng vi sinh và xác nhận đồng thời sự hiện diện
tổn thương và xảy ra nhiễm khuẩn thứ cấp nặng ở
của vector pVA1 và gen mã hóa toxA gây bệnh
gian đoạn cuối. Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus
AHPND bằng kỹ thuật PCR.
(V.p) là nguyên nhân gây bệnh hoại tử gan tụy
cấp ở tôm. Yang & ctv. (2014) phát hiện plasmid
2. Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu
mới trên loài này, đặt tên là pVA1 kích thước
khoảng 69 kb gồm hai gen độc tố của bệnh gen
2.1. Thu thập mẫu tôm thẻ chân trắng và
thông tin chung về tình hình sản lượng
tôm và thiệt hại do AHPND trên các tỉnh
pirAvp (336 bp) và pirBvp (1317 bp) nằm trong
vùng có kích thước 3,5 kb được bao bởi các vùng
lặp đảo của trình tự mã hóa chuyển vị. Plasmid
pVA1 đã được chứng minh là nguồn duy nhất sinh
Thông tin tình hình sản lượng tôm và thiệt hại
ra độc tố ToxAB gây chết các tế bào gan tụy đặc
do AHPND trên các tỉnh và hộ nuôi được thu
điểm của bệnh AHPND (Lee & ctv., 2015).
thập và tổng hợp bởi các chuyên viên của Chi
Sau hiểu biết về gen độc tố và plasmid pVA1, cục Chăn nuôi và Thú y của bốn tỉnh Long An,
hàng loạt các công bố sau đó báo cáo rằng còn Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang dưới dạng báo
có các loài khác V. p thuộc họ Vibrio khác gây cáo hiện trạng nuôi trồng thủy sản, trong đó có
ra bệnh AHPND như một loài giống với V. har- phiếu điều tra soạn sẵn gồm ba phần: i) Ngày thả
veyi, V. campbellii, V. owensii và V. punensis nuôi và thông tin phát hiện dấu hiệu bệnh, ii) Đặc
(Kondo & ctv., 2015; Liu & ctv., 2015; Restrepo điểm ao nuôi, iii) Xét nghiệm AHPND trên tôm
& ctv., 2018), cũng như cung cấp bằng chứng về giống và việc dùng kháng sinh khi nuôi và iv) Ước
chuyển gen ngang giữa chủng V. campbellii gây tính doanh thu và thiệt hại. Các phiếu điều tra
bệnh AHPND sang chủng V. owensii không gây này sẽ được dùng khảo sát hộ nuôi tôm khi thu
bệnh AHPND và trở thành chủng gây chết tôm mẫu tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei).
(Dong & ctv., 2019).
2.2. Phương pháp thống kê mô tả
Hiện nay, có nhiều phản ứng thiết kế để phát
hiện bệnh AHPND như PCR, PCR định lượng
Phương pháp thống kê mô tả với các giá trị
dùng mẫu dò TaqMan (Han & ctv., 2015) và
tổng, kết hợp với phần trăm để mô tả thông tin
kỹ thuật khuếch đại đẳng nhiệt qua trung gian
chung của hộ nuôi, thực trạng của mô hình nuôi
cấu trúc kẹp tóc (LAMP) (Kongrueng & ctv.,
tôm. Vai trò của tôm nuôi cũng như tác động của
2015) được thiết kế để phát hiện bệnh AHPND.
dịch bệnh trên tôm nuôi đối với kinh tế hộ cũng
Trong đó, phương pháp AP3 khuếch đại gen
được trình bày theo cách này.
toxA (Sirikharin & ctv., 2014) và phương pháp
multiplex-PCR phát hiện cùng lúc toxA, toxB
2.3. Phương pháp phân lập, nuôi cấy và định
bằng cặp mồi VpPirA-284 và VpPirB-392 được
danh chủng vi khuẩn gây AHPND bằng
sử dụng phổ biến nhất trong chuẩn đoán bệnh
EMS/AHPND (Devadas & ctv., 2019).
