Sàng lọc vi khuẩn lactic có khả năng kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh xuất huyết trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
SÀNG LꢀC VI KHUẨN LACTIC CÓ KHẢ NĂNG KHÁNG VI  
KHUẨN Aeromonas hydrophila GÂY BỆNH XUẤT HUYẾT TRÊN  
CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)  
Trần Thị Ngọc Phương1*, Đặng Thị Hoàng Oanh1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân lập vi khuẩn lactic từ đường ruột cá da trơn tự nhiên và sàng lọc  
các chủng có khả năng kháng với vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh xuất huyết trên cá tra. Kết  
quả cho thấy, 96 chủng vi khuẩn lactic có khả năng đối kháng với vi khuẩn chỉ thị Escherichia coli được  
chọn, với 29 chủng phân lập từ cá tra (Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)), 24 chủng từ  
cá lăng (Mystus nemurus (Valenciennes, 1839)), 21 chủng từ cá vồ đém (Pangasius larnaudii (Bocourt,  
1866)), 12 chủng từ cá trê (Clarias macrocephalus (Gunther, 1864)) và 8 chủng từ cá hú (Pangasius  
larnaudii (Bocourt, 1866)). Kết quả nhuộm Gram và kiểm tra sinh hóa cho thấy hầu hết các chủng vi  
khuẩn lactic được chọn đều là vi khuẩn Gram dương, không sinh bào tử, hình cầu, hình oval, que ngắn  
hay que dài, oxidase và catalase âm tính. Kết quả xác định tính đối kháng và khả năng sinh bacteriocin,  
thu được 46 chủng thể hiện tính đối kháng và 3 chủng vi khuẩn thể hiện khả năng kháng khuẩn (sinh  
bacteriocin thô).  
Từ khóa: Aeromonas hydrophila, chế phẩm sinh học (probiotic), khả năng kháng khuẩn, vi khuẩn  
lactic  
88% đối với bệnh xuất huyết trong các hộ nuôi  
được khảo sát so với các bệnh khác và gây thiệt  
hại lớn cho người nuôi.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Với khoảng 600.000 ha diện tích mặt nước  
ngọt, Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá  
có tiềm năng to lớn cho sự phát triển ngành nuôi  
trồng thủy sản. Bên cạnh các đối tượng nuôi như  
tôm thꢀ chân trắng, tôm sú,… cá tra cũng được  
xem là đối tượng nuôi chủ lực, đem lại lợi nhuận  
cao cho người nuôi và góp phần vào giá trị xuất  
khẩu của cả nước. Theo báo cáo của Hiệp hội  
cá tra Việt Nam, tính đến ngày 30/6/2015 diện  
tích nuôi thả mới tại ĐBSCL là 1.959 ha (tăng  
0,21% so với cùng kỳ năm 2014), sản lượng đạt  
516.140 tấn (tăng 1,22% so với cùng kỳ), tổng  
kim ngạch xuất khẩu cá tra đến 31/5/2015 đạt  
hơn 616 triệu USD. Tuy nhiên, trong hiện trạng  
thâm canh hóa mô hình nuôi cá tra như hiện nay,  
tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp và  
khó kiểm soát gây ra thiệt hại lớn cho người  
nuôi cá tra, trong đó, bệnh xuất huyết (tác nhân  
gây bệnh là A. hydrophila) là một trong những  
bệnh nguy hiểm với tần suất xuất hiện khoảng  
Trước tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh  
không đúng cách dẫn đến nhiều tác hại nghiêm  
trọng như hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn  
gây bệnh, hay dư lượng thuốc kháng sinh  
trong vật nuôi có thể gây hại đến sức khꢁe con  
người. Đặc biệt, đối với vi khuẩn gây bệnh A.  
hydrophila, hiện tượng kháng thuốc kháng sinh  
diễn ra ngày càng phức tạp, Quách Văn Cao  
Thi và ctv., (2014) đã chỉ ra rằng hầu hết các  
chủng A. hydrophila kháng hoàn toàn với kháng  
sinh nhóm penicillin, cefalexin và trimetroprim/  
sunfamethoxazol. Nên, việc nghiên cứu để tìm  
những giải pháp thay thế tốt hơn cho phòng và trị  
bệnh là việc cần thiết. Trong số những giải pháp  
tìm được, chế phẩm sinh học được xem như một  
giải pháp thay thế tiềm năng vì vi khuẩn hữu ích  
có khả năng bám dính cao trong biểu mô ruột và  
còn nâng cao hệ miễn dịch của động vật. Trong  
1. Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ.  
* Email: [email protected]  
55  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
2.2. Phương pháp phân lập vi khuẩn  
đó, vi khuẩn lactic được chứng minh có chức  
(Nirunya et al., 2008)  
năng như probiotics, có lợi với sức khꢁe vật  
chủ khi được bổ sung đủ số lượng trong đường  
ruột (Nirunya et al., 2008), vi khuẩn lactic có  
thể được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau  
như các sản phẩm lên men, đường ruột gia súc,  
đường ruột các loài thủy sản,… Vi khuẩn lactic  
là vi khuẩn Gram dương, tế bào hình cầu hoặc  
hình que, catalase âm tính, không sinh bào tử.  
