Hiện trạng chất lượng nước vùng nuôi cá tra trọng điểm ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2018

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÙNG NUÔI CÁ TRA TRỌNG  
ĐIꢀM Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NĂM 2018  
Nguyễn Thanh Trúc1*, Lê Hồng Phước1, Thới Ngọc Bảo1, Đặng Ngọc Thùy1,  
Trần Minh Thiện1, Đặng Thị Ngọc Hân1  
TÓM TẮT  
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL ngày càng phát triển và là một trong những ngành  
hàng mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn. Để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và đảm bảo sự phát  
triển bền vững của nghề nuôi cá tra, hoạt động nuôi cá tra quy mô công nghiệp cần phải đáp ứng  
được các quy định và tiêu chuẩn trong nước và của nước nhập khẩu. Trong đó, ảnh hưởng của các  
hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng môi trường là quan trọng do những tác động tiêu cực lên sản  
lượng thu hoạch và chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường nước  
vùng nuôi cá tra tập trung ở ĐBSCL là cần thiết. Mẫu quan trắc được thu ở 26 vị trí thuộc các tỉnh  
An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Cần Thơ trong thời gian từ tháng 3-10/2018 với  
tần suất 2 lần/tháng. Đối với khu vực sông Tiền và sông Hậu, nhiệt độ dao động từ 25-34oC, pH =  
7-8, DO từ 3-6,5 mg/l và TSS trung bình 52±50 mg/L. Các thông số chỉ thị ô nhiễm như ammonia  
(0,2±0,3 mg/L), nitrite (0,039±0,048 mg/L), phosphate (0-0,051 mg/l), COD (5,2±4,1 mg/L) không  
có chênh lệch lớn so với năm 2017 và hầu hết vẫn thích hợp cho nuôi cá tra. Kim loại nặng (Hg,  
Pb và Cd ) trong các kênh cấp ở khu vực sông Tiền và sông Hậu chưa vượt mức quy định theo  
QCVN 08-MT: 2015/BTNMT. Chưa ghi nhận sự hiện diện của thuốc bảo vệ thực vật nhóm cúc và  
carbamate. Vi khuẩn Aeromonas tổng số có mật độ cao hơn 103 CFU/mL là 50% số lượt quan trắc  
trên nhánh sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Tần suất dương tính với vi khuẩn Aeromonas  
hydrophila từ 67-100% số lượt quan trắc. Edwardsiella ictaluri dương tính với tần suất 20% số lượt  
quan trắc trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5.  
Từ khoá: chất lượng nước, cá tra, ĐBSCL.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong thời gian qua, nghề nuôi cá tra của  
vùng Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng phát  
triển. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ này nghề  
nuôi cá tra đang đứng trước những thách thức,  
mối nguy về ô nhiễm môi trường, con giống,  
mầm bệnh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu….  
Ý thức của người dân về việc sử dụng hóa chất,  
kháng sinh đúng cách trong nuôi chưa cao. Việc  
dập dịch, xử lý chất thải trong ao nuôi trước  
khi thải ra môi trường chưa được người nuôi  
quan tâm, chú trọng. Những bất cập của nghề  
nuôi trồng thủy sản đã và đang gây ảnh hưởng  
xấu đến môi trường sinh thái ven sông, dẫn đến  
nguy cơ dịch bệnh bùng phát và làm giảm hiệu  
quả kinh tế trong nuôi thuỷ sản nói chung và  
nuôi cá tra nói riêng. Thêm vào đó, ảnh hưởng  
của các hoạt động nuôi cá tra đến chất lượng  
môi trường là quan trọng do những tác động tiêu  
cực lên sản lượng thu hoạch và chất lượng sản  
phẩm. Trước nhu cầu thực tế của địa phương để  
đảm bảo công tác chỉ đạo sản xuất và xu hướng  
biến động thời tiết, môi trường bất thường, dịch  
bệnh bùng phát làm ảnh hưởng đến sản lượng  
nuôi cá tra, việc đánh giá hiện trạng môi trường  
nước vùng nuôi cá tra tập trung ở Đồng bằng  
sông Cửu Long (ĐBSCL) là cần thiết.  
1 Trung tâm Quan trắc Môi trường & Bệnh thủy sản Nam Bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II.  
66  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Lựa chọn điểm quan trắc  
Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập  
trung được lựa chọn dựa trên tiêu chí: (1) Phục  
vụ vùng nuôi cá tra tập trung thuộc tỉnh các  
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần  
Thơ và Bến Tre, (2) Vùng nuôi đại diện cho  
địa phương về diện tích và sản lượng, (3) Điểm  
quan trắc thuộc các sông hoặc kênh rạch cấp  
trực tiếp vào vùng nuôi, có tính ổn định và đại  
diện cho toàn vùng.  
