Hiện trạng chất lượng nước vùng nuôi cá tra trọng điểm ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2018
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÙNG NUÔI CÁ TRA TRỌNG
ĐIꢀM Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2018
Nguyễn Thanh Trúc1*, Lê Hồng Phước1, Thới Ngọc Bảo1, Đặng Ngọc Thùy1,
Trần Minh Thiện1, Đặng Thị Ngọc Hân1
TÓM TẮT
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển và là một trong những ngành
hàng mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và đảm bảo sự phát
triển bền vững của nghề nuôi cá tra, hoạt động nuôi cá tra quy mô công nghiệp cần phải đáp ứng
được các quy định và tiêu chuẩn trong nước và của nước nhập khẩu. Trong đó, ảnh hưởng của các
hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng môi trường là quan trọng do những tác động tiêu cực lên sản
lượng thu hoạch và chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước
vùng nuôi cá tra tập trung ở ĐBSCL là cần thiết. Mẫu quan trắc được thu ở 26 vị trí thuộc các tỉnh
An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Cần Thơ trong thời gian từ tháng 3-10/2018 với
tần suất 2 lần/tháng. Đối với khu vực sông Tiền và sông Hậu, nhiệt độ dao động từ 25-34oC, pH =
7-8, DO từ 3-6,5 mg/l và TSS trung bình 52±50 mg/L. Các thông số chỉ thị ô nhiễm như ammonia
(0,2±0,3 mg/L), nitrite (0,039±0,048 mg/L), phosphate (0-0,051 mg/l), COD (5,2±4,1 mg/L) không
có chênh lệch lớn so với năm 2017 và hầu hết vẫn thích hợp cho nuôi cá tra. Kim loại nặng (Hg,
Pb và Cd ) trong các kênh cấp ở khu vực sông Tiền và sông Hậu chưa vượt mức quy định theo
QCVN 08-MT: 2015/BTNMT. Chưa ghi nhận sự hiện diện của thuốc bảo vệ thực vật nhóm cúc và
carbamate. Vi khuẩn Aeromonas tổng số có mật độ cao hơn 103 CFU/mL là 50% số lượt quan trắc
trên nhánh sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Tần suất dương tính với vi khuẩn Aeromonas
hydrophila từ 67-100% số lượt quan trắc. Edwardsiella ictaluri dương tính với tần suất 20% số lượt
quan trắc trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5.
Từ khoá: chất lượng nước, cá tra, ĐBSCL.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra của
vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng phát
triển. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ này nghề
nuôi cá tra đang đứng trước những thách thức,
mối nguy về ô nhiễm môi trường, con giống,
mầm bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu….
Ý thức của người dân về việc sử dụng hóa chất,
kháng sinh đúng cách trong nuôi chưa cao. Việc
dập dịch, xử lý chất thải trong ao nuôi trước
khi thải ra môi trường chưa được người nuôi
quan tâm, chú trọng. Những bất cập của nghề
nuôi trồng thủy sản đã và đang gây ảnh hưởng
xấu đến môi trường sinh thái ven sông, dẫn đến
nguy cơ dịch bệnh bùng phát và làm giảm hiệu
quả kinh tế trong nuôi thuỷ sản nói chung và
nuôi cá tra nói riêng. Thêm vào đó, ảnh hưởng
của các hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng
môi trường là quan trọng do những tác động tiêu
cực lên sản lượng thu hoạch và chất lượng sản
phẩm. Trước nhu cầu thực tế của địa phương để
đảm bảo công tác chỉ đạo sản xuất và xu hướng
biến động thời tiết, môi trường bất thường, dịch
bệnh bùng phát làm ảnh hưởng đến sản lượng
nuôi cá tra, việc đánh giá hiện trạng môi trường
nước vùng nuôi cá tra tập trung ở Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) là cần thiết.
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.
*Email: [email protected]
66
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Lựa chọn điểm quan trắc
Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập
trung được lựa chọn dựa trên tiêu chí: (1) Phục
vụ vùng nuôi cá tra tập trung thuộc tỉnh các
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần
Thơ và Bến Tre, (2) Vùng nuôi đại diện cho
địa phương về diện tích và sản lượng, (3) Điểm
quan trắc thuộc các sông hoặc kênh rạch cấp
trực tiếp vào vùng nuôi, có tính ổn định và đại
diện cho toàn vùng.