Ngoài ra, vi khuẩn lactic còn tạo ra acid lactic,  
ethanol, hợp chất thơm và bacteriocin (Chen và  
Hoover, 2003).  
Mỗi mẫu ruột cá được lấy khoảng 25 gram/  
cá rồi cho vào ống nghiệm chứa nước muối  
sinh lý (NaCl 0,9%) đã tiệt trùng và dùng que  
vô trùng để nghiền. Tiến hành pha loãng về các  
nồng độ 10-1, 10-2, 10-3 và 10-4 bằng nước muối  
NaCl 0,9%. Lấy 1ml mỗi dung dịch pha loãng  
và trộn với 20ml MRS (de Man, Rogosa and  
Sharpe) (450C) rồi đổ lên đĩa petri đã được tiệt  
trùng. Đĩa petri được ủ ở 280C trong 24 giờ.  
2.3. Phương pháp nuôi tăng sinh vi  
Tuy việc sàng lọc vi khuẩn lactic từ ruột  
cá không còn là chủ đề mới, và những chủng  
vi khuẩn có khả năng sử dụng làm probiotic đã  
được tìm thấy trước đây bao gồm Lactobacillus  
acidophilus, L. johnsonii, L. casei, L. gasseri,  
L. plantarum, L. rhamnosus, Bifidobacterium  
longum, B. breve, B. bifidum, B. infantis,  
Enterococcus faecalis và Enterococcus faecium.  
Nhưng hầu hết những nghiên cứu trước đây vẫn  
chưa thực hiện nhiều trên cá da trơn nước ngọt  
thu từ tự nhiên.  
khuẩn chꢀ thị (Nirunya et al., 2008)  
Các loài vi khuẩn chỉ thị A. hydrophila và  
E. coli được nuôi khoảng 20 giờ trong 10ml  
môi trường TSB (Tryptic Soy Broth) ở 280C.  
1ml vi khuẩn đã nuôi cấy được lấy chuyển sang  
9ml môi trường lꢁng và ủ trong 18 giờ ở 280C,  
mật độ vi khuẩn sau đó được điều chỉnh để đạt  
106 CFU/ml dùng cho việc xác định hoạt động  
kháng khuẩn.  
2.4. Phương pháp chọn lọc vi khuẩn có  
tính kháng khuẩn (Nirunya et al., 2008)  
Do vậy nghiên cứu này được thực hiện  
nhằm phân lập và sàng lọc các chủng vi khuẩn  
lactic từ đường ruột cá da trơn tự nhiên có khả  
năng kháng với vi khuẩn A.hydrophila gây bệnh  
xuất huyết trên cá tra, có tiềm năng sử dụng làm  
probiotics, tạo bộ sưu tập vi khuẩn cho những  
nghiên cứu sâu hơn về vi sinh hữu ích từ các  
loài cá tự nhiên hoặc cho các thí nghiệm trong  
điều kiện in vivo để phòng bệnh xuất huyết trên  
cá tra.  
Chọn lấy những đĩa petri có từ 20-30 khuẩn  
lạc của vi khuẩn lactic. Phủ lên đĩa petri đã chọn  
10 ml môi trường MHB (Mueller-Hinton Broth)  
(0,75% agar) chứa vi khuẩn chỉ thị E.coli với  
mật độ 105-106 CFU/ml và ủ trong 24h ở 280C.  
Quan sát và ghi nhận kích thước vòng tròn vô  
trùng xuất hiện quanh khuẩn lạc vi khuẩn.  
2.5. Phương pháp xác định tính đꢁi  
kháng và khả năng sinh bacteriocin (Nirunya  
et al., 2008)  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phương pháp thu mẫu  
Tiến hành đổ đĩa môi trường NA (Nutrient  
Agar), sau đó tráng lên 10 ml MHA (Mueller-  
Hinton Agar) (0,75% agar) có bổ sung vi khuẩn  
gây bệnh A. hydophila mật độ 105 – 106 CFU/  
ml agar; và tạo các giếng trên đĩa thạch (d=5-  
6mm). Vi khuẩn lactic sau khi nuôi trong MRS  
(de Man, Rogosa và Sharpe) lꢁng ở 280C trong  
48 giờ, đem ly tâm 7.000 vòng/phút trong 15  
Mẫu cá da trơn: cá tra, cá lăng, cá trê, cá vồ  
đém được mua từ chợ và từ các ghe cào, tình  
trạng cá thu mẫu còn khꢁe, bên ngoài không  
trầy xướt, không xuất huyết. Mỗi loại cá thu 10  
con, cỡ cá khoảng 300 – 400 gram/con, sẽ được  
chuyển bằng thùng xốp có sục khí về phòng thí  
nghiệm để phân tích. Mẫu cá được xịt cồn tiệt phút. Thu phần dung dịch bên trên và chia làm  
trùng bên ngoài, sau đó cắt lấy đoạn ruột giữa hai phần. Với phần (i) không xử lý, phần (ii)  
điều chỉnh pH (6,5 – 7,0) dung dịch bằng NaOH  
1M để thu dung dịch có khả năng có bacteriocin  
và dạ dày trong điều kiện vô trùng để tiến hành  
phân lập vi khuẩn.  