Hình 1: Vị trí các điểm thu mẫu  
Bảng 1. Các điểm quan trắc vùng nuôi cá tra tập trung  
Tỉnh  
Điểm quan trắc  
1. Cầu chữ S  
Ký hiệu  
AG1  
AG2  
AG3  
AG4  
AG5  
AG6  
AG7  
AG8  
AG9  
ĐT1  
ĐT2  
ĐT3  
ĐT4  
ĐT5  
ĐT6  
ĐT7  
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
VL1  
VL2  
VL3  
BT1  
BT2  
BT3  
Toạ độ  
An Giang  
10°34’57”, 105°13’49”  
10°37’06”, 105°12’35”  
10°52’13”, 105°11’06”  
10°41’41”, 105°11’16”  
10°29’20”, 105°20’46”  
10°26’52”, 105°23’35”  
10°19’23”, 105°23’35”  
10°18’32”, 105°26’05”  
10°20’30”, 105°26’56”  
10°48’14, 105°20’25”  
10°40’21, 105°20’24”  
10°27’06, 105°34’05”  
10°22’00, 105°43’43”  
10°14’18, 105°36’23”  
10°15’55, 105°52’15”  
10°24’29, 105°39’21”  
10°17’13, 105°31’29”  
10°13’19, 105°35’10”  
10°18’28, 105°28’25”  
10°18’28, 105°28’25”  
10°18’25, 105°57’18”  
10°10’20, 106°10’31”  
10°09’11, 106°10’36”  
10°19’90, 106°17’23”  
10°14’37, 106°13’14”  
10°08’37, 106°23’49”  
2. Cầu Vịnh Tre  
3. Vĩnh Xương  
4. Cồn Khánh Hòa  
5. Đò Rạch Gọc  
6. Kênh Cái Sao  
7. Kênh Tây An  
8. Bến đò Sơn Đốt  
9. Cầu kênh Ông Cò  
10. Sông Sở Thượng  
11. Sông Tiền - Tân Hòa  
12. Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
13. Sông Tiền-Tân Khánh Đông  
14. Sông Vàm Cái Sơn  
15. Sông Sa Đéc  
Đồng Tháp  
16. Sông Tiền - Tân Mỹ  
17. Phà Trà Uối  
Cần Thơ  
18. Bến Đò Thuận Hưng  
19. Bến Đò Số 1  
20. Trạm giao thông đường thủy  
21. Long Hồ  
Vĩnh Long  
Bến Tre  
22. Mang Thít  
23. Vũng Liêm  
24. Tiên Long  
25. Phú Túc  
26. Thạnh Phú Đông  
67  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
-N, PO43--P, H2S, TSS (Total suspended solids),  
2.2. Thời gian quan trắc  
COD (Chemical Oxygen Demand), Aeromonas  
tổng số, Edwardsiella ictaluri.  
Từ tháng 01/2018 đến 10/2018  
2.3. Thông số và tần suất quan trắc  
Tần suất quan trắc là 2 tuần/lần.  
Các thông số quan trắc: Nhiệt độ, pH, độ  
trong, DO (Dissolved Oxygen), NH4+-N, NO2-  
2.4. Phương pháp phân tích  
Bảng 2. Danh mục các phương pháp phân tích  
STT  
Chỉ tiêu  
Phương pháp  
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức  
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức  
Handylab 680 - SI ANALYTICS – Đức  
Đun hoàn lưu mở, dùng tác nhân KMnO4, acid hóa môi trường bằng H2SO4  
SMEWW 4500 - NH3 – F  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
pH  
Nhiệt độ  
DO  
COD  
NH4+-N  
NO2--N  
PO43--P  
Aeromonas sp.  
SMEWW 4500 – NO2 – B  
SMEWW 4500 - P – E  
Đếm khuẩn lạc  
Edwardsiella ictaluri Khuếch đại gen  
Ghi chú: SMEWW: Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater  
2.5. Phương pháp xử lý số liệu  
đạt trên 5.421 ha, tăng 6% so với cùng kỳ năm  
trước, sản lượng thu hoạch đạt 1.116 ngàn tấn,  
tăng 11,6%. Chỉ riêng 5 tỉnh: An Giang, Đồng  
Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre và Cần Thơ chiếm  
hơn 93% về diện tích và sản lượng cá tra ở  
ĐBSCL. Trong đó hai tỉnh An Giang và Đồng  
Tháp dẫn đầu về diện tích nuôi và sản lượng  
thu hoạch, chiếm 61,6% diện tích nuôi cá tra và  
57,8% sản lượng thu hoạch của toàn ĐBSCL và  
các tỉnh Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long chiếm  
35,1% về diện tích và 35,5% về sản lượng thu  
hoạch của các tỉnh ĐBSCL.  
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010  
xử lý số liệu theo phương pháp thống kê mô tả  
để tính các giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá  
trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn và vẽ đồ thị.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tình hình nuôi cá tra thương phẩm 9  
tháng đầu năm năm 2018  
Theo báo cáo của các Chi cục Thủy sản tỉnh  
Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An  
Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ, 9  
tháng đầu năm 2018, tổng diện tích nuôi cá tra  
Bảng 3: Diện tích nuôi, sản lượng cá tra ở ĐBSCL 9 tháng đầu năm năm 2017-2018  
Năm 2017 Năm 2018  
STT  
Tỉnh  
Diện tích  
(ha)  
Sản lượng  
(tấn)  
Diện tích  
(ha)  
Sản lượng  
(tấn)  
1
2
3
4
5
6
7
8
Bến Tre  
Trà Vinh  
739  
13  
458  
2000  
1071  
713  
63  
139.613  
4.374  
76.147  
356.713  
219.696  
170.000  
20.460  
780  
29  
186.000  
5.057  
87.000  
377.000  
268.000  
123.000  
23.000  
Vĩnh Long  
Đồng Tháp  
An Giang  
Cần Thơ  
Tiền Giang  
Sóc Trăng  
Tổng cộng  
455  
2091  
1250  
668  
78  
55  
5.112  
13.650  
1.000.653  
70  
5.421  
47.260  
1.116.317  
68  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
3.2. Diễn biến chất lượng nước vùng nuôi  
cá tra thương phẩm  
rãnh để ngăn nước mưa mang phèn và chất dơ  
bẩn từ trên bờ ao xuống. Đồng thời ngâm vôi  
vào nước để nguội lấy phần nước vôi tạt đều  
khắp ao.  
* Nhiệt độ  
Diễn biến nhiệt độ trong năm 2018 khu  
vực ven sông Tiền, sông Hậu dao động từ 25,0  
– 34,0oC. Trong đó, nhiệt độ trung bình ở các  
điểm quan trắc thuộc An Giang là 28,9 ± 1,3oC,  
Cần Thơ là 29,3 ± 0,8oC, Đồng Tháp là 28,8 ±  
0,8oC, Vĩnh Long là 29,5 ± 1,2oC và Bến Tre là  
29,5 ± 1,4oC.  