Hình 1: Vị trí các điểm thu mẫu
Bảng 1. Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập trung
Tỉnh
Điểm quan trắc
1. Cầu chữ S
Ký hiệu
AG1
AG2
AG3
AG4
AG5
AG6
AG7
AG8
AG9
ĐT1
ĐT2
ĐT3
ĐT4
ĐT5
ĐT6
ĐT7
CT1
CT2
CT3
CT4
VL1
VL2
VL3
BT1
BT2
BT3
Toạ độ
An Giang
10°34’57”, 105°13’49”
10°37’06”, 105°12’35”
10°52’13”, 105°11’06”
10°41’41”, 105°11’16”
10°29’20”, 105°20’46”
10°26’52”, 105°23’35”
10°19’23”, 105°23’35”
10°18’32”, 105°26’05”
10°20’30”, 105°26’56”
10°48’14, 105°20’25”
10°40’21, 105°20’24”
10°27’06, 105°34’05”
10°22’00, 105°43’43”
10°14’18, 105°36’23”
10°15’55, 105°52’15”
10°24’29, 105°39’21”
10°17’13, 105°31’29”
10°13’19, 105°35’10”
10°18’28, 105°28’25”
10°18’28, 105°28’25”
10°18’25, 105°57’18”
10°10’20, 106°10’31”
10°09’11, 106°10’36”
10°19’90, 106°17’23”
10°14’37, 106°13’14”
10°08’37, 106°23’49”
2. Cầu Vịnh Tre
3. Vĩnh Xương
4. Cồn Khánh Hòa
5. Đò Rạch Gọc
6. Kênh Cái Sao
7. Kênh Tây An
8. Bến đò Sơn Đốt
9. Cầu kênh Ông Cò
10. Sông Sở Thượng
11. Sông Tiền - Tân Hòa
12. Sông Tiền - Tân Thuận Tây
13. Sông Tiền-Tân Khánh Đông
14. Sông Vàm Cái Sơn
15. Sông Sa Đéc
Đồng Tháp
16. Sông Tiền - Tân Mỹ
17. Phà Trà Uối
Cần Thơ
18. Bến Đò Thuận Hưng
19. Bến Đò Số 1
20. Trạm giao thông đường thủy
21. Long Hồ
Vĩnh Long
Bến Tre
22. Mang Thít
23. Vũng Liêm
24. Tiên Long
25. Phú Túc
26. Thạnh Phú Đông
67
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
-N, PO43--P, H2S, TSS (Total suspended solids),
2.2. Thời gian quan trắc
COD (Chemical Oxygen Demand), Aeromonas
tổng số, Edwardsiella ictaluri.
Từ tháng 01/2018 đến 10/2018
2.3. Thông số và tần suất quan trắc
Tần suất quan trắc là 2 tuần/lần.
Các thông số quan trắc: Nhiệt độ, pH, độ
trong, DO (Dissolved Oxygen), NH4+-N, NO2-
2.4. Phương pháp phân tích
Bảng 2. Danh mục các phương pháp phân tích
STT
Chỉ tiêu
Phương pháp
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức
Đun hoàn lưu mở, dùng tác nhân KMnO4, acid hóa môi trường bằng H2SO4
SMEWW 4500 - NH3 – F
1
2
3
4
5
6
7
8
9
pH
Nhiệt độ
DO
COD
NH4+-N
NO2--N
PO43--P
Aeromonas sp.
SMEWW 4500 – NO2 – B
SMEWW 4500 - P – E
Đếm khuẩn lạc
Edwardsiella ictaluri Khuếch đại gen
Ghi chú: SMEWW: Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
đạt trên 5.421 ha, tăng 6% so với cùng kỳ năm
trước, sản lượng thu hoạch đạt 1.116 ngàn tấn,
tăng 11,6%. Chỉ riêng 5 tỉnh: An Giang, Đồng
Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Thơ chiếm
hơn 93% về diện tích và sản lượng cá tra ở
ĐBSCL. Trong đó hai tỉnh An Giang và Đồng
Tháp dẫn đầu về diện tích nuôi và sản lượng
thu hoạch, chiếm 61,6% diện tích nuôi cá tra và
57,8% sản lượng thu hoạch của toàn ĐBSCL và
các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long chiếm
35,1% về diện tích và 35,5% về sản lượng thu
hoạch của các tỉnh ĐBSCL.
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010
xử lý số liệu theo phương pháp thống kê mô tả
để tính các giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá
trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn và vẽ đồ thị.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình hình nuôi cá tra thương phẩm 9
tháng đầu năm năm 2018
Theo báo cáo của các Chi cục Thủy sản tỉnh
Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An
Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ, 9
tháng đầu năm 2018, tổng diện tích nuôi cá tra
Bảng 3: Diện tích nuôi, sản lượng cá tra ở ĐBSCL 9 tháng đầu năm năm 2017-2018
Năm 2017 Năm 2018
STT
Tỉnh
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
1
2
3
4
5
6
7
8
Bến Tre
Trà Vinh
739
13
458
2000
1071
713
63
139.613
4.374
76.147
356.713
219.696
170.000
20.460
780
29
186.000
5.057
87.000
377.000
268.000
123.000
23.000
Vĩnh Long
Đồng Tháp
An Giang
Cần Thơ
Tiền Giang
Sóc Trăng
Tổng cộng
455
2091
1250
668
78
55
5.112
13.650
1.000.653
70
5.421
47.260
1.116.317
68
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
3.2. Diễn biến chất lượng nước vùng nuôi
cá tra thương phẩm
rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ
bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời ngâm vôi
vào nước để nguội lấy phần nước vôi tạt đều
khắp ao.
* Nhiệt độ
Diễn biến nhiệt độ trong năm 2018 khu
vực ven sông Tiền, sông Hậu dao động từ 25,0
– 34,0oC. Trong đó, nhiệt độ trung bình ở các
điểm quan trắc thuộc An Giang là 28,9 ± 1,3oC,
Cần Thơ là 29,3 ± 0,8oC, Đồng Tháp là 28,8 ±
0,8oC, Vĩnh Long là 29,5 ± 1,2oC và Bến Tre là
29,5 ± 1,4oC.
* Hàm lượng ôxy hoà tan (DO)
Hàm lượng ôxy hòa tan hầu hết đều cao
hơn giới hạn cho phép theo QCVN 02-20:2014/
BNNPTNT (≥ 2 mg/L) cho cơ sở nuôi cá tra
trong ao. Hàm lượng DO trung bình trong các
kênh cấp thuộc tỉnh An Giang đạt 4,97 ± 0,93
mg/L (3,5 – 6,5 mg/L); Cần Thơ đạt 4,11 ± 0,41
mg/L (3,0 – 5,0 mg/L); Đồng Tháp 4,33 ± 0,48
mg/L (3,5 – 5,5 mg/L); Vĩnh Long đạt 5,15 ±
0,53 mg/L (3,9 – 6,2 mg/L) và Bến Tre là 4,12 ±
0,41 mg/L (3,0 – 5,0 mg/L).