56  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
thô. Sau đó cho 80µl phần mỗi dung dịch (i) và (1998) đã phân lập và định danh vi khuẩn lactic  
(ii) vào mỗi giếng. Dung dịch Doxycycline 100 trong đường ruột và phân cá đã xác định rằng vi  
ppm và MRS broth được sử dụng để làm đối  
chứng dương và đối chứng âm. ꢂ ở 28oC trong  
24 giờ.  
khuẩn lactic chỉ tồn tại một phần rất nhꢁ trong  
hệ đường ruột cá (Nirunya B. và ctv., 2008).  
Tuy nhiên, nghiên cứu của Nirunya B. và ctv.,  
(2008) đã chỉ ra rằng, vi khuẩn lactic tồn tại với  
số lượng lớn trong đường ruột cá biển với 160  
chủng phân lập được. Nguyễn Văn Thành và  
Nguyễn Ngọc Trai (2012) đã phân lập được 45  
dòng vi khuẩn từ dạ dày, ruột cá tra và cá rô  
phi thu từ các ao nuôi thâm canh. Dương Thị  
Kim Loan (2013) đã phân lập được 64 chủng  
vi khuẩn lactic từ ruột cá tra và cá rô phi được  
thu từ chợ và ao nuôi. Cùng với những nghiên  
cứu trên, nghiên cứu này đã phân lập được 96  
chủng vi khuẩn lactic từ đường ruột cá da trơn  
nước ngọt, sống tự nhiên, thu từ các chợ và ghe  
cào. Từ đây, có thể kết luận rằng, hệ vi sinh  
đường ruột cá (cả cá nước mặn và cá nước ngọt)  
là nguồn dự trữ phong phú vi khuẩn lactic, đặc  
biệt đối với cá da trơn, trong đó vi khuẩn phân  
lập từ cá tra chiếm số lượng nhiều nhất (30%)  
trong tổng số chủng vi khuẩn phân lập được.  
Các dòng vi khuẩn phân lập từ cá da trơn này  
có nguồn gốc từ môi trường nước tự nhiên, xâm  
nhập và cư trú hệ tiêu hóa của cá thông qua thức  
ăn tự nhiên hoặc môi trường nước (Nguyễn Văn  
Thành và Nguyễn Ngọc Trai, 2012).  
Xác định tính đối kháng của các chủng vi  
khuẩn lactic đối với vi khuẩn gây bệnh thông  
qua đường kính các vòng vô trùng theo Aslim  
và ctv., (2005).  
2.6. Phương pháp định danh vi khuẩn  
Hình dạng, kích thước và tính vòng của vi  
khuẩn được xác định bằng phương pháp nhuộm  
Gram (Barrow và Feltham, 1993). Đặc điểm  
sinh lý sinh hóa được kiểm tra bằng phản ứng  
catalase, oxidase, nhuộm bào tử và xác định  
theo cẩm nang của Cowan và Steels (Barrow và  
Feltham, 1993). Sau đó các chủng có tính đối  
kháng mạnh với A.hydrophila và có khả năng  
sinh bacteriocin đối kháng được giải trình tự  
định danh tại công ty công nghệ sinh học Nam  
Khoa bằng phương pháp sinh học phân tử.  
2.7. Phương pháp xꢂ lꢃ sꢁ liꢄu  
Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel  
2007 để thống kê và so sánh đường kính vòng  
vô trùng gây ra bởi các chủng vi khuẩn lactic.  
Từ đó, xác định được các chủng có tính kháng  
khuẩn cao từ các loài cá và xác định chủng tốt  
nhất thuộc loài cá nào.  
3.2. Nhận diꢄn các dòng vi khuẩn phân  
lập được  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Phân lập và sàng lọc vi khuẩn lactic  
có tính kháng khuẩn từ đường ruột cá da trơn  
Những chủng được chọn được tiến hành  
kiểm tra đặc điểm sinh lí sinh hóa trước khi tiếp  
tục thực hiện thử tính đối kháng với vi khuẩn  
A.hydophila. Kết quả cho thấy, hầu hết chúng  
đều có khuẩn lạc tròn, bóng, bìa nguyên và có  
đường kính dao động từ 0,5mm đến 1,2mm.  
Ngoài ra, quan sát dưới kinh hiển vi quang học  
cho thấy chúng là những vi khuẩn Gram dương,  
không sinh bào tử, hình cầu, hình oval, hình que  
ngắn hay que dài, catalase và oxidase âm tính.  