* Hàm lượng ôxy hoà tan (DO)  
Hàm lượng ôxy hòa tan hầu hết đều cao  
hơn giới hạn cho phép theo QCVN 02-20:2014/  
BNNPTNT (≥ 2 mg/L) cho cơ sở nuôi cá tra  
trong ao. Hàm lượng DO trung bình trong các  
kênh cấp thuộc tỉnh An Giang đạt 4,97 ± 0,93  
mg/L (3,5 – 6,5 mg/L); Cần Thơ đạt 4,11 ± 0,41  
mg/L (3,0 – 5,0 mg/L); Đồng Tháp 4,33 ± 0,48  
mg/L (3,5 – 5,5 mg/L); Vĩnh Long đạt 5,15 ±  
0,53 mg/L (3,9 – 6,2 mg/L) và Bến Tre là 4,12 ±  
0,41 mg/L (3,0 – 5,0 mg/L).  
Nhiệt độ ghi nhận được ở tất cả các thủy vực  
đều nằm trong khoảng giới hạn thích hợp cho  
nuôi cá tra theo QCVN 02-20:2014/BNNPTNT  
(25 – 32oC). Theo Boyd và Tucker (1998),  
khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của  
cá nhiệt đới là 28 – 32oC; riêng cá tra có khả  
năng chịu đựng nhiệt độ từ 16,7oC đến 40,8oC  
(Dương Thúy Yên, 2003). Như vậy, nhiệt độ  
quan trắc trong kênh cấp vẫn trong khoảng thích  
hợp cho sự phát triển của cá. Sự biến động nhiệt  
độ có khả năng ảnh hưởng đến sự phân hủy và  
tồn tại các chất khác trong thủy vực. Ngoài ra,  
theo Nguyễn Thị Kim Liên và ctv., (2016) nhiệt  
độ trên nhánh sông Hậu biến động trong khoảng  
27,1 - 32oC.  
Hầu hết các thủy vực có hàm lượng DO tăng  
trong các tháng mùa mưa. Trong các tháng mùa  
mưa, nước lũ từ thượng nguồn đổ về làm tăng  
lưu lượng, vận tốc dòng chảy mức độ xáo trộn  
trong các thủy vực cao làm tăng hàm lượng DO  
trong thủy vực. Nguyễn Thị Kim Liên và ctv.,  
(2016) cũng đã nhận định DO vào mùa mưa cao  
hơn mùa khô ở hầu hết các thủy vực được lấy  
mẫu nhờ vào lưu lượng dòng chảy cao, làm tăng  
khả năng khuếch tán ôxy vào nước. ôxy hoà tan  
trong thủy vực là một trong những yếu tố rất  
quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật.  
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng DO  
lớn hơn 5 mg/L chất lượng nước cho nuôi thủy  
sản được đánh giá là tốt, từ 2 – 5 mg/L được  
đánh giá ở mức trung bình và thấp hơn 2 mg/L  
được đánh giá là xấu. Theo Smith (1982) (trích  
dẫn bởi Phạm Quốc Nguyên và ctv., 2014) hàm  
lượng DO cần cho quá trình trao đổi chất là 3,0  
– 7,0 mg/L. Do các kênh cấp quan trắc thuộc  
thủy vực nước chảy nên hàm lượng DO thường  
không giảm đến mức quá thấp.  
* pH  
Các điểm quan trắc thượng nguồn sông Tiền  
và sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp  
có giá trị pH dao động từ 6,3 – 8,0 và trung bình  
7,1 ± 3,5. pH trong các kênh cấp thuộc Bến Tre  
dao động từ 7,1 – 7,6, trung bình 7,38 ± 0,11,  
tại Vĩnh Long dao động từ 7,1 – 8,1, trung bình  
7,53 ± 0,25 và tại Cần Thơ dao động từ 7,2 –  
8,3, trung bình 7,74 ± 0,28. pH trong các kênh  
cấp thấp hơn 7 (QCVN 02-20 : 2014/BTNMT)  
chủ yếu vào thời điểm mùa mưa. Với đặc điểm  
địa chất ở ĐBSCL, vào mùa khô ruộng đồng  
thường bị khô nứt tạo điều kiện cho quá trình  
ôxy hóa đất phèn, khi đến đầu mùa mưa nước  
mưa sẽ rửa trôi phèn từ đồng ruộng ra kênh rạch  
làm giảm giá trị pH trong các kênh rạch. Trong  
khoảng thời gian này người nuôi cần rải vôi  
quanh bờ ao để phòng phèn bị rửa trôi xuống  
ao, định kỳ 2 tuần/lần rải vôi xung quanh bờ  
ao hoặc đào rãnh xung quanh bờ ao rải vôi vào  
*Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)  
Nằm ở khu vực hạ lưu của sông Mekong  
nên ĐBSCL hàng năm nhận được tải lượng  
phù sa từ thượng nguồn đổ về rất lớn, do đó tần  
suất xuất hiện hàm lượng TSS cao vượt ngưỡng  
QCVN 08-MT:2015/BTNMT (< 20 mg/L) cho  
mục đích bảo vệ đời sống thủy sinh khá cao.  
TSS trung bình ở các điểm quan trắc của cả khu  
69  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
vực là 52 ± 50 mg/L, trong đó tỉnh An Giang là năm 2017 và 2018 tăng so với năm 2016 tại các  
50 ± 47 mg/L, Cần Thơ 35 ± 28 mg/L, Đồng điểm quan trắc thuộc tỉnh An Giang, Cần Thơ  
Tháp 61 ± 68 mg/L, Bến Tre là 58 ± 37 mg/L và Đồng Tháp (Hình 2).  
và Vĩnh Long là 50 ± 35 mg/L. Hàm lượng TSS  
160  
140  
120  
100  
80  
60  
40  
20  
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  
An Giang  
Cần Thơ  
Đồng Tháp  
Vĩnh Long  
2018  
Bến Tre  
2016  
2017  
Hình 2: Diễn biến TSS (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018  
* Nhu cầu oxy hóa học (COD)  
TSS tăng cao chủ yếu là do vào mùa mưa  
lưu lượng nước trên sông cao, nước chảy mạnh,  
lũ từ thượng nguồn đổ về mang nhiều phù sa  
cộng thêm vật chất bị rửa trôi từ hai bên bờ sông.  