Nhiệt độ ghi nhận được ở tất cả các thủy vực
đều nằm trong khoảng giới hạn thích hợp cho
nuôi cá tra theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT
(25 – 32oC). Theo Boyd và Tucker (1998),
khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
cá nhiệt đới là 28 – 32oC; riêng cá tra có khả
năng chịu đựng nhiệt độ từ 16,7oC đến 40,8oC
(Dương Thúy Yên, 2003). Như vậy, nhiệt độ
quan trắc trong kênh cấp vẫn trong khoảng thích
hợp cho sự phát triển của cá. Sự biến động nhiệt
độ có khả năng ảnh hưởng đến sự phân hủy và
tồn tại các chất khác trong thủy vực. Ngoài ra,
theo Nguyễn Thị Kim Liên và ctv., (2016) nhiệt
độ trên nhánh sông Hậu biến động trong khoảng
27,1 - 32oC.
Hầu hết các thủy vực có hàm lượng DO tăng
trong các tháng mùa mưa. Trong các tháng mùa
mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về làm tăng
lưu lượng, vận tốc dòng chảy mức độ xáo trộn
trong các thủy vực cao làm tăng hàm lượng DO
trong thủy vực. Nguyễn Thị Kim Liên và ctv.,
(2016) cũng đã nhận định DO vào mùa mưa cao
hơn mùa khô ở hầu hết các thủy vực được lấy
mẫu nhờ vào lưu lượng dòng chảy cao, làm tăng
khả năng khuếch tán ôxy vào nước. ôxy hoà tan
trong thủy vực là một trong những yếu tố rất
quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật.
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng DO
lớn hơn 5 mg/L chất lượng nước cho nuôi thủy
sản được đánh giá là tốt, từ 2 – 5 mg/L được
đánh giá ở mức trung bình và thấp hơn 2 mg/L
được đánh giá là xấu. Theo Smith (1982) (trích
dẫn bởi Phạm Quốc Nguyên và ctv., 2014) hàm
lượng DO cần cho quá trình trao đổi chất là 3,0
– 7,0 mg/L. Do các kênh cấp quan trắc thuộc
thủy vực nước chảy nên hàm lượng DO thường
không giảm đến mức quá thấp.
* pH
Các điểm quan trắc thượng nguồn sông Tiền
và sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp
có giá trị pH dao động từ 6,3 – 8,0 và trung bình
7,1 ± 3,5. pH trong các kênh cấp thuộc Bến Tre
dao động từ 7,1 – 7,6, trung bình 7,38 ± 0,11,
tại Vĩnh Long dao động từ 7,1 – 8,1, trung bình
7,53 ± 0,25 và tại Cần Thơ dao động từ 7,2 –
8,3, trung bình 7,74 ± 0,28. pH trong các kênh
cấp thấp hơn 7 (QCVN 02-20 : 2014/BTNMT)
chủ yếu vào thời điểm mùa mưa. Với đặc điểm
địa chất ở ĐBSCL, vào mùa khô ruộng đồng
thường bị khô nứt tạo điều kiện cho quá trình
ôxy hóa đất phèn, khi đến đầu mùa mưa nước
mưa sẽ rửa trôi phèn từ đồng ruộng ra kênh rạch
làm giảm giá trị pH trong các kênh rạch. Trong
khoảng thời gian này người nuôi cần rải vôi
quanh bờ ao để phòng phèn bị rửa trôi xuống
ao, định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ
ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào
*Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Nằm ở khu vực hạ lưu của sông Mekong
nên ĐBSCL hàng năm nhận được tải lượng
phù sa từ thượng nguồn đổ về rất lớn, do đó tần
suất xuất hiện hàm lượng TSS cao vượt ngưỡng
QCVN 08-MT:2015/BTNMT (< 20 mg/L) cho
mục đích bảo vệ đời sống thủy sinh khá cao.
TSS trung bình ở các điểm quan trắc của cả khu
69
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
vực là 52 ± 50 mg/L, trong đó tỉnh An Giang là năm 2017 và 2018 tăng so với năm 2016 tại các
50 ± 47 mg/L, Cần Thơ 35 ± 28 mg/L, Đồng điểm quan trắc thuộc tỉnh An Giang, Cần Thơ
Tháp 61 ± 68 mg/L, Bến Tre là 58 ± 37 mg/L và Đồng Tháp (Hình 2).
và Vĩnh Long là 50 ± 35 mg/L. Hàm lượng TSS
160
140
120
100
80
60
40
20
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
An Giang
Cần Thơ
Đồng Tháp
Vĩnh Long
2018
Bến Tre
2016
2017
Hình 2: Diễn biến TSS (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
* Nhu cầu oxy hóa học (COD)
TSS tăng cao chủ yếu là do vào mùa mưa
lưu lượng nước trên sông cao, nước chảy mạnh,
lũ từ thượng nguồn đổ về mang nhiều phù sa
cộng thêm vật chất bị rửa trôi từ hai bên bờ sông.
Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn
Quốc gia, lượng mưa trung bình trong năm 2017
và 2018 cao hơn mức trung bình nhiều năm. Mùa
mưa năm 2017 và 2018 đến sớm và lượng mưa
cao hơn so với trung bình nhiều năm, do đó lũ đầu
nguồn sông Cửu Long đến sớm và lớn hơn năm
2016. Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến
hàm lượng TSS tăng so với năm 2016. Nghiên
cứu đánh giá chất lượng nước trên sông Tiền ghi
nhận TSS tăng cao ở khu vực hạ nguồn do các
hoạt động giao thông thủy với mật độ cao kết hợp
với triều làm khuếch tán chất rắn vào nước cũng
như do xói mòn và rửa trôi vào mùa mưa (Hoàng
Thị Quỳnh Diệu và ctv., 2016).
Hàm lượng COD trung bình trong các kênh
cấp quan trắc tại An Giang là 6,1 ± 4,3 mg/L và
tại Cần Thơ là 4,6 ± 2,5 mg/L. Trên nhánh sông
Hậu, hàm lượng COD trung bình trong các kênh
cấp quan trắc tại Đồng Tháp là 5,3 ± 2,9 mg/L
và hạ nguồn sông Hậu thuộc tỉnh Bến Tre, Vĩnh
Long là 4,9 ± 2,5 mg/L. Tần suất hàm lượng
COD cao hơn 10 mg/L lần lượt là 11%, 10%,
7% và 2,5% tại An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre
và Cần Thơ, lưu vực quan trắc tại Vĩnh Long
chưa ghi nhận trường hợp nào cao hơn giới hạn
cho phép. Diễn biến COD trong nguồn nước cấp
vùng nuôi cá tra ghi nhận COD tăng từ tháng 6
đến tháng 9, đây là khoảng thời gian mùa mưa,
nước lũ về cuốn theo các vật chất hữu cơ.
ĐỒNG THÁP
AN GIANG
35
35
30
25
20
15
10
5
30
25
20
15
10
5
0
0
Kênh Long An
Sông Tiền - Tân Hòa
Sông Tiền - Tân Mỹ
Sông Sa Đéc
Sông Tiền - Tân Khánh Đông
Sông Tiền - Tân Thuận Tây
Vĩnh Xương
Chữ S
Kênh Tây An
Cồn Khánh Hòa
Bến đò Chùa
Kênh Cái Sao
Vịnh Tre
Bến đò Sơn Đốt
Cầu Kênh Ông Cò
VĨNH LONG-BẾN TRE
CẦN THƠ
35
30
25
20
15
10
5
35
30
25
20
15
10
5
0
0
Bến Đò Số 1
Bến đò Thuận Hưng
Phà Trà Uối
Trạm giao thông đường thủy
Long Hồ
Phú Túc
Mang Thít
Thạnh Phú Đông
Vũng Liêm
Tiên Long
Hình 3: Diễn biến hàm lượng COD (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra trong năm 2108
70
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Ammonia (NH4+-N)
trong thủy vực thuộc nhánh sông Tiền thấp hơn
nhánh sông Hậu (Hình 5). Tần suất xuất hiện
hàm lượng ammonia cao vượt ngưỡng theo
QCVN 02-20:2014/BNNPTNT (<0,3 mg/L)
chiếm 12%, trong đó các điểm quan trắc trên
thuộc An Giang chiếm 24%, Cần Thơ chiếm
20%, Đồng Tháp chiếm 11%, Vĩnh Long chiếm
0% và Bến Tre chiếm 7% số lượt quan trắc.
Hàm lượng ammonia trong các thủy vực
quan trắc dao động trong khoảng 0 – 2,389
mg/L, trung bình 0,2 ± 0,3 mg/L. Trong đó,
hàm lượng ammonia trung bình ở các thủy vực
thuộc các nhánh sông Tiền là 0,12 ± 0,19 mg/L
và nhánh sông Hậu là 0,25 ± 0,37 mg/L (Hình
4). Nhìn chung hàm lượng ammonia trung bình
ĐỒNG THÁP
AN GIANG
2.5
2.5
2
1.5
1
2
1.5
1
0.5
0
0.5
0
Kênh Long An
Sông Tiền - Tân Hòa
Sông Tiền - Tân Mỹ
Sông Sa Đéc
Sông Tiền - Tân Khánh Đông
Sông Tiền - Tân Thuận Tây
Vĩnh Xương
Chữ S
Kênh Tây An
Cồn Khánh Hòa
Bến đò Chùa
Kênh Cái Sao
Vịnh Tre
Bến đò Sơn Đốt
Cầu Kênh Ông Cò
VĨNH LONG-BẾN TRE
CẦN THƠ
2.5
2
2.5
2
1.5
1
1.5
1
0.5
0
0.5
0
Bến Đò Số 1
Bến đò Thuận Hưng
Phà Trà Uối
Trạm giao thông đường thủy
Long Hồ
Phú Túc
Mang Thít
Thạnh Phú Đông
Vũng Liêm
Tiên Long
Hình 4: Diễn biến Ammonia (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Hàm lượng ammonia trong các kênh cấp điểm quan trắc thượng nguồn sông Mekong (An
đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và 6 hàng năm Giang, Đồng Tháp).
và sau đó giảm dần. Ngoài ra diễn biến hàm
lượng ammonia nguồn nước cấp khu vực
nuôi cá tra theo năm còn cho thấy giá trị
ammonia trong hai năm 2017 và 2018 không
có chênh lệch đáng kể. Các điểm quan trắc
thuộc trung và hạ nguồn (Cần Thơ, Bến Tre,
Trà Vinh) có giá trị ammonia thấp hơn các
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm
khoa học kỹ thuật và môi trường của Đại học
Wilkes, hàm lượng NH4+ gây độc đối với các
loài thủy sản dao động từ 0,53 – 22,8 mg/l (Võ
Thanh Toàn và ctv., 2007). Vậy hàm lượng
ammonia ở hầu hết các điểm quan trắc đều chưa
gây ảnh hưởng đến nuôi thủy sản nước ngọt.