Đặc biệt, xung quanh khuẩn lạc xuất hiện vùng  
trong suốt của một trường do CaCO3 bị phân  
giải, khi phát triển trên môi trường MRS có 0,5%  
Kết quả phân lập từ 5 loài cá da trơn nước  
ngọt đã tuyển chọn được 96 chủng vi khuẩn  
lactic, trong đó có 29 chủng được phân lập cá  
tra (P. hypophthalmus), 24 chủng từ cá lăng (M.  
nemurus), 21 chủng từ cá vồ đém (P. larnaudii),  
12 chủng từ cá trê (C. macrocephalus) và 8  
chủng từ cá hú (P. larnaudii) dựa trên khả năng  
ức chế vi khuẩn E.coli khi tạo ra vùng vô trùng  
trên môi trường có chứa E. coli (Hình 1A). Mặc  
dù trước đây, vi khuẩn lactic được phân lập chủ  
yếu từ thực phẩm lên men, từ sữa hay trong  
ruột của nhiều loài động vật như chuột, lợn, gà CaCO3 (Hình 1B, 1C). Những đặc điểm này phù  
và người; thêm vào đó, Ringø và Gatesoupe hợp với đặc điểm của giống Lactobacillus được  
57  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
mô tả bởi Kandler và Wiss (1986) (Nguyễn Văn Lactobacillus, trong đó, vi khuẩn hình oval và  
hình que ngắn chiếm ưu thế với số chủng theo  
thứ tự là 43 chủng (45%) và 39 chủng (41%)  
(Bảng 1).  
Thành và Nguyễn Ngọc Trai, 2012). Vì vậy có  
thể kết luận rằng, 96 chủng vi khuẩn phân lập từ  
ruột cá da trơn sống tự nhiên đều thuộc giống  
Hình 1: A: Khuẩn lạc vi khuẩn lactic trên đĩa thạch MRS được tráng bằng MHB 0,75% agar  
chứa vi khuẩn E.coli; B, C: Vi khuẩn lactic có khả năng làm tan vôi khi phát triển trên đĩa thạch  
MRS có chứa 0,5% CaCO3  
Bảng 1: Đặc điểm hình thái của các dòng vi khuẩn lactic phân lập được từ ruột cá da trơn tự nhiên  
Hình thái tế bào vi khuẩn  
Nguồn phân lập  
Hình cầu  
CT1.1  
Hình oval Hình que ngắn Hình que dài  
Cá tra (Pangasius  
hypophthalmus (Sauvage, 1878))  
CT1.2  
CT2.1  
CT4.6  
CT4.9  
CT4.14  
CT7.1  
CT7.2  
CT7.3  
CT8.6  
CT10.1  
CT2.8  
CT2.9  
CT3.3  
CT3.4  
CT3.6  
CT3.7  
CT3.8  
CT4.4  
CT4.10  
CT8.7  
CT8.10  
CT8.11  
CT8.15  
CT8.16  
CT10.8  
CT4.8  
CT8.3  
CT10.2  
58  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Cá lăng (Mystus nemurus  
CL9.5  
CL2  
CL1  
(Valenciennes, 1839))  
CL10.20  
CL3  
CL8.23  
CL8.26  
CL10.1  
CL10.4  
CL10.6  
CL10.7  
CL10.10  
CL10.37  
CL10.3  
CL4  
CL8.20  
CL8.21  
CL9.3  
CL9.6  
CL10.8  
CL10.14  
CL10.22  
CL10.23  
CL10.29  
TV2  
Cá trê (Clarias  
TV8.7  
TV3  
macrocephalus (Gunther, 1864))  
TV8.3  
TV8.6  
TV8.11  
TV8.14  
TV8.15  
TV8.16  
TV8.17  
TV8.18  
TV8.23  
CH4.1  
CH4.2  
TV4  
TV8.10  
Cá hú (Pangasius  
CH2  
CH5.1  
conchophilus (Roberts &  
Vidthayanon, 1991))  
CH4.3  
CH4.4  
CH4.5  
CH4.7  
VD3.3  
VD3.8  
VD3.11  
VD4.1  
Cá vồ đém (Pangasius  
VD1.4  
VD4.3  
VD4.11  
VD5.2  
VD1.5  
VD1.6  
VD2.1  
VD2.2  
VD3.6  
VD3.7  
VD3.10  
VD3.12  
VD4.7  
VD4.8  
VD5.1  
VD4.6  
VD5.3  
larnaudii (Bocourt, 1866))  
59  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.3. Tính đꢁi kháng và khả năng sinh  
bacteriocin thô  
có nhiều khả năng đối kháng được với hai chủng  
vi khuẩn gây bệnh trên. Thực tế từ nghiên cứu  
này đã cho thấy, trong 96 chủng vi khuẩn lactic  
chọn lọc được, có 46 chủng thể hiện tính đối  
kháng và 3 chủng có khả năng sinh bacteriocin.  
Trong đó, các chủng vi khuẩn lactic phân lập từ  
cá tra chiếm số lượng nhiều nhất với 22 chủng,  
15 chủng phân lập từ cá lăng. Vi khuẩn lactic  
phân lập từ cá vồ đém có 7 chủng, từ cá trê chỉ  
có 2 chủng thể hiện tính đối kháng và vi khuẩn  
phân lập từ cá hú không thể hiện tính đối kháng  
với A. hydrophila. Hầu hết các chủng vi khuẩn  
lactic đều thể hiện tính kháng trung bình (với  
đường kính vùng vô trùng trung bình (d) từ  
4,5mm đến 9,5mm) và yếu (d= 2mm ÷ 4mm)  
(Aslim và ctv., 2005) (Hình 2).  