Theo báo cáo của Trung tâm Khí tượng Thủy văn  
Quốc gia, lượng mưa trung bình trong năm 2017  
và 2018 cao hơn mức trung bình nhiều năm. Mùa  
mưa năm 2017 và 2018 đến sớm và lượng mưa  
cao hơn so với trung bình nhiều năm, do đó lũ đầu  
nguồn sông Cửu Long đến sớm và lớn hơn năm  
2016. Đây có lẽ là nguyên nhân chính dẫn đến  
hàm lượng TSS tăng so với năm 2016. Nghiên  
cứu đánh giá chất lượng nước trên sông Tiền ghi  
nhận TSS tăng cao ở khu vực hạ nguồn do các  
hoạt động giao thông thủy với mật độ cao kết hợp  
với triều làm khuếch tán chất rắn vào nước cũng  
như do xói mòn và rửa trôi vào mùa mưa (Hoàng  
Thị Quỳnh Diệu và ctv., 2016).  
Hàm lượng COD trung bình trong các kênh  
cấp quan trắc tại An Giang là 6,1 ± 4,3 mg/L và  
tại Cần Thơ là 4,6 ± 2,5 mg/L. Trên nhánh sông  
Hậu, hàm lượng COD trung bình trong các kênh  
cấp quan trắc tại Đồng Tháp là 5,3 ± 2,9 mg/L  
và hạ nguồn sông Hậu thuộc tỉnh Bến Tre, Vĩnh  
Long là 4,9 ± 2,5 mg/L. Tần suất hàm lượng  
COD cao hơn 10 mg/L lần lượt là 11%, 10%,  
7% và 2,5% tại An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre  
và Cần Thơ, lưu vực quan trắc tại Vĩnh Long  
chưa ghi nhận trường hợp nào cao hơn giới hạn  
cho phép. Diễn biến COD trong nguồn nước cấp  
vùng nuôi cá tra ghi nhận COD tăng từ tháng 6  
đến tháng 9, đây là khoảng thời gian mùa mưa,  
nước lũ về cuốn theo các vật chất hữu cơ.  
ĐỒNG THÁP  
AN GIANG  
35  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
0
Kênh Long An  
Sông Tiền - Tân Hòa  
Sông Tiền - Tân Mỹ  
Sông Sa Đéc  
Sông Tiền - Tân Khánh Đông  
Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
Vĩnh Xương  
Chữ S  
Kênh Tây An  
Cồn Khánh Hòa  
Bến đò Chùa  
Kênh Cái Sao  
Vịnh Tre  
Bến đò Sơn Đốt  
Cầu Kênh Ông Cò  
VĨNH LONG-BẾN TRE  
CẦN THƠ  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
0
Bến Đò Số 1  
Bến đò Thuận Hưng  
Phà Trà Uối  
Trạm giao thông đường thủy  
Long Hồ  
Phú Túc  
Mang Thít  
Thạnh Phú Đông  
Vũng Liêm  
Tiên Long  
Hình 3: Diễn biến hàm lượng COD (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra trong năm 2108  
70  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
* Ammonia (NH4+-N)  
trong thủy vực thuộc nhánh sông Tiền thấp hơn  
nhánh sông Hậu (Hình 5). Tần suất xuất hiện  
hàm lượng ammonia cao vượt ngưỡng theo  
QCVN 02-20:2014/BNNPTNT (<0,3 mg/L)  
chiếm 12%, trong đó các điểm quan trắc trên  
thuộc An Giang chiếm 24%, Cần Thơ chiếm  
20%, Đồng Tháp chiếm 11%, Vĩnh Long chiếm  
0% và Bến Tre chiếm 7% số lượt quan trắc.  
Hàm lượng ammonia trong các thủy vực  
quan trắc dao động trong khoảng 0 – 2,389  
mg/L, trung bình 0,2 ± 0,3 mg/L. Trong đó,  
hàm lượng ammonia trung bình ở các thủy vực  
thuộc các nhánh sông Tiền là 0,12 ± 0,19 mg/L  
và nhánh sông Hậu là 0,25 ± 0,37 mg/L (Hình  
4). Nhìn chung hàm lượng ammonia trung bình  
ĐỒNG THÁP  
AN GIANG  
2.5  
2.5  
2
1.5  
1
2
1.5  
1
0.5  
0
0.5  
0
Kênh Long An  
Sông Tiền - Tân Hòa  
Sông Tiền - Tân Mỹ  
Sông Sa Đéc  
Sông Tiền - Tân Khánh Đông  
Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
Vĩnh Xương  
Chữ S  
Kênh Tây An  
Cồn Khánh Hòa  
Bến đò Chùa  
Kênh Cái Sao  
Vịnh Tre  
Bến đò Sơn Đốt  
Cầu Kênh Ông Cò  
VĨNH LONG-BẾN TRE  
CẦN THƠ  
2.5  
2
2.5  
2
1.5  
1
1.5  
1
0.5  
0
0.5  
0
Bến Đò Số 1  
Bến đò Thuận Hưng  
Phà Trà Uối  
Trạm giao thông đường thủy  
Long Hồ  
Phú Túc  
Mang Thít  
Thạnh Phú Đông  
Vũng Liêm  
Tiên Long  
Hình 4: Diễn biến Ammonia (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018  
Hàm lượng ammonia trong các kênh cấp điểm quan trắc thượng nguồn sông Mekong (An  
đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 và 6 hàng năm Giang, Đồng Tháp).  
và sau đó giảm dần. Ngoài ra diễn biến hàm  
lượng ammonia nguồn nước cấp khu vực  
nuôi cá tra theo năm còn cho thấy giá trị  
ammonia trong hai năm 2017 và 2018 không  
có chênh lệch đáng kể. Các điểm quan trắc  
thuộc trung và hạ nguồn (Cần Thơ, Bến Tre,  
Trà Vinh) có giá trị ammonia thấp hơn các  
Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm  
khoa học kỹ thuật và môi trường của Đại học  
Wilkes, hàm lượng NH4+ gây độc đối với các  
loài thủy sản dao động từ 0,53 – 22,8 mg/l (Võ  
Thanh Toàn và ctv., 2007). Vậy hàm lượng  
ammonia ở hầu hết các điểm quan trắc đều chưa  
gây ảnh hưởng đến nuôi thủy sản nước ngọt.  