Hình 5: Diễn biến hàm lượng Ammonia nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
71
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Nitrite (NO2--N)
nitrite dao động từ 0 – 0,413 mg/L, trung bình
0,039 ± 0,048 mg/L. Tần suất hàm lượng nitrite
vượt giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:
2015/BTNMT tại An Giang chiếm 41%, Cần
Thơ chiếm 35%, Đồng Tháp chiếm 13%, Vĩnh
Long chiếm 15% và Bến Tre chỉ chiếm 3%.
Hàm lượng nitrite cao từ tháng 4 đến đầu
tháng 6 trong các thủy vực được quan trắc trên
cả hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Đặc biệt
trong thời điểm giao mùa, hàm lượng nitrite cao
hơn các các tháng còn lại (Hình 6). Hàm lượng
ĐỒNG THÁP
AN GIANG
0.45
0.45
0.4
0.35
0.3
0.4
0.35
0.3
0.25
0.2
0.25
0.2
0.15
0.1
0.15
0.1
0.05
0
0.05
0
Kênh Long An
Sông Tiền - Tân Hòa
Sông Tiền - Tân Mỹ
Sông Sa Đéc
Sông Tiền - Tân Khánh Đông
Sông Tiền - Tân Thuận Tây
Vĩnh Xương
Chữ S
Kênh Tây An
Cồn Khánh Hòa
Bến đò Chùa
Kênh Cái Sao
Vịnh Tre
Bến đò Sơn Đốt
Cầu Kênh Ông Cò
VĨNH LONG-BẾN TRE
CẦN THƠ
0.45
0.4
0.45
0.4
0.35
0.3
0.35
0.3
0.25
0.2
0.25
0.2
0.15
0.1
0.15
0.1
0.05
0
0.05
0
Bến Đò Số 1
Bến đò Thuận Hưng
Phà Trà Uối
Trạm giao thông đường thủy
Long Hồ
Phú Túc
Mang Thít
Thạnh Phú Đông
Vũng Liêm
Tiên Long
Hình 6: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Hàm lượng nitrite trong các thủy vực được xem là ở mức trung bình và tốt cho
thuộc An Giang và Cần Thơ cao hơn so với nuôi thủy sản.
các điểm quan trắc thuộc các tỉnh Đồng
Tháp, Bến Tre và Vĩnh Long. Ngoài ra chưa
ghi nhận hiện tượng tích lũy nitrite qua các
năm, hàm lượng nitrite trung bình từng tháng
năm 2018 xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng
thời kỳ. Theo Boyd và Tucker (1998), chất
lượng nước cho nuôi thủy sản có hàm lượng
nitrite < 0,5 mg/L được xem là tốt và từ 0,5 –
2 mg/L được xem là trung bình. Vậy hầu hết
các lượt quan trắc đều có hàm lượng nitrite
Dưới tác dụng của một số vi sinh, ammonia
được hình từ quá trình amôn hoá sẽ được tiếp tục
chuyển hóa thành nitrite (NO2-) rồi thành nitrate
(NO3-) nhờ vi khuẩn Nitrosomonas sau đó là vi
khuẩn Nitrobacter. Các quá trình chuyển hóa
ammonia đều cần sự tham gia của ôxy và độ
kiềm của nước. Do đó, kết quả cho thấy hàm
lượng nitrite trong thủy vực có mối tương quan
với hàm lượng oxy trong thủy vực, khi DO giảm
hàm lượng nitrite tăng.
Hình 7: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
72
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Phosphate (PO43--P)
mg/Lvà Bến Tre là 0,048± 0,042 mg/L. Ngoài ra
Hình 8 ghi nhận một số điểm như kênh Cái Sao,
Kênh Tây An, Kênh Long An, Bến đò Số 1, Bến
đò Thuận Hưng có hàm lượng phosphate vượt
giới hạn theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại
một số thời điểm khảo sát trong năm (tháng 5,
tháng 6 và tháng 7).
Hàm lượng phosphate trong các thủy vực
quan trắc dao động từ 0 – 0,51 mg/L, trong đó
các thủy vực thuộc An Giang có hàm lượng
phosphate trung bình là 0,055 ± 0,069 mg/L,
Cần Thơ là 0,063 ± 0,075 mg/L, Đồng Tháp là
0,043 ± 0,046 mg/L, Vĩnh Long là 0,035 ± 0,021
ĐỒNG THÁP
AN GIANG
0.5
0.5
0.45
0.4
0.45
0.4
0.35
0.3
0.35
0.3
0.25
0.2
0.25
0.2
0.15
0.1
0.15
0.1
0.05
0
0.05
0
Kênh Long An
Sông Tiền - Tân Hòa
Sông Tiền - Tân Mỹ
Sông Sa Đéc
Sông Tiền - Tân Khánh Đông
Sông Tiền - Tân Thuận Tây
Vĩnh Xương
Chữ S
Kênh Tây An
Cồn Khánh Hòa
Bến đò Chùa
Kênh Cái Sao
Vịnh Tre
Bến đò Sơn Đốt
Cầu Kênh Ông Cò
VĨNH LONG-BẾN TRE
CẦN THƠ
0.5
0.45
0.4
0.5
0.45
0.4
0.35
0.3
0.35
0.3
0.25
0.2
0.25
0.2
0.15
0.1
0.15
0.1
0.05
0
0.05
0
Bến Đò Số 1
Bến đò Thuận Hưng
Phà Trà Uối
Trạm giao thông đường thủy
Long Hồ
Phú Túc
Mang Thít
Thạnh Phú Đông
Vũng Liêm
Tiên Long
Hình 8: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018
Tương tự nitrite, ammmonia và COD, Hình vực theo năm. Bên cạnh đó Hình 9 còn thể hiện
9 cho thấy hàm lượng phosphate không có hàm lượng phosphate trong các thủy vực thuộc
chênh lệch đáng kể so với năm 2017, chưa ghi An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ cao hơn các
nhận hiện tượng tích lũy phosphate trong thủy tỉnh còn lại.