PCR
Với tốc độ lây lan và thiệt hại kinh tế gây ra
bởi AHPND, tuy nhiên dữ liệu về tình hình dịch
bệnh này trên vùng ĐBSCL chỉ mới cập nhật đến
năm 2017 và chỉ ở mức có hay không có dịch ở
các tỉnh. Đánh giá thực trạng bệnh trên tôm các
Các mẫu từ cá thể tôm tôm thẻ chân trắng
(Litopenaeus vannamei) ở Long An, Bến Tre, Bạc
Liêu và Kiên Giang được thu thập từ 150 ao thuộc
các hộ nuôi thâm canh tôm xuất hiệu các dấu hiệu
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
39
lâm sàng của bệnh AHPND được nghiền nát đầu
và tăng sinh qua đêm trong môi trường Tryptic
Soy Broth (TSB) có bổ sung 1,5% NaCl. Dịch
tăng sinh sau đó được pha loãng liên tiếp bậc 10
tới 10−3 rồi trải 50 L dịch pha loãng lên môi
trường Hicrome Vibrio agar và để tăng sinh ở
37oC qua đêm. Chọn 5-10 khuẩn lạc dự tuyển
có màu xanh ngọc lam đem thực hiện multiplex
PCR với cặp mồi AP2 và mồi AP3 để xác định
tương ứng chủng có vector (pVA1) và gen (toxA)
gây bệnh. Khuẩn lạc cho kết quả dương tính sẽ
được hoạt hóa trong TSB có bổ sung 1,5% NaCl
qua đêm để tiến hành bảo quản với glycerol nhằm
chuẩn bị cho giải trình tự mã hóa độc tố toxA,
toxB gây AHPND trên tôm.
2.4. Giải trình tự hai gen mã hóa độc tố toxA
và toxB
Khuẩn lạc cho kết quả dương tính cặp mồi AP3
từ ống trữ chủng chứa glycerol 20% sẽ được hoạt
hóa bằng cách thêm vào ống nghiệm chứa 5 mL
TSB có bổ sung 1,5% NaCl lắc ở 37oC qua đêm
và thực hiện PCR thu gen giải trình tự. Để thu
được trình tự mã hóa đồng thời độc tố toxA và
toxB, chúng tôi thiết kế cặp mồi GMIF3-4 (Bảng
1) nằm bên ngoài vùng gen mã hóa tương ứng cho
toxA và toxB về phía thượng nguồn và hạ nguồn.
Sản phẩm PCR từ cặp mồi này (1806 bp) được
gửi giải trình tự tại công ty KTest, Việt Nam
bằng kỹ thuật Sanger. Kết quả trình tự được xử
lý bằng phần mềm BioEdit phiên bản 7.2 và sắp
giống cột bằng Clustal Omega (EMBL-EBI, UK).
Các trình tự sau khi sắp gióng cột được chú giải
và công bố trên Ngân hàng gen.
3. Kết Quả và Thảo Luận
3.1. Thông tin chung về tình hình sản lượng
tôm và thiệt hại do AHPND trên các tỉnh
và hộ nuôi
Từ năm 2014 đến năm 2018, bốn tỉnh thuộc
ĐBSCL gồm Long An, Bến Tre, Bạc Liêu và
Kiên Giang có tổng diện tích nuôi tôm trung
bình trong bốn năm lần lượt là: 6.600, 35.000,
135.319, 123.859 ha và về mặt tổng sản lượng tôm
Tỉ lệ diện tích tôm nuôi luôn chiếm một tỉ lệ cao
trên tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của bốn
tỉnh (thấp nhất là Kiên Giang với 50,38% và cao
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
40
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Bảng 2. Kết quả nuôi tôm ở bốn tỉnh Bến Tre, Long An, Bạc Liêu, Kiên Giang trung bình
của năm 2014 - 2018∗
Tỉnh
Bến Tre Long An Bạc Liêu Kiên Giang
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn)
Diện tích nuôi tôm (ha)
Sản lượng tôm (tấn)
46,7
256,6
35,2
10,0
42,1
6,4
134,7
203,5
130,8
54,5
215,9
199,1
108,3
59,8
52,5
1,8
Diện tích thiệt hại do AHPND (ha)
354,0
21,0
16,2
26,4
∗Nguồn: Nguyen (2019); Nguyen (2019); Tien (2019); Tran (2019).