Hình 5: Diễn biến hàm lượng Ammonia nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018  
71  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
* Nitrite (NO2--N)  
nitrite dao động từ 0 – 0,413 mg/L, trung bình  
0,039 ± 0,048 mg/L. Tần suất hàm lượng nitrite  
vượt giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:  
2015/BTNMT tại An Giang chiếm 41%, Cần  
Thơ chiếm 35%, Đồng Tháp chiếm 13%, Vĩnh  
Long chiếm 15% và Bến Tre chỉ chiếm 3%.  
Hàm lượng nitrite cao từ tháng 4 đến đầu  
tháng 6 trong các thủy vực được quan trắc trên  
cả hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Đặc biệt  
trong thời điểm giao mùa, hàm lượng nitrite cao  
hơn các các tháng còn lại (Hình 6). Hàm lượng  
ĐỒNG THÁP  
AN GIANG  
0.45  
0.45  
0.4  
0.35  
0.3  
0.4  
0.35  
0.3  
0.25  
0.2  
0.25  
0.2  
0.15  
0.1  
0.15  
0.1  
0.05  
0
0.05  
0
Kênh Long An  
Sông Tiền - Tân Hòa  
Sông Tiền - Tân Mỹ  
Sông Sa Đéc  
Sông Tiền - Tân Khánh Đông  
Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
Vĩnh Xương  
Chữ S  
Kênh Tây An  
Cồn Khánh Hòa  
Bến đò Chùa  
Kênh Cái Sao  
Vịnh Tre  
Bến đò Sơn Đốt  
Cầu Kênh Ông Cò  
VĨNH LONG-BẾN TRE  
CẦN THƠ  
0.45  
0.4  
0.45  
0.4  
0.35  
0.3  
0.35  
0.3  
0.25  
0.2  
0.25  
0.2  
0.15  
0.1  
0.15  
0.1  
0.05  
0
0.05  
0
Bến Đò Số 1  
Bến đò Thuận Hưng  
Phà Trà Uối  
Trạm giao thông đường thủy  
Long Hồ  
Phú Túc  
Mang Thít  
Thạnh Phú Đông  
Vũng Liêm  
Tiên Long  
Hình 6: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018  
Hàm lượng nitrite trong các thủy vực được xem là ở mức trung bình và tốt cho  
thuộc An Giang và Cần Thơ cao hơn so với nuôi thủy sản.  
các điểm quan trắc thuộc các tỉnh Đồng  
Tháp, Bến Tre và Vĩnh Long. Ngoài ra chưa  
ghi nhận hiện tượng tích lũy nitrite qua các  
năm, hàm lượng nitrite trung bình từng tháng  
năm 2018 xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng  
thời kỳ. Theo Boyd và Tucker (1998), chất  
lượng nước cho nuôi thủy sản có hàm lượng  
nitrite < 0,5 mg/L được xem là tốt và từ 0,5 –  
2 mg/L được xem là trung bình. Vậy hầu hết  
các lượt quan trắc đều có hàm lượng nitrite  
Dưới tác dụng của một số vi sinh, ammonia  
được hình từ quá trình amôn hoá sẽ được tiếp tục  
chuyển hóa thành nitrite (NO2-) rồi thành nitrate  
(NO3-) nhờ vi khuẩn Nitrosomonas sau đó là vi  
khuẩn Nitrobacter. Các quá trình chuyển hóa  
ammonia đều cần sự tham gia của ôxy và độ  
kiềm của nước. Do đó, kết quả cho thấy hàm  
lượng nitrite trong thủy vực có mối tương quan  
với hàm lượng oxy trong thủy vực, khi DO giảm  
hàm lượng nitrite tăng.  
Hình 7: Diễn biến Nitrite (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018  
72  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
* Phosphate (PO43--P)  
mg/Lvà Bến Tre là 0,048± 0,042 mg/L. Ngoài ra  
Hình 8 ghi nhận một số điểm như kênh Cái Sao,  
Kênh Tây An, Kênh Long An, Bến đò Số 1, Bến  
đò Thuận Hưng có hàm lượng phosphate vượt  
giới hạn theo QCVN 08-MT: 2015/BTNMT tại  
một số thời điểm khảo sát trong năm (tháng 5,  
tháng 6 và tháng 7).  
Hàm lượng phosphate trong các thủy vực  
quan trắc dao động từ 0 – 0,51 mg/L, trong đó  
các thủy vực thuộc An Giang có hàm lượng  
phosphate trung bình là 0,055 ± 0,069 mg/L,  
Cần Thơ là 0,063 ± 0,075 mg/L, Đồng Tháp là  
0,043 ± 0,046 mg/L, Vĩnh Long là 0,035 ± 0,021  
ĐỒNG THÁP  
AN GIANG  
0.5  
0.5  
0.45  
0.4  
0.45  
0.4  
0.35  
0.3  
0.35  
0.3  
0.25  
0.2  
0.25  
0.2  
0.15  
0.1  
0.15  
0.1  
0.05  
0
0.05  
0
Kênh Long An  
Sông Tiền - Tân Hòa  
Sông Tiền - Tân Mỹ  
Sông Sa Đéc  
Sông Tiền - Tân Khánh Đông  
Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
Vĩnh Xương  
Chữ S  
Kênh Tây An  
Cồn Khánh Hòa  
Bến đò Chùa  
Kênh Cái Sao  
Vịnh Tre  
Bến đò Sơn Đốt  
Cầu Kênh Ông Cò  
VĨNH LONG-BẾN TRE  
CẦN THƠ  
0.5  
0.45  
0.4  
0.5  
0.45  
0.4  
0.35  
0.3  
0.35  
0.3  
0.25  
0.2  
0.25  
0.2  
0.15  
0.1  
0.15  
0.1  
0.05  
0
0.05  
0
Bến Đò Số 1  
Bến đò Thuận Hưng  
Phà Trà Uối  
Trạm giao thông đường thủy  
Long Hồ  
Phú Túc  
Mang Thít  
Thạnh Phú Đông  
Vũng Liêm  
Tiên Long  
Hình 8: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2018  
Tương tự nitrite, ammmonia và COD, Hình vực theo năm. Bên cạnh đó Hình 9 còn thể hiện  
9 cho thấy hàm lượng phosphate không có hàm lượng phosphate trong các thủy vực thuộc  
chênh lệch đáng kể so với năm 2017, chưa ghi An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ cao hơn các  
nhận hiện tượng tích lũy phosphate trong thủy tỉnh còn lại.  