Hình 9: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
73
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
* Các chỉ tiêu về vi sinh
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng
lân hòa tan thích hợp cho ao nuôi cá là 0,005
– 0,2 mg/L. Đây là nguồn dinh dưỡng để thực
vật phù du phát triển, tảo sẽ không phát triển
khi phosphate thấp hơn 0,005 mg/L và sẽ nở
hoa khi cao hơn 0,02 mg/L. Kết quả ghi nhận
hàm lượng phosphate có xu hướng tăng khi
COD tăng. Phosphate là một trong những thông
số chất lượng nước thể hiện sự phú dưỡng của
thủy vực do đó hàm lượng phosphate cao cho
thấy thủy vực có sự ô nhiễm hữu cơ, ngược lại
khi hàm lượng phosphate thấp thực vật phù du
sẽ bị hạn chế gây thiếu thức ăn tự nhiên trong
thủy vực.
Vi khuẩn Aeromonas trong nguồn nước có
nhiều khả năng gây bệnh trên cá, đây là nhóm
vi khuẩn cơ hội khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ
gây bệnh. Mật độ Aeromonas tổng số trung bình
toàn vùng quan trắc là 1,5x103 ± 2,9x103 CFU/
mL. Tỷ lệ mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/
mL là 50% số lượt quan trắc trên nhánh sông
Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Trong đó ghi
nhận các thủy vực thuộc Cần Thơ có tần suất
mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/mL cao
hơn các tỉnh còn lại (chiếm 56% số lần quan trắc
của tỉnh), trung bình dao động 1,8x103 ± 2,2x103
CFU/mL. Aeromonas tổng số trong các kênh cấp
được quan trắc thuộc tỉnh An Giang là 2,3x103 ±
3,8x103 CFU/mL, Bến Tre là 4,8x102 ± 8,2x102
CFU/mL, Vĩnh Long là 2,2x102 ± 3,2x102 CFU/
mL và Đồng Tháp là 1,2x103 ± 2,5x103 CFU/ml.
* Các chỉ tiêu về kim loại nặng và thuốc
bảo vệ thực vật
Năm 2018 thuốc bảo vệ thực vật được quan
trắc tần suất 2 lần trong năm, vào mùa khô
(tháng 4) và mùa mưa khi nước lũ rút (tháng 10)
với các họ thuốc bảo vệ thực vật gốc carbamate
và họ cúc. Kết quả cho thấy trong các thủy vực
được quan trắc chưa ghi nhận sự hiện diện của
các loại thuốc bảo vệ thực vật kể trên và chưa
ghi nhận sự hiện diện của Hg, Pb và Cd.
Mật độ Aeromonas tổng số trong các thủy
vực thuộc An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp
năm 2018 xấp xỉ bằng trung bình cùng kỳ nhiều
năm. Tuy nhiên Bảng 3 cho thấy tần suất dương
tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila khá
cao, từ 67-100% số lượt quan trắc.
20000
15000
10000
5000
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
An�Giang
Cần�Thơ
Đồng�Tháp
Vĩnh�Long
Bến�Tre
2016
2017
2018
Hình 10: Diễn biến Aeromonas tổng (CFU/mL) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018
E. ictaluri là tác nhân gây bệnh gan thận nhiên, trong năm 2018 ghi nhận sự xuất hiện E,
mủ, gây tỷ lệ chết cao. Trong năm 2017 chỉ ghi ictaluri với tần suất 20% số lượt quan trắc trong
nhận rải rác ở một số kênh cấp dương tính với thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung
vi khuẩn E. ictaluri và xuất hiện nhiều trong nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5 (Bảng 3).