Bảng 3. Kết quả nuôi tôm có ảnh hưởng của AHPND trung bình ở bốn tỉnh Long
An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên Giang qua các năm∗
Thời gian
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)
2014 2015 2016 2017 2018
89,1 97,6 103,2 142,0 110,4
Sản lượng nuôi trồng thủy sản (tấn) 159,4 166,6 171,4 236,2 191,5
Diện tích nuôi tôm (ha)
Sản lượng tôm (tấn)
64,5
54,9
4,2
67,5
54,0
6,1
69,8
56,9
39,9
57,2
96,4
64,0
2,0
75,2
66,8
1,5
Diện tích thiệt hại do AHPND (ha)
Tỉ lệ diện tích thiệt hại (%)
6,5
9,0
2,1
2,0
∗Nguồn: Nguyen (2019); Nguyen (2019); Tien (2019); Tran (2019).
Hình 1. Biểu đồ ảnh hưởng của AHPND qua các năm của bốn tỉnh.
dịch từ nuôi tôm sú (Penaeus monodon) dần sang trường như các loài thuộc chi Vibrio (Sanathku-
nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) mar & ctv., 2014).
giống như xu hướng thế giới. Xu hướng này được
3.2. Tình hình dịch bệnh AHPND trên tôm
thúc đẩy vào khoảng năm 2000, tôm thẻ chân
trắng với ưu thế ngưỡng chịu mặn rộng và các
thông số môi trường tốt được giới thiệu là loài
nuôi 4 tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu,
và Kiên Giang từ năm 2014 đến năm 2018
thay thế tôm sú sau đợt tàn phá nặng nề bởi
Bốn tỉnh Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, và Kiên
Giang có diện tích thiệt hại của AHPND dao
động trong khoảng 2,0 - 57,2% tổng diện tích nuôi
tôm trong giai đoạn 2014 - 2018. Tỉ lệ thiệt hại
dịch bệnh virus trước đó. Nhưng thực sự tôm thẻ
chân trắng có ít bệnh hơn tôm sú hay không thì
vẫn chưa được làm rõ, bởi mầm bệnh nguy hiểm
của loại tôm này luôn tồn tại tiềm ẩn trong môi
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
41
Bảng 4. Kết quả điều tra hộ nuôi trung bình ở các tỉnh khảo sát
Kết quả
Bến Tre Bạc Liêu
42 32
Nội dung điều tra
Long An
49
Kiên Giang
47
Số ngày nuôi đến khi phát hiện dấu
hiệu bệnh (ngày)
Xét nghiệm AHPND trên tôm giống
Tổn thất ao nuôi (đồng)
100%
24.564.710,0 40.833.333,0 26.620.690,0 36.037.037,0
tập trung vào hai tỉnh Bạc Liêu và Kiên Giang, tôm dương tính với AHPND trong các mẫu thu
cũng là hai tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn.
AHPND từ năm 2014 - 2018 lập đỉnh vào năm
2016 và có xu hướng giảm dần sau đó. Qua đó
cho thấy rằng việc phòng ngừa và ngăn chặn dịch
bệnh AHPND đã và đang rất được người dân
và các cấp chính quyền địa phương quan tâm.
Người nông dân đã tiếp cận được với các phương
pháp phòng ngừa dịch bệnh và có đầu tư ao nuôi,
các phương pháp phát hiện bệnh cũng được triển
khai. Vì thế, diện tích thiệt hại do AHPND có xu
hướng giảm trong năm 2017 - 2018.