Hình 9: Diễn biến Phosphate (mg/L) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018  
73  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
* Các chỉ tiêu về vi sinh  
Theo Boyd và Tucker (1998) hàm lượng  
lân hòa tan thích hợp cho ao nuôi cá là 0,005  
– 0,2 mg/L. Đây là nguồn dinh dưỡng để thực  
vật phù du phát triển, tảo sẽ không phát triển  
khi phosphate thấp hơn 0,005 mg/L và sẽ nở  
hoa khi cao hơn 0,02 mg/L. Kết quả ghi nhận  
hàm lượng phosphate có xu hướng tăng khi  
COD tăng. Phosphate là một trong những thông  
số chất lượng nước thể hiện sự phú dưỡng của  
thủy vực do đó hàm lượng phosphate cao cho  
thấy thủy vực có sự ô nhiễm hữu cơ, ngược lại  
khi hàm lượng phosphate thấp thực vật phù du  
sẽ bị hạn chế gây thiếu thức ăn tự nhiên trong  
thủy vực.  
Vi khuẩn Aeromonas trong nguồn nước có  
nhiều khả năng gây bệnh trên cá, đây là nhóm  
vi khuẩn cơ hội khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ  
gây bệnh. Mật độ Aeromonas tổng số trung bình  
toàn vùng quan trắc là 1,5x103 ± 2,9x103 CFU/  
mL. Tỷ lệ mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/  
mL là 50% số lượt quan trắc trên nhánh sông  
Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Trong đó ghi  
nhận các thủy vực thuộc Cần Thơ có tần suất  
mật độ Aeromonas cao hơn 103 CFU/mL cao  
hơn các tỉnh còn lại (chiếm 56% số lần quan trắc  
của tỉnh), trung bình dao động 1,8x103 ± 2,2x103  
CFU/mL. Aeromonas tổng số trong các kênh cấp  
được quan trắc thuộc tỉnh An Giang là 2,3x103 ±  
3,8x103 CFU/mL, Bến Tre là 4,8x102 ± 8,2x102  
CFU/mL, Vĩnh Long là 2,2x102 ± 3,2x102 CFU/  
mL và Đồng Tháp là 1,2x103 ± 2,5x103 CFU/ml.  
* Các chỉ tiêu về kim loại nặng và thuốc  
bảo vệ thực vật  
Năm 2018 thuốc bảo vệ thực vật được quan  
trắc tần suất 2 lần trong năm, vào mùa khô  
(tháng 4) và mùa mưa khi nước lũ rút (tháng 10)  
với các họ thuốc bảo vệ thực vật gốc carbamate  
và họ cúc. Kết quả cho thấy trong các thủy vực  
được quan trắc chưa ghi nhận sự hiện diện của  
các loại thuốc bảo vệ thực vật kể trên và chưa  
ghi nhận sự hiện diện của Hg, Pb và Cd.  
Mật độ Aeromonas tổng số trong các thủy  
vực thuộc An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp  
năm 2018 xấp xỉ bằng trung bình cùng kỳ nhiều  
năm. Tuy nhiên Bảng 3 cho thấy tần suất dương  
tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila khá  
cao, từ 67-100% số lượt quan trắc.  
20000  
15000  
10000  
5000  
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10  
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10  
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  
An�Giang  
Cần�Thơ  
Đồng�Tháp  
Vĩnh�Long  
Bến�Tre  
2016  
2017  
2018  
Hình 10: Diễn biến Aeromonas tổng (CFU/mL) nguồn nước cấp khu vực nuôi cá tra năm 2016-2018  
E. ictaluri là tác nhân gây bệnh gan thận nhiên, trong năm 2018 ghi nhận sự xuất hiện E,  
mủ, gây tỷ lệ chết cao. Trong năm 2017 chỉ ghi ictaluri với tần suất 20% số lượt quan trắc trong  
nhận rải rác ở một số kênh cấp dương tính với thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 và tập trung  
vi khuẩn E. ictaluri và xuất hiện nhiều trong nhiều nhất trong tháng 4 và tháng 5 (Bảng 3).  