Vi khuẩn lactic ngăn cản sự phát triển của  
tác nhân gây bệnh bằng việc sinh ra các acid  
hữu cơ và H2O2. Các acid hữu cơ ức chế vi  
khuẩn Gram âm, vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn  
gây hư hꢁng thực phẩm, nấm,… Trong đó,  
acid hữu cơ có khả năng sinh chất ức chế và  
diệt khuẩn với acid acetic mạnh hơn acid lactic,  
ngoài ra vi khuẩn lactic còn sinh H2O2 có khả  
năng diệt khuẩn Gram âm và cả Gram dương  
với cơ chế sinh ra supeoxide (O2-) và các gốc  
hydroxyl (OH-) tự do phá hủy DNA tạo hiệu  
quả diệt khuẩn (Dilek, 2014). Bên cạnh đó, A.  
hydrophila và E. ictaluri đều là vi khuẩn Gram  
âm cho thấy các chủng vi khuẩn phân lập được  
Hình 2: Đường tròn vô trùng tạo ra bởi vi khuẩn lactic có khả năng sinh bacteriocin đối với vi khuẩn  
Aeromonas hydrophila. (+): đối chứng dương (kháng sinh Doxycycline 100ppm); (-): đối chứng âm  
(môi trường MRS lꢁng); 1.1, 2.1: dung dịch ly tâm từ vi khuẩn lactic không xử lý; 1.2, 2.2: dung dịch  
ly tâm từ vi khuẩn lactic chuẩn pH (6,5-7) bằng dung dịch NaOH 1M.  
Ngoài acid hữu cơ và H2O2, vi khuẩn lactic acidilactici) là những bacteriocins phổ biến và  
còn có khả năng sinh bacteriocin, bacteriocin là được sử dụng nhiều nhất trong các sản phẩm  
những chuỗi peptide hay protein được sinh ra lên men (Dilek, 2014). Nhiều báo cáo đã chứng  
bởi một vài chủng vi khuẩn, hầu hết bacteriocin minh dòng Lactobacillus có khả năng sinh  
diệt những tế bào đích bằng tính thấm của màng bacteriocins “lactocidin”. Thực tế, nghiên cứu  
tế bào và hoạt động đặc hiệu vì chúng yêu cầu đã tìm ra được 3 chủng CL2, CL10.20 (phân  
những chất thụ cảm đặc hiệu trên bề mặt tế lập từ cá lăng) và CT3.7 (phân lập từ cá tra)  
bào đích. Bacteriocin được phân loại theo đặc có khả năng sinh bacteriocin trung bình và yếu  
điểm sinh hóa và đặc điểm di truyền, trong với đường kính vòng vô trùng lần lượt là 9mm,  
đó Nisin (L. lactis) và Pediocin (Pediococcus 4mm và 2mm (Bảng 2).  
60  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 2: Bảng đường kính vòng vô trùng gây ra bởi hoạt động kháng khuẩn của các chủng vi khuẩn  
chỉ kháng với Aeromonas hydrophila  
A.hydrophila  
Khả năng đối kháng  
Khả năng sinh bacteriocin  
Nguồn  
Tên chủng  
Đường kính vòng  
Đường kính vòng  
Độ nhạy(*)  
Độ nhạy(*)  
phân lập  
vô trùng (mm)  
vô trùng (mm)  
Cá tra  
CT8.3  
8
7
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
5. (++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(+)  
0
0
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
7. (+)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
CT7.3  
CT8.7  
CT8.15  
CT3.6  
3. CT3.7  
CT4.4  
CT8.11  
CT8.16  
CT10.8  
CT7.1  
CT8.6  
CT10.2  
CT3.8  
CT4.9  
CT4.10  
CT2.8  
CT2.1  
CT2.9  
CT3.3  
CT3.4  
CT7.2  
7
0
7
0
6
0
4. 6  
6
6. 2  
0
6
0
6
0
6
0
5
0
5
0
5
0
4
0
4
(+)  
0
4
(+)  
0
3
(+)  
0
2
(+)  
0
2
(+)  
0
2
(+)  
0
2
(+)  
0
2
(+)  
0
61  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Cá lăng CL2  
CL10.20  
13  
6
(++)  
(++)  
(+)  
9
4
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
(++)  
(+)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
(-)  
CL8.20  
CL8.21  
CL9.3  
3
3
(+)  
3
(+)  
CL9.6  
3
(+)  
CL10.14  
CL10.22  
CL10.29  
CL3  
3
(+)  
3
(+)  
3
(+)  
2
(+)  
CL8.26  
CL10.7  
CL10.10  
CL10.23  
CL10.37  
TV3  
2
(+)  
2
(+)  
2
(+)  
2
(+)  
2
(+)  
Cá trê  
4
(+)  
TV4  
4
(+)  
Cá vồ  
đém  
VD4.8  
VD4.11  
VD5.3  
VD1.5  
VD4.6  
VD4.7  
VD1.6  
DC(+)  
10  
9
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(++)  
(+)  
9
5
5
5
2
Đối  
14  
(++)  
chứng  
DC(-)  
0
(-)  
(*) (+): khả năng kháng khuẩn yếu (d=2÷4mm), (++) khả năng kháng khuẩn trung bình (d=4÷14mm), (+++) khả  
năng kháng khuẩn mạnh (d=14÷24mm), (-) Không nhạy (d=0)  
3.4. Định danh các chꢅng vi khuẩn lactic  
có khả năng sinh bacteriocin thô  
Kết quả, 2 chủng CL2 và CL10.20 phân lập từ  
cá lăng xác định là chủng Lactobacillus reuteri  
HFI-LD5 có độ tương đồng theo thứ tự 100%  
(548/548bp) và 99% (551/552bp), chủng CT3.7  
phânlậptừcátraxácđịnhlàchủngLactobacillus  
fermentum JCM- 1173 với độ tương đồng 100%  
(539/539bp). Trình tự gen của các chủng vi  
khuẩn này được trình bày ở Bảng 4.  