mùa mưa, đặc biệt đợt quan trắc 9/10/2017. Tuy
74
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Bảng 3: Tần suất dương tính với Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila
Số lần dương tính
Điểm quan trắc
An Giang
Thời gian xuất hiện E. ictaluri
A. hydrophila E. ictaluri
Vĩnh Xương
14/15
12/15
14/15
14/15
14/15
13/15
15/15
11/15
14/15
2/11
4/11
1/11
1/11
3/11
2/11
2/11
4/11
4/11
Tháng 3,4
Cồn Khánh Hòa
Vịnh Tre
Tháng 2,3,4,5
Tháng 5
Chữ S
Tháng 5
Bến đò Chùa
Tháng 3-4-5
Tháng 2,4
Bến đò Sơn Đốt
Kênh Tây An
Kênh Cái Sao
Cầu Kênh Ông Cò
Cần Thơ
Tháng 3,7
Tháng 2,3,4,5
Tháng 2,3,4,5
Bến Đò Số 1
13/15
13/15
13/15
13/15
2/11
0/11
1/11
1/11
Tháng 2,4
---
Phà Trà Uối
Bến đò Thuận Hưng
Trạm giao thông đường thủy
Đồng Tháp
Tháng 4
Tháng 4
Kênh Long An
Sông Sa Đéc
13/15
11/15
13/15
12/15
11/15
10/15
14/15
2/11
4/11
6/11
2/11
4/11
5/11
5/11
Tháng 3,5
Tháng 3,5,6,8
Tháng 1,2,3,4,5,6
Tháng 3,4
Sông Tiền - Tân Hòa
Sông Tiền - Tân Khánh Đông
Sông Tiền - Tân Mỹ
Sông Tiền - Tân Thuận Tây
Vàm Lái Sơn
Vĩnh Long
Tháng 3,4,5,6
Tháng 3,4,5,7,8
Tháng 2,4,5,7,8
Long Hồ
13/15
10/15
13/15
2/11
1/11
3/11
Tháng 5,6
Tháng 4
Mang Thít
Vũng Liêm
Tháng 3,4,8
Bến Tre
Phú Túc
15/15
15/15
13/15
3/11
0/11
4/11
Tháng 4,5,6
---
Thạnh Phú Đông
Tiên Long
Tháng 2,5,6,8
3.3. Đánh giá chung
từ tháng 5 và tháng 6. Các thông số vi sinh như
Aeromonas hydrophilla dương tính hầu hết các
thời điểm khảo sát trong năm (86,2% dương
tính) và Edwardsiella ictaluri (23,8% dương
tính) từ tháng 2 đến tháng 8. Nhìn chung, các
thông số chỉ thị ô nhiễm có tỷ lệ vượt ngưỡng
đạt giá trị cao lần lượt là nitrite, ammonia, TSS
tương ứng với 25,5%, 15,2% và 12,7%.
Bảng 4 cho thấy giá trị pH thấp hơn 7 chỉ gặp
ở An Giang và Đồng Tháp, chiếm tỷ lệ 12,5%,
tập trung vào khoảng thời gian tháng 6 đến
tháng 10. Ngoài ra nồng độ các chất ammonia,
nitrite, phosphate, COD cao rải rác các thời
điểm trong năm, tuy nhiên các thông số này đạt
giá trị cao nhất tập trung trong khoảng thời gian
75
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
Bảng 4: Tỷ lệ vượt ngưỡng
Aeromonas
A.
Số lần quan
trắc/tỷ lệ
pH
DO N-NO2- N-NH4+ P-PO43- TSS COD
E. ictaluri
sp.
hydrophilla
Tỉnh
7-8,5 >2 <0,05 <0,3
<0,1 <100
<10
<1000 Dương tính Dương tính
vượt ngưỡng
Số lần vượt
ngưỡng
Bến Tre
0
0
60
0,0
0
2
4
60
5
60
5
60
4
5
7
33
43
45
Số lần quan
trắc
60
0,0
0
60
60
6,7
0
60
Tỷ lệ vượt
3,3
9
6,7
0
8,3
1
8,3
6
8,3
2
21,2
6
95,6
36
ngưỡng (%)
Vĩnh Số lần vượt
Long
ngưỡng
Số lần quan
trắc
60
0,0
11
60
0,0
0
60
60
60
60
60
60
33
45
Tỷ lệ vượt
15,0
18
0,0
15
1,7
9
10,0
31
0,0
14
3,3
39
18,2
28
80,0
84
ngưỡng (%)
Đồng Số lần vượt
Tháp
ngưỡng
Số lần quan
trắc
140 140
140
12,9
28
140
10,7
16
140
6,4
9
140
22,1
3
140
10,0
2
140
27,9
45
77
105
80,0
52
Tỷ lệ vượt
7,9
0
0,0
0
36,4
4
ngưỡng (%)
Cần
Thơ
Số lần vượt
ngưỡng
Số lần quan
trắc
80
0,0
54
80
0,0
0
80
80
80
80
80
80
44
60
Tỷ lệ vượt
35,0
74
20,0
44
11,3
23
3,8
21
2,5
19
56,3
86
9,1
23
86,7
121
135
89,6
336
390
86,2
ngưỡng (%)
An
Số lần vượt
ngưỡng
Giang
Số lần quan
trắc
180 180
30,0 0,0
180
41,1
131
520
25,2
180
24,4
79
180
12,8
47
180
11,7
66
180
10,6
39
180
47,8
177
520
34,0
99
Tỷ lệ vượt
23,2
68
ngưỡng (%)
Số lần vượt
ngưỡng
Chung
65
0
Số lần quan
trắc
520 520
12,5 0,0
520
15,2
520
9,0
520
12,7
520
7,5
286
23,8
Tỷ lệ vượt
ngưỡng (%)
76
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
IV. KẾT LUẬN
- Đối với khu vực sông Tiền và sông Hậu,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
nhiệt độ dao động từ 25 – 34oC. Giá trị pH ở khu
vực sông Tiền và sông Hậu nằm trong khoảng
thích hợp cho nuôi cá tra (pH = 7 – 8). Hàm
lượng ôxy hòa tan dao động từ 3,0-6,5 mg/L.
Hàm lượng COD, ammonia, nitrite, phosphate
trong các thủy vực nhìn chung vẫn còn thích
hợp cho nuôi cá tra.
Văn Hợp, 2016. Nghiên cứu đánh giá chất lượng
nước sông Tiền. Tạp chí Phân tích Hóa, Lý và
Sinh học, Tập 21, số 1/2016: 38-48.