mùa mưa, đặc biệt đợt quan trắc 9/10/2017. Tuy  
74  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 3: Tần suất dương tính với Edwardsiella ictaluri và Aeromonas hydrophila  
Số lần dương tính  
Điểm quan trắc  
An Giang  
Thời gian xuất hiện E. ictaluri  
A. hydrophila E. ictaluri  
Vĩnh Xương  
14/15  
12/15  
14/15  
14/15  
14/15  
13/15  
15/15  
11/15  
14/15  
2/11  
4/11  
1/11  
1/11  
3/11  
2/11  
2/11  
4/11  
4/11  
Tháng 3,4  
Cồn Khánh Hòa  
Vịnh Tre  
Tháng 2,3,4,5  
Tháng 5  
Chữ S  
Tháng 5  
Bến đò Chùa  
Tháng 3-4-5  
Tháng 2,4  
Bến đò Sơn Đốt  
Kênh Tây An  
Kênh Cái Sao  
Cầu Kênh Ông Cò  
Cần Thơ  
Tháng 3,7  
Tháng 2,3,4,5  
Tháng 2,3,4,5  
Bến Đò Số 1  
13/15  
13/15  
13/15  
13/15  
2/11  
0/11  
1/11  
1/11  
Tháng 2,4  
---  
Phà Trà Uối  
Bến đò Thuận Hưng  
Trạm giao thông đường thủy  
Đồng Tháp  
Tháng 4  
Tháng 4  
Kênh Long An  
Sông Sa Đéc  
13/15  
11/15  
13/15  
12/15  
11/15  
10/15  
14/15  
2/11  
4/11  
6/11  
2/11  
4/11  
5/11  
5/11  
Tháng 3,5  
Tháng 3,5,6,8  
Tháng 1,2,3,4,5,6  
Tháng 3,4  
Sông Tiền - Tân Hòa  
Sông Tiền - Tân Khánh Đông  
Sông Tiền - Tân Mỹ  
Sông Tiền - Tân Thuận Tây  
Vàm Lái Sơn  
Vĩnh Long  
Tháng 3,4,5,6  
Tháng 3,4,5,7,8  
Tháng 2,4,5,7,8  
Long Hồ  
13/15  
10/15  
13/15  
2/11  
1/11  
3/11  
Tháng 5,6  
Tháng 4  
Mang Thít  
Vũng Liêm  
Tháng 3,4,8  
Bến Tre  
Phú Túc  
15/15  
15/15  
13/15  
3/11  
0/11  
4/11  
Tháng 4,5,6  
---  
Thạnh Phú Đông  
Tiên Long  
Tháng 2,5,6,8  
3.3. Đánh giá chung  
từ tháng 5 và tháng 6. Các thông số vi sinh như  
Aeromonas hydrophilla dương tính hầu hết các  
thời điểm khảo sát trong năm (86,2% dương  
tính) và Edwardsiella ictaluri (23,8% dương  
tính) từ tháng 2 đến tháng 8. Nhìn chung, các  
thông số chỉ thị ô nhiễm có tỷ lệ vượt ngưỡng  
đạt giá trị cao lần lượt là nitrite, ammonia, TSS  
tương ứng với 25,5%, 15,2% và 12,7%.  
Bảng 4 cho thấy giá trị pH thấp hơn 7 chỉ gặp  
ở An Giang và Đồng Tháp, chiếm tỷ lệ 12,5%,  
tập trung vào khoảng thời gian tháng 6 đến  
tháng 10. Ngoài ra nồng độ các chất ammonia,  
nitrite, phosphate, COD cao rải rác các thời  
điểm trong năm, tuy nhiên các thông số này đạt  
giá trị cao nhất tập trung trong khoảng thời gian  
75  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
Bảng 4: Tỷ lệ vượt ngưỡng  
Aeromonas  
A.  
Số lần quan  
trắc/tỷ lệ  
pH  
DO N-NO2- N-NH4+ P-PO43- TSS COD  
E. ictaluri  
sp.  
hydrophilla  
Tỉnh  
7-8,5 >2 <0,05 <0,3  
<0,1 <100  
<10  
<1000 Dương tính Dương tính  
vượt ngưỡng  
Số lần vượt  
ngưỡng  
Bến Tre  
0
0
60  
0,0  
0
2
4
60  
5
60  
5
60  
4
5
7
33  
43  
45  
Số lần quan  
trắc  
60  
0,0  
0
60  
60  
6,7  
0
60  
Tỷ lệ vượt  
3,3  
9
6,7  
0
8,3  
1
8,3  
6
8,3  
2
21,2  
6
95,6  
36  
ngưỡng (%)  
Vĩnh Số lần vượt  
Long  
ngưỡng  
Số lần quan  
trắc  
60  
0,0  
11  
60  
0,0  
0
60  
60  
60  
60  
60  
60  
33  
45  
Tỷ lệ vượt  
15,0  
18  
0,0  
15  
1,7  
9
10,0  
31  
0,0  
14  
3,3  
39  
18,2  
28  
80,0  
84  
ngưỡng (%)  
Đồng Số lần vượt  
Tháp  
ngưỡng  
Số lần quan  
trắc  
140 140  
140  
12,9  
28  
140  
10,7  
16  
140  
6,4  
9
140  
22,1  
3
140  
10,0  
2
140  
27,9  
45  
77  
105  
80,0  
52  
Tỷ lệ vượt  
7,9  
0
0,0  
0
36,4  
4
ngưỡng (%)  
Cần  
Thơ  
Số lần vượt  
ngưỡng  
Số lần quan  
trắc  
80  
0,0  
54  
80  
0,0  
0
80  
80  
80  
80  
80  
80  
44  
60  
Tỷ lệ vượt  
35,0  
74  
20,0  
44  
11,3  
23  
3,8  
21  
2,5  
19  
56,3  
86  
9,1  
23  
86,7  
121  
135  
89,6  
336  
390  
86,2  
ngưỡng (%)  
An  
Số lần vượt  
ngưỡng  
Giang  
Số lần quan  
trắc  
180 180  
30,0 0,0  
180  
41,1  
131  
520  
25,2  
180  
24,4  
79  
180  
12,8  
47  
180  
11,7  
66  
180  
10,6  
39  
180  
47,8  
177  
520  
34,0  
99  
Tỷ lệ vượt  
23,2  
68  
ngưỡng (%)  
Số lần vượt  
ngưỡng  
Chung  
65  
0
Số lần quan  
trắc  
520 520  
12,5 0,0  
520  
15,2  
520  
9,0  
520  
12,7  
520  
7,5  
286  
23,8  
Tỷ lệ vượt  
ngưỡng (%)  
76  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
IV. KẾT LUẬN  
- Đối với khu vực sông Tiền và sông Hậu,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tài liệu tiếng Việt  
nhiệt độ dao động từ 25 – 34oC. Giá trị pH ở khu  
vực sông Tiền và sông Hậu nằm trong khoảng  
thích hợp cho nuôi cá tra (pH = 7 – 8). Hàm  
lượng ôxy hòa tan dao động từ 3,0-6,5 mg/L.  
Hàm lượng COD, ammonia, nitrite, phosphate  
trong các thủy vực nhìn chung vẫn còn thích  
hợp cho nuôi cá tra.  
Văn Hợp, 2016. Nghiên cứu đánh giá chất lượng  
nước sông Tiền. Tạp chí Phân tích Hóa, Lý và  
Sinh học, Tập 21, số 1/2016: 38-48.  
Nguyễn Thị Kim Liên, Lâm Quang Huy, Dương Thị  
Hoàng Anh, Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út,  
2016. Chất lượng nước trên sông chính và sông  
nhánh thuộc tuyến sông Hậu. Tạp chí Khoa học  
trường Đại học Cần Thơ, 43 (2016) (PhầnA): 68-  
79.  