Sau khi đã tìm được 3 chủng vi khuẩn  
lactic (CL2, CL20 và CL3.7) có khả năng sinh  
bacteriocin thô, các chủng này được phục hồi và  
tách ròng trên đĩa thạch MRS. Sau đó gửi mẫu  
đến Công tyTNHHThương mại và Dịch vụ Nam  
Khoa, thực hiện định danh, giải trình tự gen 16S  
rRNA và được tra cứu trên BLAST SEARCH  
62  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 4: Trình tự gen của Lactobacillus fermentum JCM- 1173 và Lactobacillus reuteri HFI-  
LD5  
Chủng  
Trình tự gen  
AT C C T G G C T C A G G AT G A A C G C C G G C G G T-  
GTGCCTAATACATGCAAGTCGAACGCGTTG-  
GCCCAATTGATTGATGGTGCTTGCACCTGATT-  
GATTTTGGTCGCCAACGAGTGGCGGACGGGT-  
GAGTAACACGTAGGTAACCTGCCCAGAAG-  
CGGGGGACAACATTTGGAAACAGATGCTAATAC-  
CGCATAACAACGTTGTTCGCATGAACAACGCT-  
TAAAAGATGGCTTCTCGCTATCACTTCTGGATG-  
GACCTGCGGTGCATTAGCTTGTTGGTGGGGTAAC-  
GGCCTACCAAGGCGATGATGCATAGCCGAGTT-  
GAGAGACTGATCGGCCACAATGGGACTGAGA-  
CACGGCCCATACTCCTACGGGAGGCAGCAG-  
TAGGGAATCTTCCACAATGGGCGCAAGCCTGATG-  
GAGCAACACCGCGTGAGTGAAGAAGGGTTTCG-  
GCTCGTAAAGCTCTGTTGTTAAAGAAGAACACG-  
TATGAGAGTAACTGTTCATACGTTGACGGTATTTA-  
ACCAGAAAGTCACGGCTAACTACGTGCCAG  
Lactobacillus  
fer-  
mentum JCM- 1173  
GGAGAGTTTGATCCTGGCTCAGGATGAACGC-  
CGGCGGTGTGCCTAATACATGCAAGTCGTACG-  
CACTGGCCCAACTGATTGATGGTGCTTGCACCT-  
GATTGACGATGGATCACCAGTGAGTGGCGGAC-  
GGGTGAGTAACACGTAGGTAACCTGCCCCGGAGC-  
GGGGGATAACATTTGGAAACAGATGCTAATACCG-  
CATAACAACAAAAGCCACATGGCTTTTGTTTGAAA-  
GATGGCTTTGGCTATCACTCTGGGATGGACCT-  
GCGGTGCATTAGCTAGTTGGTAAGGTAACGGCT-  
TACCAAGGCGATGATGCATAGCCGAGTTGAGAGA-  
CTGATCGGCCACAATGGAACTGAGACACGGTC-  
CATACTCCTACGGGAGGCAGCAGTAGGGAATCTTC-  
CACAATGGGCGCAAGCCTGATGGAGCAACACCGC-  
GTGAGTGAAGAAGGGTTTCGGCTCGTAAAGCTCT-  
GTTGTTGGAGAAGAACGTGCGTGAGAGTAACT-  
GTTCACGCAGTGACGGTATCCAACCAGAAAGT-  
CACGGCTAACTACGTGCCAG  
Lactobacillus reuteri  
HFI-LD5  
Lactobacillus fermentum là vi khuẩn Gram trong quá trình lên men nguyên liệu động vật  
dương, thuộc loài Lactobacillus, được tìm thấy và thực vật. L. fermentum được xác định như  
63  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
probiotic tiềm năng với khả năng làm giảm hoạt động trong khoảng pH rộng và kháng với  
cholesterol tốt hơn hꢃn các loài Lactobacillus enzyme phân giải protein và lipid, có khả năng  
khác bằng việc hấp thụ cholesterol, thúc đẩy ức chế sự phát triển của một số vi khuẩn gây hại  
quá trình chuyển hóa cholesterol. Một nghiên gram dương và Gram âm, các loài thuộc nấm  
cứu khác của Allameh và ctv., 2013, đã xác định và động vật nguyên sinh. Đã có những nghiên  
L. fermentum HM579790, được phân lập từ dạ cứu tìm thấy L. reuteri có thể sinh đủ lượng  
dày cá lóc (Channa striatus) sống tự nhiên, có reuterin để gây ra những hiệu quả diệt khuẩn  
tiềm năng làm probiotic trong nuôi cá lóc khi đáng mong đợi (Lei et al., 2011). Nghiên cứu  
cho thấy khả năng ức chế A. hydrophila cao này được xem như nghiên cứu khởi phát cho  
nhất trong 13 chủng vi khuẩn phân lập được việc phát hiện L. reuteri tồn tại trong ruột động  
trong điều kiện in vitro với đường kính vùng vô vật thủy sản, cụ thể là cá lăng sống tự nhiên với  
trùng 8mm và khả năng cải thiện tỉ lệ sống của khả năng đối kháng và sinh bacteriocin đối với  
cá lóc (Channa striatus) có ý nghĩa thống kê A. hydrophila.  