Bảng 5. Tần suất xuất hiện của V. parahaemolyticus
gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) của bốn tỉnh
trong năm 2018 - 2020
Mẫu có khuẩn
Mẫu nghi ngờ
Tỉnh
lạc dương
bệnh
tính AHPND
Long An
Bến Tre
6
4
50
40
Bạc Liêu
Kiên Giang
Tổng mẫu
Tần suất
xuất hiện
0
0
10
30
30
150
3.3. Thông tin chung về tình hình nuôi tôm và
thiệt hại do AHPND trên các hộ nuôi
6,7%
Hầu hết các hộ nuôi tôm được khảo sát ở Long
An, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang có mức độ
đầu tư ao nuôi chưa thể cách ly hoàn toàn mầm
bệnh là đa số mới chỉ có lưới xung quanh, có dụng
cụ riêng cho từng ao, có lót bạt bờ và một số ít
lót hoàn toàn hoặc đầu tư kỹ càng hơn. Tất cả
hộ nuôi không thực hiện xét nghiệm lại do tốn
chi phí và thời gian, dù đã xét AHPND trên tôm
giống trước khi thả nuôi. Số ngày nuôi đến khi
phát hiện bệnh của các tỉnh từ 32 - 49 ngày là
phát hiện dấu hiệu bệnh trong vòng 45 ngày sau
khi thả nuôi và tổn thất trên một ao nuôi trong
khoảng 24 đến 36 triệu (GAA, 2013). Trong đó,
Bạc Liêu có số ngày nuôi đến khi phát hiện dấu
hiệu bệnh ngắn nhất là 32 ngày, ngược lại, Long
An có số ngày dài nhất là 49 ngày nhưng do có
quy mô nuôi tôm trung bình nhỏ nhất nên có thể
là lý do cho việc có tổn thất ao nuôi ít nhất (Bảng
4).
Bảng 6. Thông tin gen mã hóa độc tố toxA và toxB
từ một số chủng V. parahaemolyticus gây bệnh hoại
tử gan tụy cấp (AHPND) đại diện phân lập được
Mã số đăng ký trên
Tên chủng
LA1
Gen
ngân hàng gen
MW355905
MW355906
MW355907
MW355908
MW355909
MW355910
ToxA
ToxB
ToxA
ToxB
ToxA
ToxB
LA5
LA8
dương tính đặc trưng về gen của AHPND (dương
tính với plasmid và gen toxA) được gửi giải trình
Kết quả giải trình tự đại diện cho ba chủng LA1,
các chủng này có độ tương đồng cao với chủng
XN89 là chủng gây bệnh AHPND đã được công
bố trên Ngân hàng gen. Để tìm hiểu rõ hơn về
nguồn gốc bệnh và cơ chế lây lan của bệnh AH-
PND thông qua chuyển gen, giải trình tự toàn
bộ plasmid chứa gen toxA/toxB từ những chủng
3.4. Phân lập chủng AHPND trên tôm nuôi
(Litopenaeus vannamei) của bốn tỉnh Tây
Nam Bộ
Tổng số 10 chủng V. parahaemolyticus dương
tính với AHPND trong 150 mẫu tôm (Litope-
naeus vannamei) đã được phân lập. Tỉ lệ mẫu
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
42
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
dương tính đã phân lập là một điều cần thiết.
4. Kết Luận
Các tỉnh thuộc ĐBSCL là những khu vực nuôi
tôm chủ yếu của cả nước tuy nhiên vẫn còn bị
thiệt hại do AHPND qua mỗi năm. Diện tích nuôi
tôm luôn chiếm ở mức cao trong diện tích nuôi
trông thủy sản ở bốn tỉnh.
Dịch bệnh APHND luôn xuất hiện qua các năm
với đỉnh điểm gây thiệt hại nặng vào năm 2016.