- Các thông số kim loại nặng như Cd, Hg,  
Pb chưa vượt giới hạn theo QCVN 08-MT:2015/  
BTNMT. Thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm họ  
cúc và Carbamate chưa ghi nhận hiện diện trong  
các thuỷ vực được quan trắc.  
Phạm Quốc Nguyên, Lê Hồng Y, Nguyễn Văn Công,  
Trương Quốc Phú, 2014. Diễn biến một số chỉ  
tiêu chất lượng nước trao ao nuôi cá tra thâm  
canh. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ  
2014 (Phần A): 128-136.  
- Vi khuẩn Aeromonas tổng số có mật độ  
<105 CFU/ml, tỷ lệ mật độ Aeromonas cao hơn  
103 CFU/mLlà 50% số lượt quan trắc trên nhánh  
sông Hậu và 18% trên nhánh sông Tiền. Tần suất  
dương tính với vi khuẩn Aeromonas hydrophila  
từ 67-100% số lượt quan trắc. Đối với vi khuẩn  
Edwardsiella ictaluri trong năm 2018 ghi nhận  
sự xuất hiện Edwardsiella ictaluri với tần suất  
20% số lượt quan trắc trong thời gian từ tháng 2  
đến tháng 5 và tập trung nhiều nhất trong tháng  
4 và tháng 5.  
QCVN 02-20:2014/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về cơ sở nuôi cá tra (Pangasianodon  
hypophthalmus Sauvage, 1878) trong ao – Điều  
kiện bảo đảm vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và  
an toàn thực phẩm.  
QCVN 08-MT: 2015/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật  
quốc gia về chất lượng nước mặt  
Võ Thành Toàn, Chheng Phen và Eric Baran, 2007.  
Nghiên cứu đặc điểm một số chỉ tiêu môi trường  
nước và thành phần loài tôm, cá tự nhiên ở tỉnh  
Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần  
Thơ, 2007 (8): 139-148  
- Tháng 4, 5, 6 là các tháng giao mùa, các  
cơn mưa bất thường làm môi trường biến động  
tạo cơ hội cho mầm bệnh phát triển vì vậy cần  
tăng cường giám sát chất lượng nước, giảm  
thiểu thiệt hại cho người nuôi.  
Dương Thuý Yên, 2003. Khảo sát một số tính trạng,  
hình thái, sinh trưởng và sinh lý của cá Basa (P.  
bocourti), cá tra (P. hypophthalmus) và con lai  
của chúng. Luận văn Thạc sĩ. Khoa Thủy sản.  
Trường Đại học Cần Thơ.  
Tài liệu tiếng Anh  
Boyd,C.E.,andTucker,C.S.,1998.PondAquaculture  
Water Quality Management. Kluwer Academic  
Publishing, Boston, MA, USA. 700 pp.  
77  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN II  
CURRENT STATUS OF WATER QUALITY IN PANGASIUS FARM  
AREAS IN THE MEKONG DELTA IN 2018  
Nguyen Thanh Truc1*, Le Hong Phuoc1, Thoi Ngoc Bao1, Dang Ngoc Thuy1,  
Tran Minh Thien1, Dang Thi Ngoc Han1  
ABSTRACT  
Pangasius catfish culture in the Mekong Delta of Vietnam has been developing rapidly, being one  
of aquaculture sectors that bring great values of export turnover. In order to achieve the export  
demand and sustainable development of the catfish industry, intensive farming activity is not only  
required to meet regulations and standards in domestic market, but must also have to conform to  
the regulations and standards of importing countries. The potential impact of Pangasius catfish  
farming activities on the environment is of important, as they may result in negative consequences  
for the yield and the product’s quality. Water quality monitoring has therefore become crucial for  
Pangasius catfish farming in the Mekong Delta. River water samples were collected from 26  
locations in An Giang, Dong Thap, Ben Tre, Vinh Long and Can Tho provinces. The sampling was  
conducted twice a month, from March to October 2018. Water quality parameters were assessed  
including temperature, pH, dissolved oxygen (DO), total suspended solid (TSS), ammonia (NH4+),  
-
nitrite (NO2 ), and COD. Heavy metals (Hg, Pb and Cd), carbamate and pyrethroid insecticides,  
and bacterial counts (i.e., Aeromonas spp. and Edwardsiella ictaluri) in water samples were also  
monitored. The results indicated that, most physico-chemical parameters were in acceptable  
ranges for Tra catfish aquaculture (temperature 25 – 34oC; pH 7 – 8; DO 3 – 6.5 mg/L; TSS  
52 ± 50 mg/L) and were not different with the data measured in 2017. Concentrations of heavy  
metals (Hg, Pb and Cd) were constantly under permitted code QCVN 08-MT:2015/BTNMT.  
Aeromonas spp. was identified in 50% of the samples from Tien River and 18% of the samples  
from Hau River. Total Aeromonas count was higher than 103 CFU/mL in all water samples.  
Detection for Aeromonas hydrophila ranged from 67 – 100% of total samples at every sampling  
time. Edwardsiella ictaluri was detected in 20% of samples collected from Febuary to May and  
mostly appeared in April and May.  
Keywords: Mekong Delta, Pangasius hypophthalmus, water quality.  
Người phản biện: TS. Nguyễn Phúc Cẩm Tú  
Ngày nhận bài: 16/5/2019  
Ngày thông qua phản biện: 18/6/2019  
Ngày duyệt đăng: 26/6/2019  
1 Southern Monitoring Center for Aquaculture Environment and Epidemic, Research Institute for Aquaculture No.2.  
* Email: [email protected]  
78  
TẠP CHÍ NGHỀ CÁ SÔNG CỬU LONG - SỐ 13 - THÁNG 6/2019  
pdf 13 trang yennguyen 9420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng chất lượng nước vùng nuôi cá tra trọng điểm ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_chat_luong_nuoc_vung_nuoi_ca_tra_trong_diem_o_don.pdf