Nguyễn Thị Kim Liên, Lâm Quang Huy, Dương Thị
Hoàng Anh, Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út,
2016. Chất lượng nước trên sông chính và sông
nhánh thuộc tuyến sông Hậu. Tạp chí Khoa học
trường Đại học Cần Thơ, 43 (2016) (PhầnA): 68-
79.
- Các thông số kim loại nặng như Cd, Hg,
Pb chưa vượt giới hạn theo QCVN 08-MT:2015/
BTNMT. Thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm họ
cúc và Carbamate chưa ghi nhận hiện diện trong
các thuỷ vực được quan trắc.
Phạm Quốc Nguyên, Lê Hồng Y, Nguyễn Văn Công,
Trương Quốc Phú, 2014. Diễn biến một số chỉ
tiêu chất lượng nước trao ao nuôi cá tra thâm
canh. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ
2014 (Phần A): 128-136.
- Vi khuẩn Aeromonas tổng số có mật độ
<105 CFU/ml, tỷ lệ mật độ Aeromonas cao hơn
103 CFU/mLlà 50% số lượt quan trắc trên nhánh
sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Tần suất
dương tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila
từ 67-100% số lượt quan trắc. Đối với vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri trong năm 2018 ghi nhận
sự xuất hiện Edwardsiella ictaluri với tần suất
20% số lượt quan trắc trong thời gian từ tháng 2
đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng
4 và tháng 5.
QCVN 02-20:2014/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về cơ sở nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus Sauvage, 1878) trong ao – Điều
kiện bảo đảm vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và
an toàn thực phẩm.
QCVN 08-MT: 2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước mặt
Võ Thành Toàn, Chheng Phen và Eric Baran, 2007.
Nghiên cứu đặc điểm một số chỉ tiêu môi trường
nước và thành phần loài tôm, cá tự nhiên ở tỉnh
Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần
Thơ, 2007 (8): 139-148
- Tháng 4, 5, 6 là các tháng giao mùa, các
cơn mưa bất thường làm môi trường biến động
tạo cơ hội cho mầm bệnh phát triển vì vậy cần
tăng cường giám sát chất lượng nước, giảm
thiểu thiệt hại cho người nuôi.
Dương Thuý Yên, 2003. Khảo sát một số tính trạng,
hình thái, sinh trưởng và sinh lý của cá Basa (P.
bocourti), cá tra (P. hypophthalmus) và con lai
của chúng. Luận văn Thạc sĩ. Khoa Thủy sản.
Trường Đại học Cần Thơ.
Tài liệu tiếng Anh
Boyd,C.E.,andTucker,C.S.,1998.PondAquaculture
Water Quality Management. Kluwer Academic
Publishing, Boston, MA, USA. 700 pp.
77
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II
CURRENT STATUS OF WATER QUALITY IN PANGASIUS FARM
AREAS IN THE MEKONG DELTA IN 2018
Nguyen Thanh Truc1*, Le Hong Phuoc1, Thoi Ngoc Bao1, Dang Ngoc Thuy1,
Tran Minh Thien1, Dang Thi Ngoc Han1
ABSTRACT
Pangasius catfish culture in the Mekong Delta of Vietnam has been developing rapidly, being one
of aquaculture sectors that bring great values of export turnover. In order to achieve the export
demand and sustainable development of the catfish industry, intensive farming activity is not only
required to meet regulations and standards in domestic market, but must also have to conform to
the regulations and standards of importing countries. The potential impact of Pangasius catfish
farming activities on the environment is of important, as they may result in negative consequences
for the yield and the product’s quality. Water quality monitoring has therefore become crucial for
Pangasius catfish farming in the Mekong Delta. River water samples were collected from 26
locations in An Giang, Dong Thap, Ben Tre, Vinh Long and Can Tho provinces. The sampling was
conducted twice a month, from March to October 2018. Water quality parameters were assessed
including temperature, pH, dissolved oxygen (DO), total suspended solid (TSS), ammonia (NH4+),
-
nitrite (NO2 ), and COD. Heavy metals (Hg, Pb and Cd), carbamate and pyrethroid insecticides,
and bacterial counts (i.e., Aeromonas spp. and Edwardsiella ictaluri) in water samples were also
monitored. The results indicated that, most physico-chemical parameters were in acceptable
ranges for Tra catfish aquaculture (temperature 25 – 34oC; pH 7 – 8; DO 3 – 6.5 mg/L; TSS
52 ± 50 mg/L) and were not different with the data measured in 2017. Concentrations of heavy
metals (Hg, Pb and Cd) were constantly under permitted code QCVN 08-MT:2015/BTNMT.
Aeromonas spp. was identified in 50% of the samples from Tien River and 18% of the samples
from Hau River. Total Aeromonas count was higher than 103 CFU/mL in all water samples.
Detection for Aeromonas hydrophila ranged from 67 – 100% of total samples at every sampling
time. Edwardsiella ictaluri was detected in 20% of samples collected from Febuary to May and
mostly appeared in April and May.
Keywords: Mekong Delta, Pangasius hypophthalmus, water quality.
Người phản biện: TS. Nguyễn Phúc Cẩm Tú
Ngày nhận bài: 16/5/2019
Ngày thông qua phản biện: 18/6/2019
Ngày duyệt đăng: 26/6/2019
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic, Research Institute for Aquaculture No.2.
* Email: [email protected]
78
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng chất lượng nước vùng nuôi cá tra trọng điểm ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hien_trang_chat_luong_nuoc_vung_nuoi_ca_tra_trong_diem_o_don.pdf