Sau đó diện tích bị bệnh suy giảm về mức gần
như lúc đầu và diện tích nuôi tôm có tăng dù cho
đợt ảnh hưởng nặng 2016.
Nhờ vào ý thức của các hộ dân khi bệnh càng
ngày càng phổ biến hơn thì mức độ thiệt hại có
giảm nhẹ từ năm 2017 - 2018. Dù có thực hiện
xét hiện con giống nhưng các thành phần khác
của ao nuôi và các giai đoạn sau chưa được quan
tâm xét nghiệm bệnh AHPND, cũng như là mức
độ đầu tư ao nuôi chưa đủ cách ly với mầm bệnh
hiệu quả.
Chúng tôi cũng đã phân lập được 10 chủng
dương tính với độc tố toxA thông qua nuôi cấy
và PCR cũng như lần đầu tiên công bố trình tự
các gen mã hóa cho hai độc tố toxA và toxB từ
các một số chủng đại diện trên Ngân hàng gen.
Dự kiến, chúng tôi sẽ phân lập thêm chủng dương
tính mới tiến hành giải trình tự toàn bộ plasmid
chứa gen toxA/toxB để tìm hiểu rõ hơn về nguồn
gốc bệnh và cơ chế lây lan của bệnh AHPND
thông qua chuyển gen.
Hình 2. Kết quả PCR kiểm tra đại diện ba chủng
dương tính với bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND)
đã phân lập với các cặp mồi AP3 và AP2. Các ký
hiệu M, Thang 1 kb; giếng 1 đến 3, kết quả đại diện
cho các chủng dương tính AHPND; (-), chứng âm.
Lời Cảm Ơn
Đề tài nghiên cứu được tài trợ từ Chương trình
khoa học và công nghệ cấp quốc gia phục vụ phát
triển bền vững vùng Tây Nam Bộ, mã số KHCN-
TNB.ĐT/14-19/C31.
Tài Liệu Tham Khảo (References)
Anderson, J. L., Valderrama, D.,
& Jory, D. E.
(2019). GOAL 2019: Global shrimp produc-
tion review. Retrieved November 4, 2019, from
Devadas, S., Banerjee, S., Yusoff, F. M., Bhassu, S.,
&
Shariff, M. (2019). Experimental methodologies
and diagnostic procedures for acute hepatopancreatic
Hình 3. Kết quả giải trình tự đại diện của chủng
LA1.
necrosis disease (AHPND). Aquaculture 499, 389-400.
Dong, X., Chen, J., Song, J., Wang, H., Wang, W., Ren,
Y., & Huang, J. (2019). Evidence of the horizontal
transfer of pVA1-type plasmid from AHPND-causing
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
43
V. campbellii to non-AHPND V. owensii. Aquaculture
503, 396-402.
Restrepo, L., Bayot, B., Arciniegas, S., Bajan˜a, L., Be-
tancourt, I., Panchana, F., & Mun˜oz, A. R. (2018).
PirVP genes causing AHPND identified in a new Vib-
rio species (Vibrio punensis) within the commensal
Orientalis clade. Scientific Reports 8(1), 1-14.
Flegel, T. W. (2012). Historic emergence, impact and cur-
rent status of shrimp pathogens in Asia. Journal of
Invertebrate Pathology 110(2), 166-173.
Sanathkumar, H., Ravi, C., Padinhatupurayil, S. B., Mol,
M., Prasad, J. K., & Nayak, B. B. (2014). Microbio-
logical investigation of persistent mortalities in Litope-
naeus vannamei grown in low saline waters in India.
Journal of Aquatic Animal Health 26(3), 154-159.