khi bổ sung 2x106CFU/g vi khuẩn L. fermentum  
Kết quả này có ý nghĩa rất lớn cho những  
vào khẩu phần. Trong nghiên cứu này, chủng  
L. fermentum JCM-1173 được sàng lọc từ  
đường ruột cá tra, tuy khả năng đối kháng (sử  
dụng dịch huyền phù được lọc vô trùng) của  
L. fermentum JCM-1173 (6mm) nhꢁ hơn L.  
fermentum HM-579790 (8mm) nhưng nghiên  
cứu đã xác định được khả năng sinh bacteriocin  
đối với A.hydrophila.  
nghiên cứu về vi khuẩn có tiềm năng làm  
probiotic trong phòng bệnh gan thận mủ và  
bệnh xuất huyết trên cá tra khi mà việc sử dụng  
sinh vật đối kháng và bacteriocin để ức chế lại  
A.hydrophila là vấn đề tương đối mới vì hiện  
nay chưa tìm thấy nghiên cứu nào được thực  
hiện trong và ngoài nước sử dụng Lactobacillus  
spp. hay bacteriocin do vi khuẩn sinh ra để ức  
Lactobacillus reuteri được ghi nhận vào chế lại.  
phân loại khoa học của vi khuẩn lactic vào đầu  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
thế kỉ 20, mặc dù vào thời điểm này, loài này  
bị nhầm lẫn với nhóm vi khuẩn Lactobacillus  
fermentum. Đến những năm 60 của thế kỉ 20,  
nhà vi sinh học người Đức Gerhard Reuter đã  
phân biệt L. reuteri và L. fermentum và phân  
loại vào loài L. fermentum dạng sinh học II.  
Đến năm 1980, Kandler và cộng sự đã xác định  
sự khác biệt rõ giữa L. reuteri và những dạng  
sinh học khác của L. fermentum, từ đó tên khoa  
học “reuteri” đã được chọn theo tên của nhà  
khoa học Gerhard Reuter để phân biệt với L.  
fermentum. L. reuteri được phân lập từ nhiều  
nguồn thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm từ  
thịt và sữa. L. reuteri là vi khuẩn lên men dị  
hình, Gram dương, hình que cong với đầu tròn  
đơn, theo cặp hoặc những cụm nhꢁ, hoạt động  
probiotic của loài này được thể hiện qua khả  
năng ức chế hoạt động của tác nhân gây bệnh,  
kết hợp nhiều cơ chế bao gồm sản sinh acid  
lactic, H2O2 và bacteriocin. Bacteriocin sinh ra  
bởi loài này là reuterin. Reuterin là hợp chất  
trung tính của các phân tử nhẹ, tan trong nước,  
Kết luận: Trong nghiên cứu này đã thực  
hiện phân lập được 96 chủng vi khuẩn lactic  
từ ruột cá da trơn tự nhiên, trong đó có 46  
chủng thể hiện tính đối kháng vi khuẩn gây  
bệnh A.hydrophila. Từ nghiên cứu, đã tìm  
được 3 chủng vi khuẩn có khả năng sinh  
bacteriocin thô, có tiềm năng sử dụng làm  
probiotic. Kết quả định danh đã xác định 2  
chủng sinh bacteriocin phân lập từ cá lăng là  
Lactobacillus reuteri, chủng phân lập từ cá tra  
là Lactobacillus fermentum.  
Đề nghị: Tiếp tục nghiên cứu về tối ưu hóa  
điều kiện môi trường nuôi đối với khả năng  
đối kháng và sinh bacteriocin của L. reuteri  
và L. fermentum, tiếp tục nghiên cứu hợp chất  
bacteriocin sinh ra bởi L. fermentum, thực  
hiện nghiên cứu khả năng đối kháng và sinh  
bacteriocin của hai chủng vi khuẩn này đối với  
các chủng vi khuẩn gây bệnh khác trên động vật  
thủy sản, thực hiện thí nghiệm trong điều kiện  
in vivo,…  
64  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Aslim, B., Z. N. Yuksekdag, E. Sarikaya and  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liꢄu tiếng Viꢄt  
Y. Beyatli, 2005. Determination of the  
bacteriocin-like substances produced by some  
lactic acid bacteria isolated from Turkish dairy  
products. LWT. 38: 691-694.  
Dương Thị Kim Loan, 2013. Phân lập và đánh giá  
khả năng kháng khuẩn của vi khuẩn lactic đối  
vớivikhuẩnEdwardsiellaictalurigâybệnhgan  
thận mủ trên cá tra (Pangasius hypothalamus).  
Luận văn cao học ngành nuôi trồng thủy sản,  
2013, Trường Đại học Cần Thơ.  
Barrow, G.I. and Feltham, R.K.A. (1993). Cowan  
and steel’s manual for the identification of  
medical bacteria. 3rd Edition, Cambridge  
University Press, Cambridge, 331.  
Nguyễn Văn Thành và Nguyễn Ngọc Trai, 2012.  
Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn Lactobacillus  
sp. có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh gan  
thận mủ và đốm đꢁ trên cá tra. Tạp chí Khoa  
học Đại học Cần Thơ, 2012:23a 224-234.  
Chen, H. and Hoover, D., 2003. Bacteriocins and  
their Food Applications. Compr. Rev. Food  
Science. Food Safety, 2: 82-89.  
Dilek Heperkan, 2014. Antimicrobial activity  
of lactic acid bacteria on pathogens in foods  
– Why successful? How successful?. Food  
Technology 2014, 21-23 July, Las Vegas.  
QuáchVănCaoThi,TừThanhDungvàĐặngPhạm  
Hòa Hiệp, 2014. Hiện trạng kháng thuốc kháng  
sinh trên hai loài vi khuẩn Edwardsiellaictaluri  
và Aeromonashydrophila gây bệnh trên cá tra  
(Pangasianodonhypophthamus) ở Đồng bằng  
sông Cửa Long. Tạp chí Khoa học Trường Đại  
học Cần Thơ, Số chuyên đề: Thủy Sản (2014)  
(2): 7-14.  
Lei, B., A. L. Molan, L. S. Maddox, Q. Shu,  
2011. Antimicrobial activity of Lactobacillus  
reuteri DPC16 supernatants against selected  
food borne pathogens. World Journal of  
Microbiology and Biotechnology (Impact  
Factor: 1.78). 04/2011; 27(4):991-998.  
Tài liꢄu tiếng Anh  
Nirunya, B., C. Suphitchaya and H. Tipparat,  
2008. Screening of lactic acid bacteria from  
gastrointestinal tracts of marine fish for their  
potential use as probiotics. Songklanakarin  
J. Sci. Technol.30 (Suppl.1), 141-148, April  
2008.  
Allameh, S.K., F.M. Yusoff, H.M. Daud, E. Ringø,  
A.Ideris and C. R.Saad, 2013. Characterization  
of probiotic Lactobacillus fermentum isolated  
from snakehead, Channa striatus, stomach.  
Journal of the World Aquaculture Society.  
Volume 44, Issue 6, pages 835–844, December  
2013.  
65  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
SCREENING OF LATIC ACID BACTERIA FOR THEIR  
ANTIMICROBIAL ACTIVITY AGAINST Aeromonas hydrophila  
CAUSING HEMORRHAGIC DISEASE IN TRA CATFISH  
(Pangasianodon hypophthalmus)  
Tran Thi Ngoc Phuong1*, Dang Thi Hoang Oanh1  
ABSTRACT  
The research was conduted to isolate acid lactic bacteria from the gastroinstestinal tracts of wild  
freshwater catfish and then screen for their antimicrobial activity against Aeromonas hydrophila  
causing Hemorrhagic disease in cultured Tra catfish. As the result, 96 strains of lactic acid bac-  
teria which had inhibitory activity against indicator bacteria Escherichia coli were selected with  
29 strains isolated from stripped catfish (Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)), 24  
strains from Mystus nemurus (Valenciennes, 1839), 21 strains from Pangasius larnaudii (Bocourt,  
1866), 12 strains from Clarias macrocephalus (Gunther, 1864) and 8 strains from Pangasius larn-  
audii (Bocourt, 1866). The result of Gram staining and biochemical characteristic tests illustrated  
most of selected strains of lactic acid bacteria were Gram-positive; nonsporulating; spherical, oval,  
short rod or long rod shape; negative oxidase and negative catalase. The result of antagonistic activ-  
ity determination indicated that 46 LAB strains exhibited their inhibitory activity and three of them  
presented the ability to produce bacteriocin-like substances.  
Keywords: Aeromonas hydrophila, antimicrobial activity, lactic acid bacteria, probiotic.  
Người phản biện: TS. Lê Hồng Phước  
Ngày nhận bài: 25/11/2016  
Ngày thông qua phản biện: 13/12/2016  
Ngày duyệt đăng: 05/01/2017  
1 College of Aquacutulre and Fisheries, Cantho University.  
* Email: [email protected]  
66  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 9 - THÁNG 02/2017  
pdf 12 trang yennguyen 16040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sàng lọc vi khuẩn lactic có khả năng kháng vi khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh xuất huyết trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsang_loc_vi_khuan_lactic_co_kha_nang_khang_vi_khuan_aeromona.pdf