GAA (Global Aquaculture Alliance). (2013). Cause
of EMS shrimp disease identified. GAA’s GOAL
2013 conference. Paris, France: Global Aquacul-
ture Alliance. Retrieved February 25, 2015, from
Sirikharin, R., Taengchaiyaphum, S., Sritunyalucksana,
K., Thitamadee, S., Flegel, T. W., Mavichak, R., &
Proespraiwong, P. (2014). A new and improved PCR
method for detection of AHPND bacteria. Retrieved
Han, J. E., Tang, K. F., Pantoja, C. R., White, B. L., &
Lightner, D. V. (2015). qPCR assay for detecting and
quantifying a virulence plasmid in acute hepatopan-
creatic necrosis disease (AHPND) due to pathogenic
Vibrio parahaemolyticus. Aquaculture 442, 12-15.
Soto-Rodriguez, S. A., Gomez-Gil, B., Lozano-Olvera,
R., Betancourt-Lozano, M., & Morales-Covarrubias,
M. S. (2015). Field and experimental evidence of Vib-
rio parahaemolyticus as the causative agent of acute
hepatopancreatic necrosis disease of cultured shrimp
(Litopenaeus vannamei) in Northwestern Mexico. Ap-
plied and Environmental Microbiology 81(5), 1689-
1699.
Kondo, H., Van, P. T., Dang, L. T., & Hirono, I. (2015).
Draft genome sequence of non-Vibrio parahaemolyti-
cus acute hepatopancreatic necrosis disease strain
KC13. 17.5, isolated from diseased shrimp in Vietnam.
Genome Announcements 3(5): e00978-15.
Kongrueng, J., Tansila, N., Mitraparp-arthorn, P.,
Nishibuchi, M., Vora, G. J., & Vuddhakul, V. (2015).
LAMP assay to detect Vibrio parahaemolyticus caus-
ing acute hepatopancreatic necrosis disease in shrimp.
Aquaculture International 23(5), 1179-1188.
Tien, H. L. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis dis-
ease on shrimp cultured in Bac Lieu province (research
report). Bac Lieu University, Bac Lieu, Vietnam.
Tran, T. H. L. (2019). Acute hepatopancreatic necro-
sis disease on shrimp cultured in Ben Tre province
(research report). Ben Tre Sub-Department of Live-
stock Production, Veterinary and Aquaculture, Ben
Tre, Vietnam.
Lee, C. T., Chen, I. T., Yang, Y. T., Ko, T. P., Huang,
Y. T., Huang, J. Y., & Lo, C. F. (2015). The oppor-
tunistic marine pathogen Vibrio parahaemolyticus be-
comes virulent by acquiring a plasmid that expresses
a deadly toxin. Proceedings of the National Academy
of Sciences 112(34), 10798-10803.
Yang, Y. T., Chen, I. T., Lee, C. T., Chen, C. Y., Lin,
S. S., Hor, L. I., & Lo, C. F. (2014). Draft genome
sequences of four strains of Vibrio parahaemolyticus,
three of which cause early mortality syndrome/acute
hepatopancreatic necrosis disease in shrimp in China
and Thailand. Genome Announcements 2(5), e00816-
14.
Liu, L., Xiao, J., Xia, X., Pan, Y., Yan, S., & Wang,
Y. (2015). Draft genome sequence of Vibrio owensii
strain SH-14, which causes shrimp acute hepatopan-
creatic necrosis disease. Genome Announcements 3(6),
e01395-15.
Nguyen, D. X. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis
disease on shrimp cultured in Kien Giang province (re-
search report). Kien Giang Sub-Department of Live-
stock Production, Veterinary and Aquaculture, Kien
Giang, Vietnam.
Nguyen, T. T. (2019). Acute hepatopancreatic necrosis
disease on shrimp cultured in Long An province (re-
search report). Long An Sub-Department of Livestock
production, Veterinary and Aquaculture, Long An,
Vietnam.
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển 20(2)
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi và kết quả phân lập chủng vi khuẩn gây bệnh ở một số tỉnh Tây Nam Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
thuc_trang_benh_hoai_tu_gan_tuy_cap_tinh_ahpnd_tren_tom_nuoi.pdf

